BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
VŨ THỊ NHƯ HOA
TỰ SỰ VỀ ĐÔ THỊ TRONG TIỂU THUYẾT
PHỒN HOA CỦA KIM VŨ TRỪNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
VŨ THỊ NHƯ HOA
TỰ SỰ VỀ ĐÔ THỊ TRONG TIỂU THUYẾT
PHỒN HOA CỦA KIM VŨ TRỪNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số:8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đỗ Văn Hiểu
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu và tài liệu đƣợc trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết quả
nghiên cứu này không trùng với bất cứ cơng trình nào đã đƣợc cơng bố trƣớc đó.
Tơi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Phú Thọ, tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn
ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới q thầy cơ, phịng đào
tạo sau đại học trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
hoàn thành tốt luận văn. Đặc biệt cảm ơn thầy cô đã dùng với vốn tri thức và
tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong
suốt thời gian học tập ở khoa.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Đỗ Văn Hiểu ngƣời trực tiếp đã chỉ bảo
và hƣớng dẫn em rất tận tâm để em có thể hồn thành tốt luận văn này. Cảm
ơn Thầy đã luôn theo sát, nhắc nhở và góp ý kịp thời cho em trong quá trình
làm luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những ngƣời đã ln giúp
đỡ và động viên em trong suốt thời gian làm luận văn.
Do kiến thức và trình độ cịn hạn chế, trong q trình làm luận văn, khó
tránh khỏi những sai sót, rất mong thầy cơ và các bạn đóng góp ý kiến để em học
thêm đƣợc nhiều kinh nghiệm trong quá trình làm các bài nghiên cứu sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Ngƣời thực hiện
Vũ Thị Nhƣ Hoa
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
Phần I: MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu ........................................................................ 2
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................... 5
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 5
6. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 6
Phần II: NỘI DUNG ......................................................................................... 7
CHƢƠNG 1: TỰ SỰ VỀ ĐÔ THỊVÀ TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐƠ THỊ
THƢỢNG HẢI .................................................................................................. 7
1.1. Tự sự về đơ thị ........................................................................................... 7
1.1.1. Đô thị trong văn học................................................................................ 7
1.1.2. Phƣơng thức tự sự về đô thị .................................................................. 14
1.2. Tiểu thuyết viết về đô thị Thƣợng Hải và “Phồn hoa” của Kim Vũ Trừng . 17
1.2.1. Tiểu thuyết viết về đô thị Thƣợng Hải .................................................. 17
1.2.2. “Phồn hoa” của Kim Vũ Trừng trong bộ phận tiểu thuyết viết về
Thƣợng Hải ..................................................................................................... 20
CHƢƠNG 2. ĐÔ THỊ THƢỢNG HẢI TRONG TIỂU THUYẾT “PHỒN
HOA” CỦA KIM VŨ TRỪNG ...................................................................... 24
2.1 Đô thị Thƣợng Hải trong bão táp cách mạng............................................ 24
2.1.1 Cuộc sống đời thƣờng của những thị dân nhỏ bé .................................. 25
2.1.2. Những nạn nhân của đại cách mạng văn hóa ........................................ 30
2.2. Đơ thị Thƣợng Hải trong nền kinh tế thị trƣờng ...................................... 36
2.2.1. Một Thƣợng Hải với những con ngƣời bị chi phối mạnh mẽ bởi quan hệ
lợi ích vật chất ................................................................................................. 36
iv
2.2.2. Một Thƣợng Hải với những con ngƣời đầy nhục dục .......................... 39
2.3. Đơ thị Thƣợng Hải trong kí ức và bản sắc văn hoá ................................. 43
2.3.1. Kiến trúc Thƣợng Hải ........................................................................... 45
2.3.2. Ẩm thực, trang phục Thƣợng Hải ......................................................... 48
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG THỨC TỰ SỰ VỀ ĐÔ THỊ TRONG TIỂU
THUYẾT “PHỒN HOA” CỦA KIM VŨ TRỪNG ....................................... 52
3.1. Ngƣời kể chuyện thuyết thƣ và sự luân phiên ngƣời kể chuyện ............. 52
3.1.1. Ngƣời kể chuyện thuyết thƣ .................................................................. 52
3.1.2. Sự luân phiên ngƣời kể chuyện ............................................................. 54
3.2. Tổ chức đan xen các mảng không gian .................................................... 58
3.2.1. Đan xen giữa không gian quá khứ với không gian hiện tại .................. 59
3.2.2. Đan xen giữa không gian thực và không gian ảo.................................. 65
3.2.3. Đan xen giữa không gian riêng tƣ với không gian xã hội..................... 68
3.3. Phƣơng ngữ đối thoại, ngôn ngữ điện ảnh và khoảng trống trong văn
bản ................................................................................................................... 70
3.3.1. Phƣơng ngữ đối thoại ............................................................................ 71
3.3.2. Ngôn ngữ điện ảnh ................................................................................ 73
3.3.3. Khoảng trống trong văn bản.................................................................. 76
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 85
1
Phần I: MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Tự sự gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của lịch sử
lồi ngƣời, nhƣ Roland Barthes từng nói: “Đã có bản thân lịch sử lồi ngƣời,
thì đã có tự sự” (câu nói quen thuộc ở phƣơng Tây “History is astory / L’Hi
storie est unrécit”) [41; 12]. Nhƣng tự sự học với tƣ cách là một bộ môn khoa
học độc lập thì phải đến khoảng giữa thế kỉ XX mới hình thành. Tự sự học
nhanh chóng trở thành lĩnh vực thu hút các nhà nghiên cứu, là “bộ phận
không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, và nói theo ngơn
ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình
(paradigme) lý luận hiện đại” [41; 11].
1.2. Văn học Trung Quốc là nền văn học phát triển lâu đời, có vị trí
riêng trên bản đồ văn học thế giới với những tên tuổi lớn nhƣ Lí Bạch, Bạch
Cƣ Dị, Lỗ Tấn, Mạc Ngơn, Giả Bình Ao, Diêm Liên Khoa…Sự phát triển rực
rỡ và nhiều thành tựu của văn học Trung Quốc có ảnh hƣởng khơng nhỏ đến
nền văn học Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu văn học Trung Quốc, chúng ta có
thể hiểu sâu sắc hơn về nền văn học có nhiều thành tựu này, đồng thời cũng
có thể hiểu thêm về văn học dân tộc.
1.3. Đô thị là một trong những mảng đề tài lớn đƣợc các nhà văn Trung
Quốc chú ý khai thác. Trong các thành phố ở Trung Quốc, Thƣợng Hải có
một vị trí hết sức đặc biệt, cũng chính vì thế, tự sự về Thƣợng Hải có vị trí
riêng trong văn học viết về đơ thị ở Trung Quốc. Hàn Khánh Bang, Vƣơng
An Ức, Kim Vũ Trừng là những cây bút nổi bật khi viết về đô thị Thƣợng
Hải. Những nhà văn này có đóng của riêng trong mảng văn học viết về
Thƣợng Hải.
1.4. Kim Vũ Trừng là nhà văn đã xác lập đƣợc một vị trí riêng trên văn
đàn Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực tiểu thuyết viết về đơ thị. Ơng đã
2
thực sự tạo ấn tƣợng sâu sắc đối với giới phê bình văn học bằng việc liên tiếp
cho ra đời những tác phẩm có giá trị nhƣ: Khinh hàn, Phương Đào, phồn hoa,
Uyển, Hồi vọng…Ông đã liên tiếp giành đƣợc nhiều giải thƣởng văn học, nhƣ
giải thƣởng Mao Thuẫn lần thứ 9 và giải thƣởng Thi Nại Am lần thứ 2.
Những tác phẩm của Kim Vũ Trừng phần lớn là những trải nghiệm sâu sắc
của một con ngƣời đã có sự gắn bó sâu nặng với mảnh đất Thƣợng Hải. Nếu
nhƣ Mạc Ngơn có vùng Cao Mật, Diêm Liên Khoa có núi Bá Lâu thì Kim Vũ
Trừng có Thƣợng Hải. Nói tới mảnh đất đơ thị này làm sao có thể không nhắc
đến tác phẩm Phồn hoa– một bộ kỳ thƣ khổng lồ về Thƣợng Hải vàvăn học
đô thịTrung Quốc nửa cuối thế kỉ XX. Chính vì vậy, ngƣời viết chọn “Tự sự
vềđô thị trong tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng” làm đề tài nghiên
cứu nhằm tìm hiểu nét đặc sắc trong tự sự về đô thị của tác phẩm này.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu tự sự học ởViệt Nam
Mặc dù tự sự học đã phát triển từ khoảng giữa thế kỉ XX trên thế giới,
nhƣng ở Việt Nam, mãi đến năm 2001, hội thảo quy mơ tồn quốc về tự sự
học mới đƣợc tổ chức (tổ chức tại trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội). Trong
bài viết Tự sự học - một bộ mơn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, Trần
Đình Sử đã hệ thống, khái lƣợc những vấn đề tự sự từ chủ nghĩa hình thức
Nga, ngơn ngữ học Saussure, Platon, Aritoste, Tz. Tododov, Genette… Qua
đó, ơng khẳng định vai trị quan trọng của tự sự học. Cao Kim Lan trong bài
viết Lí thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Scholes và R. Kellogg đã dựa
vào cuốn Bản chất của tự sự để giới thiệu về điểm nhìn nghệ thuật và sự chi
phối của điểm nhìn trong truyện kể, vấn đề quyền năng của ngƣời kể chuyện
với điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn của ngƣời kể chuyện và điểm nhìn của
ngƣời đọc…Tác giả Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài
khái niệm trần thuật đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ơng một cách hệ
thống với những khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập
3
trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là
tình huống trần thuật và ngƣời nghe chuyện. Một trong những cơng trình có ý
nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự
học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử [41] do Trần Đình Sử chủ biên. Trong
chun luận này, ơng đã hệ thống các vấn đề cơ bản của tự sự học kinh điển
và hậu kinh điển.
Sau thi pháp học do Trần Đình Sử giới thiệu và nghiên cứu, Tự sự học
đã trở thành lí thuyết đƣợc ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu văn học ở Việt
Nam. Tính đến nay, có rất nhiều cơng trình đã nghiên cứu các hiện tƣợng văn
học cụ thể dƣới góc độ tự sự học, chẳng hạn nhƣ, Nghệ thuật tự sự trong
tiểu thuyết Nam Cao, Luận văn thạc sỹ Văn học, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà
Nộicủa Trần Thị Xuyến (2007), Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn
Kháng Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội của Đỗ Phƣơng
Thảo (2007), Nghệ thuật tự sự của Lỗ Tấn qua hai tập truyện ngắn Gào thét
và Bàng hoàng của Nguyễn Thị Mai Chanh (viện văn học,2010), Tự sự kiểu
Mạc Ngôn (Nxb Văn học, 2018) của Nguyễn Thị Tịnh Thy….Các cơng trình
nghiên cứu này, đều xuất phát từ lí thuyết tự sự nhƣ ngƣời kể chuyện, điểm
nhìn, ngơn ngữ, giọng điệu để chỉ ra cấu trúc độc đáo trong tiểu thuyết của
Nam Cao, sự kết hợp linh hoạt các hình thức tự sự, gia tăng hợp lí các điểm
nhìn trần thuật trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, Lỗ Tấn truyện ngắn của Lỗ
Tấn, hay là sự đi sâu phân tích, luận chứng, so sánh và kiến giải nghệ thuật tự
sự của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết từ đặc trƣng sáng tác, tƣ duy thẩm mĩ, soi
chiếu từ lí thuyết tự sự truyền thống Trung Quốc cùng tự sự hiện đại, hậu hiện
đại phƣơng Tây trong tự sự kiểu Mạc Ngôn của Tịnh Thi…
2.2. Nghiên cứu về tiểu thuyết “Phồn hoa”
Tác phẩm Phồn hoa của Kim Vũ Trừng đƣợc xuất bản ở Việt Nam năm
2020 do Nguyễn Thị Minh Thƣơng dịch. Dịch giả Nguyễn Minh Thƣơng
trong Lời giới thiệu của tiểu thuyết đã trích những lời đánh giá rất cao về tác
4
phẩm này, nhƣ: “Nói đến tự sự Thƣợng Hải, từ khi thịnh hành tiểu thuyết
bạch thoại, đến khi Phồn hoa ra đời, không thể không nhắc đến bốn nhà văn,
liệt kê theo thời gian, đó là: Hàn Băng Khánh, Trƣơng Ái Linh, Vƣơng An
Ức, Kim Vũ Trừng” của Vƣơng Xuân Lâm - thành viên Ban giám khảo Giải
thưởng văn học Mao Thuẫn; Phồn hoa mang vẻ đẹp của “màn sƣơng mù dày
đặc trên sông Tô Châu vào lúc cuối thu, giống nhƣ một giấc mộng u ám, chỉ
có thể cảm, khơng thể chạm” của Hồng Bình - giáo sƣ của Đại học Hoa
Đông. Đỗ Văn Hiểu trong bài viết Giới thiệu tiểu thuyết “Phồn hoa” của Kim
Vũ Trừng (Trung Quốc) đã nhắc đến những vấn đề sau: Kim Vũ Trừng dùng
ngôn ngữ Thƣợng Hải để viết về cuộc sống của con ngƣời thành phố Thƣợng
Hải. Phồn hoa có phong cách ngôn ngữ và phƣơng thức tự sự vô cùng đặc
biệt, tác phẩm biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời và đô thị Thƣợng Hải,
đề cập đến nhiều giai tầng thị dân Thƣợng Hải. Thụy Oanh trong bài Bản
nhạc buồn của thành phố phồn hoa đã viết: “Tiểu thuyết "Phồn hoa" không
chỉ đƣợc viết bằng sự tinh tế của nhà văn. Sâu thẳm trong từng câu chữ là
những rung cảm của một tâm hồn thiết tha với Thƣợng Hải (Trung Quốc)”,
Tác giả đã khẳng định, Phồn hoa là cuốn tiểu thuyết đồ sộ. Bởi chỉ với ba
nhân vật chính, Kim Vũ Trừng đã phát triển ra nhiều nhánh truyện phụ đan
xen, với hàng chục câu chuyện lớn nhỏ, cùng hơn một trăm con ngƣời. Mỗi
chi tiết nhỏ trong tác phẩm đều chứa đựng hơi thở, phong vị và nhịp điệu
riêng có của chốn đơ thành này. Bởi thế, “Paris của phƣơng Đông” hiện lên
trong tác phẩm vừa diễm lệ xa hoa, vừa bi ai tủi nhục, vừa phóng túng bất
cần, vừa luyến lƣu trì níu”
Nhìn chung, từ khi xuất bản đến nay, nghiên cứu về tiểu thuyết Phồn
hoa ở Việt Nam chƣa nhiều, có lẽ một phần vì đây là tiểu thuyết đầu tiên của
Kim Vũ Trừng đƣợc dịch ra tiếng Việt, và cũng có lẽ bởi tiểu thuyết này
thuộc diện tiểu thuyết kén độc giả. Mặc dù nghiên cứu về Phồn hoa chƣa
nhiều, nhƣng những bài viết ít ỏi đó cũng đã gợi ý cho tơi rất nhiều trong quá
5
trình triển khai đề tài này.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, ngƣời viết thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát về tự sự về đơ thị và vị trí của tiểu thuyết Phồn hoa trong
mảng văn học viết về Thƣợng Hải ở Trung Quốc.
- Phân tích “câu chuyện”và nghệ thuật tự sự về đô thị Thƣợng Hải
trong tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn lànghệ thuật tự sự về đô thị trong
tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng do Minh
Thƣơng chuyển ngữ, Nxb Hội Nhà văn xuất bản năm 2020, 590 trang.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngƣời viết sử dụng triệt để phƣơng pháp nghiên cứu của tự sự học, sử
dụng các phạm trù của tự sự học để nghiên cứu tự sự về đô thị trong tiểu
thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng. Cụ thể là ngƣời viết sử dụng phạm trù
“câu chuyện” trong tự sự học (dựa theo lí thuyết đƣợc trình bày trong cuốn Tự
sự học – lí thuyết và ứng dụng (Nxb Giáo dục, 2017) do Trần Đình Sử chủ
biên để triển khai nghiên cứu “câu chuyện” của Thƣợng Hải trong chƣơng 2.
Đô thị Thượng Hải trong tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ Trừng. Bên cạnh
đó, ngƣời viết sử dụng phạm trù Ngƣời kể chuyện, kết cấu không gian nghệ
thuật, ngôn ngữ giọng điệu để nghiên cứu phƣơng thức tự sự về đô thị trong
Phồn hoa.
Bên cạnh đó, ngƣời viết sử dung phƣơng pháp lịch sử để nghiên cứu đô
thị Thƣợng Hải trong những thời điểm lịch sử khác nhau, đặt Phồn hoa trong
lịch sử tiểu thuyết viết về đô thị Thƣợng Hải ở Trung Quốc.
6
Ngồi ra, ngƣời viết cịn sử dụng các thao tác phổ biến khác nhƣ phân
tích, tổng hợp, so sánh để nghiên cứu
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm ba chƣơng:
Chƣơng 1: Tự sự về đô thị và tiểu thuyết viết về đô thị Thƣợng Hải ở
Trung Quốc
Chƣơng 2:Đô thị Thƣợng Hải trong tiểu thuyết Phồn hoa của Kim Vũ
Trừng
Chƣơng 3: Phƣơng thức tự sự về đô thị Thƣợng Hải trong tiểu thuyết
Phồn hoa của Kim Vũ Trừng
7
Phần II: NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TỰ SỰ VỀ ĐÔ THỊ
VÀ TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ ĐÔ THỊ THƢỢNG HẢI
1.1. Tự sự về đô thị
1.1.1. Đô thị trong văn học
Trong nhiều năm gần đây, văn học đô thị thu hút đƣợc sự quan tâm của
đông đảo các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, học viên, sinh viên và cả
bạn đọc ngồi và trong nƣớc. Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều luận văn thạc
sĩ, đã lấy văn học đô thị làm đối tƣợng nghiên cứu. Vì thế “Văn học đơ thị”
khơng cịn là một khái niệm xa lạ đối với các nhà nghiên cứu. Đô thị nhƣ là
một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của của mỗi thời đại nói chung
và của mỗi quốc gia nói riêng. Có quốc gia nào mà khơng có đơ thị? Có đô thị
nào mà không phải là biểu tƣợng lịch sử, văn hóa, kiến trúc của quốc gia đó?
Có ai sinh ra khi biết đến đô thị mà không từng khao khát, ƣớc mơ về cuộc
sống đơ thị? Khi nói đến đơ thị có ngƣời đã ví nó nhƣ một thứ bùa ngải mà ai
cũng có thể bị hấp dẫn nhƣng đồng thời cũng ẩn chứa rất nhiều mối đe dọa.
Đô thị khơng cịn là một khái niệm để chỉ về một vùng cƣ trú, sinh hoạt của
con ngƣời theo nghĩa đơn thuần mà đã trở thành một yếu tố quan trọng trong
sự phát triển của xã hội. Theo chúng tôi tìm hiểu đƣợc thì đơ thị đƣợc hình
thành trên thế giới cách đây hàng ngàn năm. Trong lịch sử phát triển của các
quốc gia trên thế giới chƣa khi nào vắng bóng hình ảnh của đơ thị, bắt đầu từ
những thành phố cổ Jerusalem (Isarel) hay Athens (Hy Lạp), sau đó là sự xuất
hiện của các đơ thị lớn trên thế giới nhƣ Paris (Pháp), Lôn Đôn (Anh),
Beirerin (Đức), Istanbul (Thổ Nhĩ Kì), Hà Nội (Việt Nam)…tất cả những biểu
hiện của các đô thị ấy đã đƣợc các nhà văn đƣa vào trong tác phẩm văn học,
khám phá và suy ngẫm về đô thị với một niềm say mê vô tận.
Khái niệm đô thị trƣớc tiên là để phân biệt với một môi trƣờng sống
8
hồn tồn khác biệt là nơng thơn.Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “đô thị”
đƣợc định nghĩa là “nơi dân cƣ đơng đúc, là trung tâm thƣơng nghiệp và có
thể cả cơng nghiệp; thành phổ hoặc thị trấn”. Nói nhƣ vậy thì đơ thị là khu
vực tập trung đơng dân cƣ sinh sống và chủ yếu hoạt động trong những lĩnh
vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội,
du lịch và dịch vụ của cả nƣớc hoặc vùng lãnh thổ bao gồm thị trấn, thị xã,
thành phố (thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc trung ƣơng).
Dƣới khía cạnh xã hội học, đô thị và nông thôn là hai khái niệm về mặt nội
dung có hàng loạt đặc điểm có tính đối lập nhau. Nếu các nhà xã hội học đã
đƣa ra rất nhiều cơ sở khác nhau để phân biệt đô thị và nông thôn nhƣ các lĩnh
vực hoạt động sống của xã hội thì trong văn học sự khác biệt giữa đô thị và
nông thôn lại càng khiến cho những ngƣời chƣa từng một lần nhìn thấy đơ thị,
chƣa đặt chân đến đô thị họ khao khát và ƣớc mơ. Trong suy nghĩ của nhiều
ngƣời, đơ thị chính là chốn phồn hoa, nơi đông đúc, nhộn nhịp. Đã córất
nhiều ngƣời chọn cách rời bỏ vùng quê nghèo khó để đến với đơ thị. Chấp
nhận thay đổi các thói quen, lợi ích ở vùng quê để đổi lấy cuộc sống mới đơ
thị. Cuộc sống hào nhống với đầy đủ tiện nghi hiện đại với các hoạt động
giải trí đã khiến nhiều ngƣời bị mê hoặc. Nhƣng khơng ai có thể biết đƣợc bên
trong cái hào nhoáng ấy là những phức tạp và rắc rối trong cuộc sống hàng
ngày, những ngột ngạt, tù túng, những giả tạo, sự xuống cấp của đạo đức đều
đƣợc đơ thị che đậy lại kín đáo và tài tình. Điều này đã đƣợc thể hiện chân
thực và cũng đầy ám ảnh trong văn chƣơng. Nhiều nhà văn lớn trong và ngoài
nƣớc đã dành trọn cuộc đời mình chỉ để viết về đơ thị:
Những người khốn khổ, Nhà thờ đức bà Pari là những tác phẩm kinh
điển của Victor Huygo viết về thủ đô Pari thế kỉ XIX của nƣớc Pháp. Bản
giao hƣởng của ánh sáng và bóng tối.Vừa khổ đau tận cùng vừa đẹp đẽ mẫu
mực, vừa lãng mạn nhƣng cũng đầy tính hiện thực, Những người khốn khổ và
nhà thờ đức bà Pari là một bức tranh đầy đủ về xã hội Pháp trong những năm
9
đầu thế kỷ XIX với những mảnh đời bất hạnh và nghiệt ngã nhƣ Jean Valjean,
Fantine, vũ nữ Esmeralda xinh đẹp, thằng gù Quaimodo. Một Pari bị bóp
nghẹt trong bầu khơng khí chun chế khắc nghiệt, bị chi phối bởi thần học,
giáo lí, con ngƣời nhƣ sống trong một cái nhà hộp bằng sắt khơng có cửa sổ,
họ quằn quại trong những trò nhơ bẩn, những đau khổ trái ngang, lại vừa
nhem nhuốc bởi sự băng hoại đạo đức đã ăn sâu vào đến tận chân tƣờng của
giáo đƣờng. Trong khơng khí u ám, đen tối đó của Pari, nhà văn đã xây dựng
thành cơng những hình mẫu nghệ thuật là biểu tƣợng của lối sống cao thƣợng
và tình thƣơng trọn vẹn, từ đó đề cao và lí tƣởng hóa tình yêu thƣơng của con
ngƣời, thể hiện niềm tin mãnh liệt vào tình u sẽ có thể cảm hóa đƣợc cái
xấu, cái ác.
Nếu muốn tìm kiếm một đơ thị đa sắc màu thì khơng thể khơng nói tới
Những màu khác trên lãnh thổ Thổ Nhĩ Kì của nhà văn Orhan Pamuk. Đó là
vùng đất mỗi khi nhắc đến là khiến độc giả nhớ đến những trận động đất,
cuộc hỏa hoạn và những tái thiết liên miên trong lịch sử. Ở đó, con ngƣời ln
phải chịu đựng sự rình rập của những cái chết bất ngờ, tính mạng con ngƣời
trở nên mong manh, chấp chới và rẻ mạt. Nhƣng cũng chính vì lẽ đó, con
ngƣời ở đây lại cảm nhận rõ hơn diện mạo của sự sống, họ trở nên trân quý sự
sống của bản thân và sẵn sàng đấu tranh cho sự sống đáng quý ấy. Ở một diện
mạo khác, Istanbul cịn đƣợc hiện ra là một đơ thị đặc biệt, nằm trung tâm
trên con đƣơng giao thƣơng giữa phƣơng Đông và phƣơng Tây, sự giao lƣu
giữa hai nền văn hố cũng khiến cuộc sống đơ thị của Istanbul bị ảnh hƣởng
bởi nhiều sắc thái văn hóa, lối sống khác nhau, hình thành nên một khơng
gian đơ thị đặc trƣng mà các tác phẩm khác về đô thị khác không thể có.
Có đơ thị thì ắt sẽ nảy sinh những vấn đề của đơ thị, có những câu
chuyện đơ thị, con ngƣời đơ thị, dục vọng đơ thị, đó chính là tiền đề của văn
chƣơng về đô thị. Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội các nhà văn đã
thực tế, chủ động, nắm bắt đƣợc những vấn đề nóng bỏng của đời sống xã hội,
10
đi sâu đề cập đến những vấn đề cá nhân, xoáy sâu vào thực tế bụi bặm của đời
sống con ngƣời. Trong cái vỏ bọc đơ thị ấy, văn hố, đạo đúc, tinh thần của
con ngƣời đang bị băng hoại dần và con ngƣời cũng dễ bị rơi vào sự hoài nghi
và vỡ mộng. Trong các tác phẩm trong bộ Tấn trò đời của Honore Đe Banzac
nhƣ Vỡ mộng, Miếng da lừa…. đô thị Pháp một lần nữa lại đƣợc soi chiếu,
mơ tả chân thực sự xa hoa giàu có nhƣng cũng vơ tình, bạc bẽo đến mức ớn
lạnh. Một đơ thị trụy lạc, phóng đãng nửa đầu thế kỉ XIX hiện lên cực kì chân
thực và sinh động.Trong Miếng da lừa, nhân vật Raphaen đơ Valangtanh lên
Pari trọ học với thiện ý và hoài bão cao cả, nhƣng sau khi cảm nhận đƣợc sự
lãnh đạm tàn nhẫn của mọi ngƣời với những việc làm có ý nghĩa cao đẹp của
anh, Raphaen đã rơi vào khủng hoảng, cô đơn, tuyệt vọng. Tình cờ anh đƣợc
một lão già bn đồ cổ cho một miếng da lừa trên đó có dịng chữ "Nếu mi có
ta mi sẽ có hết thảy, nhƣng đời mi sẽ thuộc về ta. Trời đã định thế. Hãy ƣớc
đi, lời ƣớc của mi sẽ đƣợc toại, nhƣng hãy chỉnh lời ƣớc hẹn theo đời mi. Mỗi
lần ƣớc ta sẽ co nhỏ lại nhƣ đời mi vậy. Muốn ta chăng? Cầm lấy Trời chuẩn
y cho". Kể từ khi có miếng da lừa, Raphaen dù cố kiềm chế ƣớc muốn nhƣng
vẫn khơng thốt khỏi tham vọng lạc thú và cuối cùng miếng da lừa co nhỏ lại,
kết thúc cuộc đời anh. Nhà văn đã nhấn mạnh một quy luật khắc nghiệt của
tạo hóa mà con ngƣời đơ thị đƣơng thời đã vi phạm: đời sống của con ngƣời
đã đƣợc sắp xếp trong phạm vi nhất định, biết sống theo quy luật thì đƣợc
sống lâu. Kẻ nào lịng đầy tham vọng muốn sống trụy lạc trác táng sẽ mau
chóng tàn lụi.
Ba người lính Ngự lâm của Alexan Durma nổi tiếng với chủ đề tình yêu
lãng mạn của giới quý tộc và những xung đột ngầm trong tranh đoạt quyền
lực của các phe phái chính giới phong kiến Pháp. Thơng qua cuộc gặp gỡ, đối
đầu của d'Artagnan và ba ngƣời lính ngự lâm Aramis, Porthos, Athos, với bên
kia là Hồng y giáo chủ Richelieu, Milady, quận công Buckingham…Cuộc
sống đô thị ở Anh hay Pháp thì đều có những điểm rất giống nhau. Những cái
11
cao thƣợng, nghĩa hiệp của giới quý tộc luôn đồng hành cùng những giả dối,
lừa lọc, tham lam, thủ đoạn, âm mƣu thâm độc. Một bên là những chuẩn mực
đạo đức tốt đẹp, một bên lại sự phá vỡ những chuẩn mực tốt đẹp đó. Các nhà
văn đã cho độc giả thấy đƣợc bộ mặt của xã hội tƣ sản thị dân tự do, dân chủ
và đổi mới, thực dụng.
Đô thị khi đƣợc xây dựng qua lăng kính văn học còn đƣợc hiện ra với
những mặt trái của xã hội. Càng xa hoa, lộng lẫy, nhiều thú vui thì lại càng
khiến con ngƣời dễ bị đánh mất mình. Phế đơ của Giả Bình Ao đã cho chúng
ta thấy ở chốn kinh kỳ hƣng thịnh khi xƣa, là trung tâm kinh tế và văn hóa của
Trung Hoa trung đại, mặc dù đã bị lãng quên một thời gian dài và cho đến khi
nền kinh tế thị trƣờng ùa vào, làm thay đổi đời sống kinh tế và xã hội của mọi
thứ dân nơi đây, nhƣng dƣờng nhƣ chƣa hề làm biến đổi đƣợc cái máu háo
danh của quân tử Tàu từ thời cổ đại. Với một bút pháp giản dị đến lạnh lùng,
nhƣng rất tinh tế, Giả Bình Ao đã đem đến cho chúng ta những trận cƣời đầy
nƣớc mắt, cùng những suy ngẫm về thế thái nhân tình, những con ngƣờichết
vì danh. Ngƣời hết lịng vì chồng nhƣ Ngƣu Nguyệt Thanh cuối cùng cũng
phải bỏ nhà về quê ngoại vì khơng muốn nhìn thấy cảnh chồng mình và Uyển
Nhi thậm thụt với nhau làm mất thể diện, thanh danh của gia đình đã một thời
nổi tiếng là văn nhân. Cảnh Tuyết Ấm theo kiện Chu Mẫn và Trang Chi Điệp
đến cùng vì cái danh của bà hiện tại khơng muốn bị ai bơi nhọ dù cho mối
tình ấy trƣớc đây có thật. Tổng biên tập Chung Duy Hiền vì cuốn sổ đỏ xác
nhận cái danh văn sĩ của mình mà bất đắc kỳ tử. Nhà thƣ pháp Cung Tịnh
Nguyên sợ rằng hơn một nửa số tranh chữ ông vẽ và sƣu tập trong suốt bao
năm trời bị thằng con trai lấy cắp đem bán cho kẻ vô danh tiểu tốt nào đấy, để
lấy tiền hút thuốc phiện, cuối cùng cũng lăn đùng ra mà chết. Vợ của giám
đốc Hoàng chết dù khơng có ý định tự tử. Giống nhƣ cách mẹ Cám đã đem
mắm cơ Tấm ra thết đãi Hồng tử trong truyện Tấm Cám của Việt Nam, nồi
lẩu là một chi tiết đắt giá trong tác phẩm, đƣợc Ngƣu Nguyệt Thanh nấu bằng
12
chính con chim bồ câu đƣa thƣ của Trang Chi Điệp mua tặng ngƣời tình
Đƣờng Uyển Nhi. Cách thết đãi của Ngƣu Nguyệt Thanh là đỉnh điểm của
một cách trả thù vì danh rất thâm thúy và cay độc theo kiểu Trung Quốc nói
riêng và phƣơng Đơng nói chung. Cùng với cái chết của Chung Duy Hiền,
bức thƣ của Uyển Nhi gửi cho Trang Chi Điệp qua con chim bồ câu mà Liễu
Nguyệt đọc đƣợc, hành động lấy que sắt nung đỏ dí vào âm hộ Đƣờng Uyển
Nhi của ngƣời chồng cũ ở Đồng Quan có lẽ chỉ có ở Trung Quốc và một số
nƣớc phƣơng Đông ngƣời ta mới làm nhƣ vậy. Uyển Nhi, Liễu Nguyệt, A
Xán đều tự nguyện hiến mình cho Trang Chi Điệp, đến nỗi cuối cùng Uyển
Nhi bị ngƣời chồng cũ trói lại bắt về Đồng Quan đánh cho nát ngƣời và bị
ngƣợc đãi về tình dục, A Xán thì trốn chạy, Liễu Nguyệt thì làm vợ của một
anh thọt…, xét cho cùng cũng đều vì cái danh. Và chính Trang Chi Điệp, kẻ
có danh nhất ở thành phố Tây Kinh này kết thúc đời mình bằng cái chết ở nhà
ga cũng chỉ vì cái danh của tơi lớn đến mức nó đã ăn thịt hết tất thảy mọi
người ở thành phố này và cuối cùng nó quay ra ăn thịt chính bản thân người
mang nó, nhƣ chính Trang Chi Điệp đã từng thú nhận nhƣ vậy ở cuối sách.
Tất cả những chi tiết đó là biểu hiện của một kết cục tất yếu tấn bi kịch của
tầng lớp trí thức Trung Quốc đƣơng đại. Đó cũng chính là ý nghĩa xã hội rộng
lớn và sâu sắc mà Phế đô đã đạt đƣợc.
Phế đô thật sự là tiếng chuông cảnh báo đối với những ai đang cố tình
nhắm mắt chạy theo cái danh mà Giả Bình Ao muốn gửi đến tất cả chúng ta
qua tác phẩm của mình. Mỗi nhân vật, đều có số phận, tính cách rất riêng
khơng ai giống ai. Đằng sau những câu chuyện của những con ngƣời ấy, Giả
Bình Ao đã đặt ra và lý giải rất thấu đáo và tài tình một vấn đề thật sự nghiêm
túc khơng chỉ về khía cạnh lối sống cá nhân của giới trí thức Trung Quốc
đƣơng đại, mà cịn cả về khía cạnh nhân sinh và xã hội. Đó là vấn đề thành
danh và thành công. Không phải bất cứ ai, ở đâu và lúc nào ngƣời ta thành
danh là đã thành công và trong thực tế cuộc sống nhiều khi lại hoàn toàn trái
13
ngƣợc. Kẻ nào đùa giỡn với cái danh của mình hoặc là dùng cái danh để mƣu
lợi một cách quá đáng thì trƣớc sau ắt phải trả giá là lẽ đƣơng nhiên. Nhƣng
những kẻ cố tình lợi dụng danh tiếng hoặc mạo danh ngƣời khác cũng không
thể nào trốn khỏi sự trừng phạt của số phận. Và quan trọng hơn là nhiều khi vì
cái danh mà ngƣời ta có thể đánh mất mình và làm đảo lộn cả một trật tự xã
hội vốn rất nền nếp và quy củ nhƣ Trung Quốc.
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng lại là một tác phẩm của sự phi lí và mâu
thuẫn. Nhƣng chỉ có những sự phi lí và mâu thuẫn đó, Vũ Trọng Phụng mới
có đất dụng tài, lấy ngịi viết của mình rồi làm nổi bật lên sự thật của những
điều phi lí đó.“Số đỏ làm cho người đọc cười theo nhiều kiểu. Cười vì cái sự
hài hước trong văn của Vũ Trọng Phụng, cười cái sự tình nhố nhăng lộn xộn
của gia đình cụ cố Hồng, hay cũng là cười mỉa, cười thẳng mặt cái chế độ
phong kiến thối tha, chạy theo cái danh và đồng tiền”. Trong Số đỏ,Vũ Trọng
Phụng đã nêu bật lên những tính cách khác ngƣời và chơi trội của một đại gia
đình văn minh, có học thức qua tình huống gia đình có ngƣời chết. Nhà có
tang, ai cũng buồn dầu, đau khổ, tất cả đều mang những gƣơng mặt ủ rũ
nhƣng kì thực họ khơng hề đau khổ vì ngƣời thân đã mất mà mỗi ngƣời đều
đang có những suy nghĩ, tính tốn riêng. Điều đặc biệt là khơng chỉ những
ngƣời đã có tuổi mà cả những thanh niên trẻ tuổi, những nhân vật nam mà
thậm chí những nhân vật nữ nhƣ bà Phó Đoan, cơ Tuyết hay cơ Hồng Hơn
đều sở hữu tính nết hƣ hỏng, khơng nên có ở một ngƣời phụ nữ. Họ là những
con ngƣời suy đồi đạo đức và thiếu mất nét đẹp thuần túy thƣờng thấy của
ngƣời con gái Việt Nam. Khơng chỉ dừng lại ở đó, Số đỏ cịn xây dựng những
hình tƣợng nhân vật phụ cũng hết sức lố bịch. Những ông bạn thân của cụ cố
Hồng với trên áo khoe mẽ thật nhiều huy chƣơng đến những cơ cậu Âu hóa
đang cƣời tình với nhau, ghen tng nhau, bình phẩm nhau. Có lẽ, đây chính
là hình tƣợng chung đƣợc lấy cảm hứng từ hiện thực của xã hội thời ấy,
những nguyên bản thối nát ở đời thực. Gia đình cụ cố Hồng chính là bức tranh
14
thu nhỏ về đơ thị Việt Nam thời kì 1930-1945, giai đoạn giao thời đầy lố lăng
và ô uế.
Nhƣ vậy, mỗi một quốc gia, mỗi một đô thị qua lắng kính văn học lại
hiện ra với những đƣờng nét, biểu hiện riêng. Qua đó, độc giả có thể khám
phá, chiêm ngƣỡng, mộ ái thêm rất nhiều những vùng đô thị trên thế giới dù
chƣa một lần đặt chân đến.
1.1.2 Phương thức tự sự về đô thị
Viết về đô thị, các nhà văn vẫn sử vẫn dụng các phƣơng thức tự sự
phổ biến nhƣ ngƣời kể chuyện, tổ chức không gian, thời gian, giọng điệu,
nhịp điệu trần thuật…Thông qua các phƣơng thức tự sự này, đô thị trong
văn học không đơn giản là sự phản ánh đơ thị có thực ngồi đời, mà là
một đơ thị đƣợc kiến tạo. Cũng chính vì thế mà cùng là Thƣợng Hải,
nhƣng Thƣợng Hải trong tiểu thuyết của Vƣơng An Ức khác với Thƣợng
Hải trong tiểu thuyết của Kim Vũ Trừng.
1.1.2.1. Người kể chuyện
Ngƣời kể chuyện là một phƣơng diện quan trọng của lí thuyết tự sự, là
phƣơng thức tự sự quan trọng trong tác phẩm tự sự.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngƣời kể chuyện là “hình tƣợng ƣớc
lệ về ngƣời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu
chuyện đƣợc kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” [7; 191]. Nhƣ vậy,
ngƣời kể chuyện là hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt và tất yếu trong một tác
phẩm tự sự. Ngƣời kể chuyện có mối quan hệ đặc biệt với tác giả nhƣng
không đồng nhất với tác giả. Tác giả là chủ thể sáng tạo, ở bên ngồi tác
phẩm, là ngƣời thật có tên, tuổi, tiểu sử còn ngƣời kể chuyện tồn tại trong thế
giới hƣ cấu và tƣởng tƣợng, là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ tổ
chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt ngƣời đọc tiếp cận thế giới nghệ
thuật, thay mặt nhà văn bày tỏ quan điểm về con ngƣời, cuộc đời. Nhƣ vậy,
tác giả có trách nhiệm về tác phẩm nghệ thuật do mình sáng tạo ra, còn ngƣời
15
kể chuyện có chức năng kể chuyện. Ngƣời kể chuyện có mối quan hệ với các
yếu tố trong cấu trúc văn bản nhƣ: điểm nhìn, tiêu điểm, tiêu cự, ngơn ngữ,
nhân vật, không gian, thời gian, ngƣời quan sát, ngƣời đƣợc tiêu điểm hóa…
và các yếu tố khác nhƣ: ngƣời nghe chuyện, tác giả hàm ẩn, tác giả thực và
độc giả thực. Ngƣời kể chuyện vừa đảm nhiệm vai trò giới thiệu, dẫn dắt câu
chuyện (chức năng trần thuật) vừa đảm nhiệm vai trị điều khiển (chức năng
kiểm sốt).
1.1.2.2. Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật là vấn đề cơ bản, then chốt của tác phẩm tự sự.
Điểm nhìn trần thuật khơng chỉ là “vị trí từ đó ngƣời trần thuật nhìn ra và
miêu tả sự vật” mà nó cịn mang tính chất tâm lí, là “chỗ đứng” thể hiện lập
trƣờng, tƣ tƣởng, quan điểm của ngƣời trần thuật. Trong tác phẩm tự sự,
tƣơng quan giữa điểm nhìn của ngƣời trần thuật với những gì anh ta kể là điều
đặc biệt quan trọng. Khi nghiên cứu điểm nhìn trần thuật, ngƣời ta chia điểm
nhìn thành các loại nhƣ điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn
khơng gian, điểm nhìn thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn tƣ tƣởng, điểm
nhìn tu từ…
1.1.2.3. Tổ chức sắp xếp sự kiện, nhân vật, không gian, thời gian
Đối với tác phẩm tự sự, sự kiện, nhân vật, khơng gian, thời gian có vai
trịvơ cùng quan trọng. Các yếu tố này góp phần tạo nên thế giới nghệ thuật
trongmỗi tác phẩm. Các sự kiện trong tác phẩm tự sự có thể đƣợc tổ chức sắp
xếp theo trật tự thời gian tuyến tính, theo quan hệ nhân quả: mở đầu, thắt nút,
phát triển, cao trào, mở nút; nhƣng cũng có thể tổ chức sắp xếp theo kiểu đảo
lộn trật tự thời gian, truy tìm nguyên nhân của sự kiện, hồi tƣởng lại những gì
đã qua…; Có thể sắp xếp theo kiểu tăng dần kịch tính, nhƣng cũng có thể sắp
xếp theo kiểu lắp ghép…Mỗi một kiểu tổ chức sắp xếp sự kiện mạng lại hiệu
quả riêng, thể hiện ý đồ nghệ thuật riêng.
Thế giới nhân vật trong tác phẩm tự sự thƣờng đƣợc tổ chức theo các
16
quanhệ đối lập, đối chiếu, bổ sung. Nhân vật đƣợc tổ chức theo quan hệ đối
lập thƣờng mâu thuẫn nhau một cách gay gắt, loại trừ nhau. Sử dụng quan hệ
đối lập để tổ chức hệ thống nhân vật thƣờng tạo ra một thế giới phân tuyến rõ
rệt: ta - địch, thiện - ác, tốt - xấu…Đây là kiểu tổ chức hệ thống nhân vật
thƣờng xuấthiện trong văn học dân gian, văn học trung đại và văn học cách
mạng. Cách tổ chức hệ thống nhân vật này thực ra mang tính ƣớc lệ rất cao,
bởi vì trong thực tếcuộc sống, tốt xấu, thiện ác có thể tồn tại ngay trong một
con ngƣời.
Tổ chức sắp xếp không gian, thời gian là một phƣơng diện quan trọng
của tự sự. Trƣớc kia, tự sự học chủ yếu nghiên cứu vấn đề thời gian trần thuật,
gắnvới vấn đề tốc độ trần thuật, nhịp điệu trần thuật, vấn đề sắp xếp thời gian
quá khứ, hiện tại, tƣơng lai. Nhƣng gần đây, cùng với chuyển hƣớng khơng
gian trong nghiên cứu văn học, thì vấn đề “tự sự học không gian” đƣợc chú
trọng, tức là chú ý đến vấn đề hình thức khơng gian của tự sự. Văn học là
nghệ thuật của thời gian, do đó, tự sự học ƣu tiên nghiên cứu thời gian trần
thuật là điều dễ hiểu. Nhƣng vấn đề không gian tự sự lại là một trong những
khía cạnh quan trọng nhằm khắc phục những hạn chế do tính thời gian tạo ra.
Do đó, tự sự học khơng gian đang trở thành một hƣớng quan trọng trong tự sự
học hậu kinh điển.
1.1.2.4. Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật
Nói theo M.Gorki, ngơn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học. Trong kết
cấu đa tầng của văn bản văn học, thì tầng ngơn ngữ là tầng đầu tiên và cũng là
tầng quan trọng nhất. Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, thì yếu tố đầu tiên
mà ngƣời đọc tiếp xúc chính là yếu tố ngôn ngữ. Khi sáng tác, nhà văn sẽ sử
dụng các phƣơng thức tu từ, chú ý đến từ pháp, cú pháp, chƣơng pháp để xây
dựng thế giới nghệ thuật và tác động đến ngƣời tiếp nhận. Chính vì vậy, ngôn
ngữ trần thuật ở mỗi tác phẩm văn học, mỗi nhà văn khác nhau đều có những
nét riêng, tạo nên hiệu quả nghệ thuật riêng.
17
Một tác phẩm văn chƣơng có giá trị ln tạo ra một giọng điệu riêng.
Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trƣờng tƣ tƣởng, đạo đức của nhà văn đối
với hiện tƣợng đƣợc miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xƣng hô, gọi
tên dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay
suồng sã, ngợi ca hay châm biếm. Giọng điệu trần thuật là kiểu cách giọng
dùng để kể (giọng của ngƣời kể từ ngôi thứ 1 hay ngôi thứ 3, đơn âm hay đa
âm) còn giọng điệu cảm xúc thẩm mĩ là lập trƣờng, quan điểm, thái độ đối với
các hiện tƣợng đƣợc miêu tả (giọng ngợi ca, tự hào; giọng trầm tƣ, triết lí;
giọng xót xa, thƣơng cảm…). Đối tƣợng của giọng điệu là các nhân vật, sự
kiện, tình huống trong tác phẩm. Trong tự sự học, câu hỏi về giọng điệu cơ
bản là: “ai nói” (bằng “ai kể chuyện này?”). Nhƣ vậy, “giọng điệu” (voice)
cũng đƣợc hiểu là đặc điểm thanh âm hay chất giọng thể hiện trong văn bản.
Nó thể hiện thái độ, tình cảm của nhà văn qua lời văn nghệ thuật trƣớc đối
tƣợng đƣợc phản ánh trong tác phẩm. Nếu nhƣ trong đời sống, giọng nói có
thể là dấu hiệu nhận ra ngƣời nói thì trong văn học, giọng điệu sẽ làm nên
hình tƣợng tác giả. Ngƣời đọc có thể nhận thấy tất cả chiều sâu tƣ tƣởng, thái
độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng nhƣ sở trƣờng ngôn ngữ, cảm hứng sáng
tạo của ngƣời nghệ sĩ thông qua giọng điệu trần thuật. Nền tảng của giọng
điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn. Trong khi trần thuật, tác giả sử dụng
nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu chủ đạo. Mỗi nhà
văn muốn khẳng định tên tuổi trên văn đàn phải tạo cho mình chất giọng
riêng, lối nói riêng.
1.2. Tiểu thuyết viết về đơ thị Thƣợng Hải và “Phồn hoa” của
Kim Vũ Trừng
1.2.1. Tiểu thuyết viết về đô thị Thượng Hải
Các đô thị khi đƣợc tái hiện trong văn chƣơng dù ở mức độ đậm nhạt
khác nhau cũng khiến cho đơ thị ấy khơng cịn là một địa chỉ mang tính địa lí
khơ khan nữa mà đã trở thành một “kí hiệu văn học”, một khơng gia văn hóa
18
thu nhỏ. Có một cách nói khá quen thuộc về các thành phố nổi tiếng của
Trung Quốc nhƣ sau: “Muốn hiểu Trung Quốc một nghìn năm hãy đến Tây
An, muốn hiểu Trung Quốc năm trăm năm hãy đến Bắc kinh, cịn muốn hiểu
Trung Quốc một trăm năm thì hãy đến thƣợng Hải” [22; 15]. So với các thành
phố nhƣ Tây An, Bắc Kinh, Thƣợng Hải chƣa đạt đến bề dày lịch sử nhƣng
chỉ với hơn một trăm năm nó đã tự tạo nên bản sắc cho riêng mình. Có thể
thấy rằng Thƣợng Hải là một trƣờng hợp đô thị hiếm hoi không đi lên từ một
đô thị cổ.Thƣợng Hải xƣa kia vốn chỉ là một làng chài ven biển thuộc miền
trung Trung Quốc nhƣng với sự tiếp xúc với Tây Phƣơng thời cận hiện đại
khiến Thƣợng Hải trở thành một đại đô thị phồn vinh bậc nhất Phƣơng Đông,
tạo nên bộ mặt lộng lẫy cho thành phố đƣợc coi là viên ngọc viễn đông này.
Trong lịch sử phất triển của Trung Quốc hiện đại, thành phố Thƣợng Hải
đƣợc nhắc nhiều nhất ở thế kỉ thứ XIX.Chính những thay đổi về kinh tế, chính
trị kéo theo sự thay đổi về văn hoá, khiến cho đầu thế kỉ XX, văn hoá Thƣợng
Hải đã xuất hiện sự hỗnloạn rõ rệt, Trung – Tây đan chéo, cũ mới xếp chồng.
Tất cả những điều đó đã tạo nên sự phức tạp trong đời sống đô thị ở Thƣợng
Hải, khiến nó trở thành mảnh đất màu mỡ “bứng trồng” lên những trƣờng
phái văn học nhƣ phái Uyên ương hồ điệp giai đoạn đầu Dân quốc, phái chủ
nghĩa hiện đại thập niên 30, phái Tân Hải thập niên 40…tạo nên văn học Hải
Phái phát triển rực rỡ giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX. Tuy sau giải phóng, từ
1949 đến 1966, văn học Hải phái có phần phai sắc trƣớc sự phát triển của văn
học nông thôn, nhƣng đến sau thập niên 80 đã sôi động trở lại.
Nhắc đến Thƣợng Hải, ngƣời ta ln nghĩ tới hình ảnh múa hát mừng
cảnh thanh bình, sự phồn vinh, cảm giác phù sinh nhƣ mộng ở Thƣợng Hải
cũ. Ở Thƣợng Hải mới, hình ảnh phồn vinh vẫn tiếp diễn, câu chuyện vẫn tiếp
tục nhƣng nhân vật chính trong câu chuyện Thƣợng Hải đã từ các nhà mạo
hiểm, quý tộc chuyển biến thành ngƣời dân thành phố bình thƣờng. Quan tâm
cuộc sống nhân vật nhỏ, phản ánh câu chuyện bi hoan ly hợp của họ một cách
19
chân thật và tế nhị, đây là đặc điểm của văn học Thƣợng Hải.
Dƣới ngòi bút của Lƣu Niệt Âu, đô thị Trung Quốc không chỉ đơn
thuần là thứ bối cảnh ẩn đằng sau những câu chuyện và nhân vật mà nó trở
thành một đối tƣợng thẩm mỹ tràn đầy sức sống có những nét cá tính nhƣ một
thực thể độc lập. Trong tập truyện ngắn Trò chơi và Hai kẻ vô cảm với thời
gian của ông, độc giả sẽ đƣợc bắt gặp một không gian đô thị với những nét
đặc thù: đƣờng phố tấp nập, các trung tâm thƣơng mại, các tồ cao ốc, chung
cƣ, cơng viên, nhà hát, sịng bạc, rạp chiếu bóng, qn cà phê, phịng trà…
Những con ngƣời ở trong khơng gian đó, kể cả Lƣu Niệt Âu là những đứa con
cƣng của đô thị. Họ sống, làm việc, vui chơi, giải trí, yêu đƣơng cũng theo
quy luật của đô thị. Trong mỗi câu chuyện cụ thể họ đều đang theo đuổi tiền
tài, danh vọng, tình yêu hay dục vọng…Nhƣng khi nhìn một cách khách
quanđộc giả phát hiện ra rằng tất cả những nhu cầu, dục vọng đó của họ
chẳng qua chỉ là những biến thể khác nhau của cùng một giấc mơ mang tên
“thành phố”.
Nhắc đến cái tên Trƣơng Ái Linh, ngƣời ta nhắc đến “ngƣời tình của
Thƣợng Hải”. Đó là cách mà độc giả nhớ về bà, một nữ tác giả tài hoa đã từng
phải lòng với Thƣợng Hải trong cuộc sống đời thƣờng cũng nhƣ trong sự
nghiệp sáng tác. Đối lập với cuộc đời riêng nhiều sóng gió, sự nghiệp văn học
của Trƣơng Ái Linh khá thành công. Bà nổi danh trên văn đàn Thƣợng Hải
khi còn rất trẻ. Bắt đầu là một số tản văn và bình luận điện ảnh, sau đó là
những truyện ngắn và tiểu thuyết nhƣ Tâm Kinh, Giới nghiêm, Hoa hồng đỏ
và hoa hồng bạch. Trong những tác phẩm ấy, Trƣơng Ái Linh đã xây dựng
một không gian đô thị mà nguyên mẫu là Hồng Kông và Thƣợng Hải với việc
đi sâu vào thể hiện diễn biến tâm lí của ngƣời đơ thị một cách sâu sắc. Theo
Trƣơng Ái Linh bà chỉ mô tả những chuyện nhỏ nhặt giữa đàn ông và đàn bà,
trong tác phẩm của bà khơng có chiến tranh cũng khơng có cách mạng, bà cho
rằng con ngƣời khi đang yêu mộc mạc hơn và cũng tự nhiên hơn khi đang ở