BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
ĐỖ THỊ HẠNH
TỰ SỰ VỀ NÔNG THÔN
TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ ĐINH TRANG MỘNG CỦA DIÊM LIÊN KHOA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
ĐỖ THỊ HẠNH
TỰ SỰ VỀ NÔNG THÔN
TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ ĐINH TRANG MỘNG CỦA DIÊM LIÊN KHOA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Minh Thương
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Tự sự về nông thôn trong “Mảnh đất lắm
người ma” của Nguyễn Khắc Trường và “Đinh Trang mộng” của Diêm Liên
Khoa là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi. Những tài liệu đƣợc trích dẫn
trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu này khơng trùng với bất
cứ cơng trình nào đã đƣợc cơng bố trƣớc đó.
Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Phú Thọ, tháng 07 năm 2021
Học viên
Đỗ Thị Hạnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của tập thể thầy cô
Khoa Khoa học xã hội & Văn hóa du lịch; các thầy cơ đã tham gia giảng dạy
lớp Cao học K4 - Lý luận văn học, Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Lãnh đạo Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng;
Ban giám hiệu Trƣờng THPT Ngô Gia Tự - Huyện Lập Thạch - Tỉnh Vĩnh
Phúc đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi đƣợc tham gia học tập,
nghiên cứu và hồn thành luận văn này.
Đặc biệt, tơi xin cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Minh Thƣơng đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo tơi trong suốt q trình học tập,
nghiên cứu để hồn thiện cơng trình này.
Cuối cùng, tơi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình cùng các đồng nghiệp,
đồng khóa đã động viên, giúp đỡ tơi trong suốt q trình học tập và nghiên
cứu khoa học.
Phú Thọ, tháng 07 năm 2021
Học viên
Đỗ Thị Hạnh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................... 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................... 9
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 9
1.5. Nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................... 9
1.6. Đóng góp của luận văn............................................................................. 10
1.7. Cấu trúc luận văn ..................................................................................... 10
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 12
CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC VỀ TỰ SỰ HỌC ............................................... 12
VÀ VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC ........................................ 12
1.2. Khái lƣợc về vấn đề nông thôn trong văn học ......................................... 19
CHƢƠNG 2: BỨC TRANH NÔNG THÔN TRONG ................................... 29
MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA CỦA NGUYỄN KHẮC TRƢỜNG
VÀ ĐINH TRANG MỘNG CỦA DIÊM LIÊN KHOA .................................. 29
2.1. Nông thôn trong các bi kịch tồn sinh khắc nghiệt ................................... 29
2.2. Nông thơn với vấn đề tha hố đạo đức .................................................... 48
2.3. Nông thôn với vấn đề môi trƣờng sinh thái ............................................. 64
2.4. Nông thôn với những hủ tục lạc hậu ........................................................ 72
3.1. Điểm nhìn trần thuật................................................................................. 82
3.2. Khơng gian nghệ thuật ............................................................................. 87
3.3. Bút pháp kì ảo .......................................................................................... 92
PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................... 108
THƢ MỤC THAM KHẢO ........................................................................... 111
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1.1. Nơng thơn có thể xem là một thực thể văn hóa yếu thế/bị tổn
thƣơng trong thời kì đơ thị hóa, tồn cầu hóa. Đứng trƣớc “cơn địa chấn” đất
đai, tiền bạc, quyền lực, nơng thơn “oằn mình” chống đỡ để thích nghi và giữ
gìn các giá trị bền vững. Bên cạnh đề tài chiến tranh hay thành thị thì đề tài
nơng thơn đƣợc coi là một mảnh đất trù phú, có sức hút to lớn đối với nhiều
văn nghệ sĩ. Trên con đƣờng hiện đại hóa, nơng thơn đã có những khởi sắc và
cả sự bất ổn. Ngƣời nông dân không cịn thuần túy làm nơng nghiệp và sống ở
nơng thơn nhƣ giai đoạn trƣớc. Nhiều ngƣời thất nghiệp ngay chính trên
mảnh đất mà mình đã đƣợc sinh ra. Nhiều ngƣời rơi vào bi kịch thƣơng tâm
do vơ tình hoặc do nhận thức,… cùng bao hệ lụy khác. Đó cũng chính là
những trăn trở, băn khoăn của các nhà văn về một vùng đất tƣởng nhƣ chỉ có
sự tĩnh lặng và n bình, trong đó có Nguyễn Khắc Trƣờng với Mảnh đất ắm
người nhiều ma và Diêm Liên Khoa với Đinh Trang mộng. Hai tác phẩm đã
gieo vào lòng ngƣời đọc những băn khoăn, trăn trở về số phận ngƣời nông
dân trƣớc sự biến chuyển đầy phức tạp của thực tiễn đời sống.
1.1.2. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Đồng Hỷ - Thái Nguyên,
Nguyễn Khắc Trƣờng đƣợc biết đến là nhà văn qn đội của qn chủng
Phịng khơng - Không quân từ năm 1965. Một trong những tác phẩm để lại
dấu ấn quan trọng trong sự nghiệp viết văn của Nguyễn Khắc Trƣờng chính là
Mảnh đất lắm người nhiều ma. Tác phẩm chứa đựng vốn kiến thức sâu sắc về
nông thôn Việt Nam này đã vinh dự đƣợc nhận giải thƣởng của Hội nhà văn
Việt Nam. Bằng tấm lòng trân q ngƣời nơng dân, Nguyễn Khắc Trƣờng
miêu tả tình cảnh của nông thôn và số phận của ngƣời nông dân một cách
chân thực. Ở đó, cái ác, cái xấu có mặt khắp nơi, thả sức hồnh hồnh và
nhiều ngƣời hành động nhƣ những kẻ cuồng tín. Sự ấu trĩ trong nhận thức, sự
hạn hẹp về tầm nhìn của một số cán bộ có chức có quyền đã khiến biết bao
2
gia đình tan nát, bao số phận dang dở. Nhìn chung, Nguyễn Khắc Trƣờng đã
dựng lại bi kịch của một thời, nhƣng thơng qua đó, chúng ta ln hi vọng sẽ
hƣớng tới một tƣơng lai tốt đẹp, giàu tính nhân bản hơn.
Diêm Liên Khoa là một trong những nhà văn đƣơng đại tiêu biểu Trung
Quốc với những tác phẩm xuất sắc nhƣ Nhật quang ưu niên, Nàng Kim Liên
ở trấn Tây Môn, Đinh Trang mộng, Tứ thư, … Tác phẩm của Diêm Liên
Khoa khơng chỉ có tầm giá trị đối với riêng đất nƣớc Trung Quốc, con ngƣời
Trung Quốc mà cịn đối với nhân loại nói chung. Tiểu thuyết chính là mảng
thành công nhất trong sự nghiệp sáng tác của ông. Khi nghiên cứu về tiểu
thuyết của Diêm Liên Khoa, đề tài nơng thơn có ý nghĩa vơ cùng quan trọng.
Nếu nhƣ đối với Diêm Liên Khoa, nó là kim chỉ nam trong sáng tác, là đặc
điểm để khu biệt, sáng tạo và nỗ lực của Diêm Liên Khoa thì đối với ngƣời
đọc, khai thác chủ đề nông thôn sẽ là bản đồ để giải mã, khám phá những bí
ẩn trong địa hạt sáng tạo của ơng. Đó cũng chính là lí do mà Diêm Liên Khoa
cùng với những tác phẩm của mình đã chinh phục đƣợc nhiều giải thƣởng văn
học danh giá của cả Trung Quốc và thế giới. Diêm Liên Khoa thực sự trở thành
cây bút nổi bật trên văn đàn với các tác phẩm miêu tả sự đau khổ của ngƣời nông
dân, sự can đảm và dũng khí của họ khi chiến đấu với hồn cảnh sống.
1.1.3. Roland Barthes từng nói: “Đã có bản thân ịch sử ồi người, thì
đã có tự sự” (“History is astory / L’Hi storie est unrécit”). Cùng với quá trình
hình thành và phát triển của lịch sử lồi ngƣời thì khơng thể không nhắc đến
tự sự học. Lĩnh vực học thuật này đƣợc quan tâm, nghiên cứu tìm hiểu rõ rệt
nhất là vào khoảng thế kỷ XX. Đối với Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã sớm
tiếp nhận và phát huy rất hiệu quả khi vận dụng lý thuyết tự sự để làm cơ sở
khám phá các tác phẩm văn học. Hơn nữa, tự sự học có thể mở rộng phạm vi
nghiên cứu. Nó khơng đơn thuần là nghiên cứu các thể loại tự sự văn học mà
còn nghiên cứu những lĩnh vực phi văn học nhƣ điện ảnh, nghệ thuật thị
giác… Miieke Bal cho rằng, tất cả các khách thể văn hoá (bộ luật, tranh ảnh,
3
tƣ liệu lịch sử…) đều ít nhiều có liên quan đến tự sự. Với tất cả ý nghĩa đó,
chúng tơi quyết định chọn đề tài mang tên Tự sự về nông thôn trong Mảnh
đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang mộng của
Diêm Liên Khoa với mong muốn góp phần lý giải đƣợc thành cơng của hai
tác phẩm.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Các nghiên cứu về “Mảnh đất ắm người nhiều ma” của Nguyễn
Khắc Trường
Cho đến nay, xoay quanh Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn
Khắc Trƣờng đã có nhiều bài viết nghiên cứu, phê bình, nhiều ý kiến thảo
luận. Tiêu biểu là cuộc thảo luận do báo Văn Nghệ tổ chức ngày 25 - 01 1991, sau đó đƣợc tập trung in trên tờ báo Văn Nghệ số 11, ngày 16-03-1991,
đã có rất nhiều ý kiến đáng chú ý:
Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức, nơng thơn đƣợc Nguyễn Khắc
Trƣờng nói đến là “nơng thơn với cách nhìn chân thực, chủ động”, với “nhiều
chuyển động, xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt, cái xấu, tranh chấp nhau giữa
các thế lực”. Theo cách nhìn nhận của tác giả thì nơng thơn “khơng cuộn ên
trong các phong trào đấu tranh yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi ên từ
những nguyên nhân bên trong, những chuyện àng xóm”.
Giáo sƣ Phong Lê bằng kinh nghiệm quan sát khá tỉ mỉ và tinh tƣờng đã
phát hiện ra cái gây đƣợc ấn tƣợng ở đây “ à các vấn đề chìm và nổi, ở bề
mặt và bề sâu trong sự đan xen đó. Khơng chỉ à chất thơ, mà còn à bi kịch,
và à những bi kịch gọi nhau. Không chỉ à những con người nhân danh đủ
dạng trong thế bài trừ tiêu diệt lẫn nhau mà còn à đủ những dạng “dị dạng”
bị đẩy ra hoặc bị vào những cuộc giao tranh quyết liệt đó”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã thể hiện sự trân trọng đối với tài
năng của Nguyễn Khắc Trƣờng “ à tạo được một khơng khí riêng cho tác
4
phẩm, một khơng khí âm dương ẫn lộn, có nhân vật thật khó tách bạch đâu
à phần quỷ, đâu à phần người”.
Riêng Giáo sƣ Trần Đình Sử thì ơng đã tỏ rõ sự thích thú, đam mê của
mình khi đọc tiểu thuyết này, bởi ở đấy có sức lơi cuốn đặc biệt từ đầu đến
cuối. Qua tác phẩm, Giáo sƣ đã nhận ra “một hiện tượng xã hội nghiêm trọng,
đáng quan tâm trong cuộc sống hiện nay à ý thức dòng họ, gia tộc đang gây
trở ngại cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội công dân ở nơng thơn”.
Ơng cịn phát hiện ra tác giả khắc hoạ rất xuất sắc về ý thức dòng họ “như
một hiện tượng chìm sâu, ngấm ngầm, dai dẳng nhưng có vai trị rất lớn”.
Ngồi ra, tác phẩm cịn nhận đƣợc sự quan tâm, đánh giá, nhận xét của
các tác giả nhƣ Nguyễn Phan Hách, Ngô Thảo, Hồ Phƣơng, Thiếu Mai… Hầu
hết các bài viết đều gặp gỡ nhau trong việc nhìn nhận về hiện thực biệt đặc là
ý thức dòng họ. Chính điều đó đã tạo nên sức mạnh vơ hình, chi phối đến tất
cả các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Và cũng vì nó mà con
ngƣời khó có thể đƣợc sống theo những gì mà mình mong muốn. Tại cuộc hội
thảo này, tác giả Mảnh đất lắm người nhiều ma Nguyễn Khắc Trƣờng đã có ý
kiến giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về quá trình ra đời của tác phẩm. Đó là
“nhằm truy tìm tận gốc rễ sự xuống cấp, sự tha hoá về đạo đức của nông
thôn chúng ta… Tôi thấy, một trong những nguyên nhân sâu xa ấy à vấn đề
dòng họ… Đây à cái nhân của mỗi một àng từ ngày khai thiên ập địa, từ
thời mở đất, thường à mỗi dòng họ lập nên một àng”.
Tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma còn nhận đƣợc ý kiến của một
số cây bút trên một số bài báo, chuyên luận khác, tiêu biểu nhƣ:
Trong “Đọc mảnh đất lắm người nhiều ma” (Tác phẩm mới, Hà Nội, số
8, tháng 8, 1991). Lê Thành Nghị đã nhận ra vấn đề bao quát của tác phẩm là
“Vấn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn”. Theo ý kiến của tác giả,
điều làm nên bộ mặt nông thôn hôm nay, cũng nhƣ từ ngàn xƣa là sự chi phối
“khá triệt để về ý thức của các dịng họ”. Phải chăng chính điều này đã chi
5
phối hết thảy ý nghĩ, hành động của con ngƣời, ngay cả với ngƣời có vị trí
cao nhất - Bí thƣ đảng uỷ Trịnh Bá Thủ thì mọi hành động của hắn đều bị xô
lệch đi qua từ “trƣờng” ý thức dòng họ?
Tác giả Hồng Diệu với Mảnh đất lắm người nhiều ma (Văn nghệ Quân
đội, Hà Nội số 8, tháng 8, 1991) đã khẳng định rõ đây là một tác phẩm “nổi
bật ên một dáng vẻ rất riêng trong những quyển sách viết về nông thôn ta
dưới chế độ đổi mới”. Tác giả khẳng định, trong tiểu thuyết này khơng chỉ
mang giọng điệu hài hƣớc mà cịn có một giọng điệu khác “chìm ở tầng dưới,
đó à giọng bi thảm”.
Tác giả Ngọc Anh trong báo Giáo dục và thời đại, 27 – 5 - 1991 đã
khẳng định rõ những thành cơng về mặt nghệ thuật của Nguyễn Khắc Trƣờng,
đó là việc tác giả đã tỏ rõ sự vững vàng từ “việc dựng truyện, xây dựng nhân
vật, đến sử dụng ngôn ngữ”. Tác giả Ngọc Anh đã phát hiện và nhấn mạnh
tính chỉnh thể và kết cấu của tác phẩm “sự việc nọ nối tiếp sự việc kia, bi kịch
này kéo theo bi kịch khác”. Nhiều sự việc diễn ra mâu thuẫn, phức tạp nhƣng
tác giả đã nhìn sâu vào bản chất của sự việc, giải quyết thấu đáo cứ nhƣ “sự
việc nó đúng phải xảy ra như thế”.
Lê Nguyên Cẩn với Thế giới kỳ ảo trong “Mảnh đất lắm người nhiều
ma” của Nguyễn Khắc Trường từ cái nhìn văn hố (Tạp chí khoa học số 5,
2005, Trƣờng ĐHSP Hà Nội) thể hiện sự chuyên sâu trong tìm hiểu các vấn
đề trong tác phẩm có gắn với cái nhìn văn hoá. Tác giả chỉ rõ, cái tạo ra giá trị
của tác phẩm ngoài nội dung hiện thực gắn với một thời kỳ khó khăn mà đất
nƣớc ta phải trải qua còn là “Thế giới kỳ ảo mà tác giả đã dụng công xây
dựng với các yếu tố kỳ ảo rất đặc trưng, đó à mơtíp cái chết đi iền với mơtíp
ma hiện hồn”. Ta nhận thấy văn hố tâm linh đƣợc các thế lực trong làng triệt
để lợi dụng. Hơn thế, tác giả bài viết cũng đã chỉ ra các biểu hiện khác nhau
của văn hóa cũng lần lƣợt xuất hiện. Đó là “Văn hóa ịch sử”; “Văn hố ẩm
6
thực”; “Văn hoá cưới xin, tang lễ”. Bài viết đã tiếp cận tác phẩm theo hƣớng
văn hoá học đƣa đến những kiến giải độc đáo.
1.2.2. Các nghiên cứu về “Đinh Trang mộng” của Diêm Liên Khoa
Diêm Liên Khoa là một trong những nhà văn xuất sắc trong nền văn học
hiện đại Trung Quốc. Những tác phẩm của ông cũng là một vùng đất màu mỡ
cho giới học thuật và nghiên cứu văn học. Xoay quanh các sáng tác của Diêm
Liên Khoa, có thể kể đến một số nghiên cứu của những học giả Trung Quốc
nhƣ Hùng Tu Vũ với “Diêm Liên Khoa và văn học đương đại Trung Quốc”;
Trƣơng Thụy Kiệt với “Phong Nhã Tụng”- Sự o ắng về thân phận của phần
tử trí thức nơng thơn”; Thiệu n Qn với “Hoang đản hay à hoang
đường, ộng ngôn hay à khinh nhờn?”; Trần Phúc Chí với “Sự hoang đường
chân thực”... Năm 2014, Diêm Liên Khoa đƣợc nhận giải thƣởng văn học
Kafka và cũng bắt đầu từ đây, ông đƣợc truyền thông và độc giả Trung Quốc
đặc biệt chú ý. Nhiều cơng trình nghiên cứu về nhà văn đã xuất hiện: 141 bài
năm 2012; 189 bài năm 2013; riêng năm 2014 có tới 235 bài. Diêm Liên
Khoa nổi lên với những đề tài sáng tác phong phú, nhiều thể loại, đặc biệt hơn
cả là truyện và tiểu thuyết.
Trong các nghiên cứu của giới học thuật Trung Quốc về Diêm Liên
Khoa, phải kể đến bài nghiên cứu của nhà phê bình văn học Vƣơng Nghiêu:
“Văn học sử của một cá nhân hay là xuất phát từ điểm mờ của lịch sử văn
học”. Trong bài tiểu luận, nhà phê bình khẳng định tác phẩm của Diêm Liên
Khoa “nhƣ là mắt xích quan trọng trong sự thay đổi trật tự văn học giữa thập
niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây”, tập trung vào các vấn đề: “Xung đột giữa
hiện thực và nội tâm”, “quan hệ giữa chính trị và mĩ học”, “siêu thể loại và
siêu chủ nghĩa” trong sáng tác của Diêm Liên Khoa.
Ở Việt Nam, Diêm Liên Khoa tuy vẫn còn là một tác giả tƣơng đối mới
nhƣng đã nhanh chóng thu hút giới nghiên cứu phê bình và độc giả. Hiện nay,
số tác phẩm của Diêm Liên Khoa đã đƣợc dịch ra tiếng Việt và xuất bản chƣa
7
nhiều, chủ yếu có thể kể đến những sáng tác đƣợc coi là nổi tiếng và xuất sắc
nhất của ông nhƣ Người tình của phu nhân sư trưởng, Kiên ngạnh như thủy,
Phong nhã tụng, Nàng Kim Liên ở trấn Tây Môn, Đinh Trang mộng và Tứ
thư. Dù với số lƣợng tác phẩm đã đƣợc dịch chƣa đầy đủ so với sự nghiệp
sáng tác đồ sộ của ơng, nhƣng điều đó cũng không quá gây cản trở đối với
những học giả có niềm u thích với văn học Trung Quốc nói chung và sáng
tác của Diêm Liên Khoa nói riêng.
Trong bài viết “Diêm Liên Khoa thắp ánh sáng từ bóng tối”, Nguyễn Thị
Minh Thƣơng đã khẳng định rằng “tác phẩm của Diêm Liên Khoa thƣờng viết
về mặt tối của xã hội, nhƣng lại hƣớng con ngƣời đến ánh sáng và nhân tính.
Có thể nói, ơng là ngƣời thắp lên ánh sáng từ bóng tối” (29/12/2018). Trong
buổi tạo đàm “Khám phá tiểu thuyết với diễn giả là nhà văn – giáo sƣ Diêm
Liên Khoa (Đại học nhân dân Trung Quốc) và giáo sƣ Vƣơng Nghiêu” (Đại
học Tô Châu, Trung Quốc) diễn ra vào ngày 05/04/2019 tại Trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội, và buổi giao lƣu “Văn học Trung Quốc trong một thôn
trang” tổ chức tại khoa Văn học, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn Hồ Chí Minh ngày 8/4/2019. Độc giả Việt Nam đã có buổi giao lƣu và
chia sẻ trực tiếp với nhà văn Diêm Liên Khoa, từ đó hiểu hơn về tƣ tƣởng và
nghệ thuật sáng tác của ông.
Diêm Liên Khoa đã giúp độc giả Việt Nam gợi lại hình ảnh thơn trang
khơng chỉ tồn tại trong ơng nhƣ một hồi niệm đẹp, một động lực lớn cho con
đƣờng viết lách, mà còn là nguồn cảm hứng mãnh liệt cho sáng tác, một kho
tàng của những câu chuyện và kí ức sống động, nhức nhối và có khả năng
khai mở những vấn đề tầm cỡ của đất nƣớc, dân tộc, thậm chí của nhân loại.
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh đã bày tỏ quan điểm khi nghiên cứu
Diêm Liên Khoa: “Diêm Liên Khoa: Từ quan niệm đến sự thực hành chủ
nghĩa thần thực” đăng trên tạp chí nghiên cứu Văn học số 11 năm 2019. Ở đó,
tác giả đã chỉ ra q trình chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật của nhà
8
văn từ “hiện thực” đến “thần thực”; tiếp đến là “Kết cấu tự sự trong một số
tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa” đăng trên Tạp chí Văn nghệ Thái Nguyên
của Hội văn học nghệ thuật Thái Nguyên. Tác giả đã giới thiệu khái quát kết
cấu tự sự trong sáng tác của Diêm Liên Khoa tạo nên “phong cách tự sự”
mang đến sự độc đáo riêng của nhà văn. Ngoài ra, trong năm 2019, khi
nghiên cứu Luận án Tiến sĩ văn học nƣớc ngoài “Nghệ thuật tiểu thuyết Diêm
Liên Khoa”, Nguyễn Thị Thúy Hạnh đã giới thiệu, nhận diện đặc sắc nghệ
thuật tiểu thuyết Diêm Liên Khoa so với những nhà văn trƣớc và đƣơng thời,
qua đó chỉ ra những đóng góp của ơng đối với văn học Trung Quốc hiện đại.
Năm 2019, khi Đinh Trang mộng ra mắt độc giả trong nƣớc, tác phẩm
cũng đƣợc đón nhận với nhiều bài viết khác nhau, xoay quanh chủ đề, đề tài
hay hiện thực sáng tác của tác phẩm. Có thể kể đến các bài viết “Mộng mị và
tình thế của sự làm ngƣời - Đọc Đinh Trang mộng của Diêm Liên Khoa” của
Nguyễn Đình Minh Khuê. Tiếp đến phải kể đến bài viết “Đinh Trang mộng
nghẹt thở với vực thẳm nhân tính” đăng trên trên báo Thanh niên của Nguyễn
Thị Trịnh Thy. Ở đó, bài viết cũng đã đề cập đến nội dung phản ánh đậm chất
hiện thực bằng việc khai thác đề tài xã hội của nhà văn Diêm Liên Khoa…
Ngoài ra, một số vấn đề trọng tâm trong sáng tác của Diêm Liên Khoa
nhƣ vấn đề ngƣời trí thức, vấn đề tính dục, vấn đề hiện thực, nghịch dị,…
cũng đƣợc khám phá. Có thể kể đến các cơng trình: “Vấn đề tính dục trong
tiểu thuyết Kiên ngạnh nhƣ thủy của Diêm Liên Khoa” (Luận văn thạc sĩ của
Lƣơng Thị Bích), “Nghịch dị trong tiểu thuyết Phong nhã tụng của Diêm
Liên Khoa” (Nguyễn Thị Tịnh Thy); “Bi kịch của ngƣời tri thức trong tiểu
thuyết Phong nhã tụng của Diêm Liên Khoa” của Trần Thị Việt Hà; “Bức
tranh hiện thực trong Phong Nhã tụng của Diêm Liên Khoa” (2017),…
Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề tự sự về nông thôn
trong Đinh Trang mộng của Diêm Liên Khoa, cũng chƣa có nghiên cứu nào
đặt vấn đề so sánh tự sự về nông thôn trong Mảnh đất ắm người nhiều ma
9
của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang mộng của Diêm Liên Khoa. Nghiên
cứu của ngƣời đi trƣớc đã gợi ý cho chúng tôi khai thác sâu hơn đề tài này.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích tự sự về nơng thơn trong hai tiểu thuyết Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang mộng của Diêm Liên
Khoa.
Làm sáng tỏ lí thuyết tự sự học thơng qua hai hiện tƣợng văn học tiêu
biểu nói trên, qua đó chỉ ra những đóng góp của các nhà văn đối với đề tài
nông thôn trong văn học.
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tự sự về nông thôn trong hai tác phẩm
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang
mộng của Diêm Liên Khoa.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài khảo sát tự sự về nông thôn trong hai
tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh
Trang mộng của Diêm Liên Khoa.
1.5. Nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu
1.5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên lí thuyết về thi pháp học, tự sự học, văn học so sánh đề tài sẽ
làm rõ vấn đề nông thôn trong hai tác phẩm của Nguyễn Khắc Trƣờng và
Diêm Liên Khoa trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Trong q trình
tìm hiểu, phân tích và chứng minh, đề tài sẽ làm rõ sự độc đáo, mới mẻ của
Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa trong mảng đề tài này. Cùng với
việc tham khảo nhiều nguồn tƣ liệu khác nhau, đề tài sẽ thể hiện quan điểm
riêng, mới mẻ dựa trên việc khảo sát, đối sánh hai tác phẩm.
1.5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
10
Phƣơng pháp nghiên cứu tự sự học: Để tìm hiểu vấn đề tự sự về nông
thôn trong hai tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trƣờng và Đinh Trang mộng của Diêm Liên Khoa, chúng tôi sử dụng phƣơng
pháp nghiên cứu của tự sự học, tập trung vào các phạm trù cơ bản mà tự sự
học chú trọng nghiên cứu nhƣ: Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật,
kết cấu, không gian - thời gian nghệ thuật….
Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống: Vấn đề tự sự về nông thôn trong sáng
tác của Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa đƣợc thể hiện qua hai tác
phẩm, phƣơng pháp này giúp chúng tơi nhìn sáng tác của Nguyễn Khắc
Trƣờng và Diêm Liên Khoa nhƣ một hệ thống, từ đó thấy đƣợc những nét
chính trong tự sự về nơng thơn của các tác giả.
Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: phƣơng pháp đƣợc sử dụng xuyên
suốt để làm nổi bật các luận điểm và nhận định trong quá trình tìm hiểu vấn
đề nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa.
Phƣơng pháp so sánh: Để có cái nhìn sâu hơn, chúng tơi so sánh sáng
tác của Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa và các nhà văn khác cùng
quan tâm đến vấn đề này, từ đó chỉ ra sự giống nhau và khác nhau khi tiếp
cận và thể hiện vấn đề nơng thơn.
1.6. Đóng góp của luận văn
Hệ thống một số phạm trù lý thuyết tự sự học; làm rõ khả năng của lý
thuyết này trong nghiên cứu hiện tƣợng cụ thể.
Làm sáng tỏ đặc điểm của tự sự về nông thôn trong hai tiểu thuyết của
Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa.
Bƣớc đầu thực hiện và phát triển hƣớng nghiên cứu tự sự học hậu kinh
điển gắn với các hệ chủ đề nổi bật trong văn học.
1.7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính luận văn chúng tơi triển
khai thành ba chƣơng:
11
Chƣơng 1: Khái lƣợc về tự sự học và vấn đề nông thôn trong văn học
Chƣơng 2: Bức tranh nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của
Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang mộng của Diêm Liên Khoa.
Chƣơng 3: Nghệ thuật tự sự về nông thôn trong Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trƣờng và Đinh Trang mộng của Diêm Liên
Khoa.
12
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC VỀ TỰ SỰ HỌC
VÀ VẤN ĐỀ NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC
1.1. Khái lƣợc về tự sự học
1.1.1. Khái niệm tự sự học
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) trong
“Từ điển thuật ngữ văn học” thì “tự sự à phương thức tái hiện đời sống, bên
cạnh hai phương thức khác à trữ tình và kịch, được dùng àm cơ sở để phân
oại tác phẩm văn học” [19; 385].
Lại Nguyên Ân trong “150 thuật ngữ văn học”, nhà nghiên cứu thuật
ngữ văn học cho rằng: “Nét đặc thù của tự sự à vai trị tổ chức của trần
thuật: nó thơng báo về các biến cố, các tình tiết như thơng báo về một cái gì
đó đã xảy ra và được nhớ ại, đồng thời mơ tả hồn cảnh hành động và dáng
nét các nhân vật, nhiều khi còn thêm cả những ời bàn uận” [1; 2]. Trong
mỗi tác phẩm tự sự thì ngơn từ trần thuật và đối thoại, độc thoại (độc thoại nội
tâm) của các nhân vật luôn tƣơng tác tự nhiên với nhau.
Theo GS. Trần Đình Sử, tự sự học là “một nhánh của thi pháp học hiện
đại, hiểu theo nghĩa rộng nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề
liên quan, hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật
của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc” [39; 11].
Đây là một vấn đề rộng và có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu văn
học. Với tƣ cách là bộ mơn khoa học, nó ra đời vào khoảng năm 1966 với bài
viết “Phân tích cấu trúc của truyện kể in trên tờ báo Communications của
Pháp”. Nhƣng phải đến năm 1969, thuật ngữ tự sự học mới đƣợc nói đến
trong cơng trình “Ngữ pháp câu chuyện mƣời ngày của T.Todorov”. Từ đây,
nó trở thành tên chính thức của ngành nghiên cứu tự sự từ trƣớc tới nay và trở
thành ngành khoa học nghiên cứu có tính độc lập. Lí thuyết tự sự học đã đem
13
đến bộ công cụ hữu hiệu, ƣu việt giúp cho giới nghiên cứu có thể giải mã văn
bản văn học.
1.1.2. Các thành tố của tự sự
Theo “Lí luận văn học tập 2, Tác phẩm và thể loại văn học” (Trần Đình
Sử chủ biên), Nxb ĐHSP, 2011, tự sự bao gồm nhiều thành tố, cụ thể:
Thành tố đầu tiên không thể thiếu của tự sự chính là ngƣời kể chuyện
hay cịn gọi là ngƣời trần thuật. Nhà văn tạo ra ngƣời kể chuyện để thay mình
thực hiện hành vi trần thuật. Ngƣời kể chuyện trong văn bản ẩn mình trong
các dịng chữ; có thể kể theo ngơi thứ nhất, thứ ba hoặc thứ hai. Ngƣời kể
chuyện ngôi thứ nhất xƣng tôi chứng kiến các sự kiện đứng ra kể, kể các nội
dung khơng nằm ngồi phạm vi hiểu biết của một ngƣời và thƣờng gắn bó với
quan điểm đánh giá riêng của cá nhân. So với ngôi kể thứ nhất, đây là ngôi kể
tự do nhất. Ngôi kể thứ hai tƣơng đối ít gặp trong văn học, nó thƣờng đƣợc
nhắc tới trong các tiểu thuyết nhƣ “Đổi thay” của Michel Butor, “Linh Sơn”
của Cao Hành Kiện,… Ngôi kể thứ hai tạo ra một không gian gián cách, một
cái tôi khác, một cái tôi đƣợc kể ra, chứ không phải là tự kể nhƣ ngơi thứ
nhất.
Ngƣời kể chỉ có thể kể đƣợc thơng qua các điểm nhìn. Thể hiện vị trí
ngƣời kể dựa vào để quan sát, cảm nhận, trần thuật, đánh giá các nhân vật và
sự kiện đó chính là điểm nhìn. Tác phẩm tự sự có nhiều loại điểm nhìn,
thƣờng đƣợc phân chia thành điểm nhìn bên ngồi, điểm nhìn bên trong, điểm
nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật.
Nhân vật cũng là một thành tố quan trọng của tự sự. Đó là “hình tượng
các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận
thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của nghệ thuật ngơn từ”.
Có nhiều kiểu loại hình nhân vật khác nhau nhƣ nhân vật chính, nhân vật phụ,
nhân vật trung tâm; nhân vật chính diện, nhân vật phản diện… Có thể kể đến
14
một số kiểu cấu trúc nhân vật trọng tâm là nhân vật chức năng, nhân vật “loại
hình”, nhân vật tính cách, nhân vật tƣ tƣởng, nhân vật ngụ ngôn.
Trong các thành tố của tự sự, không thể thiếu sự kiện, cốt truyện. Sự
kiện nói chung là những hành vi (việc làm) của nhân vật hay sự việc xảy ra
đối với nhân vật, có thể làm biến đổi hay bộc lộ một ý nghĩa nào đó đối với
mục đích ngƣời kể. Cốt truyện đƣợc tạo nên từ hệ thống sự kiện cụ thể, đƣợc
tổ chức theo yêu cầu tƣ tƣởng nghệ thuật của nhà văn, đây là bộ phận cơ bản,
quan trọng nhất của tác phẩm tự sự.
Thành tố cốt truyện gắn liền với kết cấu. Vậy có thể hiểu kết cấu là
“toàn bộ tổ chức sinh động và phức tạp của tác phẩm, phục tùng đặc trưng
nghệ thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn đặt ra”.
Ngôn ngữ, giọng điệu cũng là những thành tố không thể thiếu trong tác
phẩm tự sự. Ngôn từ nghệ thuật dùng để sáng tạo hình tƣợng nghệ thuật.
Giọng điệu trong văn bản thể hiện thái độ, tình cảm và đánh giá của tác giả.
Trong tác phẩm tự sự có hai loại giọng chủ yếu, đó là giọng nhân vật đối với
thế giới và giọng của ngƣời kể chuyện đối với nhân vật, tùy theo đặc điểm
tính cách, số phận nhân vật, ngƣời kể và các mối quan hệ đa dạng của chúng
mà ta có giọng điệu đa dạng.
Tác phẩm tự sự cũng bao gồm thành tố không – thời gian nghệ thuật.
Thời gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Tác phẩm cần một
lƣợng thời gian để mở ra trƣớc mắt ngƣời đọc. Tuy nhiên, thời gian nghệ
thuật không đồng nhất với thời gian vật chất thực tại. Có nhiều loại thời gian:
thời gian vũ trụ, bốn mùa, có thời gian lịch sử, có thời gian xã hội, thời gian
tâm lý, đậm tính chủ quan; có thời gian thần thoại, thời gian vĩnh hằng, bất
biến trong tâm tƣởng.
15
1.1.3. Tự sự học kinh điển và tự sự học hậu kinh điển
Theo nghiên cứu mới nhất về tự sự học của GS. Trần Đình Sử trong
cuốn sách “Tự sự học í thuyết và ứng dụng” [38, 28], tự sự học đã trải qua
hai giai đoạn cơ bản là tự sự học kinh điển và tự sự học hậu kinh điển.
Tự sự học kinh điển (đại diện tiêu biểu nhƣ R.Barthes,Tz.Todorov,
G.Genette, F.Stanzel,... với các cơng trình chính: Nhập mơn phân tích cấu
trúc truyện kể, Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày, Diễn ngôn truyện kể, Diễn
ngôn mới về truyện kể,...) thƣờng đƣợc hiểu là tự sự học giai đoạn những năm
60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỉ trƣớc. Tự sự học kinh điển
tập trung nghiên cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên
truyện ở bƣớc phát triển thứ nhất. Trƣớc tiên phải kể đến vai trò to lớn của
các nhà tự sự học từ chủ nghĩa hình thức Nga nhƣ: Shklovski đã tiến hành
phân biệt tích truyện (fabula) với truyện kể (siuzhet); B.Tomashevski nghiên
cứu đơn vị môtip và phân loại các loại môtip; đặc biệt là V.Propp nghiên cứu
các chức năng và chuỗi các chức năng của hành động trong việc tạo thành
tiến trình của truyện. Sau các nhà hình thức Nga là các nhà tự sự học của chủ
nghĩa cấu trúc luận Pháp nghiên cứu hệ thống cấu trúc bề sâu và cấu trúc bề
mặt của truyện kể. Mặc dù lấy truyện kể làm đối tƣợng nghiên cứu, song, các
nhà tự sự học giai đoạn đầu chỉ quan tâm tới hành động, sự kiện mà bỏ qua
việc nghiên cứu cách kể, nhân vật và ý nghĩa của truyện, đồng thời có phần
lạm dụng thuật ngữ ngữ học. Vậy nên, có một số ý kiến cho rằng tự sự học
cấu trúc đã rơi vào khủng hoảng, lỗi thời. Trong khi đó, hƣớng phát triển thứ
hai của tự sự học kinh điển lại tập trung nghiên cứu diễn ngôn tự sự, tức là lớp
ngôn ngữ trần thuật và các yếu tố tạo nên nó: ngƣời kể, hành động kể, ngơi
kể, điểm nhìn, giọng điệu. Các nhà nghiên cứu chú ý đến trật tự thời gian,
khoảng cách thời gian, tần suất kể với các thời thái, thể thức khác nhau. Năm
16
1972 Genette nêu ra 3 phạm trù của diễn ngôn trần thuật: thời thái (tence),
quan hệ với thời gian; ngữ thức (mood), quan hệ với cự li và góc độ trần
thuật; ngữ thái (voice), liên quan đến tình huống, quan hệ ngƣời kể và ngƣời
nhận trong trần thuật. Ông phân biệt tụ tiêu (ai nhìn) với điểm nhìn lúc ấy có
những cách hiểu khác nhau và giọng điệu (ai kể). Lý thuyết tự sự học đã cung
cấp một hệ thống các khái niệm cơng cụ rất có hiệu quả để phân tích diễn
ngơn tự sự và đó là di sản vô giá để đọc hiểu văn bản tự sự. Đối tƣợng nghiên
cứu của tự sự học kinh điển chủ yếu là các tác phẩm tƣơng đối đơn giản nhƣ
truyện cổ tích, truyện kể thời Phục Hƣng cho nên khơng thích hợp với các
hình thức tự sự phức tạp. Cịn hƣớng thứ ba với ngƣời dẫn đầu là Prince, S.
Chatman và Mieke Bal. Quan điểm của nhóm này cho rằng cấu trúc diễn
ngôn và cấu trúc truyện đều quan trọng nhƣ nhau, chủ trƣơng nghiên cứu kết
hợp cả hai mặt. Nhà nghiên cứu Hà Lan Mieke Bal, trong sách Trần thuật học
– Dẫn luận í uận tự sự (bản sửa chữa, năm 1999) đã kết hợp nghiên cứu cấu
trúc truyện với văn bản và định nghĩa về tự sự học khác với Todorov. Bài
viết: “Tự sự học (narrato ogy) à í uận về trần thuật, văn bản trần thuật,
hình tượng, hình ảnh sự vật, sự kiện cùng sản phẩm văn hoá “kể chuyện”.
Nếu trƣớc đây ngƣời ta nghiên cứu tự sự theo từng mặt tách rời nhƣ chức
năng của hành động, ngữ pháp tự sự, tu từ học tự sự, nhiều khái niệm nhầm
lẫn và thiếu rạch rịi, thì giờ đây tất cả các mặt đều đƣợc xét trong tính hệ
thống của chúng. Tuy nhiên, hệ hình lý thuyết này cũng có một số nhƣợc
điểm nhất định khi nó chỉ mới dừng lại ở việc miêu tả các yếu tố hình thức
cấu trúc tự sự trong thế tĩnh tại, khép kín, mà chƣa đi sâu tìm hiểu cơ chế vận
hành của tự sự trong ngữ cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tiếp nhận cụ thể.
Tự sự học hậu kinh điển (đại diện chủ chốt là Tz.Todorov, R.Barthes
vào những năm 70 của thế kỉ XX, G.Prince, F.Revez,... với các cơng trình tiêu
biểu nhƣ Đọc tựa như xây dựng, Sự khoái ạc của văn bản, Dẫn luận tự sự
17
học,...) xuất hiện vào những năm 80, khi tự sự học kinh điển bị cơng kích từ
phía chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa lịch sử, là một hƣớng nghiên cứu
mở, mở ra với ngƣời đọc, với ngữ cảnh và mở ra với các lĩnh vực tự sự ngoài
văn học. Tự sự học hậu kinh điển vận dụng nhiều phƣơng pháp để nghiên cứu
văn học, trong khi phân tích văn bản tác phẩm đã chú ý đến độc giả và tác
động của hoàn cảnh lịch sử, tiếp thu một cách có ý thức phƣơng pháp, góc độ
phê bình, phân tích của những trƣờng phái lí luận phê bình, của các nghệ
thuật khác, mở rộng cách nhìn đối với tự sự học, ở một góc độ nhất định, nó
đã khắc phục đƣợc hạn chế của bản thân. Ngƣời ta xem tự sự là q trình chứ
khơng phải là sản phẩm. Trong bài Sự khoái ạc của văn bản, R. Barthes đã
nói đến văn bản tự sự gắn liền với ham muốn, dục vọng của ngƣời đọc, ơng ví
cấu trúc tự sự giống nhƣ một vở múa thoát y vũ, mà mỗi khi cởi bỏ một phần
trang phục là một sự kiện, một câu trần thuật, khi nào cởi hết thì kết thúc.
Nghệ thuật tự sự là phải kéo dài cái giây phút tìm đến chân lí, khối cảm nằm
trong q trình. Tự sự học hậu kinh điển có ba hƣớng nghiên cứu chính. Một
là nghiên cứu đặc trƣng chung của tác phẩm tự sự, bất kể sự khác nhau về
phƣơng tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh, truyền hình, báo
chí…). Khác với khái niệm tự sự truyền thống chỉ đóng khung trong phạm vi
văn học. Hƣớng thứ hai là từ phân tích cấu trúc tự sự trừu tƣợng chuyển sang
phân tích cấu trúc tự sự của tác phẩm cụ thể. Hƣớng mở thứ ba là mơ hình tự
sự học hơm nay có cơng thức “tự sự học + X”, “X” ở đây có thể là chủ nghĩa
nữ quyền hay nghiên cứu giới tính, nghiên cứu văn hóa hay nghiên cứu hậu
thực dân, nghiên cứu tự sự học tâm lí (nhƣ kiểu của L. Vygotski trong Tâm lí
học nghệ thuật), tự sự học lịch sử (nhƣ H. Whiter), tự sự học pháp luật, tự sự
học tu từ (nhƣ Phelan, Karl Kao, Lí Kiến Quân), tự sự học hậu hiện đại (nhƣ
M. Coli, Hồ Toàn Sinh). Quan điểm này gần gũi với quan điểm của Arthur
Asa Berger trong sách Tự sự trong văn hố thơng tục, truyền thơng và sinh
18
hoạt đời thường (Sage Publicasions, 1997), phân tích tự sự trong giấc mơ,
trong đồng thoại, trong tranh liên hoàn, chƣơng trình truyền hình, phát thanh,
điện ảnh, tiểu thuyết thơng tục, các chuyện đời thƣờng nhƣ đàm thoại, cáo
phó, truyện cƣời… Jahn trong cơng trình Lí uận về thể loại văn học (2002)
cũng đề cập đến phƣơng diện liên ngành này. Quan niệm này thực sự mở rộng
phạm vi ứng dụng của tự sự học.
Lý thuyết tự sự hiện đại cho thấy tính phức tạp của cấu trúc tự sự với
các vấn đề cần tìm tịi, suy ngẫm nhƣ: cốt truyện, ngƣời kể chuyện, điểm
nhìn, dịng ý thức, khơng gian, thời gian, giọng điệu, nhịp điệu trần thuật…
Đây đều là những yếu tố trọng yếu để tạo ra giá trị của tác phẩm văn học,
chứa đựng tƣ tƣởng của nhà văn trong đó. Dƣới đây, chúng tơi chỉ đi sâu vào
một số phƣơng diện cơ bản của lí thuyết tự sự nhƣ điểm nhìn trần thuật,
khơng gian nghệ thuật… sẽ đƣợc vận dụng để tìm hiểu và nghiên cứu về vấn
đề nông thôn trong tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Trƣờng và Diêm Liên Khoa.
Kể từ khi xuất hiện, tự sự học vẫn ln khơng ngừng đổi mới, phát
triển và tìm cho mình những hƣớng tiếp cận có triển vọng để khẳng định vị
thế của mình trong ngành nghiên cứu văn học. Nếu tự sự học kinh điển tập
trung nghiên cứu cấu trúc, tách văn bản với những mối liên hệ với độc giả,
hiện thực thì tự sự học hậu kinh điển ra đời với thái độ mở, đã chú trọng tới
nghiên cứu văn bản trong mối quan hệ với ngƣời đọc, tác động của bối cảnh
xã hội, đặc biệt là chú ý đến nghiên cứu tác phẩm cá biệt. Có thể thấy, tự sự
học trong quá tình phát triển, ở một góc độ nào đó đã tự khắc phục đƣợc
những hạn chế của chính mình, trở thành một hƣớng nghiên cứu toàn diện và
giá trị hơn.Tự sự học hiện đại đã đi sâu nghiên cứu các thành phần tạo nên
cấu trúc tự sự.
Tuy nhiên, trong sự vận động của tự sự học, mà đặc biệt là sự xuất hiện
của tự sự học hậu kinh điển, việc nghiên cứu tự sự về một đề tài, chủ đề cũng
19
là một hƣớng tất yếu, từ đó có thể thấy đƣợc mối quan hệ giữa nghệ thuật tự
sự với các yếu tố bên ngồi nhƣ văn hóa, xã hội, thấy đƣợc sự vận động của
hình thức tự sự khi viết về cùng một đề tài, đồng thời cũng có cơ hội để thấy
sự vận động, thay đổi của một đề tài trong diễn biến văn học.
Hiện nay, hƣớng đi này trong nghiên cứu văn học đã có những cơng
trình nghiên cứu dựa trên lí thuyết về tự sự học với các đề tài nhƣ: Tự sự về
nông thôn, tự sự về đô thị, tự sự về chiến tranh, tự sự về bình đẳng giới…
Những nghiên cứu này khơng những giúp cho chúng ta có cái nhìn đồng đại,
so sánh sự khác nhau trong nghệ thuật trần thuật về cùng một đề tài chủ đề
của các nhà văn cùng thời, mà cịn có thể thấy đƣợc sự vận động, thay đổi
trong nghệ thuật, cách nhìn về cùng một đề tài, chủ đề trong chiều lịch đại mà
cịn mở ra nhiều góc khuất khác nhau của các đề tài tƣởng nhƣ đã cũ trong
văn học, tiếp thêm cho nó một nguồn năng lƣợng mới và chứng minh khơng
có một giới hạn nào cho sự phong phú của nghiên cứu văn học. Đây sẽ là một
hƣớng nghiên cứu tiềm năng và mang lại nhiều giá trị cho hành trình đào sâu
và khám phá văn học của các nhà nghiên cứu trong tƣơng lai.
1.2. Khái lƣợc về vấn đề nông thôn trong văn học
Trong văn học Việt Nam, nhiều tác giả và tác phẩm ghi đƣợc dấu ấn lớn
trong đề tài nơng thơn, có thể kể đến một số tên tuổi ở mảng văn xuôi theo từng
giai đoạn nhƣ: Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bửu Mọc, Hồ Biểu Chánh (buổi giao
thời 1900 – 1930), Kim Lân, Bùi Hiển, Trần Tiêu, Thạch Lam, Nguyễn Công
Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao (thời kì 1930 – 1945), Tơ Hồi, Nguyễn Văn
Bổng, Chu Văn, Nguyễn Khải (thời kì 1945 – 1975), Đào Vũ, Nguyễn Kiên,
Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Dƣơng
Hƣớng, Võ Văn Trực, Đồn Lê, Ngơ Ngọc Bội, Tạ Duy Anh, Đỗ Minh Tuấn,
Hoàng Minh Tƣờng, Nguyễn Ngọc Tƣ, … (giai đoạn từ sau 1975). Tìm đến văn
hóa nơng thơn, các nhà văn bày tỏ khát vọng đƣợc nhận thức lại đời sống văn
20
hóa, khám phá tâm thức nguồn cội, đối thoại về bản sắc, truyền thống. Bối cảnh
tồn cầu hóa đã tác động đến văn hóa nơng thơn làm thay đổi nhận thức khơng
gian văn hóa, xuất hiện các hình thái văn hóa mới và tạo nên một tâm thế khác
của chủ thể văn hóa. Các tác giả viết về nơng thơn thực hiện chiến lƣợc giao tiếp
giữa chủ thể - đối tƣợng tham chiếu và ngƣời tiếp nhận trong một sinh quyển
văn học đặc biệt. Sau cơng cuộc “cởi trói” cho văn học, nghệ thuật năm 1986,
tiểu thuyết viết về nông thơn đã có sự đổi mới mạnh mẽ từ cảm hứng, đề tài,
cấu tứ, thi pháp ... để tạo nên cách nhìn và tái tạo hiện thực đầy đủ, sinh động
hơn so với tiểu thuyết giai đoạn trƣớc. Sự nở rộ các tác phẩm viết về nơng
thơn có giá trị đã tạo nên khơng khí văn học sơi động cũng nhƣ làm nên một
giai đoạn văn học thành công. Cùng với sự đổi thay về quan điểm đạo đức,
thẩm mĩ do cơng cuộc đổi mới đem lại thì việc chuyển từ cảm hứng sử thi
sang cảm hứng đời tƣ thế sự là một điều rất đáng lƣu ý của tiểu thuyết giai
đoạn này. Đổi mới tƣ duy nghệ thuật dẫn đến sự thay đổi hàng loạt các yếu tố
quan trọng nhƣ quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con ngƣời, cảm hứng
sáng tác, phƣơng thức biểu hiện ... Sự biến đổi từ hệ thống chủ đề, đề tài cho
tới các phƣơng thức thể hiện, ngoài việc tạo dựng nên một diện mạo văn học
mới thì cịn từng bƣớc hình thành, thiết lập những quy tắc, kết cấu mới để
thay thế những quy tắc, kết cấu khơng cịn phù hợp. Quá trình phát triển
chồng lấn giữa những nguyên tắc cũ - mới trong một thời gian ngắn đã tạo
nên tính chất lƣỡng thể cho văn học. Điều này thể hiện qua việc cùng một nhà
văn nhƣng viết ở hai thời kỳ với hai hệ thẫm mỹ khác nhau với những thành
công khác nhau. Hoặc nhƣ nhƣ cùng một kết cấu, đề tài nhƣng lại đƣợc nhà
văn sử dụng để phản ánh hai vấn đề đối nghịch ... Khi đất nƣớc bƣớc vào giai
đoạn đổi mới từ năm 1986 thì tiểu thuyết viết về nông thôn đã đạt đƣợc những
thành tựu mới. Tiểu thuyết đề cập thẳng vào những vấn đề đặt ra trong thực
tại, trực tiếp viết về các vấn đề sản xuất, quản lý kinh tế - xã hội với những