XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT
LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
ĐẬU NGỌC HẢI – NGUYỄN HOÀNG SƠN
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
Tóm tắt: Sơng Hương là con sơng lớn nhất tỉnh Thừa Thiên Huế, đóng vai trị quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn các di sản văn hóa và bảo vệ mơi trường
sinh thái của tỉnh. Hiện nay, trên lưu vực có nhiều hoạt động liên quan đến phát triển
và sử dụng nguồn tài nguyên nước mặt từ thủy lợi tưới tiêu và cấp nước, đến thủy
điện, giao thông, du lịch... Tuy nhiên, các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên
nước mặt trên lưu vực đã và đang nảy sinh những vấn đề mâu thuẫn gay gắt có khả
năng gây ra các xung đột môi trường. Trên quan điểm phát triển bền vững và bảo vệ
môi trường, trong nghiên cứu này, bước đầu đưa ra những phân tích nguyên nhân,
nguy cơ về xung đột môi trường trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước trên lưu
vực sông Hương cùng với những đề xuất khắc phục và giảm thiểu.
Từ khóa: xung đột mơi trường, tài nguyên nước mặt, sông Hương, thủy điện, thủy lợi.
1. TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LƯU VỰC SÔNG HƯƠNG VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC
SỬ DỤNG
1.1. Tài nguyên nước mặt lưu vực sông Hương
Sông Hương là con sông nội tỉnh Thừa Thiên Huế, bắt nguồn từ các núi cao của dãy
Trường Sơn, có diện tích lưu vực khoảng 2.830km2 [1], chiếm gần 3/5 diện tích tồn tỉnh. Hệ
thống sơng Hương được tạo thành từ 3 nhánh sơng chính là sơng Bồ, sơng Hữu Trạch, sông Tả
Trạch. Hai nhánh Hữu Trạch và Tả Trạch gặp nhau ở ngã ba Tuần hợp thành dòng chính sơng
Hương, rồi hội lưu sơng Bồ ở ngã ba Sình và đổ vào phá Tam Giang theo hướng Đơng Bắc trước
khi chảy ra biển ở cửa Thuận An.
Bảng 1/ Đặc trưng hình thái ba nhánh sơng chính lưu vực sông Hương
F (km2)
Ls (km)
Sông Tả Trạch
799
54
400
1 - 1,3
Sông Hữu Trạch
729
47
700
1,2
Sông Bồ
938
94
380
0,64
Sông nhánh
Hbq lv (m)
Mật độ sông suối (km/km2)
Do đặc điểm địa hình và sự tương tác giữa các hồn lưu đã quy định chế độ mưa ở lưu vực
sông Hương. Lượng mưa mang đến lưu vực lớn, trung bình 3.160mm, tương ứng với tổng lượng
nước mưa là 10,8 tỷ m3 [1]. Lượng mưa có xu hướng tăng dần từ Đơng sang Tây, từ Bắc vào
Nam theo sự tăng cao của độ cao địa hình, như tại trạm Nam Đơng 3.642mm, Bình Điền
3.166mm, xuống đến Huế lượng mưa cịn 2.796mm. Lượng mưa lớn nhất tập trung ở khu vực
Tây A Lưới - Động Ngại - Nam Đông - Bạch Mã với lượng mưa trung bình năm từ 3.400 4.000mm, lượng mưa nhỏ nhất ở Ka Kút với lượng mưa trung bình năm khoảng 2.515mm, các
nơi khác thường đạt 2.700 - 2.900mm [1]. Trong năm lượng mưa trên lưu vực sông Hương được
phân hóa thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa ít mưa. Lượng mưa lớn tập trung trong 4 tháng
(9 - 12) chiếm tới 74,4% lượng mưa năm, trong đó tháng 10 có lượng mưa lớn nhất chiếm 25,5%
lượng mưa năm. Cịn 3 tháng (2 - 4) có lượng mưa trung bình tháng đạt xấp xỉ 50mm, tổng
lượng mưa 3 tháng thấp nhất chỉ đạt 4,89% lượng mưa năm.
127
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC HUẾ
CYS 2016
Lưu vực sơng Hương nằm trong vùng có lượng mưa lớn nên lượng dòng chảy hàng năm
khá phong phú. Trên cơ sở các trạm quan trắc thủy văn và tài liệu dịng chảy tính tốn từ mưa
cho thấy hàng năm trên lưu vực sông Hương đã sinh ra 7,9 tỷ m3 nước đổ vào mạng lưới sông
suối tương ứng với lớp dịng chảy trung bình đạt 2.306mm và hệ số dịng chảy của lưu vực cao
đến 0,73 [1]. Do đặc điểm địa hình lưu vực, sơng hầu như khơng có vùng trung lưu, chỉ có vùng
thượng lưu là miền núi và hạ lưu là vùng đồng bằng tiếp giáp với biển cho nên chế độ dòng chảy
ở đây rất phức tạp. Lượng dịng chảy ở lưu vực sơng Hương khơng những phân bố khơng đồng
đều theo khơng gian mà cịn rất khơng đồng đều theo thời gian. Lượng dịng chảy năm nhiều
nước có thể gấp 3 lần lượng dịng chảy trong năm ít nước. Lượng dịng chảy tập trung chủ yếu
vào 3 tháng mùa lũ, từ tháng 10 đến tháng 12 đã chiếm tới 70 - 75% tổng lượng dòng chảy năm.
Trong khi thời gian mùa kiệt dài tới 9 tháng lại chỉ có lượng dịng chảy chiếm 25 - 30% lượng
dịng chảy năm.
Như vậy, có thể đánh giá tài ngun nước mặt lưu vực sông Hương khá phong phú nhưng
phân phối không đồng đều theo không gian và thời gian.
1.2. Khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt
Nhu cầu sử dụng nước trên lưu vực sơng Hương có thể chia thành hai nhóm gồm:
(i) - nhóm sử dụng làm tiêu hao lượng nước như: tưới nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt và cơng
nghiệp; (ii) - nhóm sử dụng khơng tiêu hao nước như: thủy điện, giao thông thủy, nuôi trồng
thủy sản trên sông, hồ.
Thực tế trên lưu vực chủ yếu tiêu hao nguồn nước là sử dụng cho tưới trong nông nghiệp,
nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp còn hạn chế, nên trong nghiên cứu này chỉ phân tích
và đánh giá hai ngành chủ yếu là thủy lợi tưới và thủy điện.
Khai thác và sử dụng nước cho nơng nghiệp, trên tồn bộ lưu vực đã xây dựng trên 500
cơng trình thủy lợi để chủ động ngăn mặn, giữ ngọt, cấp nước tưới cho 17.032 ha/vụ và tiêu úng
cho 8.000 ha/vụ. Tồn tỉnh hiện có 56 hồ chứa nước thủy lợi, trong đó có 7 hồ chứa loại lớn,
49 hồ chứa nước loại nhỏ; 321 đập dâng; 285 trạm bơm điện. Để tiến hành ngăn mặt giữ ngọt
phục vụ tưới trong nơng nghiệp, nhiều cơng trình thủy lợi đã được xây dựng, trong đó có các
cơng trình lớn như: đập Thảo Long, đập cống La Ỷ, cống Thanh Hà, cống Phú Cam, cống ba cửa
ở đầu kênh 5 xã và 7 xã [4]... Trên thượng nguồn đã xây dựng các hồ chứa nước lớn, có vai trị
tổng hợp như: hồ chứa nước Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền, A Lưới, A Rồng [3], [4]. Tuy
nhiên, có nhiều cơng trình được xây dựng từ khá lâu, phần lớn và cơng trình vừa và nhỏ, tưới từ
vài ha đến vài trăm ha, sử dụng chủ yếu nguồn nước cơ bản, do đó hiệu quả tưới bấp bênh, thiếu
chủ động nguồn nước.
Nhu cầu nguồn năng lượng phục vụ phát triển các ngành kinh tế có xu hướng ngày càng
tăng, theo quy hoạch tồn tỉnh Thừa Thiên Huế có 21 dự án thủy điện [5], trong đó quy hoạch
bậc thang thủy điện sơng Hương có 5 dự án đã đi vào khai thác, vận hành, gồm:
- Nhà máy Thủy điện Bình Điền: Nằm trên sông Hữu Trạch, công suất lắp máy 44 MW,
điện năng trung bình năm 181,656 triệu kWh, đưa vào vận hành tháng 5/2009.
- Nhà máy Thủy điện Hương Điền: Nằm trên sông Bồ, công suất lắp máy 81 MW, điện
năng trung bình năm 305,4 triệu kWh, đưa vào vận hành tháng 10/2010.
- Nhà máy thủy điện A Lưới: Xây dựng trên thượng nguồn lưu vực sông Hương, thuộc
sông A Sáp, công suất lắp máy 170 MW, điện năng trung bình năm 649,7 triệu kWh, đưa vào
vận hành tháng 6/2012.
128
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ 2016
11/2016
- Nhà máy Thủy điện Tả Trạch: Nằm trên sông Tả Trạch, công suất lắp máy 21 MW, điện
năng trung bình năm 84,79 triệu kWh, đưa vào vận hành năm 2014.
- Nhà máy Thủy điện A Roàng: Nằm trên thượng nguồn Bồ, nhánh sông A Sáp, công suất
lắp máy 7,2 MW, điện năng trung bình năm 30 triệu kWh, đưa vào vận hành tháng 01/2016.
2. XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT LƯU VỰC
SÔNG HƯƠNG
Tài nguyên nước trên lưu vực sông Hương đang chịu áp lực ngày càng lớn do sự phát triển
kinh tế - xã hội, gia tăng dân số, làm phát sinh những mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài
nguyên nước.
2.1. Xung đột trong khai thác giữa thượng lưu với hạ lưu lưu vực sông Hương
Khi khai thác dịng sơng đồng nghĩa với việc xây dựng các cơng trình trữ nước, lấy nước,
ngăn lũ, ngăn mặn... trên sơng. Khi các cơng trình vận hành, chế độ dịng chảy sơng sẽ thay đổi,
quy luật vận chuyển và lắng đọng bùn cát cũng thay đổi theo. Mâu thuẫn trong khai thác giữa
các khu vực thượng lưu, hạ lưu của một lưu vực sông thường xảy ra khi phát triển các hoạt động
khai thác, sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng. Thơng thường, vùng thượng lưu có thảm phủ rừng
đặc biệt quan trọng trong bảo vệ đất, chống xói mịn, sạt lở đất… nếu rừng bị khai thác q mức
để xây dựng các cơng trình thủy lợi, thủy điện sẽ dẫn tới ô nhiễm nước do bùn cát xói mịn trên
bề mặt lưu vực. Bên cạnh việc mang lại những lợi ích về kinh tế - dân sinh, hạn chế những thiệt
hại do lũ lụt hạn hán gây ra, thì các cơng trình thủy điện cũng gây ra những thay đổi khôn lường
về điều kiện tự nhiên và mơi trường trên lưu vực. Các cơng trình thủy điện thượng lưu đã làm
thay đổi đáng kể chế độ thủy văn, thủy lực của sông, nhất là ở khu vực hạ lưu từ đó gây ảnh
hưởng đến nhiều yếu tố khác như khai thác và sử dụng nước để phát điện và cấp nước tưới và
sinh hoạt, khai thác cát sỏi, đánh bắt nuôi trồng thủy sản, khai thác các vùng bãi ven sơng... Thủy
điện có nhiệm vụ phủ đỉnh trong biểu đồ phụ tải nên trong thời gian cao điểm các hồ thủy điện sẽ
phát điện tối đa, còn trong thời gian thấp điểm dường như đóng hồn tồn dẫn đến chế độ dịng
chảy hạ lưu các sơng có hồ thủy điện trên dịng chính thay đổi hồn tồn. Hồ chứa thủy điện luôn
hoạt động theo cơ chế điều tiết theo nhu cầu phụ tải điện năng hàng ngày, tức trữ nước vào hồ
khi nhu cầu điện giảm thấp và xả nước khỏi hồ qua nhà máy phát điện khi nhu cầu điện tăng cao.
Do vậy việc trữ nước vào hồ để tăng thêm cột nước cho phát điện sẽ làm giảm mực nước ở dịng
chính và các nhánh sông ở hạ lưu, đặc biệt trong mùa khô. Ngược lại, nếu xả nước từ hồ quá
nhiều và quá nhanh sẽ tạo nên sự dâng cao mực nước hạ lưu, thậm chí gây thiệt hại trong mùa lũ
lớn khi ở hạ lưu đã có lũ cao, ngồi ra trong mùa khô nếu xả nước quá nhiều sẽ làm giảm
đáng kể công suất phát điện về sau do cột nước phát điện giảm, khi đó lại tạo ra sự thiếu nước
cho hạ lưu.
Việc phát triển nhiều cơng trình thủy điện cùng lúc cũng đồng nghĩa với việc sẽ giảm lũ
cho vùng hạ lưu lưu vực sông Hương nhưng cũng giảm bớt lượng phù sa bồi đắp cho vùng này,
độ phì nhiêu của đất ở đây sẽ bị hạn chế. Các công trình thủy điện Bình Điền, Hương Điền đều
khơng có thiết kế cống xả cát đáy nên một lượng lớn bùn cát, phù sa bị giữ lại trong lịng hồ.
Điều đó không chỉ làm giảm tuổi thọ của hồ chứa mà cịn gây ra tình trạng thiếu hụt phù sa, bùn
cát ở hạ lưu, gây ảnh hưởng đến hình thái sơng và sinh kế của người dân làm nghề khai thác cát,
sỏi trên sông Hương, sông Bồ. Đối với vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, sự thay đổi chế độ
dòng chảy hạ lưu các hồ chứa tác động làm cho q trình bồi lắng và nơng hóa vực nước diễn ra
nhanh hơn. Sau khi xây dựng các hồ chứa trên các con sông, tổng lượng nước từ thượng nguồn
đưa vào vùng đầm phá được xem là không thay đổi, nhưng do các hồ đập làm nhiệm vụ cắt giảm
lũ và điều tiết dòng chảy, nên tốc độ dòng chảy từ các cửa sông vào vùng đầm phá ra biển hạn
129
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC HUẾ
CYS 2016
chế đi rất nhiều. Đây là một trong những nguyên nhân tạo ra các đụn cát làm cản trở dòng chảy
và gây khó khăn cho giao thơng thủy trên đầm phá.
2.2. Xung đột giữa các ngành dùng nước
Giữa các ngành sử dụng nước có yêu cầu về chất lượng khác nhau trên cùng một nguồn
nước. Ví dụ giao thơng thủy thường khơng có nhu cầu khắt khe về chất lượng nước nhưng nước
cho tưới, đặc biệt cho công nghiệp hay dân sinh lại yêu cầu chất lượng nước phải theo tiêu chuẩn
quốc gia. Mâu thuẫn này trở nên đặc biệt nghiêm trọng khi nguồn nước bị gây ô nhiễm từ một
ngành kinh tế nào đó (cơng nghiệp, du lịch, dịch vụ).
- Xung đột sử dụng nước trong ngành nông nghiệp (tưới và thủy sản)
Nơng nghiệp là ngành có vai trị khá quan trọng trong phát triển kinh tế của các huyện trên
lưu vực sông Hương. Định hướng phát triển nông nghiệp tồn diện, bền vững đa dạng hóa cây
trồng, vật ni để đưa lại hiệu quả kinh tế cao là hướng đi quan trọng. Để đảm bảo được mục
tiêu phát triển ngành nơng nghiệp, nước tưới ln đóng vai trị quyết định đến sản lượng, chất
lượng của cây trồng, nước sử dụng cho tưới tiêu luôn chiếm tỷ trọng cao so với nước sử dụng
của các ngành khác. Sự gia tăng diện tích đất canh tác, diện tích ni trồng thủy hải sản càng tạo
thêm áp lực cho các con sông trên lưu vực sông Hương. Đặc biệt vào mùa kiệt thì nhu cầu sử
dụng nước càng lớn. Do nguồn nước hạn chế, nhu cầu cao nên dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp,
giữa việc sử dụng nước cho lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây công nghiệp dài ngày
hay sử dụng cho mục đích ni trồng thủy hải sản.
- Xung đột sử dụng nước giữa ngành thủy điện và thủy lợi (tưới tiêu và cấp nước)
Đặc tính của thủy điện là không làm tiêu hao nước mà chỉ làm thay đổi chế độ dịng chảy
trong sơng, trong khi đó thủy lợi là ngành sử dụng nước có tiêu hao và cũng làm thay đổi chế độ
dịng chảy, thậm chí cả chất lượng nước. Thủy điện với mục tiêu năng lượng là chính do vậy vào
mùa khơ thường vẫn tích nước để phát điện theo nhu cầu phụ tải, trong khi đó mùa khơ là mùa
cần nước cho các nhu cầu nơng nghiệp. Mặc dù những cơng trình thủy điện như Bình Điền,
Hương Điền, Tả Trạch, A Lưới, A Rồng được xây dựng với nhiệm vụ tổng hợp, vừa phát điện
vừa cấp nước cho nông nghiệp, nhưng những khác biệt trong nhu cầu của hai ngành này cũng
dẫn đến những mâu thuẫn nhất định. Vào thời điểm mùa kiệt, khu vực hạ lưu sản xuất nông
nghiệp cần nhu cầu tưới nước nhiều thì chỉ nhận được lượng nước xả rất ít từ hệ thống các hồ
chứa thủy điện. Ngược lại, vào mùa lũ các hồ chứa thủy điện xả quá nhiều nước, mặc dù trong
giai đoạn này nông nghiệp không cần nhu cầu tưới lớn và hậu quả đã gây ra các tác động tiêu
cực cho ngành nông nghiệp, như làm ngập lụt nhiều diện tích lương thực, hoa màu, diện tích
ni trồng thủy sản...
- Xung đột sử dụng nước giữa thủy điện, thủy lợi với du lịch, dịch vụ
Thừa Thiên Huế có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên, nhân văn, di tích lịch sử để phát
triển du lịch, một trong những biểu tượng khi nói về Thừa Thiên Huế chính là dịng sơng Hương
hiền hịa, thơ mộng. Để phục vụ cho thủy điện, thủy lợi, trên lưu vực sông Hương chảy qua địa
phận thành phố Huế, hiện có nhiều con đập được xây dựng, như: Đập Đá, Đập Hậu, Đập Phú
Cam, Đập La Ỷ, Đập Thảo Long... tuy rằng đạt được mục đích về thủy lợi, ngăn mặn, chống lũ
tiểu mãn, mặt khác lại phá vỡ quy hoạch trị thủy trước đây, biến nhiều dịng sơng đào trước đây
thành sơng chết vì ơ nhiễm cũng như khơng cịn nhiều khả năng thốt lũ chính mùa, thuyền bè
khơng thể đi lại trên các sơng này, bỏ phí hàng chục tuyến giao thơng đường thủy có thể nối
thơng tất cả vùng đồng bằng của Thừa Thiên Huế lại với nhau. Hiện nay, ngành du lịch cũng bị
ảnh hưởng do nhiều khu vực dịng sơng Hương đang bị ơ nhiễm trầm trọng.
130
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ 2016
11/2016
2.3. Xung đột trong việc vận hành, khai thác các cơng trình trên lưu vực sông Hương
Hầu hết các cống đập xây dựng dọc theo sơng Hương đều có nhiệm vụ chính yếu là ngăn
ngừa sự xâm nhập mặn và giảm nhẹ mực nước lũ từ sông Hương vào các sông nhánh. Cống Phú
Cam ngăn mặn cho sông Lợi Nông, cống La Ỷ cho sông Phổ Lợi, Đập Đá cho sông Như Ý. Các
cơng trình này đã phát huy hiệu quả việc đảm bảo nước ngọt cho các sông nhánh khi sông
Hương bị nhiễm mặn, phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp. Để ngăn ngừa triệt để sự xâm nhập
mặn trên sông Hương, dự án đập Thảo Long đã được xây dựng, vận hành từ năm 2008. Với sự
hiện hữu của đập Thảo Long, việc xâm nhập mặn trên sông Hương hầu như khơng cịn nữa, cơng
trình này đã kiểm sốt hồn toàn nguồn nước mặn từ phá Tam Giang đi ngược vào sơng Hương
và bảo vệ sơng Hương được ngọt hóa. Do đó, vai trị ngăn mặn của các cống đập khác dọc theo
sơng Hương đến các sơng nhánh khơng cịn cần thiết nữa, các cơng trình này chỉ cịn vai trị ngăn
lũ tiểu mãn và lũ sớm mà thơi, tuy nhiên lại biến các sông nhánh thành các đoạn sông cụt, dịng
nước bị tù đọng gây ra ơ nhiễm mơi trường, ảnh hưởng đến chất lượng nước sông Hương.
2.4. Xung đột môi trường trong quản lý nguồn nước thải
Những cơ sở sản xuất công nghiệp trên lưu vực sông Hương chủ yếu trong lĩnh vực sản
xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, phát triển sản xuất các sản phẩm làng nghề truyền
thống. Mặc dù đã được xây dựng hệ thống xử lý nước thải, nhưng vẫn cịn tình trạng xả thải ra
ngồi mơi trường, làm ơ nhiễm nguồn tài nguyên nước mặt trên lưu vực.
Những xung đột trong sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Hương dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng đối với kinh tế - xã hội và môi trường như: Thiếu nước cho sản xuất nơng
nghiệp làm giảm diện tích canh tác, giảm năng suất cây trồng, đặc biệt những năm hạn hán cịn
gây mất mùa; gây ơ nhiễm mơi trường dọc sơng hạ lưu... Sử dụng nước quá mức dẫn đến dòng
chảy sơng suối bị cạn kiệt, chế độ dịng chảy trên sông bị thay đổi. Nước xả thải từ các cơ sở chế
biến không qua xử lý làm ô nhiễm nguồn nước trên các sông suối, dẫn đến nguồn thủy sinh, thủy
sản trên các sông, suối bị hủy hoại, chất lượng nước bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống
của con người trên lưu vực.
3. NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT LƯU
VỰC SÔNG HƯƠNG
3.1. Phân bố tài nguyên nước không đều
Phân bố tài nguyên nước không đều theo không gian của một khu vực, một quốc gia, một
lưu vực sông. Phân bố này phông phù hợp với nhu cầu sử dụng nước, và đó chính là nguyên
nhân gây ra các mâu thuẫn theo không gian. Tài nguyên nước trên lưu vực sông Hương cũng
biến đổi theo thời gian trong năm rất lớn do điều kiện tự nhiên và điều này tạo ra sự mất cân
bằng đối với nhu cầu sử dụng gây ra mâu thuẫn trong dùng nước.
3.2. Hệ thống cơng trình phục vụ khai thác, sử dụng tài nguyên nước còn nhiều hạn chế
Những cơng trình thủy lợi được Nhà nước và Nhân dân cùng làm, phân cấp cho địa
phương quản lý, do khả năng quản lý chưa cao nên nhiều cơng trình bị xuống cấp nghiêm trọng,
khơng có khả năng cân đối nguồn vốn để nâng cấp sửa chữa. Hệ thống cơng trình thủy lợi xây
dựng đã lâu, không đồng bộ, kênh mương bị bồi lấp, nhiều trạm bơm đã hết hạn sử dụng thiếu
thiết bị thay thế. Các cơng trình thủy điện, chưa phát huy hiệu quả tổng hợp trong khai thác, sử
dụng nguồn nước.
3.3. Quản lý nhà nước về tài nguyên nước phân tán và chưa phù hợp
Quản lý tài nguyên nước bao gồm quản lý số lượng, chất lượng nước; quản lý khai thác các
mặt lợi, phòng chống và hạn chế các mặt hại của nước; phát triển, khai thác và bảo vệ nguồn
131
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC HUẾ
CYS 2016
nước... có quan hệ hữu cơ, tương hỗ nhau. Hiện nay, chức năng và nhiệm vụ quản lý tài nguyên
nước đang được phân chia cho nhiều cơ quan. Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm
quản lý nhà nước về tài nguyên nước, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thơn quản lý nhà nước
về cơng trình thủy lợi, cấp nước nơng thơn, phịng chống lũ lụt, úng ngập, hạn hán, sạt lở bờ
sông, bờ biển; Sở Công thương quản lý nhà nước về thủy điện; Sở Xây dựng quản lý về cấp
nước đô thị, công nghiệp… Như vậy, tổ chức, chức năng nhiệm vụ trong quản lý ngành nước
hiện nay không phù hợp với đặc điểm tài nguyên nước. Cơ quan đơn vị được giao nhiệm vụ quản
lý không nắm các công cụ quản lý đã dẫn đến chồng chéo và nhiều hoạt động khơng kiểm sốt
được. Hiệp hội Nước Quốc tế đã nhận định: “Thế giới đang khủng hoảng nước, khơng phải do có
q ít nước khơng đảm bảo được nhu cầu của chúng ta mà là cuộc khủng hoảng quản trị
ngành nước”.
3.4. Nhận thức và kiến thức của cộng đồng còn thấp
Nhận thức của đại đa số người dân trong vấn đề sử dụng tài nguyên nước mặt còn thấp,
năng lực của đội ngũ những người làm công tác từ quy hoạch đến vận hành khai thác các cơng
trình thủy lợi, thủy điện khơng được cập nhật thường xuyên, đặc biệt là kiến thức về quản lý tổng
hợp tài nguyên nước và bảo vệ môi trường nước theo lưu vực sông. Đây là những cản trở trong
giảm thiểu các xung đột.
4. NHỮNG ĐỀ XUẤT NHẰM GIẢM THIỂU XUNG ĐỘT
Trên cơ sở những phân tích các nguyên nhân và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hộ i
liên quan đến sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Hương cho thấy hiện nay tài nguyên
nước mặt trên lưu vực đang chịu những áp lực ngày càng lớn, dẫn đến các xung đột môi trường
trong sử dụng nước mặt ngày càng gay gắt. Qua các kết quả nghiên cứu và đánh giá, nghiên
cứu đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu các xung đột sau đây:
4.1. Quá trình quy hoạch phát triển, quản lý khai thác sử dụng tài nguyên nước mặt
phải xuất phát từ quan điểm tổng hợp, đa mục tiêu theo lưu vực sơng
Cần có sự phối hợp giữa các ngành từ khi quy hoạch và xây dựng cơng trình, trong q trình
khai thác cần cân đối giữa các mục tiêu phát điện và cấp nước. Cụ thể đối với các hồ chứa thủy
điện lớn đã xây dựng và khai thác thì cần thiết phải xây dựng quy trình điều hành liên hồ trong đó
có các điều kiện ràng buộc về cấp nước, phịng chống thiên tai (lũ, hạn). Đồng thời cần có sự điều
hành chung trong khai thác sử dụng nước, đặc biệt đối với các ngành dùng nước tiêu hao như tưới.
Tăng cường quản lý phát triển sản xuất công nghiệp xả thải để bảo vệ môi trường [6].
4.2. Tăng cường các cơ chế chính sách và nguồn lực cho quản lý tài nguyên nước
Trước hết cần xây dựng các văn bản pháp lý để giải quyết các mâu thuẫn sử dụng nước và
các quy định hỗ trợ khác nhau từ khi đưa ra các quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước
với sự đúng đắn về hệ thống công trình, mơ hình sản xuất, vận hành hệ thống cơng trình thủy lợi,
thủy điện trên cơ sở đặc thù của lưu vực sông Hương. Một tổ chức lưu vực sông thống nhất cần
phải có để quản lý, điều hành chung. Tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực bao gồm cán bộ
quản lý, kỹ thuật từ cấp lưu vực, cấp tỉnh, cấp huyện với các trang thiết bị và công cụ để có thể
quản lý thống nhất, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên nước đáp ứng nhu cầu phát triển của các
ngành một cách bền vững.
4.3. Các giải pháp cơng trình và phi cơng trình
Các giải pháp cơng trình bao gồm: Xây dựng, cải tạo hệ thống đê, hồ chứa nước; nâng cấp,
cải tạo hệ thống cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp; tận dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng
132
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC TRẺ 2016
11/2016
nước; áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước; tưới luân phiên; áp dụng các biện pháp thu
trữ nước [2].
Các giải pháp phi cơng trình, bao gồm: Đảm bảo vận hành hiệu quả cao khai thác các cơng
trình thủy điện, thủy lợi; biện pháp quản lý và tăng cường lớp phủ thực vật; chuyển đổi cơ cấu
kinh tế; sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm; các giải pháp về chính sách; các giải pháp về khoa học
cơng nghệ; tăng cường vai trị của cộng đồng.
4.4. Thành lập Ban Quản lý dự án sông Hương
Văn phịng Ban Quản lý dự án sơng Hương là đơn vị sự nghiệp do Ủy ban nhân dân tỉnh
thành lập, trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng giúp Ủy ban nhân dân tỉnh điều phối
hoạt động của các sở, ngành, địa phương liên quan trong việc thực hiện quản lý tổng hợp lưu vực
sông Hương, đề xuất các chính sách, kiến nghị các giải pháp bảo vệ môi trường, khai thác, sử
dụng hợp lý và phát triển tài nguyên, phòng, chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra và phát
triển bền vững lưu vực sông Hương.
Thực tế, mỗi giải pháp đề cập ở trên đều có điều kiện ứng dụng và thường chỉ giải quyết
được một số có hạn các mặt trong xung đột mơi trường. Vì vậy, để có thể nâng cao hiệu quả giải
quyết và giảm thiểu các xung đột môi trường trong sử dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông
Hương, cần phải áp dụng đồng thời nhiều giải pháp để hỗ trợ nhau.
5. KẾT LUẬN
Lưu vực Sông Hương nằm trong khu vực tâm mưa của các nước nên có lượng mưa lớn,
lượng nước mặt rất dồi dào, chất lượng nước khá tốt, đảm bảo cho nhu cầu sử dụng hiện tại. Tuy
nhiên, những bất cập trong việc khai thác, sử dụng nước trong các ngành kinh tế như: nông
nghiệp, công nghiệp, du lịch... xây dựng các cơng trình thủy lợi, thủy điện chưa có sự phối hợp
đồng bộ trong việc vận hành liên hồ chứa thì trong tương lai số lượng nước sẽ không đủ để đáp
ứng cho nhu cầu, chất lượng nước sẽ bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi, ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống sinh hoạt, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Các xung đột môi trường
trong sử dụng tài nguyên nước mặt trên lưu vực gay gắt nhất là giữa thủy điện và thủy lợi, phòng
chống lũ, giữa sử dụng nước thượng lưu và hạ lưu, giữa xả nước thải và bảo vệ môi trường. Các
nguyên nhân gây ra xung đột này chủ yếu là do điều kiện và đặc điểm tự nhiên về tài nguyên
nước, do quản lý tài ngun nước chưa có tính tổng hợp theo lưu vực sông từ khâu quy hoạch
phát triển (theo từng ngành) đến khâu khai thác vận hành thiếu tính đa mục tiêu của các cơng
trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực. Để giải quyết và giảm thiểu các xung đột và hậu quả của
chúng cần phải thực hiện đồng bộ một số giải pháp cụ thể từ cơ chế, chính sách đến quy hoạch
phát triển, vận hành hiệu quả, nâng cao nhận thức, kiến thức của cộng đồng và đội ngũ quản lý,
đồng thời kết hợp cả các biện pháp cơng trình và phi cơng trình để nâng cao hiệu quả và có thể
sử dụng lâu dài, bền vững tài nguyên nước là mục tiêu quan trọng trong định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
[2]
[3]
Nguyễn Văn Cư, Nguyễn Hoàng Sơn (2009), “Phát triển bền vững tài nguyên và môi trường
nước lưu vực sơng Hương, tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 16(50.)
Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Thám, Nguyễn Văn Cư (2008), “Nghiên cứu đề xuất các giải
pháp khai thác bền vững tài nguyên nước lưu vực sông Hương tỉnh Thừa Thiên - Huế”, Hội
nghị Khoa học Địa lí tồn quốc lần thứ III, Hà Nội.
Nguyễn Thám, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Đăng Độ (2010), “Vai trị của các hồ chứa nước ở
thượng nguồn trong việc tính tốn khả năng cấp nước ở lưu vực sơng Hương”, Tạp chí Khoa
học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 23(57).
133
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC HUẾ
[4]
[5]
[6]
CYS 2016
Nguyễn Thám, Nguyễn Hoàng Sơn, Phan Anh Hằng (2012), “Những tác động địa lí của các
cơng trình khai thác, sử dụng nước trên dịng chính sơng Hương”, Tạp chí Khoa học Trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 33(107).
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (2009), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa
Thiên Huế đến năm 2020.
Ngơ Thị Thùy Dương, Lê Đình Thành, Phan Văn Yên (2013), “Xung đột môi trường trong sử
dụng tài nguyên nước mặt lưu vực sông Srêpok”, Khoa học kỹ thuật thủy lợi và môi trường,
41(114).
Title: ENVIRONMENTAL CONFLICTS IN USING THE SURFACE WATER OF HUONG RIVER
BASIN
Abstract: The Huong River is the biggest river in Thua Thien Hue province, it plays an important role in
the socio-economic development, the conservation of cultural heritage and protection of the ecological
environment of the province. Nowadays, on the basin, there are many activities related to the
development and use of surface water resources from irrigation and water supply for irrigation,
hydropower, transportation, tourism... However, mining activities, use of surface water resources on the
basin has been causing severe conflicts that have the potential to cause environmental conflicts. In view
of sustainable development and environmental protection, in this study, the first step is to give the
analysis of the causes, the risk of environmental conflicts in the exploitation and use of water resources
on the basin of The Huong river with the proposes that overcome and minimize.
Keywords: environmental conflicts, surface water resources, the Huong river, hydropower, irrigation.
ĐẬU NGỌC HẢI
Học viên Cao học, chuyên ngành Địa lý tự nhiên, khóa 23 (2014-2016), Trường Đại học Sư phạm - Đại
học Huế
PGS. TS. NGUYỄN HOÀNG SƠN
Khoa Địa lý, trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
134