BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
NGUYỄN THỊ LỆ
VĂN HÓA THÁI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SA PHONG BA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
NGUYỄN THỊ LỆ
VĂN HÓA THÁI
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA SA PHONG BA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả đƣợc nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai cơng bố
trong bất kỳ cơng trình khoa học nào. Nếu sai, tơi hồn tồn chịu trách nhiệm.
Phú Thọ, tháng 5 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Lệ
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn, tơi xin bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu
sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thúy Hằng – cô giáo đã tận tình hƣớng dẫn và
ln động viên tơi trong suốt q trình thực hiện luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cơ Lãnh đạo trƣờng, Phịng Đào tạo,
Khoa KHXH và VHDL, Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo điều kiện để tơi
hồn thành khóa học và hồn thành luận văn này.
Tơi xin gửi lời cảm ơn đến các trí thức, nhà văn ngƣời Thái đã mang
đến cho ngƣời đọc những nội dung đặc sắc về văn hóa Thái và cho tơi có
những tƣ liệu về vấn đề nghiên cứu của luận văn.
Tơi cũng xin bày tỏ lịng biết ơn tới gia đình, ngƣời thân, đồng nghiệp,
bạn bè đã động viên và giúp đỡ tơi trong q trình hồn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 5 năm 2021
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Lệ
iii
DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
- BCH: ban chấp hành
- HNGĐ: hơn nhân gia đình
- XHCN: xã hội chủ nghĩa
- NXB: Nhà xuất bản
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ ............................... iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu .............................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ............................................................................................3
2.1. Các cơng trình nghiên cứu về văn hóa Tây Bắc và văn hóa Thái ........... 3
2.2. Các cơng trình nghiên cứu yếu tố văn hóa Tây Bắc, văn hóa Thái
trong thể loại văn xi. ................................................................................... 5
2.3. Các cơng trình nghiên cứu về yếu tố văn hóa Thái trong truyện ngắn
của Sa Phong Ba. ............................................................................................ 6
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:...................................................................................7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................................8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu......................................................................................................9
6. Cấu trúc của luận văn ............................................................................................................9
Chƣơng 1 ............................................................................................................. 10
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA THÁI TÂY BẮC –
SƠN LA............................................................................................................... 10
1.1. Khái quát chung về văn hóa ..........................................................................................10
1.2. Văn hóa Thái và văn xi Sơn La hiện đại .............................................................12
1.3. Về tác giả Sa Phong Ba...................................................................................................35
Chƣơng 2 ............................................................................................................. 40
VĂN HÓA VẬT THỂ TRONG TRUYỆN NGẮN SA PHONG BA ................ 40
2.1. Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc ......................................................................................40
2.2. Con ngƣời Tây Bắc ...........................................................................................................53
Chƣơng 3 ............................................................................................................. 64
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TRONG TRUYỆN NGẮN SA PHONG BA......... 64
v
3.1. Đời sống gia đình ..............................................................................................................64
3.2. Đời sống cộng đồng..........................................................................................................75
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 84
CƠNG TRÌNH CƠNG BỐ CỦA NGƢỜI VIẾT LUẬN VĂN.......................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 88
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Là một dân tộc cƣ trú đông đảo tại các tỉnh miền núi phía Bắc, riêng
tại Sơn La, ngƣời Thái là dân tộc đông nhất trong số các dân tộc cùng địa bàn
cƣ trú. Trong lịch sử phát triển các dân tộc thiểu số tại Sơn La, ngƣời Thái có
ảnh hƣởng và vai trị quan trọng trong q trình tạo nên nền văn hóa đặc trƣng
cho cả vùng miền. Tây Bắc là vùng đất nên thơ và hùng vĩ, ngƣời Thái có tâm
hồn trong sáng, mộc mạc, giàu lịng nhân ái, họ đã sớm tạo lập cho dân tộc
mình một nền văn hóa phong phú, độc đáo, giàu chất thơ. Dân tộc Thái là dân
tộc chiếm đại đa số ở Tây Bắc, văn hóa dân tộc Thái có ảnh hƣởng lớn tới văn
hóa của các dân tộc trong vùng và góp phần quan trọng trong việc hình thành,
tạo lập nên bản sắc văn hóa riêng của Tây Bắc. Dân tộc Thái là một trong hai
dân tộc thiểu số duy nhất cƣ trú tại Sơn La có chữ viết từ rất sớm, vì vậy cùng
với tiến trình vận động của lịch sử vùng miền, văn học dân tộc Thái cũng đã
hình thành từ rất sớm và đạt đƣợc nhiều thành tựu rực rỡ về văn hóa, văn học.
Văn học Thái đƣợc nhiều ngƣời biết đến với các tác phẩm thuộc thể loại
truyện thơ (Sống chụ xon xao, Khun Lú nàng Ủa,…) đến các tác phẩm sử thi
(Tay Pu xấc, Chương Han, …), và ca dao, dân ca tục ngữ Thái. Sự phát triển,
sáng tạo của các thể loại văn học từ xa xƣa đến hiện nay đều chứa đựng
những nét đặc trƣng về đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần của
chính dân tộc mình. Kế thừa và phát huy những di sản văn học từ xa xƣa, văn
học hiện đại dân tộc Thái cũng đã đạt đƣợc những thành tựu bƣớc đầu và góp
phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho sự phát triển của văn học dân tộc
thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
1.2. Văn xi dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc, trong đó có văn xi
hiện đại Sơn La là một bộ phận quan trọng của văn xuôi hiện đại Việt Nam.
Đối với miền núi Tây Bắc, Sơn La – đƣợc mệnh danh là thủ phủ của các tỉnh
2
miền núi Tây Bắc, nơi đây là địa bàn cƣ trú của các dân tộc thiểu số (Thái,
H’Mông, Dao, Mƣờng, …) với những nét văn hóa đặc sắc và đi vào trong các
tác phẩm văn học nghệ thuật. Vì vậy, Đề tài miền núi Tây Bắc nói chung, về
văn hóa của các dân tộc sinh sống tại vùng đất Sơn La nói riêng ln đƣợc
các nhà văn đặc biệt quan tâm quan tâm khai thác, đã có nhiều nhà văn đã
thành công khi viết về đề tài này, mỗi nhà văn đều mang đến cho văn xuôi
miền núi sự khám phá mới về vùng đất, về con ngƣời, về văn hóa và phong
tục tập quán của các dân tộc cƣ trú tại nơi đây.
1.3. Sa Phong Ba là cây bút văn xuôi tiêu biểu cho văn học dân tộc thiểu
số miền núi phía Bắc, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của văn xuôi hiện
đại tỉnh Sơn La. Trong số các nhà văn, nhà thơ của Sơn La, Sa Phong Ba là
cây bút thành công với thể loại truyện ngắn. Đƣợc mệnh danh là “bơng ban
tím khuất ở mé đồi” (một trong hai sắc hoa tiêu biểu đặc trƣng cho đất trời,
con ngƣời Tây Bắc), Sa Phong Ba đƣợc độc giả biết đến từ đầu thập niên 70
với tác phẩm đầu tay Lòng rừng (1971) – tác phẩm đã đạt giải thƣởng của
tổng cục Lâm Nghiệp. Với sự sáng tạo không ngừng nghỉ, cho đến nay, nhà
văn đã cho ra đời khoảng 50 truyện ngắn, mỗi truyện ngắn của nhà văn đều là
những hình ảnh về đất, về văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số cƣ trú tại
Sơn La, đặc biệt là với văn hóa ngƣời Thái ở Sơn La.
Là nhà văn ngƣời dân tộc Thái (thuộc ngành Thái trắng) bằng sự am hiểu
về nguồn cội ngƣời Thái trắng, với lịng u mến với văn hóa với sự say mê
với nghề viết văn và ƣu thế ở thể loại truyện ngắn, Sa Phong Ba đã đƣa các
yếu tố về văn hóa, sinh hoạt phong tục tập qn của chính dân tộc mình vào
sáng tác. Đọc mỗi truyện ngắn của Sa Phong Ba, ngƣời đọc sẽ nhận thấy nhà
văn đã rất khéo léo khi kết hợp trong những câu chuyện kể là những yếu tố
văn hóa đặc trƣng của ngƣời Thái trắng ở Sơn La.
1.4. Là ngƣời con của dân tộc Thái, sống tại vùng đất Sơn La, lại là giáo
viên thuộc chuyên ngành Ngữ văn, bản thân tôi rất trân trọng và tự hào về văn
3
hóa dân tộc và văn học của dân tộc mình. Với niềm tự hào đó, tơi muốn giới
thiệu với độc giả nét đẹp, cái khu biệt của văn xuôi hiện đại Sơn La, hiểu sâu
hơn về văn hóa Thái, nét riêng khu biệt của văn hóa ngành Thái trắng. Đồng
thời, trong bối cảnh của nhịp sống hiện đại, sự phát triển của kinh tế xã hội đã
kéo theo sự mai một, thậm chí có nguy cơ biến mất. Vì thế, khi nghiên cứu đề
tài này tơi mong muốn góp một phần trong việc giới thiệu quảng bá về văn
học Sơn La, tơn vinh, khẳng định giá trị văn hóa Thái Sơn La, đồng thời góp
phần phát triển dịch vụ du lịch văn hóa cộng đồng của tỉnh Sơn La.
Với những lý do nêu trên, tơi chọn đề tài Văn hóa Thái trong truyện
ngắn của Sa Phong Ba làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các cơng trình nghiên cứu về văn hóa Tây Bắc và văn hóa Thái
Văn hóa Tây Bắc, văn hóa Thái lâu nay rất đƣợc các nhà nghiên cứu
quan tâm. Trong phạm vi khảo sát, chúng tôi đã tập hợp đƣợc một số cơng
trình tiêu biểu:
Tác giả Cầm Trọng trong cuốn Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1978)
đã khái quát tổng hợp lịch sử hình thành dân tộc Thái, các loại hình kinh tế
đặc trƣng, ruộng đất xã hội, bản mƣờng và khái quát về tôn giáo, nghệ thuật,
văn học của ngƣời Thái ở Tây Bắc [3].
Nguyên Khôi trong Cuốn Sơn La Ký sự (2004) cũng đã giới thiệu khái
quát về lịch sử, các địa danh, các tác phẩm văn học, các món ăn, các tập tục,
các nhạc cụ, các nét sinh hoạt tiêu biểu của ngƣời Thái ở Sơn La [22].
Cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2006) của nhóm các tác giả do Trần
Quốc Vƣợng (chủ biên) đã phân chia văn hóa Việt Nam thành sáu vùng, trong
đó có vùng văn hóa Tây Bắc. Khi viết về vùng văn hóa Tây Bắc các tác giả đã
nhận định: với đặc điểm tự nhiên và xã hội, lịch sử phát triển của các dân tộc
cƣ trú tại đây đã tạo nên sắc thái vùng văn hóa Tây Bắc thơng qua văn hóa
Thái là chủ thể, để khẳng định điều đó tác giả đã đƣa ra những minh chứng
4
cho thấy: Văn hóa Thái với vai trị chủ thể trong lịch sử phát triển của vùng
nổi lên nhƣ một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc với các biểu hiện cụ
thể: trong đời thƣờng (ngƣời Thái ở nhà sàn, thƣờng chọn chân núi, ven suối,
chân đồi để làm nhà và lập thành bản mƣờng, tập quán canh tác lúa nƣớc và
làm nƣơng rẫy) đến các tín ngƣỡng, văn hóa ứng xử, văn hóa tâm linh, văn
hóa nghệ thuật, trang phục,…[45]
Tác giả Lê Văn Chƣởng trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (1999) khi
viết về vùng văn hóa Việt Nam cũng đã đƣa ra hai nhận định về vùng Tây
Bắc gồm đặc điểm tự nhiên và xã hội, đặc điểm văn hóa, trong đặc điểm xã
hội tác giả khẳng định ngƣời Thái chiếm đa số, đặc điểm văn hóa: văn hóa
Thái đại diện cho vùng Tây Bắc (tập quán canh tác, nhà ở, tín ngƣỡng đa
thần, văn hóa dân gian đa dạng về thể loại, đặc biệt có những điệu múa xịe
vịng, xịa điệu trong những ngày lễ hội [20].
Tác giả Đặng Thị Oanh trong cuốn sách Văn hóa Thái những tri thức
dân gian (2014) đã cung cấp cho độc giả một số tri thức về ngƣời Thái ở Tây
Bắc, trong đó có địa bàn Sơn La bao gồm: địa bàn cƣ trú, truyền thống văn
hóa, về vai trò của cây hoa ban trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần
của ngƣời Thái, vai trị, ý nghĩa của cầu thang nhà sàn trong kiến trúc nhà sàn
của ngƣời Thái [30].
Tác giả Trần Bình trong cuốn Tây Bắc vùng văn hóa giàu bản sắc (2017)
đã khái quát các tri thức mƣu sinh, các giá trị thuộc về văn hóa vật thể và phi
vật thể. Đặc biệt ở chƣơng IV (phần cuối) cuốn sách tác giả có đề cập đến vai
trị của văn hóa Thái ở Tây Bắc với những cơ sở và minh chứng cho thấy sự
vƣợt trội hơn hẳn và ảnh hƣởng của văn hóa Thái tới văn hóa dân tộc khác
cùng địa bàn cƣ trú trong suốt tiến trình lịch sử phát triển các dân tộc trên địa
bàn Tây Bắc Việt Nam [16].
Trong tác phẩm Đặc trưng văn hóa vùng Tây Bắc (2018) của nhóm các
tác giả do Nguyễn Ngọc Thanh chủ biên đã tổng quan cho ngƣời đọc về các
5
vấn đề: đất và ngƣời, di tích và danh thắng, văn hóa ẩm thực, trang phục, nhà
ở, nghề thủ cơng, phong tục tập quán, lễ hội và nghệ thuật dân gian của các
dân tộc thiểu số cƣ trú tại Tây Bắc. Tác giả giới thiệu khá kĩ về ẩm thực Thái:
món Pa pỉnh tộp, chẳm chéo, nập pịa, nộm rau dớn, măng đắng đồ, thịt trâu
gác bếp; về trang phục; về nhà ở (nhà sàn), nghề dệt thủ công; về các nghi lễ,
phong tục (tục cƣới xin, tục hỏa thiêu, Lễ hội hoa ban, Lễ hội xên bản, Lễ hội
cầu mùa, múa xòe và múa sạp của ngƣời Thái) [32].
2.2. Các cơng trình nghiên cứu yếu tố văn hóa Tây Bắc, văn hóa
Thái trong thể loại văn xi.
Văn xi hiện đại dân tộc miện núi Tây Bắc và văn xuôi hiện đại dân tộc
Thái hình thành từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Đã có một số bài viết
về thể loại này.
Nguyễn Minh Trƣờng trong bài viết Không gian văn hóa truyền thống và
cuộc sống vùng núi phía Bắc trong truyện ngắn Việt Nam đương đại Trên tạp
chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa học xã hội và nhân văn (Tập 29,
số 1, 2013) đã chỉ ra những minh chứng rõ ràng về sự kết hợp hài hịa giữa văn
hóa truyền thống và cuộc sống hiện đại đã góp phần nhận diện khơng gian văn
hóa và bức tranh phong phú đa dạng về trong truyện ngắn Việt Nam đƣơng đại
[41].
Tác giả Nguyễn Thị Hải Anh trong bài viết Văn xuôi hiện đại dân tộc
Thái đăng trên trang website của báo Văn hiến (ngày 25/9/2013) đã nhấn
mạnh đến vai trị đóng góp của văn xi hiện đại dân tộc Thái đối với nền văn
học Việt Nam hiện đại. Trong bài viết tác giả cũng khẳng định Những bơng
ban tím (1981) của Sa Phong Ba là tập truyện ngắn đầu tiên của dân tộc Thái
và cũng là tập truyện ngắn đánh dấu sự phát triển của văn học của dân tộc
Thái. Bài viết cũng nêu những đóng góp về phƣơng diện nội dung và giá trị
nghệ thuật của văn xuôi hiện đại dân tộc Thái; về nội dung: một mặt phản ánh
sự thay đổi lớn lao về văn hóa đời sống và văn hóa tinh thần của dân tộc Thái,
6
mặt khác các truyện ngắn cũng đi sâu khai thác và phản ánh các phong tục tập
quán truyền thống, những nét văn hóa đặc sắc nhƣ phong tục cƣới xin, tục ma
chay, các lễ hội, cách bày tỏ tình yêu,… Tác giả cũng khẳng định: sự sáng tạo
trong các trang văn đã đem đến cho ngƣời đọc một bức tranh tƣơng đối hồn
chỉnh với các phƣơng diện tích cực và tiêu cực về cuộc sống các dân tộc miền
núi nói chung và dân tộc Thái nói riêng; về nghệ thuật: tác giả cũng đánh giá
văn xuôi hiện đại dân tộc Thái có ảnh hƣởng rõ nét của văn học dân gian trên
các phƣơng diện: cảm hứng, đề tài, cốt truyện, nhân vật…[1]
Đào Thủy Nguyên trong bài viết Văn xuôi các dân tộc thiểu số hiện đạiDòng riêng giữa nguồn chung của trên báo Văn hiến (ngày 13/12/2015), đã
khẳng định văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận cấu thành
của văn xuôi hiện đại Việt Nam, vừa có những nét riêng của một bộ phận văn
học mà chủ thể sáng tạo là ngƣời dân tộc thiểu số và đối tƣợng phản ánh là
con ngƣời và cuộc sống của các dân tộc ít ngƣời [26].
Tác giả Lê Trà My trong bài viết Văn học Sơn La thời kì đổi mới đăng
trên báo Văn hiến (ngày 09/10/2016) đã đánh giá khái quát về văn học Sơn La
từ 1986 đến nay, với sự đông đảo của ngƣời sáng tác, thành tựu của các thể
loại, chủ đề văn học đã góp phần cho văn xi Sơn La từng bƣớc phát triển
theo dịng chảy của văn học thời kì đổi mới. Để góp phần cho sự thành cơng
của văn học Sơn La thời kì đổi mới có sự đóng góp của nhiều nhà văn trong
số đó tiêu biểu nhất Sa Phong Ba [25].
2.3. Các cơng trình nghiên cứu về yếu tố văn hóa Thái trong truyện ngắn
của Sa Phong Ba.
Sa Phong Ba là nhà văn ngƣời dân tộc Thái đầu tiên và là nhà văn tiêu
biểu của Sơn La, nghiên cứu về nhà văn có các bài viết:
Tác giả Nguyễn Văn Lụa trong bài viết Sa Phong Ba: Bơng Ban tím
khuất ở mé đồi trên trang báo Công an nhân dân (ngày 01/10/2006) cho rằng:
Sa Phong Ba là nhà văn của những vùng đồi, là bơng ban tím khuất ở mé đồi
7
(loài hoa nở vào tháng mƣời âm lịch hằng năm trên vùng đồi núi miền Tây
Bắc), các sáng tác của nhà văn (chủ yếu là các tập truyện: Những bông ban
tím, Vùng đồi gió quẩn, Một chuyện ở chân núi Hồng Ngài và một số truyện
ngắn khác của nhà văn) đã tập trung phản ánh những nét đặc sắc của sắc thái
văn hóa dân tộc, sự quyết tâm đổi đời, về tinh thần đồn kết và những thói hƣ
tật xấu của thời kì kinh tế thị trƣờng của đồng bào các dân tộc Sơn La, bài viết
cũng cung cấp những thông tin về cuộc đời, sự nghiệp và con đƣờng đến với
văn chƣơng của Sa Phong Ba. Tuy nhiên, bài viết cũng chƣa đề cập tới những
biểu hiện cụ thể những yếu tố thuộc về văn hóa dân tộc (đặc biệt là bản sắc
văn hóa Thái) trong từng sáng tác của nhà văn Sa Phong Ba [23].
Tác giả Kiều Duy Khánh trong bài viết Vài nét về văn chương Sơn La
năm 2017 trên tạp chí Suối Reo (ngày 28/02/20218) ngay ở phần mở đầu bài
viết về đánh giá về thành công văn chƣơng Sơn La năm 2017 ở thể loại truyện
ngắn, tác giả đã nhận định: Sa Phong Ba là nhà văn lão làng của văn chƣơng
Sơn La, có sức sáng tạo bền bỉ khi cho ra đời tập truyện ngắn Người rừng ở
Pá Lống một tập truyện dày dặn và ấn tƣợng [21].
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng các bài viết và cơng trình nghiên cứu về Sa
Phong Ba chƣa nhiều, một số bài viết về Sa Phong Ba mới chỉ đánh giá khái
quát sơ bộ những nét chung về phƣơng diện nội dung và nghệ thuật trong một
số tập truyện ngắn tiêu biểu, chƣa có các cơng trình nghiên cứu về yếu tố văn
hóa hoặc tiếp cận văn hóa trong tác phẩm của Sa Phong Ba, mà chỉ có một vài
gợi dẫn nhƣ đã nêu ở trên.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn khảo sát nhận diện, phân tích yếu tố văn hóa Thái trong truyện
ngắn của Sa Phong Ba, đồng thời chỉ ra sự đóng góp của Sa Phong Ba đối với
văn chƣơng Sơn La cũng nhƣ văn xuôi viết về đề tài miền núi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
8
Qua nghiên cứu, luận văn mong muốn chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa
và văn học, văn hóa Thái với văn học dân tộc thiểu số nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn Văn hóa Thái trong truyện ngắn của Sa Phong
Ba, luận văn tìm hiểu các truyện ngắn của Sa Phong Ba trong các tập truyện
Những bông ban tím (1971); Vùng đồi gió quẩn (1995) và tập Truyện- ký
Huyền thoại về một chiếc máy cày (2014).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi tƣ liệu nghiên cứu
Các tác phẩm thuộc truyện ngắn viết về văn hóa Thái của Sa Phong Ba
bao gồm các tập truyện và truyện – ký đã xuất bản của nhà văn Sa Phong Ba
và các tài liệu.
4.2.2. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, văn hóa Thái Tây Bắc và Sơn La, văn hóa
dân tộc trong văn xi hiện đại miền núi vùng Tây Bắc (nói chung) và văn
hóa Thái trong văn xi hiện đại Sơn La (nói riêng), yếu tố văn hóa Thái
trong truyện Sa Phong Ba qua hai phƣơng diện: văn hóa vật thể và phi vật thể.
Để làm sáng tỏ các nội dung trên, Luận văn khảo sát các truyện ngắn cụ
thể sau đây của Sa Phong Ba : Những bơng ban tím ; Bố con ơng Pấng ; Nỗi
bực của y sĩ Pằn ; Sao lạ Phiềng Xa; Vùng đồi gió quẩn ; Chuyện ơng Póm
tếu ở Nà Cút ; Lão Mềnh ; Một chuyện ở chân núi Hồng Ngài; Người rừng ở
Pá Lống ; Bí mật của ơng Pọm ; Gói lương hưu.
9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5. 1. Phƣơng pháp văn hóa học
Từ phƣơng pháp văn hóa học với cái nhìn văn hóa, để tìm thấy những
mối quan hệ tƣơng hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học. Văn học là một
trong những yếu tố tạo nên chỉnh thể văn hóa, bản sắc riêng của mỗi dân tộc.
5.2 . Phƣơng pháp thống kê phân loại
Liệt kê các tác phẩm có yếu tố văn hóa Thái và phân loại các biểu hiện
cụ thể của văn hóa Thái trong từng truyện ngắn của Sa Phong Ba.
5.3. Phƣơng pháp so sánh
Đƣợc sử dụng để khảo sát mối liên hệ giữa các tác phẩm cùng viết về
cuộc sống, con ngƣời dân tộc Thái của Sa Phong Ba, so sánh các biểu hiện
của văn hóa Thái trong các tác phẩm cùng chủ đề.
5.4. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm theo đặc trƣng thể loại
Tiến hành phân tích cụ thể các tác phẩm theo đặc trƣng riêng của thể
loại để thấy rõ đƣợc bản sắc dân tộc vùng cao trong từng truyện.
5.5. Phƣơng pháp điền dã và phỏng vấn nhà văn, chuyên gia
Đƣợc tiến hành khi thu thập tƣ liệu, gặp gỡ trao đổi chuyên gia về văn
hóa Thái.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngồi ba phần chính là Mở đầu, Nội dung và Kết luận, luận văn cịn có
các phần Tài liệu tham khảo và Phụ lục.
Phần Nội dung của luận văn đƣợc triển khai thành ba chƣơng. Cụ thể
nhƣ sau:
Chƣơng 1. Khái quát chung về văn hóa và văn hóa Thái Tây Bắc – Sơn La
Chƣơng 2. Văn hóa vật thể trong truyện ngắn Sa Phong Ba
Chƣơng 3. Văn hóa phi vật thể trong truyện ngắn Sa Phong Ba
10
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA THÁI TÂY BẮC –
SƠN LA
1.1. Khái quát chung về văn hóa
1.1.1. Thuật ngữ “văn hóa"
Văn hóa xuất hiện cùng với lịch sử loài ngƣời, nhƣng mãi đến thế kỷ
XX-thế kỷ của văn hóa, việc nghiên cứu văn hóa mới đƣợc đặt ra một cách
nghiêm túc. Thuật ngữ "văn hóa" mới đƣợc nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nƣớc đi sâu nghiên cứu và đƣa ra vô số định nghĩa. Trong bài viết:
"Văn hóa, nhìn lại các quan niệm và định nghĩa" (năm 1952), tác giả Kroeber
và Kluekhonln đã thống kê đƣợc 164 định nghĩa. Có lẽ trong khoa học xã hội
và nhân văn chƣa có một khái niệm nào nhiều quan điểm nhìn nhận và khó
thống nhất nhƣ khái niệm văn hóa.
Ở nƣớc ta, thuật ngữ “văn hóa” đƣợc nêu trong Từ điển tiếng Việt (Viện
ngôn ngữ học, Hà Nội 2000), theo đó thì thuật ngữ "văn hóa" có 5 định nghĩa.
Từ các tài liệu nêu trên, định nhĩa “văn hóa” đƣợc hiểu nhƣ sau: (1) Văn hóa
là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo
ra trong quá trình lịch sử, (Ví dụ: Di sản văn hóa Việt Nam); (2) Là những
hoạt động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - nói một
cách tổng qt, (Ví dụ: Phát triển văn hóa); (3) là tri thức, kiến thức khoa
học"(Ví dụ: Học văn hóa); (4) là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện
của văn minh, (Ví dụ: Sống có văn hóa); (5) là nền văn hóa của một thời kỳ
lịch sử cổ xƣa đƣợc xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy
đƣợc có những đặc điểm giống nhau (Ví dụ: Văn hóa Sa Huỳnh).
Có thể thấy, văn hóa liên quan đến mọi mặt đời sống của con ngƣời từ
xƣa đến nay, cho nên nội hàm khái niệm về văn hóa rất rộng lớn nhƣng cũng
rất cụ thể. Bất cứ cái gì (một cá thể) đều chứa đựng thuộc tính văn hóa, từ ánh
11
mắt nụ cƣời của một ai đó đến những ngơi đình chùa, những áng văn thơ,
những bức họa, những câu chuyện cổ tích v.v... Nhƣ nhiều nhà nghiên cứu đã
nêu: văn hóa bao gồm ngơn ngữ, ý niệm, tín ngƣỡng, phong tục tập quán (ăn,
mặc, ở, đi lại, làm ăn, vui chơi), luật lệ, thể chế, các công cụ kỹ thuật, nghi lễ,
nghi thức, tôn giáo v.v...
1.1.2. Phân loại
Trên thế giới và ở Việt Nam khi đề cập đến khái niệm văn hóa là gì, giới
nghiên cứu cũng đồng thời quan tâm nhận diện rõ đặc trƣng bản chất giá trị
của các bộ phận các thành tố yếu tố trong văn hóa và chia nó ra thành hai loại,
đó là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể.
- Văn hóa vật thể: sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
bao gồm di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia.
- Văn hóa phi vật thể theo Cơng ƣớc của UNESCO là các tập qn, các
hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những cơng
cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các khơng gian văn hóa có liên quan mà các cộng
đồng, các nhóm ngƣời-trong một số trƣờng hợp là các cá nhân, công nhận là
một phần di sản văn hóa của họ. Đƣợc chuyển trao từ thế hệ này sang thế hệ
khác. Văn hóa phi vật thể đƣợc các cộng đồng và nhóm ngƣời khơng ngừng
tái tạo để thích nghi với môi trƣờng và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng
với tự nhiên và lịch sử của họ1. Đồng thời hình thành trong cộng đồng một ý
thức về sự kế thừa, qua đó khích lệ sự tơn trọng về khả năng sáng tạo và sự đa
dạng về văn hóa của con ngƣời.
1.1.3. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa.
1
UNESCO (2003), Cơng ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, họp phiên thứ 32 tại
Paris.
12
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa, với sự hội tụ, giao lƣu
và tiếp biến văn hóa của 54 dân tộc anh em đã tạo nên một kho tàng di sản
văn hóa Việt Nam vơ cùng phong phú và độc đáo. Trong đó có di sản văn hóa
của cộng đồng 14 dân tộc ở vùng văn hóa Tây Bắc, với sự nổi trội của văn
hóa dân tộc Thái. Văn hóa các dân tộc nói chung và văn hóa Thái nói riêng là
mảnh đất màu mỡ, là mơi trƣờng sinh thái văn hóa, là kho tàng chất liệu/tƣ
liệu vô cùng đa dạng, đặc sắc và độc đáo cho các ý tƣởng sáng tác văn họcnghệ thuật đƣơng đại. Nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số đƣơng đại từ góc
nhìn văn hóa là hƣớng nghiên cứu hay và thú vị để giải mã các giá trị của các
tác phẩm văn học. Hƣớng nghiên cứu này đã đƣợc một số nhà nghiên cứu vận
dụng, tuy nhiên chƣa đƣợc giới nghiên cứu và các học giả quan tâm, nhất là
với văn học và văn hóa của các dân tộc thiểu số.
1.2. Văn hóa Thái và văn xi Sơn La hiện đại
1.2.1. Địa bàn cƣ trú và lịch sử hình thành của dân tộc Thái vùng Tây Bắc Sơn La
1.2.1.1. Địa bàn cƣ trú và lịch sử hình thành của dân tộc Thái vùng Tây Bắc
Vùng phía Tây Bắc Bộ với tổng diện tích 5,645 triệu ha với tổng số dân
4.713.048 ngƣời đƣợc hợp thành bởi các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu,
Lào Cai, Yên Bái và Hòa Bình. Phía Bắc giáp với Vân Nam (Trung Quốc),
phía Tây giáp với Phong Xa Lỳ - Sầm Nƣa (Lào), phía Nam giáp với tỉnh
Thanh Hóa (thuộc vùng Bắc Trung Bộ), phía đơng tiếp giáp với các tỉnh Phú
Thọ (thuộc vùng trung du) và Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình (thuộc vùng đồng
bằng sơng Hồng). Với vị trí đặc biệt nhƣ trên khiến cho Tây Bắc trở thành
vùng đa dạng về các tộc ngƣời và sắc màu văn hóa. Vùng núi Tây Bắc là nơi
cƣ trú lâu đời của các tộc ngƣời: Thái, H’mông, Mƣờng, Kinh, Dao, Khơ Mú,
Tày, Xinh Mun, Hà Nhì, Mảng, Giáy,… trong đó đơng đảo nhất là ngƣời Thái
(chiếm 33,43 % dân số toàn vùng). Ở Tây Bắc, ngƣời Thái có khoảng hơn
một triệu ngƣời. Ngƣời Thái cƣ trú thành các bản các mƣờng (mỗi mƣờng
13
thƣờng có nhiều bản) với nhiều dịng họ khác nhau, họ có truyền thống định
cƣ ở các thung lũng ven sơng và ven suối, nơi có những cánh đồng màu mỡ
thuận lợi cho canh tác và sinh hoạt.
Trong các tƣ liệu viết về sự hình thành của mình, ngƣời Thái khẳng định
miền Tây Bắc chính là quê hƣơng của họ. Trong hai cuốn sử thi Tay pu xấc và
Quăm tô mương (Lịch sử bản mƣờng) đã ghi lại ngƣời Thái có mặt ở Tây Bắc
Việt Nam từ thế kỉ XI, đến thế kỉ XIII ngƣời Thái đã cƣ trú ổn định ở vùng
Tây Bắc Việt Nam (thế kỉ XI ngƣời Thái đã từ sơng Hồng đến Mƣờng Lị
thuộc Nghĩa Lộ - Yên Bái. Sau đó, hậu duệ của ngƣời Thái đã khai phá
mƣờng và tạo nên vùng đất Tây Bắc rộng lớn nhƣ ngày nay). Đến thế kỉ trung
đại, vào thời nhà Lý (đời vua Lý Thái Tổ) miền Tây Bắc đƣợc đặt tên là Châu
Đăng và châu Lâm Tây, sang thời Trần đƣợc gọi là lộ Quy Hóa và lộ Đà
Giang, sau đƣợc đổi tên thành Trấn Thiên Hƣng do các tù trƣởng ngƣời Thái
cai quản; từ thời hậu Lê trở về sau đƣợc gọi là Hƣng Hóa .... Nhƣ vậy, có thể
thấy Ngƣời Thái xuất hiện ở Tây Bắc Việt Nam khoảng 1000 năm nay, trong
quá trình di cƣ khắp các tỉnh Tây Bắc “Ngƣời Thái trở thành tộc chiếm chủ
thể của Tây Bắc” [18 ; tr.418], đa số các tộc ngƣời khác khi cùng chung sống
đều chịu ảnh hƣởng rất lớn từ văn hóa Thái. Với những ảnh hƣởng nhất định
của văn hóa Thái diễn ra trong nhiều thế kỉ đã tạo nên bức tranh đặc sắc của
văn hóa Thái Tây Bắc và đã khẳng định ƣu thế vƣợt trội của mình đồng thời
mang sứ mệnh đại diện cho vùng văn hóa Tây Bắc, trong đó có thể kể đến
những đặc trƣng dễ nhận ra. Đó là cấu trúc nhà sàn, lối ăn mặc của phụ nữ
Thái với chiếc váy dài, áo ngắn xẻ ngực đính cúc bạc bó sát ngƣời làm rõ
đƣờng nét thân hình đầy đặn, cân đối, là nét văn hóa ẩm thực (cơm lam, nặm
pịa), những điệu ca vũ (múa sạp, múa xòe khắp Thái), các lễ hội dân gian (Lễ
hội Hoa Ban, Lễ Xên Bản, Xên Mƣờng, ...)….
“Ngƣời Thái ở Tây Bắc (hay cịn gọi là Táy, Phủ Táy, Tháy, ..) thuộc
nhóm loại hình Nam Á, tiểu chủng Mơnggơn, nằm trong đại chủng
14
Monggơloit” [36 ; tr.14], “thuộc nhóm ngơn ngữ Tày-Thái” [30 ; tr.18] với
hai nhóm ngành chính là Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Đỏn, Tay
Khao) sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên
Bái…Sự phân chia này là do quá trình di cƣ, xáo động, trong quá trình diễn
biến lâu dài và phức tạp của lịch sử. Việc phân chia hai nhóm ngành chƣa có
một lý giải nào có thể chấp nhận đƣợc lí do vì sao lại có hai nhóm Thái Đen
và Thái Trắng. Cũng có ý kiến cho rằng dựa vào trang phục của hai nhóm
ngành (ngƣời Thái Đen mặc đồ đen, chít khăn đen; ngƣời Thái Trắng thƣờng
mặc đồ trắng, chít khăn trắng), nhƣng căn cứ này là chƣa đủ cơ sở, vì có lúc
ngƣời Thái Trắng cũng mặc trang phục áo màu đen. Tuy nhiên, qua ý kiến
của tác giả Cầm Trọng trong cuốn Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, có thể
căn cứ vào khởi nguồn và quá trình thiên di của ngƣời Thái đến vùng Tây Bắc
để lí giải cách gọi “Ngƣời Thái Đen và Ngƣời Thái Trắng” là phù hợp [36 ;
tr.28].
Ngƣời Thái Trắng ở vùng Tây Bắc, thƣờng ăn vận đồ trắng, đây là nhóm
có nguồn gốc từ vùng Xíp Xoong Pắn Nả (Thái Lan) và một phần ở Lào, do ở
gần ngƣời Hán (Trung Quốc) nên Ngƣời Thái Trắng có ảnh hƣởng phong tục
tập quán của rất rõ nét của ngƣời Hán (cách tính ngày theo âm lịch, ăn tết
nguyên đán, tết thanh minh, xá tội vong nhân…), từ sự ảnh hƣởng đó họ đã
biến nó thành phong tục tập quán của ngƣời Thái. Tổ tiên của Nhóm Thái
Trắng cƣ trú ở Điện Biên, Lai Châu sau đó di cƣ theo dọc sơng Đà tới Quỳnh
Nhai, Mƣờng La, Mộc Châu, Phù Yên (Sơn La), rồi tiếp tục dịch chuyển theo
sông theo suối tiến sâu vào Tây Bắc và các khu vực lân cận khác ở nƣớc ta.
Mỗi nhóm Thái Trắng sinh sống ở từng khu vực khác nhau của vùng Tây Bắc
lại tiếp tục giao lƣu với văn hóa bản địa và tạo nên những nét văn hóa đặc biệt
riêng của từng nơi (cùng thuộc ngành Thái Trắng ở Sơn La, nhƣng ngƣời Thái
ở vùng Mƣờng Tấc Phù Yên lại có những yếu tố văn hóa riêng khác với
ngƣời Thái Trắng ở Quỳnh Nhai).
15
“Ngƣời Thái Đen thƣờng ăn vận đồ đen, họ bắt đầu thiên di tới miền núi
Tây Bắc Việt Nam từ khoảng thế kỉ thứ XI, khởi điểm cho sự hình thành của
nhóm ngành Thái Đen tại vùng Tây Bắc. Sự có mặt của ngành Thái Đen tại
đây là cuộc di cƣ từ vùng đất Mƣờng Lò (Yên Bái)” [36 ; tr.52], sau đó họ lại
tiếp tục thiên di sang cánh đồng Mƣờng Tấc của Phù Yên, Mƣờng La, Thuận
Châu, Mai Sơn (Sơn La) rồi đến Tuần Giáo, Mƣờng Thanh (Điện Biên), cánh
đồng Mƣờng Thanh cũng là điểm kết thúc của cuộc thiên di kéo dài khoảng
một phần tƣ thế kỉ để đi tìm về những vùng đất mới của ngƣời Thái Đen.
Trong quá trình thiên di họ đã đi qua nhiều vùng đất, sinh sống hòa hợp với
các cƣ dân bản địa và cũng tạo cho mình những yếu tố văn hóa riêng, khác
tiếng, khác phong tục tập quán [36 ; tr.54].
Nhƣ vậy, các nhóm ngành ngƣời Thái Tây Bắc đã trải qua mấy nghìn
năm lịch sử hình thành. Đó là quá trình hình thành “bản”, “mường” và sự
thống nhất các “mường” của Ngƣời Thái, với những nét văn hóa đặc trƣng
riêng biệt nhƣng cũng vô cùng phong phú, độc đáo. Lịch sử phát triển đó là
q trình phát triển lịch sử dân tộc học ở vùng đất phía Tây của Tổ quốc. Từ
khi xuất hiện cho đến nay ở vùng Tây Bắc, ngƣời Thái vẫn có các nhóm
ngành Thái Đen và Thái Trắng, nhƣng đều cùng chỉ chung dân tộc Thái và
đúng nhƣ theo cách tự gọi của ngƣời Thái là Phủ Táy (côn Táy).
1.2.1.2. Địa bàn cƣ trú và lịch sử hình thành của dân tộc Thái vùng Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc có diện tích tự nhiên là 14,174 km2
đứng thứ ba của cả nƣớc [42 ; tr.1]. Tỉnh Sơn La đƣợc thành lập và tên tỉnh
đƣợc sử dụng cho đến ngày nay từ 1904, phía Bắc giáp tỉnh Yên Bái và Lai
Châu, phía Đơng giáp tỉnh Hịa Bình và Phú Thọ, phía Nam giáp tỉnh Hịa
Bình và nƣớc cộng hịa Dân chủ Nhân dân Lào, gồm có 12 huyện thành phố
(Mộc Châu, Thuận Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù
Yên, Sông Mã, Sốp Cộp, Vân Hồ và thành phố Sơn La). “Theo số liệu của
Ban Dân tộc tỉnh, đến tháng 7-2015, tồn tỉnh Sơn La có 1.184.437 ngƣời”
16
[42 ; tr.206], gồm 12 dân tộc anh em cùng chung sống (Thái, H’mông, Dao,
Xinh Mun, La Ha, Mƣờng, Khơ Mú, Kinh, Kháng, Lào…), trong đó dân tộc
Thái chiếm số đơng gồm 636,727 ngƣời (chiếm 53,76% tổng số dân tồn tỉnh)
[42 ; tr.206]. Ngƣời Thái có mặt tại Sơn La cũng trải qua quá trình hình thành
phát triển cùng với sự xuất hiện của Ngƣời Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam.
Ngƣời Thái ở Sơn La cũng giống với ngƣời Thái ở các tỉnh Tây Bắc chia làm
hai nhóm ngành: ngƣời Thái Đen (Táy Đăm) và ngƣời Thái Trắng (Táy Đỏn).
Các họ của ngƣời Thái: Cầm, Bạc, Lò, Xa, Đèo, Điêu, Kha, Hà, Hoàng, Mè,
Quàng…
Ngƣời Thái Đen cƣ trú chủ yếu ở các huyện Thuận Châu, Mƣờng La,
Mai Sơn, Sông Mã, Sốp Cộp, Yên Châu, Bắc Yên, thành phố Sơn La.
Ngƣời Thái Trắng (Táy Đỏn) có mặt sớm nhất tại các huyện Phù Yên,
Mộc Châu, Quỳnh Nhai, xã Mƣờng Chiến (Mƣờng La). Sự có mặt của nhóm
ngành Thái Trắng ở Mƣờng Tấc (Phù Yên), Mƣờng Xang (Mộc Châu) ƣớc
đoán vào khoảng thiên niên kỉ I trƣớc công nguyên vào thời điểm khởi đầu
của q trình thiên di sang phía Tây của một bộ phận Tày Khao. Sau đó từ
nhóm Thái Trắng đã có mặt từ trƣớc đó ở thƣợng lƣu sông Đà đã tách ra, di
chuyển theo vùng dọc sông và làm chủ vùng đất Mƣờng Chiên (Quỳnh Nhai)
và Mƣờng Chiến (Mƣờng La).
1.2.2. Những yếu tố văn hóa đặc trƣng của dân tộc Thái vùng Tây Bắc – Sơn La
Văn hóa gắn liền với tồn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xã hội.
Văn hóa của một dân tộc trƣớc hết thể hiện ở bản sắc của dân tộc ấy. Bản sắc
dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nó biểu hiện và định
hƣớng cho sự lựa chọn trong hành động của con ngƣời. Những giá trị văn hóa
là thƣớc đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc “Một dân tộc
thiếu văn hóa chƣa phải là một dân tộc thật sự hình thành, một nền văn hóa
khơng có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy khơng có sức sống thật sự của
nó” [18 ; tr.16].
17
Ở Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc mang một nét
văn hóa đặc sắc, sự hội tụ đó tạo ra nền văn hóa vừa phong phú, đa dạng vừa
đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi một dân tộc cƣ trú tại những vùng miền khác
nhau, cùng những điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội đã tạo ra
nhân tố ảnh hƣởng khác nhau từ đó hình thành nên các vùng văn hóa khác
nhau. Vùng núi Tây Bắc là vùng rộng lớn, với địa lý, văn hóa độc đáo, có vị
trí rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nƣớc cả về an ninh - quốc
phịng, xã hội, tồn khu vực đƣợc hợp thành bởi các tỉnh: Sơn La, Lai Châu,
Điện Biên, Hịa Bình, Lào Cai và n Bái. Đây là khu vực có rất nhiều dân
tộc thiểu số sinh sống, với những nét văn hóa riêng, độc đáo. Trong số đó,
ngƣời Thái có số dân đơng thứ hai trong 54 dân tộc thiểu số ở nƣớc ta. Cũng
nhƣ những dân tộc khác, ngƣời Thái ở Tây Bắc cũng có nền văn hóa riêng,
độc đáo và đặc sắc. Với lịch sử lâu đời cùng với số dân đông đảo, văn hóa
Thái khơng những ảnh hƣởng đến từng cá nhân của cộng đồng ngƣời Thái mà
còn làm phong phú thêm các giá trị của vùng văn hóa đa dân tộc ở Tây Bắc
Việt Nam trong đó có ngƣời Thái ở Sơn La.
Văn hóa Thái vùng Tây Bắc cũng đƣợc chia làm hai loại với các biểu hiện đặc
trƣng, đó là: văn hóa vật thể (biểu hiện cụ thể qua ý nghĩa biểu tƣợng sinh thái
rừng, các địa danh, hoa Ban, tập quán cƣ trú, trang phục và ẩm thực) và văn
hóa phi vật thể ( biểu hiện cụ thể trong quan hệ hơn nhân, gia đình, ngơn ngữ
bản địa, quan hệ làng xóm, tín ngƣỡng, lễ hội và nghệ thuật biểu diễn).
1.2.2.1. Văn hóa ẩm thực của ngƣời Thái vùng Tây Bắc rất đa dạng và
phong phú từ nguyên liệu đến cách chế biến để tạo nên hƣơng vị riêng cho
từng món ăn. “Ngƣời Thái thƣờng ăn cơm nếp và các loại thức ăn đƣơc chế
biến theo cách đồ và nƣớng, làm gỏi. Các món ăn có nguồn gốc từ thủy sản
(cá, tơm, cua, ốc, rêu,…) và các món ăn đƣợc chế biến từ các loại rau rừng
(rau rớn, măng, mộc nhĩ, các loại nấm…)” [30 ; tr.24]. Phƣơng pháp chế biến
18
món ăn của ngƣời Thái phong phú và độc đáo, trong đó ngƣời Thái rất chú
trọng đến gia vị trong q trình chế biến, tùy từng ngun liệu và món ăn mà
sử dụng những cách chế biến khác nhau với gia vị khác nhau: cay, chua, chát,
đắng. Vì thế, hầu hết các món ăn của ngƣời Thái đều sử dụng ớt và Mác Khén
để tăng thêm gia vị cay và thơm cho món ăn. Văn hóa ăn và uống là sự thể
hiện của ẩm thực ngƣời Thái.
Về ăn: bao gồm các món ăn chế biến từ lƣơng thực và thực phẩm cùng
các loại đồ chấm; Về uống: phổ biến nhất là rƣợu trắng (lẩu xiêu).
Trƣớc hết, là các món ăn chế biến từ lƣơng thực đƣợc chế biến với
những hình thức đa dạng: Khảu nửng (xôi đồ), Khảu lam (cơm lam), Khảu
tổm (bánh chƣng), Khảu tảo (cơm tẻ đƣợc đồ hai lần), Khảu chảo (cơm tẻ),
Khảu khoa (cơm trộn). Trong số đó, “Khảu nửng từ gạo nếp là món ăn truyền
thống đƣợc ngƣời Thái ƣa chuộng nhất. Ngồi ăn xơi trắng theo kiểu truyền
thống, ngƣời Thái cịn nắm xơi cho thật dẻo, xiên qua chiếc đũa, bôi một chút
mỡ rồi nƣớng trên than hồng cho trẻ nhỏ ăn” [42 ; tr. 242]. Dụng cụ để đồ xôi
gồm chiếc ninh bằng đồng và chõ đồ bằng gỗ. Gạo nếp đƣợc ngâm qua đêm
rồi đổ ra chiếc khay gỗ hoặc mẹt quạt cho nguội, tiếp theo là nhồi vào ép/cóm
khẩu gác trên chạn đến bữa thì dùng. Ngồi khảu nửng là món cơm phổ biến
thì khảu lam (cơm lam) là cũng là một trong những nét ẩm thực độc đáo của
ngƣời Thái. “Ngƣời Thái dùng một loại tre non có lớp giấy phía bên trong, bỏ
gạo nếp ngâm qua đêm, nút kín miệng bằng lá dong rồi nƣớng trên bếp lửa
cho chín. Cơm Lam thƣờng đƣợc làm phổ biến trong các lễ hội ” [42 ; tr.242].
Thứ hai là các món ăn chế biến từ thực phẩm, bao gồm các món ăn chế
biến từ động vật, các món ăn chế biến từ thực vật. “Các món ăn chế biến từ
động vật (thịt, cá) của ngƣời Thái khá phong phú. Nhìn chung, khẩu vị ƣa
chuộng nhất của ngƣời Thái là đồ nƣớng, làm chua, hấp cách thủy (mojk), ăn
sống (lạp, gỏi)….[42 ; tr.242]; Riêng đối với các loại thịt từ động vật, cách