BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
NGUYỄN THỊ TUẤT
“VŨ KHÚC TÀY” CỦA Y PHƯƠNG
TỪ GĨC NHÌN BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chun ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2020
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
NGUYỄN THỊ TUẤT
“VŨ KHÚC TÀY” CỦA Y PHƯƠNG
TỪ GĨC NHÌN BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chun ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng
Phú Thọ, năm 2020
i
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng em; các số
liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và không trùng
lặp với các đề tài khác. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc ghi rõ
nguồn gốc.
ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với TS.Nguyễn
Thị Thúy Hằng – ngƣời thầy đã tận tâm, tận tình hƣớng dẫn để em hoàn thành
luận văn này.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cơ Phịng Đào tạo, khoa Văn hóa và
Du lịch - trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã trực tiếp giảng dạy, hƣớng dẫn,
quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, đồng nghiệp tại trƣờng THCS
Đồng Lƣơng, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em
hồn thành chƣơng trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ngƣời thân, gia đình, bạn bè đã
ln động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận
văn.
Do điều kiện thời gian có hạn, dù đã rất cố gắng song luận văn cũng
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Kính mong q thầy, cơ giáo và
các bạn đọc lƣợng thứ và góp ý.
Phú Thọ, ngày
tháng
Ngƣời thực hiện
Nguyễn Thị Tuất
năm 2020
iii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ......................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................... 4
2.1. Tình hình nghiên cứu về biểu tƣợng .................................................. 4
2.2. Tình hình nghiên cứu về thơ của Y Phƣơng ...................................... 6
2.3. Nghiên cứu về biểu tƣợng trong “Vũ khúc Tày” ................................ 8
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 9
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 9
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................ 9
4.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: ....................................................................... 10
6. Đóng góp của luận văn ............................................................................ 11
CHƢƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BIỂU TƢỢNG VÀ THƠ Y PHƢƠNG
......................................................................................................................... 12
1.1. Quan niệm biểu tƣợng .......................................................................... 12
1.2. Biểu tƣợng nhìn từ các góc độ khác nhau ............................................ 14
1.3. Biểu tƣợng trong văn học ..................................................................... 17
1.4. Biểu tƣợng thơ ca ................................................................................. 19
1.4.1. Khái lƣợc về biểu tƣợng thơ ca ..................................................... 19
1.4.2. Đặc điểm và ý nghĩa của biểu tƣợng thơ ca .................................. 20
1.5. Thơ Y Phƣơng ...................................................................................... 22
1.5.1. Hành trình đến với thơ ca của Y Phƣơng ..................................... 22
1.5.2. Sự nghiệp thơ ca của Y Phƣơng .................................................... 24
CHƢƠNG 2: BIỂU TƢỢNG XÃ HỘI ........................................................... 29
2.1. Khái lƣợc về biểu tƣợng xã hội ............................................................ 29
2.2. Các biểu tƣợng xã hội ........................................................................... 30
2.2.1. Biểu tƣợng Mẹ - tình yêu thƣơng và đức hi sinh .......................... 31
iv
2.2.2. Biểu tƣợng “Em” ........................................................................... 40
CHƢƠNG 3: BIỂU TƢỢNG TỰ NHIÊN ...................................................... 53
3.1. Khái lƣợc về biểu tƣợng tự nhiên ........................................................ 53
3.2. Các biểu tƣợng tự nhiên trong tập “Vũ khúc Tày” .............................. 59
3.2.1. Hoa – vẻ đẹp con ngƣời và quê hƣơng ......................................... 60
3.2.2. Ánh sáng – niềm tin và khát vọng ................................................ 70
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 88
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc sinh sống rải
khắp ba miền Bắc - Trung - Nam cùng các nền văn hóa, văn học khác nhau.
Nền văn học Việt Nam đƣợc tỏa sáng hơn khi đặt trong tƣơng quan với các
văn học các dân tộc thiểu số. Văn học dân tộc miền núi, trong đó có thơ ca là
một bộ khơng nhỏ tạo nên nền văn học dân tộc Việt đặc sắc, riêng biệt. Theo
tiến trình lịch sử hình thành, thơ ca của đồng bào dân tộc thiểu số thời kỳ đổi
mới, từ thế hệ đầu với các tên tuổi nhƣ: Bàn Tài Đồn, Nơng Quốc Chấn,
sang thế hệ thứ hai: Y Phƣơng, Lò Ngân Sủn, rồi thế hệ tiếp theo tiêu biểu là
Dƣơng Thuấn, Lị Cao Nhum… ta thấy hình ảnh bà con dân tộc đều mang
dáng dấp, phong thái của riêng địa phƣơng, đặc biệt lá dấu ấn văn hóa Tày.
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, các thế hệ nhà thơ đã tạo dựng
đƣợc một nền văn nghệ vơ cùng phong phú và đa dạng đóng góp một phần
không nhỏ trong sự trƣởng thành của thơ ca Việt Nam.
Có thể nói: Trƣớc những năm 1975, văn học Tày có nhiều nét gần gũi
với văn học dân gian khơng chỉ ở thể loại thơ mà cịn cả văn xi. Các tác giả
thuộc thế hệ nhà thơ khởi đầu có sự gần gũi với những ngƣời chiến sĩ. Cho
nên trên con đƣờng đi tìm tự do và hành trình nghệ thuật vô cùng gian khổ, họ
chịu ảnh hƣởng bởi nhận thức tƣ tƣởng của ngƣời đi đầu. Với nét chất phác,
tự nhiên, mộc mạc, thô giáp của ngƣời vùng cao, lần đầu tiên họ đƣợc va
chạm với những điều đổi mới của văn xi nhƣ Hồng Văn Thụ, Nơng Quốc
Chấn, Nông Viết Toại. Trong tác phẩm của họ, bản sắc của văn hóa Tày đƣợc
kế thừa và phát huy.
Đến thế hệ thứ hai của thơ ca Tày đặc biệt là các sáng tác sau năm 1975
có sự biến đổi lớn. Nhƣng dấu ấn đậm nhất của sự biến đổi lại nằm ở thế hệ
thứ ba với những tên tuổi tiêu biểu nhƣ Y Phƣơng, Mai Liễu, Dƣơng Thuấn
thì dấu ấn văn hóa Tày, con ngƣời Tày đƣợc in đậm. Các nhà thơ đã thấy
2
đƣợc ý nghĩa của truyền thống dân tộc trong sáng tạo văn chƣơng và trách
nhiệm cao cả của ngƣời nghệ sĩ đối với đồng bào vùng cao. Trong “làng văn”
các dân tộc thiểu số nói chung và văn hóa Tày nói riêng, cùng với những cây
bút tên tuổi trên văn đàn nghệ thuật, thì Y Phƣơng là một cây bút tiêu biểu,
điển hình hịa vào con sơng dạt dào cảm xúc của văn chƣơng Việt Nam.
1.2. Gần 40 năm miệt mài sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ Y Phƣơng đã có
đóng góp nhiều nét mới mẻ cho thơ ca Việt Nam trên con đƣờng đổi mới.
Trong thơ ơng có nét vừa hiện đại xen lẫn nét truyền thống. Y Phƣơng đã kết
hợp nét nét riêng của quê hƣơng Cao Bằng, văn hóa Tày với những nét cổ xƣa
của dân tộc.
Tiếp cận thơ Y Phƣơng, ta dễ nhận thấy cách viết tự nhiên, giản dị
nhƣng thật triết lý mà ông đúc kết trong gần cả cuộc đời cầm bút. Trong
quãng đời cầm bút, ông luôn băn khoăn, trăn trở về việc giữ gìn, bảo tồn bản
sắc dân tộc, văn hố Tày. Mỗi trang viết của ông luôn bộc lộ một tấm lịng
đau đáu hƣớng về gia đình, q hƣơng xứ sở, về mảnh đất chơn nhau cắt rốn,
về dân tộc mình. Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật miệt mài, ơng luôn trăn
trở từng con chữ, miệt mài sáng tạo nghệ thuật để đóng góp và mong muốn
bảo tồn đƣợc vốn văn hóa Tày.
1.3. Trong kho tàng thơ của Y Phƣơng, tập thơ “Vũ khúc Tày” - gồm 108
bài thơ hầu hết là các bài thơ tình nhƣ một dịng chảy liên tục hoà vào mạch
cảm xúc về con ngƣời và quê hƣơng ông. Trong tập thơ, đáng chú ý là nhà
thơ đã xây dựng một hệ thống hình ảnh mang tính biểu tƣợng hết sức gần gũi,
giản dị đậm chất Tày.
Con đƣờng thai nghén một biểu tƣợng trong tập thơ đƣợc tác giả đi từ
việc phát hiện một hình ảnh, một sự vật để diễn đạt một quan niệm nào đó.
Tiếp theo là q trình quan sát, tri giác đời sống xã hội và tự nhiên, con ngƣời
rồi rút ra mối liên hệ giữa cái biểu đạt và cái cần biểu đạt. Tiêu biểu nhất là
tình yêu với những gì đầy ắp chất Tày của q ơng. Mỗi hình ảnh thơ đƣợc
3
ông xem xét, đối chiếu ở những mức độ cụ thể để truyền tải ý khác nhau. Tuy
nhiên những hình ảnh đó vẫn hƣớng đễn mục tiêu phản ánh các giá trị chân,
thiện, mĩ của cuộc sống.
Đọc Vũ khúc Tày, ta nhận thấy Y Phƣơng đã dành khá nhiều công sức,
trí tuệ viết về con ngƣời và quê hƣơng nơi ơng sinh ra. Nói về tình u đơi
lứa, tình cảm phu thê, tình q hƣơng, ơng ln trong một tâm thế khát khao,
đa phần hồi cổ, hoài niệm để rồi xen lẫn bâng khuâng pha chút ngậm ngùi.
Trong sâu thẳm của bài ca song ngữ Vũ khúc Tày, Y Phƣơng cịn kín đáo bộc
lộ tâm sự khiến ngƣời đọc nhiều khi khơng dễ tìm thấy nỗi cơ đơn của một thi
sĩ đã tự cho mình là “Ngƣời đá”,“Ngƣời sơng”,“Ơng già trăm năm cơ đơn”.
Chính vì những lí do đó mà hiện nay tập thơ Vũ khúc Tày đã thu hút
đƣợc nhiều tác giả quan tâm và có cái nhìn đặc biệt về tập thơ song ngữ này.
TS. Lê Thị Bích Hồng ngƣời đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu, tìm hiểu về
thơ Y Phƣơng khi đọc Vũ khúc Tày trong bài viết “Nhập hồn lên đồng” cũng
phải thốt lên rằng: “ Chạm mắt vào bản thảo song ngữ “Vũ khúc Tày”( Tủng
Tày), tôi thực sự bị cuốn hút, bị thôi miên, bị dẫn dụ đến mê muội ngay từ lời
đề từ Xin thƣa [ 25].
Vũ khúc Tày là cơng trình viết bằng chữ song ngữ Việt – Tày của Y
Phƣơng đƣợc nhận giải thƣởng của Hội Nhà văn Việt Nam tại Lễ trao giải
thƣởng Văn học năm 2016, tổ chức ngày 14 - 1, tại Hà Nội. Tập thơ đƣợc
đánh giá là bƣớc trƣởng thành cả về nội dung và hình thức, góp phần khẳng
định tên tuổi Y Phƣơng trong nền thơ ca hiện đại dân tộc thiểu số nói riêng và
thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung.
1.4. Vũ khúc Tày là tập thơ chan chứa một niềm tin trẻ trung và mãnh liệt
vào tình yêu, cuộc sống, con ngƣời của ông qua cách bộc lộ rất hồn nhiên,
chân thật. Ở đó ơng đã xây dựng nhiều hình ảnh đẹp độc đáo tràn đầy tình yêu
thƣơng đặc biệt là về ngƣời phụ nữ trong đó có ngƣời mẹ, ngƣời vợ, ngƣời
con gái. Bên cạnh đó cịn có những hình ảnh thiên nhiên đậm chất núi rừng
4
nhƣ hoa lá tự nhiên, con đƣờng, bầu trời mặt đất...Triết lí nhân sinh đƣợc tác
giả gửi gắm qua nhiều chi tiết mang tính biểu tƣợng, tƣợng trƣng với các cấp
độ khác nhau đƣợc xây dựng đậm sắc thái con ngƣời vùng cao trong đó có nét
Tày nói riêng. Ngơn ngữ Việt – Tày trong mỗi bài giản dị nhƣ suối nguồn dào
dạt, trong mát. Nó tn chảy từ lời ăn tiếng nói của bà con địa phƣơng và rút
ra từ sự trải nghiệm cuộc sống vùng cao sơn cƣớc mà có để rồi trở thành hình
ảnh biểu tƣợng nghệ thuật, minh chứng cho sự độc đáo, sáng tạo của Y
Phƣơng.
1.5. Hiện nay, văn học của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều
khoảng trống cần đƣợc khai thác. Thực tiễn cho thấy việc giới thiệu, học tập
trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng về văn học thiểu số vẫn chỉ chiếm
một dung lƣợng nhỏ. Trong chƣơng trình sách giáo khoa phổ thơng hiện tại
chỉ cịn giữ lại hai bài thơ đó là: “Nói với con”– Y Phƣơng THCS và sang
THPT đƣợc chọn học bài thơ “Dọn về làng” của Nông Quốc Chấn. Điều này
minh chứng cho sự bền vững của thơ Y Phƣơng đối với nền văn học dân tộc
Việt Nam.
Tuy nhiên, một trong những mục tiêu để chiếm lĩnh khai thác tìm hiểu
tác phẩm văn học sâu sắc là đi vào giải mã các biểu tƣợng nghệ thuật trong
tác phẩm. Đây đƣợc coi là một thao tác vô cùng quan trọng để khai thác chiều
sâu của tác phẩm mà ngƣời nghệ sĩ muốn kí thác.
Với mong muốn tìm hiểu giá trị đặc sắc các sáng tác thơ Y Phƣơng nói
chung và giá trị của tập thơ Vũ khúc Tày nói riêng, chúng ta có thể nghiên cứu
và vận dụng lí thuyết biểu tƣợng. Xuất phát từ đó, tơi chọn: “Vũ khúc Tày”
của Y Phương từ góc nhìn biểu tượng nghệ thuật” làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn của bản thân.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu về biểu tượng
Có thể thấy biểu tƣợng từ lâu đã đƣợc nhiều ngành khoa học, nhiều nhà
5
khoa học nghiên cứu, quan tâm trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam. Vì thế lí
thuyết về biểu tƣợng hiện nay vô cùng phong phú và đa dạng.
Trên thế giới, biểu tƣợng đƣợc nhiều ngành khoa học hƣớng đến quan
tâm, nghiên cứu:
Trong triết học Trung Quốc, Chu Hy (Dịch thuyết cƣơng lĩnh) đã viết:
Tƣợng là lấy hình tƣợng này để bày tỏ nghĩa kia, tức là dùng cái có thể hiểu
biết để nói lên cái điều khó có thể hiểu biết.
Trong Mỹ học, tác giả F. Herghen cũng xem biểu tƣợng là đối tƣợng để
phân tích. Trong Phân tâm học G. Jung - trong cuốn Con ngƣời và những biểu
tƣợng của nó năm 1964 cũng đã lấy biểu tƣợng làm đối tƣợng nghiên cứu cho
phân tâm học. Sausure - nhà ngôn ngữ học lấy biểu tƣợng làm đối tƣợng phân
tích của ngơn ngữ học cấu trúc. Cịn Jean Chavelive - ngƣời Pháp đã tập hợp
biểu tƣợng và xây dựng thành cơng cuốn “Biểu tƣợng văn hóa thế giới” năm
1977.
Ở Việt Nam, lí thuyết về biểu tƣợng cũng đƣợc sự quan tâm thu hút của
nhiều tác giả: Phạm Đức Dƣơng( 2002) qua bài viết Thế giới biểu tƣợng tiếp
cận từ góc độ văn hóa học. Tác giả Trịnh Bá Đĩnh( 2016), với bài Biểu tƣợng
từ góc nhìn văn hố…. Ở mỗi bài viết, các tác giả đi nghiên cứu về ý nghĩa
biểu trƣng của các biểu tƣợng đặc thù trong các nền văn hóa, văn học dân tộc.
Tác giả Trịnh Bá Đĩnh có một bài viết quan trọng về Biểu tƣợng từ góc
nhìn văn hóa, sau đó ơng mở rộng triển khai vấn đề biểu tƣợng từ góc độ kí
hiệu học trong cơng trình của mình Từ ký hiệu đến biểu tƣợng, Nxb. Khoa học
xã hội Hà Nội, 2017. Cuốn sách bàn đến các vấn đề liên quan đến biểu tƣợng
nghệ thuật từ góc độ kí hiệu học. Theo đó, biểu tƣợng này đƣợc xem nhƣ một
dấu hiệu, một loại biểu tƣợng đặc biệt.
Nghiên cứu mang tính tƣợng trƣng về văn hoá và nghệ thuật là một xu
hƣớng khoa học hiện đại trên thế giới, đƣợc gọi là Semiotics of Culture. Cuốn
sách gồm 3 phần, Nghiên cứu lý thuyết, Nghiên cứu ứng dụng với những ví dụ
6
nhƣ biểu tƣợng của Hà Nội trong văn học, hệ thống biểu tƣợng nữ thần trong
tiểu thuyết MAU THƢỜNG NGÂN của Nguyễn Xuân Khánh, biểu tƣợng
trong thơ của Hoàng Cầm (1922 - 2010), biểu tƣợng cây trong thần thoại Việt
Nam dân tộc thiểu số: cây của Totem và cây phổ qt. Ơng cịn triển khai
nghiên cứu biểu tƣợng trong các bộ phim hiện đại của Việt Nam.
Trên phƣơng diện văn học, biểu tƣợng cũng đƣợc một số nhà nghiên
cứu đề cập trong một số cơng trình, bài báo khoa học. Tiêu biểu:
Bài viết Biểu tƣợng lửa trong các tác phẩm văn học Việt Nam ở nhà
trƣờng phổ thông, TS.Ngô Thị Phƣợng, Khoa Ngữ Văn, Trƣờng Đại học Tây
Bắc[48]. Những biểu tƣợng nghệ thuật trong thơ Tố Hữu,Thạc sĩ Nguyễn Thị
Nguyệt, (2011),Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn[42]. Biểu
tƣợng nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu (2015), Đoàn Thị Hồng Sƣơng Trƣờng
Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh[54].
Tác giả Bùi Cơng Hùng(1980) trong cơng trình Tiếp nhận nghệ thuật thơ
ca, đã nhận định: “Biểu tƣợng là yếu tố quan trọng hợp thành các rung động,
cảm xúc của con ngƣời”[ 32].
Trong cơng trình Từ văn hóa đến văn học, năm 2002 của GS. TS Phạm
Đức Đƣơng đã đƣa ra một số vấn đề lý thuyết và bƣớc đầu đi giải mã một số
biểu tƣợng. Ông quan niệm: Biểu tƣợng là tín hiệu thẩm mĩ hai mặt: cái biểu
thị là những dạng thức tồn tại của ý niệm dƣới nằm trong thế giới thực tại;
cái đƣợc biểu thị là những ý nghĩa, những giá trị, những thông điệp thuộc thế
giới ý niệm ẩn giấu trong biểu tƣợng”[ 13].
Các tài liệu nghiên cứu đều đề cập tới quan niệm về biểu tƣợng trong các
nghành khoa học và biểu tƣợng trong nghệ thuật. Đây là những thơng tin ý
nghĩa, bổ ích để ngƣời viết làm căn cứ nghiên cứu đề tài “Vũ khúc Tày của Y
Phƣơng từ góc nhìn biểu tƣợng nghệ thuật”.
2.2. Tình hình nghiên cứu về thơ của Y Phương
Y Phƣơng và thơ của ông đã và đang chiếm đƣợc cảm tình của nhiều nhà
7
văn, nhà nghiên cứu, phê bình. Trong những năm gần đây đã có khá nhiều bài
viết về Y Phƣơng đăng trên các bài báo, tạp chí, các đề tài luận văn thạc sĩ
trên cả nƣớc. Tiêu biểu có thể kể đến: Văn học thiểu số Việt Nam hiện đại Từ một góc nhìn, (2008), PGS,TS.Cao Thị Hảo, Nxb Hội Nhà văn[24]. Văn
học dân tộc thiểu số Việt Nam thời hiện đại - Một số đặc điểm (2011),
PGS.TS.Trần Thị Việt Trung,TS.Cao Thị Hảo, Nxb Đại học Thái
Nguyên[55]. Tuyển tập Văn học dân tộc miền núi (1998), Nông Quốc Chấn
và Phạm Quang Trung Tuyển chủ biên, Nxb Giáo dục[9]. Những ngƣời tự đục
đá kê cao quê hƣơng (2015),TS. Lê Thị Bích Hồng[25].Văn học dân tộc thiểu
số Việt Nam – Truyền thống và hiện đại (2015), PGS. TS.Trần Thị Việt Trung
và TS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh đồng chủ biên[56]. Bản sắc Tày trong thơ Y
Phƣơng và Dƣơng Thuấn (2009),Th.s.Nguyễn Thị Thu Huyền[35]. Thơ song
ngữ Y Phƣơng (2006), Th.s. Hoàng Thị Huệ Dinh, trƣờng Đại học Sƣ Phạm
Thái Nguyên[10]. Hệ thống biểu tƣợng trong văn chƣơng Y Phƣơng, TS. Đỗ
Thị Thu Huyền[34]. Thế giới nghệ thuật trong văn chƣơng Y Phƣơng, TS. Lê
Thị Bích Hồng[27].
Gần đây nhất là bài viết của nhóm tác giả Nguyễn Huy Bỉnh, Lê Thị
Bích Hồng, Đỗ Thị Thu Huyền( 2017) “Y Phƣơng - Sáng tạo văn chƣơng từ
nguồn cội”[6]. Đây đƣợc coi là cơng trình nghiên cứu của nhóm tác giả dành
nhiều tâm huyết, rất công phu, trau chuốt trong việc nhận xét, đánh giá về
cuộc đời, sự nghiệp thơ Y Phƣơng; những mảng đề tài nổi bật trong thơ Y
Phƣơng thông qua chất liệu ngôn từ dung dị đƣợc phản ánh qua mỗi tác phẩm
của ơng và tóm tắt những biểu tƣợng cơ bản và nổi bật nhất trong sự nghiệp
sáng tác của nhà thơ.
Tìm hiểu các bài viết, nghiên cứu về Y Phƣơng tôi cho rằng: Hầu hết
trong các bài viết, nghiên cứu về thơ Y Phƣơng đều tập trung đánh ý nghĩa, văn
hóa, lịch sử của các tác phẩm, nét riêng độc đáo trong phong cách thơ ông.
Tác giả Nguyễn Sĩ Đại đã từng nhận xét về Y Phƣơng: Một ngƣời đã
8
sống giữa yên bình, trong trẻo của rừng suối, Báo nhân dân điện tử,
17/09/2016.
Tác giả Nông Hồng Diệu nhận xét: Y Phƣơng đã đƣa tâm hồn vào thơ
Tày, anh tƣ duy theo cách của ngƣời Tày với thi pháp thơ hiện đại, vừa làm
giàu bản sắc dân tộc, vừa mang hơi thở của hiện thực. Đọc thơ anh, ta thấy
sông, thấy suối, thấy đá, thấy rừng cây, thấp thoáng bản nhỏ ngƣời Tày bình
yên, thấy cái đẹp gập nghềnh cách trở của núi rừng và lời mẹ dặn văng vẳng
đâu đây. Đặc biệt là bao trùm lên tất cả là tình ngƣời mộc mạc, chân chất mà
lãng mạn bay bổng.
Nhà văn Tạ Duy Anh có cảm nhận: cũng nhƣ rƣợu ngon, thơ ông càng
để lâu càng ngấm thời gian. Nhà thơ Thúy Quỳnh, một ngƣời rất am hiểu thơ
Y Phƣơng đã tổng kết: Nếu nhƣ nhà thơ của các thế hệ trƣớc Y Phƣơng chân
chất mộc mạc, thẫm đẫm hồn vía Tày thì thơ Y Phƣơng trên cơ sở kế thừa sâu
sắc truyền thống thơ ca Tày đã thực hiện sứ mệnh mang thơ dân tộc ngƣời
Tày gia nhập nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
Điểm thống nhất giữa các nhà nghiên cứu về thơ Y Phƣơng ta thấy rõ là:
nghệ sĩ của dân tộc Tày điển hình và sâu sắc. Trần Đăng Suyền từng đã nhận
xét: Những cây bút làm thơ sau 1975 xuất hiện ngày càng nhiều, đã và đang
từng bƣớc khẳng định vị trí của mình, tiêu biểu là Y Phƣơng. (Ngữ Văn 9 –
Nxb GD).
2.3. Nghiên cứu về biểu tượng trong “Vũ khúc Tày”
Cho đến nay, nghiên cứu về Vũ khúc Tày đã có một số tác giả, tiêu biểu
phải kể đến các bài viết: Nhập hồn cùng lên đồng; Y Phƣơng với Vũ khúc Tày
(2015), TS.Lê Thị Bích Hồng[26]. Đặc sắc”Vũ khúc Tày”của Y Phƣơng
(2015), Nguyễn Đức Hạnh - Báo Thái Nguyên[22]. Những nghiên cứu và
khám phá của các tác giả về tập thơ “Vũ khúc Tày” đã bƣớc đầu đã tìm hiểu
đƣợc giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu giá trị của tập thơ “Vũ khúc Tày”.
9
Bài viết “Y Phƣơng – Sáng tạo văn chƣơng từ nguồn cội” của nhóm tác
giả Nguyễn Huy Bỉnh, Lê Thị Bích Hồng, Đỗ Thị Thu Huyền đề cập đến các
biểu tƣợng trong thơ Y Phƣơng nói chung làm cơ sở để nghiên cứu tập thơ
“Vũ khúc Tày”.
Nhƣng nghiên cứu cụ thể về biểu tƣợng nghệ thuật, cụ thể là biểu tƣợng
xã hội và biểu tƣợng tự nhiên trong tập song ngữ “Vũ khúc Tày” thì chƣa có
tác giả nào đề cập.
Trong vốn khả năng hiểu biết về đặc điểm văn học dân tộc thiểu số và
văn hóa Tày, ngơn ngữ Tày còn chƣa nhiều, tƣ liệu nghiên cứu về tập thơ cịn
có hạn do tập thơ mới ra đời, ngƣời viết sẽ khơng tránh khỏi khó khăn trong
q trình nghiên cứu tập thơ. Song đây cũng là động lực để giúp tơi có điều
kiện đi sâu tìm hiểu, khám phá nghiên cứu và đóng góp một hƣớng tiếp cận
về lí thuyết biểu tƣợng khi nghiên cứu về tập thơ có giá trị nhƣ Vũ khúc Tày
của Y Phƣơng.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra các biểu tƣợng nghệ thuật nổi bật cụ thể là biểu tƣợng xã hội và
biểu tƣợng tự nhiên ở tập thơ Vũ khúc Tày để thấy đƣợc đặc sắc trong phong
cách nghệ thuật của Y Phƣơng.
Qua nghiên cứu biểu tƣợng nghệ thuật xã hội và biểu tƣợng tự nhiên
thấy dƣợc những đóng góp của Y Phƣơng cho thơ ca dân tộc thiểu số nói
chung và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu hệ thống biểu tƣợng xã hội và biểu tƣợng tự nhiên đặc sắc
trong tập thơ Vũ khúc Tày của Y Phƣơng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi khảo sát, nghiên cứu tập thơ Vũ khúc Tày, Nhà xuất bản Đại
học Thái Nguyên, bao gồm 108 bài của tác giả Y Phƣơng. Tất nhiên không
10
phải bài nào tác giả cũng xây dựng biểu tƣợng làm minh chứng cho lý luận đã
rút ra.
Luận văn còn mở rộng, đối chiếu, tìm hiểu nghệ thuật thể hiện biểu
tƣợng trong các tác tập thơ của Y Phƣơng và một số nhà thơ dân tộc thiểu số
khác trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam để minh chứng rõ hơn vấn đề nghiên
cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi kết hợp nhiều phƣơng pháp nghiên cứu
trong đó vận dụng chủ yếu sau:
- Phƣơng pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trƣng thể loại: giúp
ngƣời nghiên cứu đi sâu tìm hiểu giá trị của tập thơ Vũ khúc Tày ở góc nhìn
biểu tƣợng nghệ thuật.
- Phƣơng pháp thống kê, phân loại: chỉ ra đƣợc tần số xuất hiện của các
biểu tƣợng, phân loại biểu tƣợng tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích,
giải mã các biểu tƣợng.
- Phƣơng pháp nghiên cứu hệ thống: đƣa ra các quan niệm, ý kiến khác
nhau về biểu tƣợng biểu tƣợng xã hội và biểu tƣợng tự nhiên. Từ đó khái
qt, hệ thống hố các biểu tƣợng trong tập thơ Vũ khúc Tày của Y Phƣơng.
- Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu: so sánh đối chiếu các biểu tƣợng
khác có liên quan liên hệ để thấy đƣợc điểm giống và khác nhau trong sự sáng
tạo biểu tƣợng nghệ thuật.
- Phƣơng pháp văn hóa học: Tìm hiểu tập thơ từ góc độ văn hóa, đặc
biệt là văn hố Tày thể hiện trong tập thơ thông qua hệ thống biểu tƣợng xã
hội và tự nhiên.
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: tập hợp tri thức của nhiều lĩnh
vực và nhiều ngành học Tâm lí học, Triết học, ngơn ngữ học,Văn hóa, Lịch
sử, Dân tộc học để nghiên cứu thấy đƣợc giá trị tƣ tƣởng của các biểu tƣợng
xã hội và biểu tƣợng tự nhiên trong tập thơ Vũ khúc Tày của Y Phƣơng.
11
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu Vũ khúc Tày của Y Phƣơng từ góc nhìn biểu tƣợng nghệ
thuật nhằm mục đích là nhận diện, chỉ ra, rồi phân tích các biểu tƣợng xã hội
và biểu tƣợng tự nhiên trong tập thơ Vũ khúc Tày của Y Phƣơng.
Thấy đƣợc các giá trị của của các biểu tƣợng trong việc thể hiện chủ đề
tƣ tƣởng của nhà văn. Từ đó làm căn cứ cho việc tìm hiểu đóng góp của Y
Phƣơng nói chung và lí thuyết biểu tƣợng nói riêng trong Vũ khúc Tày.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn trình bày
gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Lí luận chung về biểu tƣợng và thơ Y Phƣơng.
Chƣơng 2: Biểu tƣợng xã hội
Chƣơng 3: Biểu tƣợng tự nhiên
12
CHƢƠNG I: LÍ LUẬN CHUNG VỀ BIỂU TƢỢNG
VÀ THƠ Y PHƢƠNG
1.1. Quan niệm biểu tƣợng
Từ khi sinh ra và lớn lên ít nhất một lần con ngƣời sẽ đƣợc sống với các
biểu tƣợng, vận dụng các biểu tƣợng. Biểu tƣợng đã có mặt trong đời sống
văn hóa, tƣ tƣởng, trên nhiều phƣơng diện khác nhau. Che-va-lier đã từng nói:
“Nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tƣợng thì vẫn cịn chƣa đủ, phải
nói một thế giới biểu tƣợng sống trong chúng ta”[28]. Nhờ có thế giới biểu
tƣợng con ngƣời chúng ta đã xóa nhịa đi đƣợc khoảng cách khơng gian địa lí,
thời gian lịch sử, ngơn ngữ vùng miền để đến với nhau trong thế giới ngôn
ngữ văn học nghệ thuật. Vì nó có một ý nghĩa quan trọng nhƣ vậy nên việc
khai thác, phân tích biểu tƣợng đã thu hút đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, thậm
chí có rất nhiều cơng trình khoa học nghiên cứu về biểu tƣợng từ triết học,
phân tâm học, ngôn ngữ học, nhân học đến xã hội học, mĩ học…Vậy biểu
tƣợng là gì? Biểu tƣợng đƣợc nghiên cứu nhƣ thế nào?
Trong tiếng Pháp biểu tƣợng đƣợc gọi tên là Symbole, tiếng Anh là
Symbol. Nhà kí hiệu học văn hóa nổi tiếng Iu.Lot-man đã từng cho rằng: Biểu
tƣợng là hình tƣợng nghệ thuật. Khác với nghệ thuật khác thơng thƣờng, biểu
tƣợng nó có thể chuyển từ văn bản này sang văn bản khác. Ở biểu tƣợng
ngƣời ta cịn thấy có cả sự lắng đọng của cả nền một văn hóa.
Trong tiếng Hán: “biểu” là biểu hiện, phơ bày ra một điều gì đó cho mọi
ngƣời biết, “Tƣợng” là hình ảnh, hình tƣợng phơ bày một ý tƣởng, nội dung
nào đó. Dùng hình ảnh cây tre để nói về đức tính kiên cƣờng bất khuất; dùng
hình ảnh hoa sen để tƣợng trƣng cho trái tim, cho sự hồn hảo, thuần khiết;
dùng hình ảnh hoa đào tƣợng trƣng cho sự sinh sôi nảy nở, cho sự an khang
thịnh vƣợng; hoa mai tƣợng trƣng cho sự may mắn, tốt đẹp, một sự khởi đầu
hoàn hảo và thịnh vƣợng, đuổi mọi sự xấu xa, cầu cho một năm mới ln
đƣợc bình an, hạnh phúc, phát đạt; mặt trời tƣợng trƣng cho trí tuệ, vũ trụ bao
13
trùm và soi sáng tất cả bí ẩn. Các biểu tƣợng có tính văn hóa đƣợc bồi đắp,
tơn tạo qua lớp bụi thời gian, dần dần nó tạo ra những lớp nghĩa mới.
Trở lại thời xa xƣa, ta bắt gặp các nhà triết học nổi tiếng nhƣ: Platon (Hy
Lạp) những năm 427- 374 TCN cũng đã nói đến biểu tƣợng khi nói về kết cấu
thần thoại triết lí. Đến thời Trung cổ, nhà thần học Au-gus-tinus đã đề cập đến
“siêu kí hiệu”, tức là kí hiệu có thể biểu đạt đƣợc “ nghĩa chuyển”- nghĩa tiếp
theo. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã cho rằng biểu tƣợng là hình
thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực quan sinh động.
Tiếp đến chủ nghĩa lãng mạn Đức, biểu tƣợng và vai trò của biểu tƣợng
mới đƣợc ý thức, quan tâm đặc biệt. Ông đã phân loại “ biểu tƣợng thần bí”
và “ biểu tƣợng thơng thƣờng”.
Sang đầu thế kỉ XX nhà triết học E. Cas-sire đã xem con ngƣời là con
vật biểu tƣợng, rồi ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học đều là các hình
thức biểu tƣợng và là cơng cụ để con ngƣời điều chỉnh sự hỗn độn của thế
giới xung quanh.
Hen-ry Cor-bin đã từng cho rằng: biểu tƣợng là mật mã của một bí ẩn;
nó khơng bao giờ có thể đƣợc cắt nghĩa một lần là xong. Nó giống nhƣ một
bản nhạc khơng bao giờ chơi một lần là xong mà địi hỏi một lối biểu diễn
luôn luôn mới .
C.G. Jung – bậc thầy của chủ nghĩa biểu tƣợng học cho rằng: Cái mà
chúng ta gọi là biểu tƣợng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh.
Cuốn Từ điển biểu tƣợng văn hóa thế giới Jean Che-va-lier viết: Biểu
tƣợng giống nhƣ mũi tên bay mà không bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên
mà lại không nắm bắt đƣợc..
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: Biểu tƣợng là hình thức
của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật cịn giữ lại trong
đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.
Trong cuốn Từ điển văn học do các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
14
Nguyễn Khắc Phi chủ biên, khi đề cập đến biểu tƣợng đã cho rằng: Biểu
tƣợng hay ký hiệu là một hình ảnh, ký tự hay bất cứ cái gì đó đại diện cho
một ý tƣởng, thực thể vật chất hoặc một q trình. Mục đích của một biểu
tƣợng là để truyền thơng điệp ý nghĩa một cách nhanh chóng dễ dàng và ngắn
gọn, đơn giản. Nhƣ vậy, theo nghĩa rộng, ta có thể hiểu: biểu tƣợng là đặc
trƣng phản ánh cuộc sống bằng hình tƣợng của văn học nghệ thuật. Theo
nghĩa hẹp, biểu tƣợng là một phƣơng thức chuyển nghĩa của lời nói hay một
loại hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát
đƣợc bản chất của một hiện tƣợng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một
tƣ tƣởng hay một triết lí sâu xa về cuộc đời và con ngƣời(..).
Trịnh Bá Đĩnh cho rằng: biểu tƣợng là một hiện tƣợng nghệ thuật, cũng
là một hiện tƣợng văn hóa (NCVH, 2016).
Từ việc tìm hiểu các quan niệm về biểu tƣợng, ta có thể khái quát: Biểu
tƣợng là một loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu
đạt mang tính tất yếu có lý do. Biểu tƣợng nói ở cấp độ rộng là hình ảnh của
thế giới khách quan đƣợc khúc xạ qua lăng kính chủ quan của con ngƣời. Đó
là thế giới khơng thể nhìn thấy đƣợc. Nhƣng nó có khả năng đem lại cho con
ngƣời một sức mạnh vơ song.
Chính vì vậy, biểu tƣợng trở thành đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều
ngành khoa học nhƣ đã nói ở trên. Trong phạm vi và mục đích nghiên cứu,
luận văn chỉ tập nghiên cứu biểu tƣợng xã hội và biểu tƣợng tự nhiên trong
tập thơ “Vũ khúc Tày” của Y Phƣơng.
1.2. Biểu tƣợng nhìn từ các góc độ khác nhau
Trong triết học: Biểu tƣợng là hình ảnh đƣợc tái hiện, đƣợc hình dung lại
với thuộc tính nổi bật của sự vật tồn tại hiện hữu trong trí tƣởng của con
ngƣời.
Từ góc độ văn hóa, biểu tƣợng đƣợc xem là sản phẩm đặc biệt của con
ngƣời. Khi nói nhƣ vậy thì khái niệm biểu tƣợng có thể hiểu là việc các hình
15
ảnh, sự vật. Hàng loạt các biểu tƣợng đã và đang tồn tại cùng tín ngƣỡng,
cùng phong tục tập quán, trong các lễ hội truyền.
Trên thực tế chúng ta có thể nhận thấy có các loại biểu tƣợng mang tính
văn hóa nhƣ biểu tƣợng cuộc sống, trong tốn học, biểu tƣợng cảm xúc, biểu
tƣợng may mắn, biểu tƣợng tình yêu...
Biểu tƣợng cuộc sống tồn tại trong cuộc sống. Có thể là biểu tƣợng cho
cái xấu, cái ác, cái thấp hèn, cái phi lí nhƣng nó đều mang ý nghĩa đối với con
ngƣời. Nhờ biểu tƣợng đó con ngƣời chúng ta biết phân biệt giữa thiện và ác,
thấp hèn và cao cả, biết tránh xa những cái gọi là tầm thƣờng để hƣớng đến
cuộc sống tốt đẹp hơn. Đôi khi biểu tƣợng lại đƣợc dùng để thể hiện những
khát vọng ƣớc muốn của con ngƣời trong cuộc sống. Đôi khi chỉ là hình ảnh
chú chim bồ câu bay cao trên bầu trời ngƣời ta cũng nghĩ đến hịa bình, hay
những chú chim ƣng ngƣời ta nghĩ đến sức mạnh, khát khao vƣơn lên để đạt
đƣợc thành công và hạnh phúc. Và đơi khi chỉ là những vì sao trên bầu trời
ngƣời ta nghĩ đến tƣơng lai, nghĩ đến ƣớc mơ, mục tiêu, khát vọng, niềm tin.
Trong các ngành khoa học cũng xuất hiện biểu tƣợng có gốc từ các kí
hiệu. Tiêu biểu nhƣ Toán học(Math), biểu tƣợng đƣợc thể hiện bằng kí hiệu thƣờng rất nhỏ, khơng thể đọc và dƣờng nhƣ ngẫu nhiên là hết sức quan
trọng. Một số ký hiệu tốn học là Hy Lạp và chữ Latinh, có niên đại thế kỷ từ
thời cổ đại nhƣ cộng, trừ, theo thời gian đã trở thành các biểu tƣợng trong
cuộc sống hàng ngày.
Biểu tƣợng may mắn, thƣờng đƣợc thể hiện bằng các đồ vật và hình ảnh
sử dụng trong phong thủy. Ví dụ biểu tƣợng bàn tay Ham-sa tƣợng trƣng
cho may mắn và những điều tốt lành ở Is-ra-el và các nƣớc Arab. Bàn tay
Ham-sa thƣờng đƣợc sử dụng trong trang trí nhà ở, nơi cơng cộng và cả văn
phịng để tránh con mắt của quỷ dữ.
Các kí hiệu cảm xúc thƣờng thể hiện trên khn mặt ngƣời. Nó thƣờng
dùng để bộc lộ tâm trạng, cảm giác của ngƣời viết vào văn bản. Trong
16
các diễn đàn mạng, tin nhắn tức thời và các trị chơi trực tuyến phiên bản ký
tự của kí hiệu cảm xúc thƣờng đƣợc chuyển sang dạng hình ảnh nhằm tăng
tính trực quan. Mức độ sử dụng và thời gian có thể đến lúc nào đó cho phép
các ký hiệu đó trở thành các biểu tƣợng vui buồn trong cuộc sống.
Trong hội họa, với đặc điểm là nghệ thuật không gian mặt phẳng do đó
đƣờng nét, màu sắc nên biểu tƣợng trong hội họa cũng rấ đa dạng, phong phú
dƣới bàn tay của ngƣời nghệ sĩ. Có vơ số hình ảnh đƣợc các họa sĩ chú ý, miệt
mài đam mê theo đuổi trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Ta có
thể kể đến bức tranh “chim hạc” trong nghệ thuật Trung Hoa tƣợng trƣng cho
sự trƣờng thọ và sự tinh anh của con ngƣời, biểu tƣợng cho sự cao sang,
quyền lực, trong trẻo, tinh khơi. Hình ảnh “hoa mẫu đơn” đƣợc coi là một loài
hoa độc đáo, chỉ có bậc quyền quý, đài các mới chơi hoa này. Đặc biệt chúng
ta cùng thƣởng thức bức tranh “Hoa hƣớng dƣơng” của danh họa Van Gogh:
có 5 bơng, 7 bơng với các bố cục khác nhau. Bên cạnh những bông hoa tƣơi
ngun, có đóa cịn e ấp đƣợc đặt cạnh những đóa hoa đã rũ xuống, sắp lụi
tàn. Nhìn bức tranh hoa hƣớng dƣơng ngƣời ta cảm nhận đƣợc quy luật sinh
tạo, trƣởng thành rồi tàn phai của tạo vật. Màu vàng tƣợng trƣng cho niềm vui
cống hiến, năng lƣợng dồi dào, căng tràn sự sống cũng nhƣ chính cuộc đời
của nhà họa sĩ lúc đó.
Nghệ thuật Âm nhạc - loại hình nghệ thuật nói bằng âm thanh và các hợp
âm, với những độ cao khác nhau. Khi cao độ, trƣờng độ, độ vang, sắc điệu.
Các hợp âm đó tạo thành bản nhạc hòa âm đi vào thế giới tâm hồn con ngƣời
một cách nhẹ nhàng, sâu lắng nhất. Một trong những tác phẩm bất hủ là bản
giao hƣởng số 5 của Bee-tho-ven 1804 - 1808 với tên gọi “Bản giao hƣởng Số
Phận” đã làm nên tên tuổi lừng lẫy của Beetho-ven hiều thế hệ.
Xem xét từ góc độ nghệ thuật, ta thấy ngôn ngữ nghệ thuật là một hệ
thống kí hiệu và là một hệ thống tín hiệu đặc biệt đảm bảo cho sự tồn tại, phát
triển. Trong nghệ thuật, khi nhắc đến con đƣờng thƣờng biểu tƣợng cho cuộc
17
hành trình đi tìm đến cái đích cuối cùng của đời ngƣời, đơi khi nó tƣợng trƣng
cho cách mạng, cho nhân dân; khi nhắc “giọt nƣớc” ngƣời ta thƣờng nghĩ đến
biểu tƣợng của sự hội tụ, lung linh và tinh khiết không lẫn tạp chất; khi nhắc
đến “mắt” ta thƣờng nghĩ đến cái nhìn, đơi khi có cả sự khổ đau bất hạnh.
Biểu tƣợng nghệ thuật có những nét tƣơng đồng với ẩn dụ và phúng dụ.
Phúng dụ là hình thức nói bóng, ám chỉ. Phúng dụ đơi khi là một câu văn, một
hình ảnh, hoặc cả một tác phẩm. Cịn ẩn dụ trong nghệ thuật nó làm sáng rõ
cho ý tƣởng, tạo ra hình hình ảnh cụ thể, cảm tính, làm tăng ấn tƣợng. Cả hai
loại biểu tƣợng này đều là những thành phần không thể tách rời của tƣ duy
con ngƣời.
Nhƣ vậy biểu tƣợng có thể đƣợc xem xét từ rất nhiều góc độ khác nhau,
từ khía cạnh đó chúng ta có thể nhận thấy nét đặc săc mà biểu tƣợng mang lại
dù ở phƣơng diện nào trong đời sống.
1.3. Biểu tƣợng trong văn học
Đặc trƣng của văn học mô phỏng cuộc sống, phản ánh cuộc sống thông
qua hình tƣợng nghệ thuật. Xuất phát từ quan niệm biểu tƣợng là
hiện tƣợng chủ quan của đối tƣợng về hiện tƣợng khách quan đã đƣợc tri
giác nên vai trò của biểu tƣợng nghệ thuật là bộc lộ những tƣ tƣởng, tình
cảm cá nhân của tác giả.
Trong Từ điển thuật ngữ văn học đã có những cách hiểu khác nhau về
biểu tƣợng văn học. Biểu tƣợng là đặc trƣng phản ánh cuộc sống bằng hình
tƣợng của văn học nghệ thuật; có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát
đƣợc bản chất, vừa thể hiện một quan niệm, một tƣ tƣởng hay một triết lý sâu
xa về con ngƣời và cuộc đời [19].
Chúng ta cần phân biệt giữa biểu tƣợng và hình tƣợng: hình tƣợng gợi
cho ta hình dung về đối tƣợng một cách cụ thể, chân thực nhƣ nó đang tồn tại
khách quan thì biểu tƣợng là những cái khiến cho cuộc đời đƣợm một ý nghĩa
bí ẩn (Jean Che-va-li-er).
18
Trong văn học, biểu tƣợng đƣợc coi nhƣ một công cụ kiến tạo văn bản
nghệ thuật, nhƣng bản thân nó vẫn đƣợc coi là một văn bản. Nó có tính liên
văn bản đƣợc thể hiện ngay trong cấu trúc của tác phẩm văn học nhƣ: văn bản
của một biểu tƣợng với hệ thống hình tƣợng của tác phẩm - một văn bản hoàn
chỉnh. Tác phẩm văn học là sản phẩm trí tuệ, tinh thần của nhà văn nhƣng nhà
văn khơng sao chép lại y nguyên hiện thực đời sống, bắt chƣớc đời sống.
Nguyễn Đình Thi trong Tiếng nói của văn nghệ quan niệm: Tác phẩm nghệ
thuật nào cũng đƣợc xây dựng từ thực tại, nhƣng ngƣời nghệ sĩ không sao
chép nguyên thực tại mà anh muốn gửi vào đó điều gì mới mẻ.
Biểu tƣợng trong văn học có tính chất đa nghĩa, trừu tƣợng, nhƣng khơng
phải mọi hình tƣợng đều là biểu tƣợng. Các biểu tƣợng trong văn học thƣờng
thấy từ cổ đến kim, từ văn học dân gian đến văn học viết rất đa dạng. Văn học
dân gian Việt Nam xuất hiện hình tƣợng chàng Trƣơng Chi, Trạng Lợn, Trầu
cau; văn học trung đại bắt gặp hình tƣợng Thúy Kiều trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du; đến văn học hiện đại ta gặp hình tƣợng Xn Tóc Đỏ (Số đỏ - Vũ
Trọng Phụng); Chí Phèo của Nam Cao… Đây có thể gọi là các hình tƣợng
mạng tính biểu tƣợng văn học. Qua mỗi nhân vật ta thấp thống bóng dáng
thấp của những tính cách, những số phận, những mảnh đời bất hạnh, trái
ngang, hay những tính cách trong sáng, lƣơng thiện, giàu lòng vị tha bao
dung, nhân ái của biết bao con ngƣời qua biến thiên, sóng gió của lịch sử tự
nhiên và xã hội.
Có thể nói, mỗi biến cố trong cuộc đời của các nhân vật dù vui hay buồn,
hay một tình tiết nghệ thuật cũng có thể trở thành biểu tƣợng. Chẳng hạn:
cảnh chị em Thúy Kiều du xuân - mang một nét đẹp văn hóa truyền thống cổ
xƣa của ngƣời Việt cũng trở thành biểu tƣợng; cảnh Thúy Kiều viếng mộ
Đạm Tiên cũng có thể coi là bƣớc ngoặt, bởi biến cố này tƣợng trƣng cho sự
gặp gỡ những kiếp hồng nhan, gặp gỡ ở điều “bạc mệnh” do đó cũng có thể
trở thành biểu tƣợng. Nguyễn Du đã từng viết: “Một lời nói chửa kịp thƣa.
19
Bỗng đâu trận gió cuốn cờ đến ngay”; cảnh này Thúy Kiều trở về mang bao
tâm trạng bất an dự báo cho cuộc đời đầy sóng gió của bản thân sau này.
Việc tìm hiểu ý nghĩa của những biểu tƣợng là vô cùng quan trọng khi
chiếm lĩnh tác phẩm văn học. Nó giúp chúng ta khai thác sâu hơn, tƣờng tận
hơn các lớp nghĩa mà nhà văn muốn truyền đạt.
Nhƣ vậy, biểu tƣợng trong tác phẩm văn học có thể chiếm hữu đƣợc tất
cả toàn bộ hiện tƣợng thực tế. Tuy nhiên cần phải khám phá những ý nghĩa
mới mẻ đƣợc đƣa vào biểu tƣợng để hiểu hết giá trị và tƣ tƣởng của tác phẩm
mà nhà văn muốn gửi gắm.
1.4. Biểu tƣợng thơ ca
1.4.1. Khái lược về biểu tượng thơ ca
Trong văn học, thơ ca đƣợc nhắc đến nhƣ một mơn nghệ thuật đặc thù
mang tính biểu tƣợng cao. Tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học phát biểu: Thơ là hình thức nghệ
thuật dùng ngơn từ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng nhƣ tổ hợp của
chúng đƣợc sắp xếp dƣới hình thức lơgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi
cảm, âm thanh có tính thẩm mỹ cho ngƣời đọc, ngƣời nghe. Những thủ pháp
quen thuộc mà thơ ca truyền thống cũng nhƣ văn nghệ dân gian thƣờng sử
dụng là biểu tƣợng. [20].
Theo He-gel: biểu tƣợng thơ có thể chiếm hữu đƣợc tất cả tồn bộ hiện
tƣợng thực tế.
Trong thơ sử dụng biểu tƣợng nhƣ một thủ pháp sáng tạo nghệ thuật
mà trực giác của ngƣời nghệ sĩ có vai trị rất quan trọng, biểu tƣợng đƣợc
dùng ƣu thế trong những trƣờng hợp muốn thể hiện một điều khái quát nhƣng
phải cụ thể dễ lĩnh hội, một điều dễ lĩnh hội nhƣng lại hàm chứa nhiều ẩn ý
sâu kín, một dấu gạch nối giữa lý tính và cảm tính. Hình tƣợng đƣợc kiến tạo
từ những yếu tố trực giác, cảm tính (biểu tƣợng) nhƣng lại mang ý nghĩa trừu
tƣợng, khái quát chung một ý nghĩa.