Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Ý hệ văn minh trong trường văn học việt nam trước 1945, trường hợp đoạn tuyệt và cô giáo minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 93 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

NGUYỄN THỊ HẠNH

Ý HỆ VĂN MINH TRONG TRƯỜNG VĂN HỌC
VIỆT NAM TRƯỚC 1945, TRƯỜNG HỢP
ĐOẠN TUYỆT VÀ CÔ GIÁO MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Phú Thọ, năm 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

NGUYỄN THỊ HẠNH

Ý HỆ VĂN MINH TRONG TRƯỜNG VĂN HỌC
VIỆT NAM TRƯỚC 1945, TRƯỜNG HỢP
ĐOẠN TUYỆT VÀ CÔ GIÁO MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phùng Ngọc Kiên


Phú Thọ, Năm 2021


i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tôi thực hiện. Những kết quả từ
những tác giả trước tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể.
Khơng có bất cứ sự không trung thực trong các kết quả nghiên cứu. Nếu có gì
khơng trung thực, tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm.
Phú Thọ, ngày 8 tháng 7 năm 2021
Học viên

Nguyễn Thị Hạnh


ii

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy
giáo PGS.TS Phùng Ngọc Kiên. Người đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong
suốt thời gian nghiên cứu luận văn này. Sự hướng dẫn, chỉ bảo, sát sao của thầy đã
giúp cho tơi có được các phương pháp nghiên cứu; các kiến thức cũng như kỹ năng
cần thiết để có thể hồn thiện đề tài có hiệu quả.
Bên cạnh đó, tôi xin được cảm ơn chân thành Ban Giám hiệu nhà trường, các
thầy cơ giáo ở phịng Đào Tạo; các thầy cô giáo bộ môn lý luận văn học, khoa văn
học trường Đại học Hùng Vương; những người trong suốt quá trình dạy dỗ, truyền
thụ kiến thức khoa học, giúp tôi tiếp tục trưởng thành.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong
gia đình, những người đã luôn động viện, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để tơi có thể
tham gia học tập, đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày 8 tháng 7 năm 2021
Học viên

Nguyễn Thị Hạnh


iii
MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................ 8
1.2.1. Các cơng trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh. ..8
1.2.2. Các cơng trình nghiên cứu về tiểu thuyết Cô giáo Minh của
Nguyễn Công Hoan ................................................................................... 9
1.2.3. Các bài viết về “Vụ án văn” giữa Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh. . 11
1.3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................... 14
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................ 15
1.5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 15
1.5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp ................................................. 15
1.5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu ................................................... 15
1.6. Về cấu trúc của luận văn. ..................................................................... 17
Chương 1: Vai trò của giáo dục. ................................................................. 18
1.1. Các vấn đề cơ bản về giáo dục: ........................................................ 18
1.2. Vai trò của giáo dục trong sự kiến tạo ý hệ “văn minh”. ................. 22
Chương 2: GIA ĐÌNH VÀ LUÂN LÝ ....................................................... 38
2.1. Biểu hiện của tư tưởng cũ về vấn đề luân lý trong Đoạn tuyệt và Cô
giáo Minh. ............................................................................................... 40
2.2. Biểu hiện của tư tưởng mới về vấn đề luân lý trong Đoạn tuyệt và

Cô giáo Minh........................................................................................... 49
2.3. Xung đột cũ, mới về vấn đề luân lý. ................................................ 56
Chương 3: VẤN ĐỀ GIỚI TÍNH ................................................................ 69
3.1. Giới tính nam trong Đoạn tuyệt và Cơ giáo Minh ............................... 69
3.1.1 Giới tính nam trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt ....................................... 69
3.3. Nhân vật đại diện cho tư tưởng, quan điểm của nhà văn. ............... 79
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 83


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1.1. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu bước trưởng thành
của q trình hiện đại hóa. Có thể nhận định đây là một giai đoạn phát triển phong
phú, đa dạng ở nhiều khuynh hướng, nhiều nhóm sáng tác, với những nhiều tư
tưởng, quan điểm sáng tác khác nhau. Từ đó đã tạo nên sự ảnh hưởng qua lại; có khi
bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng nhau phát triển; có khi lại đối lập nhau được thể hiện
cả trong lý luận và sáng tác.
Trong các khuynh hướng, các trào lưu văn học ấy phải kể đến nhóm Tự lực
văn đồn. Các thành viên của nhóm là những tác giả trẻ, tiêu biểu cho tầng lớp mới,
thế hệ mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Các nhà văn của nhóm
Tự lực văn đồn đều đại diện cho một tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội Việt
Nam. Tầng lớp được tiếp thu một cách đầy đủ văn hóa và học vấn phương Tây
thơng qua nhà trường Pháp Việt. Trong bối cảnh sự giao thoa với văn hóa truyền
thống vẫn cịn những mối liên hệ.
Nhóm Tự lực văn đồn đã có cơng lớn trong việc hình thành và phát triển
văn học lãng mạn Việt Nam, đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết, truyện ngắn. Trong đó
tiểu thuyết đóng một vai trị quan trọng góp phần làm nên tên tuổi của nhóm. Từ
việc đặt ra những vấn đề được quan tâm trong xã hội đương thời; trong mỗi tác

phẩm tạo nên mơi trường, tạo nên khơng khí, tạo ra những thái độ, cách nhìn, cách
đánh giá, phán xét của nhiều đối tượng độc giả khác nhau. Người đọc sẽ được nhà
văn dẫn dắt đến với cuộc sống của đại gia đình phong kiến. Để từ đó họ được chứng
kiến xung đột về phong tục, đạo đức giữa những tư tưởng, nếp nghĩ khác nhau.
Trong số những tác phẩm đó khơng thể khơng nhắc đến Đoạn tuyệt của Nhất Linh,
Nửa chừng xuân của Khái Hưng; đó là hai cuốn tiểu thuyết vừa là mở đầu, vừa là có
giá trị nhất. Góp thêm tiếng nói tố cáo, phê phán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và
bênh vực quyền được hưởng hạnh phúc cá nhân của con người. Nói đến sự tiến bộ
trong tiểu thuyết của Nhất Linh, Vũ Ngọc Phan đã viết trong cuốn Nhà văn hiện


2
đại: “Ơng là một tiểu thuyết gia có khuynh hướng về cải cách. Những tiểu thuyết có
giá trị của ơng xuất bản trong khoảng 1935-1942 đều phô bày cho người ta thấy
những tình trạng xấu xa hoặc của gia đình hoặc của xã hội Việt Nam và trong các
truyện của ông bao giờ cũng có những nhân vật kiên tâm, gắng sức để đổi mới cho
cuộc đời của mình” (31, tr.101)
Ông nhận xét về Khái Hưng: “Một nhà tiểu thuyết có chừng mực và ơng có
một đặc điểm là truyện ngắn của ông, ông thường ngụ một ý thật cao. Như vậy mới
nghe tưởng như trái ngược cả về người và việc trong các truyện. Khái Hưng tả rất
bình dị, nhưng ở đoạn kết bao giờ tác giả cũng để cho người đọc có một cảm tưởng
xa xăm, man mát.” (31, tr.33).
Hai nhà văn đặc biệt quan tâm tới thân phận đáng thương của người phụ nữ
trong chế độ đại gia đình phong kiến. Trong tác phẩm của mình, hai ông đã xây
dựng khá thành công hình tượng những người con gái có cá tính mạnh mẽ, dám
đứng lên đấu tranh chống lại nền giáo lý lạc hậu. Nữ giới được chọn là nhân vật
chính trong hai tác phẩm kể trên. Đó là những cơ gái tân thời có học hành, được tiếp
xúc với văn minh phương Tây nên thấu hiểu sâu sắc những bất công trong xã hội,
mà bản thân họ lại chính là những nạn nhân phải gánh chịu. Vì bản thân họ sinh ra
họ đã được ban tặng những vẻ đẹp, những giá trị vốn của của mỗi con người. Hơn

ai hết, họ hiểu mình xứng đáng được hưởng những quyền lợi chính đáng. Vì thế
khát vọng hạnh phúc, khát vọng tình yêu ở những người phụ nữ này mạnh mẽ hơn
ai hết. Và hành động chống đối lại xã hội ấy, là điều hoàn toàn hợp với quy luật
khách quan của tiến bộ xã hội. Đòi lại quyền sống, quyền tự do, quyền được hạnh
phúc cho mình.
Bên cạnh những sáng tác văn học mang tư tưởng lãng mạn như nhóm Tự lực
văn đồn, khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa đã bắt đầu xuất hiện một cách trực
tiếp trong văn học Việt Nam. Và văn học với đề tài lấy đời sống xã hội đương đại
làm đối tượng phản ánh bắt đầu trở thành một khuynh hướng lớn. Chính vì vậy, mọi
mặt của hiện thực đời sống, sự thay đổi của một xã hội trong buổi giao thời Âu - Á,
sự tha hóa của các tầng lớp người đều có thể trở thành mối quan tâm trong nhiều


3
sáng tác. Khuynh hướng văn học hiện thực nổi lên các tên tuổi như Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, trong đó khơng thể khơng nhắc tới Nguyễn
Cơng Hoan với những tác phẩm tả thực của ông. Nổi bật là hiện thực về đời sống,
phong tục của Việt Nam; về cuộc sống của những gia đình, con người thuộc hạng
trung lưu và hạng nghèo. Tiêu biểu là tiểu thuyết Cô giáo Minh (1936), đã tập trung
miêu tả cuộc sống trong gia đình một quan lại phong kiến với những hủ tục cổ hủ,
lạc hậu. Trong bối cảnh ấy, những tập tục cổ hủ được làm nhấn mạnh; được làm nổi
bật lên nhờ cách đặt vào đấy một nhân vật nữ tân tiến, mạnh mẽ, cá tính, hết sức
sáng tạo của Nguyễn Công Hoan.
1.1.2. Khi tác phẩm Cô giáo Minh ra đời (1936) đã diễn ra cuộc tranh luận
giữa Tự lực văn đồn và Nguyễn cơng Hoan về đề tài này, và “Vụ án văn” cho rằng
khi sáng tác Cô giáo Minh, Nguyễn Công Hoan đã dựa theo Đoạn tuyệt. Cuộc tranh
luận được thể hiện cả trong sáng tác lẫn luận chiến: Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh…..
Và ý hệ về “văn minh” là một trong những khu vực diễn ra cuộc tranh luận đó.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tơi khơng đi sâu phân tích cuộc
tranh luận Tự lực văn đồn và Nguyễn cơng Hoan. Khơng nhằm mục đích lý giải,

hay đi tìm kết quả cuộc tranh luận; Nguyễn Cơng Hoan có đúng là dựa theo cốt
truyện Đoạn tuyệt của Nhất Linh để viết tiểu thuyết Cô giáo Minh hay không?
Vấn đề ở đây chúng tôi đi tìm hiểu, xem xét hai tác phẩm trên của Nhất Linh
và Nguyễn Công Hoan với cách đặt ra một vấn đề văn học; trong cùng một không
gian, trong cùng một thời điểm của giai đoạn 1930 - 1945 của xã hội Việt Nam để
tìm ra mối liên hệ của trường văn học.
Vậy thế nào là trường văn học? Theo Phạm Văn Quang (2019), lý thuyết
trường hay trường lực văn học ra đời góp phần canh tân những tiếp cận văn chương
vượt ra khỏi những cách tiếp cận của hệ tư tưởng Marxisme và của thực chứng luận,
để hướng đến việc giải thích thế giới văn chương như một vũ trụ đặc thù có những
quy tắc riêng của nó.
Khái niệm trường được Bourdieu định nghĩa như là: “Không gian xã hội mà


4
trong đó các tác nhân tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hóa được xác định vị
trí” và trường văn học cũng như những trường khác “là một trường lực tác đông đến
tất cả những ai dấn thân vào đó và theo cách thức khác biệt nhau tùy thuộc vào vị trí
họ nắm giữ, đồng thời cũng là một trường tranh đấu nhằm duy trì hoặc chuyển hóa
chính trường lực ấy” (32, tr.7)
Vượt ra khỏi sự đối lập giữa một loại mỹ học nội tại, được đặt ra để phân tích
tác phẩm như một hệ thống tự than mang nguyên lý tồn tại, tự xác định trong sự cố
kết của nó những nguyên lý và những chuẩn mực để giải mã tác phẩm, với một loại
mỹ học ngoại tại thường xuyên có một giá trị biến cách quy giản, nó cố gắng đặt tác
phẩm trong tương quan với những hồn cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa của sáng tạo,
nghệ thuật.
Bourdieu nhấn mạnh đến đối tượng của xã hội học tri thức và nghệ thuật như
sau: Để tạo cho xã hội về sáng tạo tri thức và nghệ thuật đối tượng riêng của nó,
nhưng đồng thời cũng cho thấy những giới hạn của nó, ta cần phải quan sát và ghi
nhận rằng mối quan hệ của người sáng tạo với tác phẩm của mình, và qua đó là

chính tác phẩm, chịu tác động bởi những mối quan hệ xã hội mà trong đó sự sáng
tạo có thể đạt đến hoàn thiện như một hành động giao tiếp, hay một cách cụ thể hơn,
chịu tác động bởi vị thế của người sáng tạo trong cấu trúc của trường tri thức.
Đặc biệt ông đặt lại trường hợp khảo cứu tiểu sử các nhà văn, những phân
tích nội tại tác phẩm và những nghiên cứu về mối quan hệ tác phẩm và bối cảnh xã
hội. Thơng qua các cơng trình của mình ơng cho rằng các nhà văn chỉ tồn tại quan
mối tương quan với tổng thể của trường. Các nhà văn chỉ được biểu hiện qua những
đặc tính sở hữu vị trí và uy lực chức năng của mình. Trong viễn cảnh đó, những đặc
trưng chủ đề và hình thức thể loại của mỗi tác phẩm được diễn giải như là một kiểu
tạo lập quan điểm của tác giả ở giữa không gian văn học. Như vậy để hiểu được một
tác phẩm, ta cần phải quan sát và xem xét những mối quan hệ qua lại giữa tác giả,
nhà xuất bản, nhà phê bình và cơng chúng độc giả.
Thiết lập một lịch sử hình thành trường tri thức nói chung và trường văn học
nói riêng cho phép tiến hành phê bình các huyền thoại về tính phổ qt về tính chất


5
phi thời gian của văn học. Nó cho phép hiểu hơn sự ra đời và các ý nghĩa lịch sử của
khái niệm trường, cho phép trở lại các vấn đề liên quan đến các chức năng của nghệ
thuật và nghệ sỹ.
Hệ thống các mối quan hệ khác biệt trong trường văn học như chúng ta thấy
trong mơ hình trường văn học, cho phép nói đến sự tự chủ của trường. Khái niệm
trường cho phép phê phán mạnh mẽ những biểu hiện mang tính ý hệ và những khái
niệm về tính chân thật, trung thực, bằng cách cho thấy những định đoạt gắn liền với
các vị trí được nắm giữ trong một tổng thể cố kết. Nhưng nguyên lý độc lập bổ sung
của hai cực của trường lại khiến ta hoài nghi về những nguyên lý xếp loại, giá trị và
ý nghĩa của tác phẩm. Những nguyên lý, nếu chiếu theo dề nghị của Bourdieu về sự
đối lập, tương tác và liên kết, thì chỉ có thể được tạo ra trong hoạt động của những
người tham gia vào trường, trong những quan hệ giữa họ và các tư duy hay diễn
ngôn của họ, đến nỗi phải làm ngơ để không thấy rằng diễn ngôn về tác phẩm

không phải là một sự bổ trợ kèm theo đơn thuần, để tạo điều kiện dễ dàng cho việc
hiểu và đánh giá tác phẩm, mà là một thời điểm sản xuất tác phẩm. ý nghĩa và giá trị
của nó. Giữa hai cực của trường văn học cũng có những sự đồng nhất. Vì trong hai
cực này có những sự kết nối giữa những phạm vi khác nhau của trường văn hóa nói
chung, thể hiện qua những tương đồng về mặt cấu trúc. Hai cực của trường văn học
cho phép đặt chúng trong mối quan hệ với tổng thể xã hội.
Về mặt phương pháp luận, chúng ta có thể nhận thấy từ sự quan sát tự chủ
của trường văn học một tiến trình tái định nghĩa các phạm trù liên quan. Nghĩa là xã
hội học về trường văn học cho phép xem xét lại những phạm trù về giá trị văn học,
hay chính văn học, lối viết của văn học hay thậm chí của cả khái niệm nhà văn.
Về giá trị văn học, từ góc độ trường, có thể được hiểu như là uy tín mà các
cơ quan định chế đóng vai trị thừa nhận dành cho tác phẩm, trong một tình trạng
nhất định của trường. Khái niệm văn học được xem như là một hệ thống nắm giữ
các vị trí trong một tình trạng nào đó của trường. Cịn lối viết văn học được xác
định qua những đặc điểm loại hình, kỹ thuật, phong cách, chủ đề và đạo đức, cũng
diễn ra trong một tình trạng nào đó của trường. Những đặc điểm này tuân thủ các


6
chuẩn mực hiện hành, được thừa nhận bởi các cơ quan định chế. Điều đó cũng có
nghĩa rằng chính những đặc điểm này có thể tham gia vào việc tạo thành những
quan điểm thẩm mỹ và ý hệ nổi bật trong một tình trạng nhất định của trường,
nhưng đồng thời cũng có thể dễ dàng bị phủ nhận ở một tình trạng tiếp theo sau đó
của trường. Cuối cùng, phạm trù nhà văn được hiểu như là người làm chủ lịch sử
văn chương để biết ứng xử với tư cách nhà văn trong một trường văn học.
Về khía cạnh phương pháp của xã hội học, Bourdieu cho rằng xã hội học về
nghệ thuật và về văn học trong hình thức bình thường của nó đã bỏ qn cái cốt lõi,
đó là một thế giới xã hội có những truyền thống riêng, những quy luật vận hành và
tuyển mộ riêng, nghĩa là có lịch sử riêng, là thế giới sản sinh ra nghệ thuật. Để nhấn
mạnh đến phương pháp của xã hội học về trường, Bourdieu đã phát biểu về đối

tượng của xã hội học văn học: Đối tượng riêng của xã hội học về tác phẩm văn hóa
khơng phải là nghệ sỹ đặc thù, cũng không phải là mối quan hệ với nhóm xã hội này
hay nhóm xã hội khác được nhìn nhận hoặc như là nguyên nhân gây hiệu quả và
nguyên lý quyết định những nội dung và hình thức diễn đạt, hoặc như là nguyên lý
cuối cùng của sự sản sinh nghệ thuật, nghĩa là như nhu cầu, lịch sử của các nội dung
và hình thức gắn kết trực tiếp với lịch sử của nhóm thống trị và của các cuộc tranh
đấu của họ để thống trị, xã hội học về tác phẩm phải có đối tượng là tổng thể các
mối quan hệ giữa nghệ sỹ và những nghệ sỹ khác, và xa hơn, đó là tổng thể những
tác nhân dấn thân vào sự sản sinh tác phẩm hoặc chí ít là sự sản sinh ra giá trị xã hội
của tác phẩm. Cách tiếp cận này khác với những cách tiếp cận mô tả của thực chứng
luận về các đặc điểm xã hội của những người sản sinh ra nghệ thuật, và cũng khác
với loại hình xã hội học tiếp nhận thường diễn tả trực tiếp tác phẩm theo quan niệm
cuộc sống của những bộ phận công chúng khác nhau.
Có phải ngẫu nhiên khơng mà trong giai đoạn văn học ấy xuất hiện hai tác
giả nhà văn đều quan tâm đến một vấn đề đặt ra trong xã hội đương thời? Từ các
yếu tố cấu thành tác phẩm như chọn nhân vật nữ chính; đều là những cơ gái với
những phẩm chất tốt đẹp. Đặc biệt ý thức về giá trị con người mình; họ đầy bản
lĩnh, mạnh mẽ và ln khát khao thay đổi số phận…và có nhiều điểm tương đồng


7
khác. Việc lấy giới nữ làm nhân vật chính, như một mũi tên bắn trực diện vào
những tàn dư của chế độ cũ. Phát ra tín hiệu về tinh thần đấu tranh địi quyền bình
đẳng cho người phụ nữ, làm thay đổi cái nhìn vốn rất quen, rất cũ. Ví như trong các
mối quan hệ xã hội, trong gia đình, và trong nhiều sáng tác của nhiều tác giả đưa
nam giới vào làm đối tượng trung tâm, đã thấm sâu vào tư tưởng, trở thành nếp
cảm, nếp nghĩ hàng ngàn năm qua của người dân Việt Nam. Đoạn tuyệt và Cô giáo
Minh như một tiền đề, một lời dự báo cho sự xuất hiện và nở rộ những trang viết về
vấn đề “Nữ quyền” cho giai đoạn văn học sau, khẳng định tư cách làm chủ thể của
người phụ nữ trong xã hội. Vấn đề đặt ra ở đây trong cả hai tác phẩm cả hai nhân

vật chính là nữ giới, đều mang đặc điểm chung là cùng được tiếp cận, thụ hưởng sự
giáo dục mới - giáo dục văn hóa Phương Tây. Những cái mới, tiến bộ ấy, hồn toàn
tương xứng với xã hội mới là biểu hiện cho cái gọi là ý hệ “văn minh”.
Điều thú vị ở đây là hai nhà văn cùng viết về một đề tài, cùng cốt truyện và
nhân vật chính cùng giới tính, cùng nghề nghiệp. Một bài toán đặt ra trong hai tác
phẩm, nhưng lại có hai cách giải khác nhau. Như việc triển khai các chi tiết, sự việc
trong cốt truyện; diễn biến số phận của nhân vật chính. Cách đặt ra và giải quyết các
mối quan hệ của nhân vật chính lại đi theo các hướng khơng tương đồng. Việc gửi
gắm quan điểm, tư tưởng, cách nhìn nhận, đánh giá của người viết trong những đứa
con tinh thần của mình. Từ đó đặt ra những vấn đề xã hội đang được quan tâm. Cho
thấy suy nghĩ, nhận thức, cá tính của mỗi nhà văn với những nét phong cách riêng;
và tất nhiên những nét riêng ấy đã tạo nên sự phong phú, đa dạng cho mỗi giai đoạn
văn học nói riêng, nền văn học của dân tộc nói chung. Thể hiện rõ mối liên hệ của
các tác phẩm văn học trong trường văn học. Như vậy có thể thấy được vai trò, ý
nghĩa, khả năng thu hút sự quan tâm của ý hệ “Văn minh” không chỉ riêng với
Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh mà còn với nhiều tác giả khác. Đưa người đọc đến
với những sự quan sát, hướng tiếp cận, phân tích, cách giải quyết riêng của mỗi
người viết. Khẳng định việc đặt ra ý hệ “văn minh” trong sáng tác của Nhất Linh
cũng như trong tiểu thuyết của Nguyễn Cơng Hoan thực sự có vai trị đóng góp
thêm cho văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX. Những sáng tác văn
học về vấn đề nữ quyền đã góp thêm những quan điểm tiến bộ về tinh thần đấu


8
tranh với những hủ tục lạc hậu khơng cịn phù hợp của xã hội cũ, lên tiếng nói địi
quyền tự do cho con người; nhất là đối với người phụ nữ.
1.1.3. Điều cần quan tâm và chú ý ở đây, đó là: Ý hệ “Văn minh” đã được
hiểu và thể hiện như thế nào trong sáng tác của các nhà văn đương thời? Do phạm
vi nghiên cứu, đề tài chúng tôi lựa chọn trong khuôn khổ trường văn học Việt Nam
trước 1945.

Cách nghiên cứu để thấy được điểm tương đồng và khác biệt, giữa hai tác
phẩm là đặt chúng trong cùng một bình diện để phân tích và so sánh. Xem xét từ
trào lưu văn học, cách đặt ra vấn đề tìm hiểu, hồn cảnh thời gian, khơng gian. Từ
đó nghiên cứu, xem xét; để thấy được nét riêng trong quan điểm, cách nhìn, cách
giải quyết các vấn đề xã hội của mỗi nhà văn.
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn: “Ý hệ văn minh
trong trường văn học Việt Nam trước 1945, trường hợp Đoạn tuyệt và Cô giáo
Minh”.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Các cơng trình nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh.
Trịnh Tố Loan nghiên cứu về nghệ thuật so sánh của tác phẩm Đoạn tuyệt
trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành văn học Việt Nam hiện đại trường ĐH sư phạm
Hà Nội 2015. Đề tài khảo sát các cấu trúc so sánh làm rõ thêm một khía cạnh nghệ
thuật; cung cấp thêm một cách tiếp cận, lý giải tác phẩm văn chương từ góc độ ngơn
ngữ mà cụ thể là nghệ thuật so sánh. Qua đó góp phần nhận diện sự vận động của
văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Nguyễn Thị Quỳnh nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết luận đề của nhóm Tự
lực văn đoàn qua Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Bướm trắng trong Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành lý luận văn học trường ĐH khoa học xã hội và nhân văn 2017. Trong
đó chủ yếu nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết luận đề trên cơ sở thực tế các tác
phẩm để làm rõ các đặc trưng thể loại và thấy được sự đổi mới trong sáng tác của
Tự lực văn đoàn.


9
Bài phê bình của Trần Văn Tồn: Nam tính hóa nữ tính - Đọc Đoạn tuyệt
của Nhất Linh từ góc nhìn giới tính năm 2013. Bài viết lý giải lí do giải thích cho
hiện tượng nam tính hóa nữ tính trong Đoạn tuyệt.
Bài viết: 80 năm Đoạn tuyệt của tác giả Mai Anh Tuấn năm 2016. Từ khi
bản in lần đầu năm 1936 của Đời nay, đến năm 2016 đã tròn 80 năm. Đoạn Tuyệt,

vượt khỏi cái tên sách văn chương thuần túy, gợi cho người đọc hôm nay sự cần
thiết của tinh thần dứt bỏ cái cũ, lỗi thời; sự khó khăn nhưng tuyệt đẹp của việc tạo
dựng cách sống tự do, tự lập và tự trọng. Bất kỳ ở đâu và lúc nào, “đoạn tuyệt” cũng
phải được nuôi dưỡng như một ý chí, mệnh lệnh.
Phạm Thị Thắm nghiên cứu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong “Đoạn
tuyệt” của Nhất Linh trong luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Văn học Việt
Nam trường ĐH sư phạm Hà Nội 2 năm 2013. Tìm hiểu các khía cạnh của nghệ
thuật xây dựng nhân vật để góp phần tìm hiểu toàn bộ tác phẩm cũng như thấy được
tâm huyết, tài nghệ nghệ thuật của tác giả trong việc làm nên giá trị của Đoạn tuyệt.
Nói chung, khi nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn tuyệt của Nhất Linh; Các bài
viết, các đề tài nghiên cứu chủ yếu đi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của
nhà văn Nhất Linh qua nhân vật Loan. Lý giải tại sao lại chọn một nhân vật nữ
chính để gửi gắm tư tưởng, quan điểm của mình. Từ đó góp thêm một tiếng nói tố
cáo, phê phán mạnh mẽ những hủ tục lạc hậu và bênh vực quyền được hưởng hạnh
phúc cá nhân của con người. Quan điểm, thái độ, tinh thần đấu tranh với những
quan điểm cổ hủ của xã hội phong kiến, khẳng định những tư tưởng mới tiến bộ phù
hợp với xu thế chung của xã hội. Đó là cơ sở, là định hướng quan trọng mà tôi được
kế thừa khi nghiên cứu đề tài này.
1.2.2. Các cơng trình nghiên cứu về tiểu thuyết Cô giáo Minh của Nguyễn
Công Hoan
Cho đến thời điểm hiện tại khơng có một bài viết, một cơng trình nghiên cứu,
phê bình, giới thiệu về tiểu thuyết Cơ Giáo Minh. Hầu hết các bài viết chỉ đề cập
đến vấn đề liên quan đến tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan. Các bài viết có dung


10
lượng ngắn, xoay quanh một vấn đề nào đó hoặc trình bày chính kiến về một tác
phẩm cụ thể của ông.
Viết về Nguyễn Công Hoan, Trúc Hà với bài viết: Một ngịi bút mới: Ơng
Nguyễn Cơng Hoan (Nam Phong số 18-1932) đã tỏ ra khá tinh tế khi nhận ra giọng

văn mới mẻ pha chất hài hước của Nguyễn Công Hoan: “Văn ơng Nguyễn Cơng
Hoan có cái hay, rõ ràng, sáng sủa, thiết thực, hơi văn nhanh và gọn, lời văn hàm
một giọng trào phúng, lại thường hay đệm vào một vài câu hoặc một vài chữ có ý
khơi hài bông lơn thú vị” (12, tr.9)
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, quyển tư (tập 3) nhận xét: “Tất cả
tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, dù là truyện ngắn hay truyện dài, đều là tiểu
thuyết tả thực, tiểu thuyết tả về phong tục Việt Nam, về hạng trung lưu và hạng
nghèo” (29, tr.49).
Nguyễn Hoành Khung khi nghiên cứu về truyện dài Nguyễn Cơng Hoan
cũng có nhận xét: “Là người khơi nguồn cho dòng văn học “tả chân” “vị nhân sinh”
tiến bộ chảy xiết và cắm ngọn cờ chiến thắng vẻ vang cho nó trong đời sống văn
học khu vực hợp pháp. Nguyễn Cơng Hoan cịn là một trong những người đặt nền
móng cho nền văn xi Việt Nam hiện đại”. (22, tr.242).
Tác giả Lê Thị Đức Hạnh là người dành nhiều công sức nhất trong việc
nghiên cứu Nguyễn Công Hoan khẳng định: “Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn
Công Hoan để lại cho đời hàng vạn trang sách đầy tâm huyết, đã để lại những dấu
ấn không bao giờ phai mờ trong tâm trí mọi người. Và cốt cách, tấm lịng, sự nghiệp
sáng tác của ơng vẫn sáng mãi trên những trang văn học sử Việt Nam” (13, tr.537).
Tác giả Lê Quý Hà nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Cơng Hoan trước cách
mạng tháng tám nhìn từ đặc trưng thể loại, luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân
văn, chuyên ngành văn học Việt Nam.Trường Đại học Đà Nẵng năm 2012.
Nhìn tổng thể, các bài viết, các đề tài trên chủ yếu đi tìm hiểu, nghiên cứu về
tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng tám. Những nhận xét,
đánh giá về ngịi bút của ơng ở các thể loại này, thể hiện qua một số tác phẩm tiêu


11
biểu của ơng, dù rất ít đề tài nghiên cứu đề cập sâu. Khơng có một đề tài nào nghiên
cứu sâu về tiểu thuyết Cô giáo Minh, nhưng những đặc sắc về giá trị, trong sự thể
hiện về ngòi bút của Nguyễn Công Hoan trong các đề tài, các bài viết đã cho thấy

dấu ấn riêng, quan điểm, cách nhìn riêng của một nhà văn trong xã hội đương thời.
Đó là cơ sở, là định hướng quan trọng mà chúng tôi được kế thừa khi nghiên cứu đề
tài này.
1.2.3. Các bài viết về “Vụ án văn” giữa Đoạn tuyệt và Cơ giáo Minh.
Báo Phong Hóa - Cơ quan ngơn luận chính của nhóm Tự lực văn đồn
(Ngày 27/3//1936, số 180) đưa ra một “vụ án văn” cho rằng Cô giáo Minh đã được
Nguyễn Công Hoan viết là phỏng theo Đoạn tuyệt của Nhất Linh .
Về phía Nguyễn Cơng Hoan, lại kết án Nhất Linh là người gian ngoa:
"Khơng biết mình và không biết người". Minh chứng sự gian ác của Phong Hố
trong lối trích văn cốt ý xun tạc để hạ uy thế đồng nghiệp.
Trước khi đi tóm tắt cuộc tranh luận về “Vụ án văn” này, xin được nói rõ
thêm giai đoạn từ 1932 đã xảy ra nhiều vụ án văn học: Trong đó có “Vụ án Cũ Mới”. Giữa 2 nhóm văn học khác nhau: một bên là Nhóm Tự lực văn đồn do Nhất
Linh đứng đầu - Chủ biên của tờ báo Phong Hóa - Ngày nay; một bên là những nhà
văn tên tuổi của thế hệ trước khơng thuộc nhóm Phong Hóa.
Nhóm Tự lực văn đồn: Các thành viên đều thuộc thế hệ trẻ, có tài, bên cạnh
đó được chỉ huy do những chương trình đã hoạch định kỹ lưỡng, thành phần của lực
lượng khối người mới cấp tiến này gặt được thành công ngay từ buổi đầu. Phải
chăng đó là nguyên nhân ngay từ lúc mới thành lập, nhóm Tự lực văn đồn đã khai
chiến quyết liệt với lực lượng khối cựu học, hay ít ra bị coi là cựu học. Đa phần các
nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị khối Phong Hố chế giễu; tồn bộ các báo,
ngoại trừ báo Phong Hóa, đều bị khối Phong Hóa bêu xấu.
Theo nhận định của Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam,
quyển hạ ba thế hệ của nền văn học mới (1862 - 1945): “Văn phê bình từ 1932 đến
cuối 1934 là văn phê bình của hai khối A và B, tức văn phê bình của tất cả các nhà


12
văn khơng thuộc nhóm Phong Hóa với các nhà văn của khối Phong Hố, tức nhóm
Tự Lực Văn Đồn.
Thứ nhất: Đặc tính của khối A, tức khối bị coi là cựu học: Thành phần

phức tạp hơn. Không phải những cây bút cộng tác với khối này khơng có những cây
bút mới, trẻ, có tư tưởng cấp tiến; con số đơng hơn cả bên Phong Hoá, nhưng độc
lập, chưa quy tụ thành đồn thể: Đó là trường hợp các cây bút như Thiếu Sơn, Vũ
Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Trương Tửu, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Lan
Khai, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Hải Triều...
Đa số các cây bút giữ vai trò lãnh đạo, hay chủ biên của các tờ báo đều là
thuộc thành phần cũ; nghĩa là thuộc thế hệ trước, tức thế hệ 1913-1932, cái thế hệ
còn đang mơ say việc xây dựng một nền văn hóa dung hợp được cả Đông lẫn
Tây….” (23, tr. 646, 647)
“…Thứ hai: Đặc tính của khối B, tức khối cấp tiến: Thành phần của khối
cấp tiến, tuy ít, nhưng thuần nhất, tự đặt mình vào những kỷ luật chung, có sự kiểm
sốt chặt chẽ; đàng khác, họ toàn là người mới, trẻ, thường xuất thân từ các trường
Đại Học, hay Cao Đẳng ở trong nước hay ngoại quốc. Đó là các ơng Nhất Linh,
Khái Hưng, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ ...
- Cơ quan ngơn luận là tờ báo Phong Hố và, sau này, là tờ Ngày Nay, đều là
những tờ báo, về mặt kỹ thuật, tổ chức tòa Soạn, nghệ thuật trình bày, về nội dung
bài vở... nhất thiết đều mới mẻ, nhẹ nhàng, vui tươi, thức thời ... Lập trường khơng
cịn phải cái thứ lập trường hồ hỗn nước đôi. Họ muốn tiến với bất cứ giá nào,
dầu phải tàn nhẫn, phải đập phá, phải chém giết... Mà thực họ đã tàn nhẫn với tất cả
cái gì mà họ coi là cũ, họ đập phá tất cả cái gì mà họ cho là ngáng trở bước đi tới
của họ, và lắm khi họ chẳng ngại đổ máu để giật phần thắng lợi. Văn của họ rất độc
đáo, họ khởi xuất một lối văn mới mẻ, đơn sơ, bình dân, dễ hiểu, vui tươi. Những
thứ khí giới ấy đã tạo nên thế mạnh để họ lập mặt trận và tuyên chiến với tất cả học
giới đương thời. Họ gây gổ và tuyên chiến với các nhà văn lão thành.
Thứ ba: Đặc tính của khối C chống Phong Hóa - Ngày Nay: Những đồng


13
nghiệp bị báo Phong Hóa cơng kích, bêu xấu, đơng đảo vơ cùng và thuộc đủ mọi
lứa tuổi, có người thuộc phái cựu học mà rất lắm người còn mới hơn cả anh em bên

Phong hóa. Chính vì vậy mà một mặt trận mới như được liên kết lại từ năm 19341935: một bên là Phong Hoá, một bên là hầu hết các tạp chí khác; một trận tuyến
được giàn ra, gay go, kéo dài hàng mấy năm liền giữa hai khối. Nếu từ 1932 đến
1934 là trận tuyến Phong Hóa giàn ra để đánh tất cả làng báo mà Phong hóa coi là
cổ lỗ, thì từ năm 1934 trở đi, một sự tổng phản cơng của các báo chí khác vừa mới
ra đời từ năm 1934, đã liên hiệp lại để đánh thẳng vào Phong Hoá. Và chiến dịch
tấn cơng Phong Hóa của Mặt trận hay khối thứ ba, tạm gọi là khối C này gồm có
những báo như Tiểu Thuyết Thứ Bảy (1934), Loa (1934), Hà Nội báo (1936), Ích
hữu (1936). (23, tr. 647, 655)
Có lẽ khơng có tờ báo nào chống đối nhóm Phong Hóa mạnh mẽ cho bằng
Hà Nội báo. Chẳng mấy số Hà Nội báo khơng có bài cơng kích Phong Hóa. Ở đây
chỉ đề cập đến những bài tiêu biểu, mạnh mẽ hơn, nội dung đề cập như: Tố cáo
Phong Hóa đã đưa ra “lời vu cáo hèn hạ” đối với Nguyễn Công Hoan; mỉa mai gọi
Phong Hóa là bầy ong, bầy ruồi vỡ tổ; kết án Phong Hóa trả lời đồng nghiệp " bằng
những câu thô bỉ, bằng một giọng hèn nhát "không đứng trên lập trường tư tưởng
hay nghệ thuật để phê phán mà chỉ cố ý bêu xấu cá nhân của đồng nghiệp một cách
rất vơ lý như việc Phong Hóa chửi Hà Nội báo chỉ vì ơng Lê Cường, chủ trương Hà
Nội báo là ông chủ một nhà thuốc lớn, một nhà in bề thế.
Nguyễn Công Hoan đã cố vạch ra cho độc giả thấy cái gian ý của Tự Lực
Văn Đồn trong khi họ lên tiếng kết án Cơ giáo Minh là bắt chước Đoạn Tuyệt. (23,
tr.661)
Nguyễn Công Hoan viết hai bài: Từ Đoạn Tuyệt đến cô giáo Minh (Ích Hữu
số 2) và bài: Cùng ơng Khái Hưng (Ích Hữu số 4). Ở cả hai bài, Nguyễn Công Hoan
đều trả lời Tự Lực Văn Đồn về việc cơng kích tác phẩm cô giáo Minh bằng đường
lối mà Nguyễn Công Hoan cho rằng có gian ý, muốn dìm đồng nghiệp.
Sau khi Nguyễn Cơng Hoan lên tiếng, thì Lãng Nhân Phùng Tất Đắc họa lời
bênh vực tác giả Cô giáo Minh và cho rằng lối phê bình của nhóm Tự lực văn đoàn


14
là thiên lệch một chiều.

Trên đây là tập hợp một số đề tài, bài viết nghiên cứu về tiểu thuyết Đoạn
tuyệt của Nhất Linh các đề tài, bài viết chủ yếu bàn về nghệ thuật xây dựng nhân vật
của Nhất Linh. Cịn các đề tài nghiên cứu về Cơ giáo Minh lại chủ yếu nghiên cứu
về những nét đặc sắc riêng trong ngịi bút của ơng qua các tác phẩm tiêu biểu ở các
thể loại này. Nhìn chung các bài viết đều tập trung về ngòi bút, cách xây dựng nhân
vật riêng của mỗi nhà văn. Có những bài báo đề cập đến cuộc tranh luận về “Vụ án
văn”; nhưng lại chưa đề cập, khai thác, hay đặt ra vấn đề so sánh ý hệ “Văn minh”
trong Đoạn tuyệt và cơ giáo Minh. Dựa qua q trình tham khảo, kế thừa những kết
quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, chúng tơi tiếp cận vấn đề ý hệ “văn minh”
trong tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực trong văn học Việt Nam trước 1945, trường
hợp Đoạn tuyệt và cô giáo Minh với mong muốn chỉ ra điểm giống và khác nhau
giữa hai tác phẩm. Từ đó có thể có những đánh giá, nhận định những sáng tạo riêng
về quan điểm, tư tưởng, cách nhìn của Nhất Linh cũng như của Nguyễn Công Hoan
trước một vấn đề được quan tâm trong xã hội lúc bấy giờ.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài đi tìm hiểu, nghiên cứu, tiến hành đối chiếu, so
sánh ý hệ “văn minh” trong hai tác phẩm thuộc hai dòng văn học lãng mạn và hiện
thực của văn học Việt Nam trước 1945, cụ thể qua trường hợp Đoạn tuyệt và cô
giáo Minh. Làm rõ những điểm giống và khác nhau giữa hai tác phẩm khi cùng đặt
ra, xây dựng và triển khai một vấn đề, trong cùng một thời điểm. Từ đó thấy được
những sáng tạo riêng của mỗi tác giả.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Nghiên cứu ý hệ “Văn minh” trong hai tiểu thuyết Đoạn tuyệt và Cơ giáo Minh trên
tồn bộ tác phẩm; từ việc chọn lựa các tuyến nhân vật, diễn biễn tính cách, số phận
khẳng định được những dấu ấn tư tưởng, quan điểm, cách nhìn riêng của mỗi nhà
văn đối với các vấn đề đặt ra trong xã hội đương thời. Đồng thời thấy được những
đóng góp của mỗi tác phẩm trong văn học Việt Nam trước 1945.


15

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Ý hệ “Văn minh” qua Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh
trong khuôn khổ trường văn học Việt Nam trước 1945.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Cô
giáo Minh của Nguyễn Công Hoan. Q trình tìm hiểu, phân tích có thể mở rộng
phạm vi, nếu thấy cần thiết để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
1.5. Phương pháp nghiên cứu.
1.5.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ việc khảo sát, phân tích nhân vật ở các khía cạnh, vấn đề mà đề tài đặt ra,
người viết chú ý đến những đặc sắc trong từng tác phẩm để có thể làm hiện diện ra
nét riêng độc đáo của từng nhà văn, Để chỉ ra một số chi tiết, sự kiện từ đó phân tích
việc thể hiện xung đột giữa tư tưởng giáo dục cũ, mới trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt
và Cô giáo Minh; các chi tiết liên quan đến nhân vật đại diện tư tưởng cũ, mới, 2
tuyến nhân vật này xung đột như thế nào? Sự kiện nào có sự xung đột mạnh
nhất....để từ đó có các minh chứng làm căn cứ rõ ràng, xác đáng cho việc nhận xét,
đánh giá.. Từ việc phân tích đó, chúng tơi có cơ sở để đi đến những kết luận có tính
chất tổng hợp, khoa học.
1.5.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để chỉ ra và làm rõ những điểm giống, khác nhau về ý hệ văn minh trong
Đoạn tuyệt cũng như Cô giáo Minh, cần đặt chúng trong sự so sánh, đối chiếu mới
thấy được những biểu hiện riêng của từng tác phẩm.
1.5.3. Phương pháp xã hội học văn học
Vận dụng phương pháp này để chỉ ra sự ảnh hưởng của xã hội đến sáng tác
văn học, vấn đề đầu tiên là tìm ra mối quan hệ giữa tác phẩm với môi trường xã hội
mà trong đó nó được hình thành, triển khai và hồn thiện thành tác phẩm. Xã hội
đương thời chính là căn cứ để đánh giá những diễn biến, biến đổi trong cuộc đời của
nhân vật. Nhà nghiên cứu phải phân tích những vấn đề trong đời sống thực tế, lấy


16

nó làm tiêu chí để xác định các giá trị mà nhà văn muốn hướng tới khi đề cập, đặt ra
vấn đề ấy trong sáng tác của mình. Từ đó chỉ ra cách nhìn, quan điểm của mỗi nhà
văn về xã hội đó.
Ngồi ra, trong q trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi tham khảo; vận
dụng một số kiến thức liên quan đến phê bình nữ quyền làm cơ sở triển khai.


17
1.6. Về cấu trúc của luận văn.
Đề tài đi tìm hiểu, phân tích, nghiên cứu cụ thể qua việc so sánh, đối chiếu ý
hệ “văn minh” giữa tiểu thuyết lãng mạn và hiện thực trong trường văn học Việt
Nam trước 1945, trường hợp Đoạn tuyệt và Cô giáo Minh để chỉ ra điểm giống,
khác nhau. Từ đó nhận định về tư tưởng, quan điểm, thái độ của mỗi nhà văn trong
cách nhìn hiện thực xã hội Việt Nam đương thời. Đồng thời thấy được sự đóng góp
của mỗi nhà văn trong cơng cuộc đấu tranh giải phóng con người; trân trọng hạnh
phúc và khát vọng thay đổi cuộc sống của con người; cách giải quyết mối quan hệ
giữa cái cũ với cái mới; phá bỏ những cái lỗi thời, cổ hủ đã tồn tại bao đời nay trong
nếp sống của con người Việt Nam. Luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung của luận văn được triển khai thành 3
chương:
Chương 1: Vấn đề giáo dục
Chương 2: Gia đình và luân lý
Chương 3: Vấn đề giới tính
Việc triển khai luận văn theo cấu trúc 3 chương dựa trên từ khóa trong tên đề
tài: Ý hệ “văn minh”. Đó chính là sợi dây liên kết xuyên suốt 3 chương của luận
văn, gồm những khía cạnh chính cho phép nhận diện ý hệ văn minh.


18


Chương 1: VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC
1.1. Các vấn đề cơ bản về giáo dục:
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, khơng thể thiếu được vai trị quan
trọng của giáo dục đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại.
Nói đến giáo dục, có thể khái quát một số vấn đề cơ bản như sau: Giáo dục là
cách tiếp thu về kiến thức, các thói quen, phong tục và những kỹ năng của con
người đã được lưu truyền thơng qua các thế hệ bởi hình thức giảng dạy, nghiên cứu
hoặc đào tạo; là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc
biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo
hướng tích cực. Nghĩa là nói đến vai trị góp phần hồn thiện nhân cách người học
bằng những tác động có ý thức từ bên ngồi, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại
và phát triển của con người trong xã hội.
Mục đích của giáo dục sẽ thay đổi và tương ứng theo từng giai đoạn khác
nhau. Được chia ra làm những loại cơ bản. Đó là: Mục tiêu giáo dục tiếp cận với
truyền thống, tiếp cận cá nhân, giáo dục truyền thống - cá nhân.
Nhìn chung mỗi loại đều hướng tới các mục tiêu giáo dục cụ thể, nó có
những ưu điểm, hạn chế nhất định. Tóm lại qua các loại cơ bản của mục tiêu chính
là cung cấp, trang bị về các kiến thức và kỹ năng. Rèn luyện đạo đức, nhân cách và
lối sống của con người giúp mọi người có thể hịa nhập vào với cộng đồng xung
quanh. Các vai trò của giáo dục sẽ mang tới lợi ích cơ bản: Giúp mỗi người có thể
sống tự lập hơn; lựa chọn một cuộc sống an toàn, ổn định và hạnh phúc nhất. Nếu
được giáo dục tốt sẽ giúp nâng cao thu nhập của mỗi người, góp phần cho nền kinh
tế được tăng trưởng. Xã hội đảm bảo công bằng, bình đẳng. Giúp con người bản
lĩnh, tự tin, rèn luyện mình hướng tới những phẩm chất tốt đẹp.
Đất nước Việt Nam có một lịch sử giáo dục lâu đời và đã đạt được nhiều
thành tựu. Qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau giáo dục đã đóng góp khơng nhỏ
vào sự nghiệp phát triển đất nước.


19

Nền giáo dục truyền thống của Việt Nam trong thời phong kiến có thể nói đã
ảnh hưởng khơng ít giáo dục phong kiến Trung Hoa - giáo dục Nho giáo. Những
hạn chế trong nội dung giáo dục và mục tiêu giáo dục Nho giáo khơng những đã
làm trì trệ nền giáo dục nước nhà, mà còn là lực cản cho sự phát triển của đất nước.
Thời kỳ thuộc Pháp, thấy được tầm quan trọng của giáo dục đối với công
cuộc khai thác thuộc địa. Pháp đã áp đặt nền giáo dục phương Tây vào nước ta. Khi
bối cảnh giáo dục Nho giáo đang hồi suy tàn không đáp ứng được yêu cầu đào tạo
nhân tài cho đất nước, thì nền giáo dục phương Tây đã đưa đến những yếu tố mới
cho nền giáo dục. Thời kỳ này đã đào tạo được một thế hệ trí thức Tây học có tư
tưởng tiến bộ. Đó chính là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời các trào lưu văn hoá với sự
ảnh hưởng, tiếp thu tư tưởng phương Tây xuất hiện tại Việt Nam; mang theo những
diện mạo mới trong đời sống văn hố, tư tưởng ở nước ta. Góp phần mở mang nhận
thức mới trong một bộ phận trí thức ở Việt Nam, đặc biệt đặt ra vấn đề nữ quyền và
đấu tranh bảo vệ quyền của người phụ nữ tại một đất nước phong kiến ngàn đời nay
vốn người phụ nữ khơng có tiếng nói, khơng có vị trí trong xã hội.
Ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, quyền lợi của người phụ nữ Việt Nam hầu như
chưa được chú trọng. Trong xã hội phong kiến Việt Nam ấy, người phụ nữ luôn
được chỉ đứng sau người nam giới, người Việt Nam truyền bá nhau câu nói: “Nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô” và xã hội áp đặt thật nhiều quy định gò ép người phụ
nữ phải thực hiện: “Đàn ơng có thể năm thê bảy thiếp, nhưng phụ nữ chính chuyên
chỉ được phép lấy duy nhất một chồng,...
Dưới sự ảnh hưởng của văn hố phương Tây, trong đó có văn hố Pháp đã
làm thay đổi nhận thức của trí thức Việt Nam khi bàn về vấn đề nữ quyền. Lần đầu
tiên trong xã hội Việt Nam, khái niệm „nữ quyền” được nhắc đến trong bài Về thói
trọng nam khinh nữ của ta đăng trên báo Đông Dương tạp chí ngày 11 tháng 02
năm 1914. Bài viết hướng tới nội dung kêu gọi phụ nữ Việt Nam đấu tranh cho
quyền bình đẳng giới. Năm 1916, trên tờ báo Trung Bắc tân văn, ở mục Nhời đàn
bà, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã đăng bài Bàn về nữ quyền. Nguyễn Văn Vĩnh đã
cho rằng: Người đàn bà trời sinh ra để làm bạn, để gánh vác một công việc với



20
người đàn ông chứ không phải để làm thân trâu ngựa.
Khoảng những năm cuối thập niên 1920, bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam việc
đề cập đến vấn đề quyền của người phụ nữ và bình đẳng nam nữ trong nhiều cuốn
sách của nhiều tác giả; các tác phẩm viết về nữ quyền của các nhà tư tưởng lớn
thông qua nhiều con đường khác nhau đã được các trí thức Việt Nam đầu thế XX
tiếp thu, ủng hộ và giới thiệu trên báo chí cũng như xuất bản thành sách nhằm phổ
biến trong nhân dân. Điều này phản ánh quá trình phát triển về mặt nhận thức của
người trí thức Việt Nam đầu thế kỉ XX về vấn đề phụ nữ và bình đẳng nam nữ. Các
cuốn sách về đề tài này có ý nghĩa như di sản tinh thần của người trí thức Việt Nam
trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Góp phần khẳng định và khơi dậy các quan
điểm, phong trào đấu tranh giải phóng phụ nữ khỏi những luân thường đạo lý được
cho là khắt khe, cổ hủ với phụ nữ Việt Nam. Phong trào đấu tranh giải phóng phụ
nữ và lên tiếng địi xóa bỏ gia đình phụ quyền, xóa bỏ những lễ giáo khắt khe đối
với người phụ nữ,... diễn ra mạnh mẽ trên nhiều trang báo, tạp chí…Cùng với việc
đấu tranh vì sự tự do trong hôn nhân của nam nữ, chế độ đa thê bị lên án. Xã hội
hướng tới sự đấu tranh vì một chế độ hơn nhân một vợ một chồng.
Như vậy, việc đề cập tới quyền của người phụ nữ như quyền bình đẳng; cũng
như việc đấu tranh xóa bỏ những lễ giáo phong kiến khắt khe và vô lý đối với người
phụ nữ Việt Nam nhằm hướng tới chế độ tình u tự nguyện, hơn nhân bình đẳng,
hơn nhân một vợ một chồng và gia đình hạnh phúc,... là những tư tưởng tiến bộ
dưới sự tác động với văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp. Trong dịng vận động tiến
bộ và tích cực ấy, người trí thức Việt Nam đóng vai trị nịng cốt nhất, từ việc đón
nhận, phổ biến, lên tiếng đấu tranh vì quyền của người phụ nữ Việt Nam. Qua đó
cho thấy, tác động của văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp thực sự trở thành động
lực thơi thúc người trí thức Việt Nam trong q trình đón nhận và thực hiện hóa
những vấn đề tiến bộ trong đời sống xã hội.
Khi thực dân Pháp xâm lược, sự đàn áp và bao nhiêu đau thương mà chúng
gây ra cho nhân dân Việt Nam không thể kể hết. Nhưng cũng khơng thể phủ nhận

yếu tố tích cực từ sự kiện xâm lược ấy, là tạo cơ hội cho sự du nhập, tiếp xúc với


×