BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
ĐẶNG QUANG TRUNG
TỰ SỰ TRONG TẬP “NGƯỜI QUÊ”
CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN
”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
ĐẶNG QUANG TRUNG
TỰ SỰ TRONG TẬP “NGƯỜI QUÊ”
CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Quách Bình Thọ
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá
nhân tôi. Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích
một cách trung thực, khách quan. Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố
trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Phú Thọ, tháng 01 năm 2021
Học viên
Đặng Quang Trung
ii
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Trung tâm đào
tạo sau đại học, các Khoa, Phòng của Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo
điều kiện giúp đỡ tơi trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thành luận
văn này.
Đặc biệt, tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Nhà giáo – TS. Quách
Bình Thọ đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ trong suốt q trình nghiên cứu và
hồn thành luận văn.
Cuối cùng, tơi cũng xin đƣợc bày tỏ lịng biết ơn đối với gia đình, bạn
bè đồng nghiệp và các học viên cùng lớp đã động viên, giúp đỡ cá nhân tơi
trong q trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Trong q trình thực hiện luận văn này, bản thân tơi đã rất cố gắng
song khơng tránh khỏi những sai sót và những ý kiến chủ quan nhất định. Rất
mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của tất cả quý thầy, cô giáo, các nhà
khoa học và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 01 năm 2021
Học viên
Đặng Quang Trung
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .......................................................... 1
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................... 2
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 6
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 7
1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 8
1.6. Cấu trúc của luận văn ................................................................................. 8
PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 10
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN HỮU
NHÀN TRONG VĂN HỌC ĐẤT TỔ ............................................................ 10
1.1. Khái quát về tự sự .................................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm tự sự ..................................................................................... 10
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của tự sự .................................................................. 12
1.1.3. Vai trò của trần thuật trong tác phẩm tự sự........................................... 17
1.2. Nguyễn Hữu Nhàn trong văn mạch đất Tổ .............................................. 19
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn ...... 19
1.2.2. Vị trí của Nguyễn Hữu Nhàn trong văn học đất Tổ.............................. 21
Chƣơng 2. NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG
NGUỜI QUÊ CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN ................................................. 25
2.1. Ngƣời kể chuyện ...................................................................................... 25
2.2. Điểm nhìn trần thuật................................................................................. 31
2.2.1. Điểm nhìn về khơng gian và thời gian .................................................. 31
2.2.2. Điểm nhìn từ ngƣời kể chuyện sang nhân vật và giữa các nhân vật..... 37
iv
Chƣơng 3. NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
NGƯỜI QUÊ CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN ................................................. 47
3.1. Ngôn ngữ trần thuật ................................................................................. 47
3.1.1. Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện ................................................................... 47
3.1.2. Ngôn ngữ nhân vật ................................................................................ 60
3.2. Giọng điệu trần thuật................................................................................ 71
PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 89
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tự sự không phải là vấn đề mới lạ, song nói đến tác phẩm văn xi,
khơng thể khơng nói đến nghệ thuật tự sự. Bởi lẽ, tự sự vừa là yếu tố nội tại,
góp phần tạo nên tính chỉnh thể của tác phẩm, vừa là biểu hiện của tài năng,
phong cách nhà văn. Chức năng kép này của tự sự cho thấy đây luôn là vấn
đề/đối tƣợng cần đƣợc quan tâm, làm mới cách thể hiện (của nhà văn) và cách
tiếp cận (của ngƣời đọc) để có những nghiên cứu, nhận định khách quan về
tác giả, tác phẩm.
Văn xuôi Việt Nam hiện đại đã có những thành tựu nhất định, trong đó
phải kể đến những tác giả, tác phẩm viết về đề tài nông thôn. Mảng đề tài này,
từ sau Cách mạng tháng Tám chịu ảnh hƣởng của bốn sự kiện lớn: Kháng
chiến, Cải cách ruộng đất, Hợp tác hóa, Cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa. Với
bốn tác động lớn đó của lịch sử, tùy theo sở trƣờng và những thời điểm cụ thể
mà mỗi tác giả sẽ lựa chọn những chủ đề khác nhau để phản ánh trong tác
phẩm của mình. Trong giai đoạn văn học này, Nguyễn Hữu Nhàn không phải
là nhà văn lớn, nhƣng ông xứng đáng đƣợc nhắc tên với những sáng tác về đề
tài nông thôn Việt Nam, nhất là làng quê vùng Trung du Bắc bộ. Đối với ông,
viết về nông thôn và nơng dân phải chăng chính là cái cớ để viết về linh hồn
quê hƣơng, dân tộc. Vì thế từ nhan đề truyện đến nhan đề sách/tập truyện
cũng đều mang dáng dấp làng quê nhƣ Chuyện kể trong làng, Phố làng,
Người quê,…
Trong các sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn, đáng kể đến là tập Người
quê (2005). Có thể nói, đây là tập truyện hội tụ đầy đủ nhất những sáng tạo
của nhà văn, cũng nhƣ thể hiện nổi bật nhất tính chất làng quê trong hệ thống
sáng tác của ông. Từ không gian làng quê, đến con ngƣời làng quê ở các góc
cạnh: nét đẹp văn hố truyền thống, những biến đổi của lối sống trong thời
2
buổi mới… Qua hiện thực đa chiều ấy, nhà văn thể hiện những băn khoăn,
trăn trở về các vấn đề nhân tính cũng nhƣ văn hóa làng q. Chủ đề này trong
sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn ít nhiều đã đƣợc các nhà nghiên cứu phân
tích, đánh giá ở những góc độ khác nhau và chủ yếu tiếp cận nội dung ở khía
cạnh tình u làng q, văn hố làng,…. Tuy nhiên, nghệ thuật tự sự trong các
sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn nói chung và trong tập truyện Người quê nói
riêng vẫn chƣa thực sự đƣợc quan tâm thấu đáo. Nhƣ thế, đây sẽ là vấn đề còn
đang bỏ ngỏ, cần đƣợc nghiên cứu sâu để qua đó có sự đánh giá đầy đủ hơn
về thành tựu của Nguyễn Hữu Nhàn, cũng nhƣ có cơ sở nhất định để đánh giá
vị thế của nhà văn trong nền văn học nƣớc nhà.
Xuất phát từ những vấn đề lí luận và thực tiễn ở trên, chúng tôi chọn
nghiên cứu đề tài: Tự sự trong tập “Người quê” của Nguyễn Hữu Nhàn.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi cũng xuất phát từ mong muốn đƣợc tìm hiểu
sâu về văn hố làng q miền Trung du qua nghệ thuật tự sự của nhà văn, để
qua đó có sự vận dụng nhất định vào việc định hƣớng, tổ chức giảng dạy các
chuyên đề cho học sinh ở các địa phƣơng trên quê hƣơng đất Tổ.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Những nghiên cứu chung về Nguyễn Hữu Nhàn
Việt Nam, đất nƣớc nông nghiệp có từ hàng ngàn năm nay với một nền
văn hóa làng xã hết sức bền vững và độc đáo. Viết về mảng đề tài nông thôn
vùng Trung du Bắc bộ, ta phải kể đến hai gƣơng mặt tiêu biểu, đó là nhà văn
Ngô Ngọc Bội và Nguyễn Hữu Nhàn. Mặc dù, cả hai đều cùng quê, cùng thế
hệ, cùng viết về một đề tài nhƣng họ lại có những sự thể hiện tƣơng đối khác
nhau. Ngơ Ngọc Bội thì thể hiện đề tài ngƣời nông dân, nông thôn gắn với
chiều dọc lịch đại, còn Nguyễn Hữu Nhàn lại thể hiện gắn với chiều ngang là
văn hóa. Khi đã đặt nhân vật của mình trong bình diện với những tƣơng quan
về văn hóa, nhà văn đƣợc tự do lựa chọn hơn trong việc lựa chọn các hệ quy
3
chiếu. Nhà văn khơng chia nhân vật của mình theo tuyến nhƣ tốt – xấu, trung
– nịnh, cao – thấp,… mà ông quan sát để soi chiếu nhân vật gắn với các giá trị
văn hóa, quan sát nơng thơn với sự phát triển tính cách của ngƣời nơng dân.
Chính vì thế, nhân vật của nhà văn lúc thì sởi lởi, hào phóng, lúc lại vơ cùng
bủn xỉn, keo kiệt,… lúc thì gắn với phong tục, tập quán, lúc lại giẫm đạp lên
chính cái phong tục, tập qn ấy; lúc thì hịa nhập với hồn cảnh, lúc lại
nhãng ra và muốn nhảy qua cái hồn cảnh;… Đây cũng chính là tầng cao tƣ
tƣởng trong phong cách văn xuôi của Nguyễn Hữu Nhàn thể hiện về ngƣời
nông dân, nông thôn trong sáng tác nói chung và trong tập truyện ngắn Người
quê nói riêng. Vốn đƣợc sinh ra và lớn lên, sống giữa một vùng trầm tích của
văn hóa cổ xƣa, cộng với tài năng và lòng đam mê đã giúp nhà văn Nguyễn
Hữu Nhàn khéo léo đƣa những đặc trƣng văn hóa truyền thống vùng Trung du
đất Tổ vào sáng tác của mình.
Là một nhà văn chuyên viết về mảng đề tài nông thôn và nông dân Việt
Nam, Nguyễn Hữu Nhàn tập trung đƣợc đƣợc nhiều sự chú ý của các nhà
nghiên cứu phê bình văn học cũng nhƣ các nhà văn, nhà thơ,... Sáng tác của
ông cũng trở thành đối tƣợng nghiên cứu, khảo sát của nhiều tác giả luận văn
cũng nhƣ các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học nhƣ:
Luận văn thạc sĩ Đề tài nông thôn trong sáng tác của nhà văn Nguyễn
Hữu Nhàn (2012) của Nguyễn Đức Hiền đã tập trung vào làm rõ sự cảm
nhận, phản ánh của nhà văn về cuộc sống của ngƣời nông dân, vấn đề sản
xuất và văn hóa nơng thơn trong thời đại mới. Đây là những vấn đề đang đƣợc
cả xã hội quan tâm mà qua các sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn đều đƣợc thể
hiện một cách rõ nét. Tác giả nhận định: “Cùng với sự hiểu biết, tình yêu với
vùng đất và con ngƣời, cộng với tài năng sáng tạo, nhà văn Nguyễn Hữu
Nhàn trong suốt quá trình sáng tác của mình chỉ chung thủy với một đề tài
duy nhất : Đề tài nông thôn. Bạn đọc cả nƣớc biết đến nhà văn Nguyễn Hữu
Nhàn với một lối viết không thể lẫn với bất cứ ai về làng quê, ngƣời quê.
4
Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những mặt trái của làng quê trong quá trình
phát triển, hoặc phê phán chống tiêu cực,… mà bằng một cách thật tự nhiên,
nhất quán, ông chuyên chú đi vào các tầng văn hoá của làng quê thời hiện
đại” [23; 3].
Trong bài viết Về văn hóa làng nhìn qua trường hợp văn Nguyễn Hữu
Nhàn (2019) đăng trên Báo Văn nghệ, Ngô Văn Giá nhận định: “Cây bút này
không đi vào những vấn đề tố khổ, hoặc phê phán chống tiêu cực, hoặc làm
ăn chuyển đổi kinh tế… mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất qn, ơng
chun chú đi vào các tầng vỉa văn hóa của làng quê thời hiện đại.” [14].
Luận văn thạc sĩ Đề tài nông thôn trong sáng tác của Nguyễn Hữu
Nhàn, của Hoàng Thị Quế (2012), Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội 2 đã
“bƣớc đầu chỉ ra đƣợc đặc điểm cơ bản về đề tài nông thôn thông qua những
sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn, bên cạnh đó tìm ra đƣợc những độc đáo, đặc
sắc trong nghệ thuật thể hiện đề tài nông thôn của nhà văn” [14; 43].
Văn Hữu Nhàn đã thu hút đƣợc nhiều sự yêu mến, biết bài của nhiều
nhà văn, đồng nghiệp. Có thể kể đến các bài viết nhƣ Ngô Ngọc Bội - Nguyễn
Hữu Nhàn với đề tài nông nghiệp-nông dân-nông thôn (2009) của Hữu Thỉnh;
Nhà văn làng đồi (2011) của Phạm Ngọc Kiệm; Vài nét về văn hóa làng qua
tiểu thuyết “Chớm nắng” (2000) của nhà văn Đăng Văn; Đọc hai truyện
ngắn: “làng quê yên ả” và “Người quê” của Nguyễn Hữu Nhàn (2001) của
Nguyễn Văn Chỉ; Nguyễn Hữu Nhàn-Nhà văn của nhà quê (2002) của nhà
báo Vũ Hà; Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn: Người “cày xới” miền đồi (2014)
của nhà thơ Hà Văn Thể; Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn (2004) của nhà thơ
Nguyễn Hƣng Hải; Nhà văn của đồng quê (2008) của Lê Phan Nghị; Nhà văn
mãi viết về làng quê, người quê (2007) của Vũ Quốc Văn; Chân dung văn
nghệ sỹ nhà văn của làng quê Tứ Xã (2007) của nhà thơ Nguyễn Hƣng Hải;
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn người giàu có trên cánh đồng văn hóa (2007) của
Xn Thu; Khơng chóng thì chầy - Truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn
5
(2002) của Cao Tiến Cởn; Ông nhà văn của làng (2002) của Lê Nhƣ Kỳ;
Nguyễn Hữu Nhàn chuyện văn chương và chuyện đời (2004) của Nguyễn
Đình Phúc; Truyện ngắn báo văn nghệ năm 2002 một năm nhìn lại (2003) của
Nguyễn Thị Lan; Tôi cố thủ trong pháo đài làng xã (2007) của Đinh Hằng và
Nam Hải;...
Số lƣợng bài viết phong phú, đa dạng là một minh chứng cho sức sống,
sức ảnh hƣởng của văn chƣơng Hữu Nhàn trong lòng bạn đọc, đồng thời cũng
cho thấy Nguyễn Hữu Nhàn là nhà văn cần đƣợc quan tâm nhiều hơn nữa ở
mọi góc cạnh trong sáng tác của ông.
1.2.2. Những nghiên cứu về tự sự trong sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn
Qua hệ thống tƣ liệu mà chúng tơi có đƣợc, đến nay chƣa có bài viết và
cơng trình nghiên cứu nào tập trung trực tiếp vào tự sự trong sáng tác của
Nguyễn Hữu Nhàn. Tuy nhiên vấn đề này cũng đƣợc một số nhà nghiên cứu
liên hệ hoặc có những phân tích nhất định để làm nổi bật chủ đề văn hoá làng.
Tác giả Nguyên An trong bài viết Hữu Nhàn viết chuyện Tam Nông nhận
định: “Nhịp truyện ngắn của ông nhẩn nha. Nhân vật của ông dựng lên khéo
léo qua từng trang từng trang, ơng có tài mơ tả bộ dạng bên ngoài, từ cái sống
mũi, cái hõm mắt, đến cái áo, cái quần, rồi bƣớc đi, đến cái kiểu ngồi... của
nhân vật, mà ngƣời đọc nhận ra tâm tính bên trong của nhân vật. Tôi cứ nghĩ
là trong số đủ loại nhân vật với các độ tuổi và hoàn cảnh cụ thể thật khác nhau
ở vùng nông thôn rộng lớn kia, Nguyễn Hữu Nhàn dựng những nhân vật là
ông già - chừng dăm bảy chục tuổi, thì đạt hơn cả, sống động hơn cả”
[40;409]. Tác giả cũng nhấn mạnh thêm: “Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn không
ngại viết cả cái xấu, cái lạc hậu, với giọng châm biếm, mỉa mai; cũng nhƣ ông
đã hồ hởi khi viết về cái mới đang lên với cả niềm tin yêu hy vọng bằng một
tay nghề vững, từ cái nhìn, cái tâm sự và vốn liếng của một nhà nghiên cứu
thâm trầm, giàu trách nhiệm” [40;415].
6
Nguyễn Hƣng Hải trong bài viết Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn và những
trang văn rớm máu có nhận định rất xác đáng về văn Hữu Nhàn: “Chiều sâu
của những tầm kích do ơng xác lập nên là ở sự khắc họa thành công gƣơng
mặt thời ông sống: gƣơng mặt của thời đại mà ngƣời nông dân là nhân vật
trung tâm, ở đó vừa là tột đỉnh vinh quang vừa là đáy cùng của xã hội. Viết về
nông dân, viết về nơng nghiệp, nơng thơn với chủ đích xốy sâu vào các vỉa
tầng văn hóa và đƣa tới cho ngƣời đọc nhận thức mới, giá trị mới về văn hóa,
theo tơi là một thách thức. Nguyễn Hữu Nhàn đã vƣợt qua nhiều rào, cản "cái
bóng" để trở thành một trong những gƣơng mặt nhà văn tiêu biểu của đất
nƣớc ở mảng đề tài tƣởng dễ mà vơ cùng khó viết này” [28].
Nhƣ vậy, qua hệ thống những bài viết, cơng trình nghiên cứu, chúng ta
thấy có khá nhiều nghiên cứu, bài viết về sáng tác của Nguyễn Hữu Nhàn về
mảng đề tài nông thôn và nông dân Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay chƣa có
cơng trình, bài viết nào đề cập trực tiếp, chuyên biệt đến tự sự trong tập
truyện ngắn Người quê của nhà văn. Vì thế, nghiên cứu Tự sự trong tập
“Người quê” của Nguyễn Hữu Nhàn là một nhu cầu cần thiết để đánh giá
đầy đủ hơn đặc điểm sáng tác của nhà văn trong tập truyện, qua đó nhận diện
rõ nét hơn phong cách sáng tác Nguyễn Hữu Nhàn trong mảng văn học nông
thôn Việt Nam.
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích tìm hiểu những nét đặc sắc, sáng tạo về tự sự
(trần thuật) trong tập truyện ngắn Người quê của Nguyễn Hữu Nhàn; đồng
thời, đánh giá những cống hiến của nhà văn vùng quê đất Tổ vào mảng văn
học viết về nông thôn, nông dân Việt Nam. Qua đó, nghiên cứu này cũng
hƣớng tới đánh giá vị trí của Nguyễn Hữu Nhàn trong tiến trình văn xi Việt
Nam hiện đại nói chung và văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ nói riêng.
7
Bên cạnh đó, qua những nét đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của nhà
văn Nguyễn Hữu Nhàn, đề tài còn giúp ngƣời đọc thấy đƣợc tài năng và tấm
lòng nhân hậu của tác giả khi nhìn nhận, đánh giá viết về ngƣời nông dân Việt
Nam vùng Trung du Bắc bộ với con mắt thiện cảm, một giọng điệu mang tính
triết lý chiêm nghiệm, hóm hỉnh, hài hƣớc, độ lƣợng, nghe trong lẽ phải có
ngƣời có ta.
1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện một số nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu, hệ thống hố những vấn đề cơ bản về lí thuyết về tự sự
(trần thuật)
- Phân tích, đánh giá những nét độc đáo, sáng tạo mang đậm phong
cách cá nhân trong nghệ thuật trần thuật qua tập truyện ngắn Người quê của
Nguyễn Hữu Nhàn (tập trung vào yếu tố ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, ngơn
ngữ và giọng điệu trần thuật).
- Nhận định, đánh giá những đổi mới tƣ duy và vai trò của nhà văn
trong nền văn học Việt Nam đƣơng đại viết về mảng đề tài nông thôn và nông
dân Việt Nam.
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những nét đặc sắc của Tự sự
trong tập truyện “Người quê” của Nguyễn Hữu Nhàn.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn rất phong phú và
sâu sắc, song ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu tập trung đi vào khảo sát và
tìm hiểu, đánh giá, phân tích về tự sự (nghệ thuật trần thuật mà chủ yếu tập
8
trung vào yếu tố ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, ngơn ngữ và giọng điệu) của
ông qua 17 tác phẩm trong tập truyện ngắn chọn lọc Người quê (2005).
1.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong q trình thực hiện luận văn, chúng tơi đã kết hợp thực hiện một
số phƣơng pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học và tự sự (trần thuật): Phƣơng
pháp này nhằm khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn, trong đó tập trung
vào những biểu hiện nghệ thuật để làm nổi bật nội dung tác phẩm.
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Trên cơ sở lí thuyết,
chúng tơi sẽ tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại về điểm nhìn, ngơn ngữ,
giọng điệu của các tác phẩm trong tập truyện Người quê của Nguyễn Hữu
Nhàn. Phƣơng pháp này giúp chúng tơi có cái nhìn khái quát và hệ thống với
những số liệu cụ thể.
- Phương pháp liên ngành: Đối tƣợng trần thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Hữu Nhàn là những ngƣời nông dân, sống ở nông thôn Việt Nam. Họ là
những nhân vật tuy chân chất, giản dị, tốt bụng,... nhƣng cũng rất phức tạp vì
những thói quen, phong tục sống cố hữu lâu đời, lạc hậu vốn đã ăn sâu vào tính
cách của họ, lại đang bị đơ thị hóa và nền kinh tế thị trƣờng xâm lấn. Do vậy, khi
thực hiện đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng phƣơng pháp của các ngành khoa
học khác nhƣ văn hóa học, giáo dục học, tâm lí học,... để làm nổi bật đối tƣợng.
- Phương pháp so sánh: Phƣơng pháp nay nhằm chỉ ra những nét chung
và nét độc đáo riêng biệt của Nguyễn Hữu Nhàn về nghệ thuật trần thuật so
với một số nhà văn khác ở các giai đoạn văn học khác nhau cùng viết về đề tài
nông thôn và nông dân Việt Nam.
1.6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chƣơng nhƣ
sau:
9
Chƣơng 1: Khái quát về tự sự và vị trí của Nguyễn Hữu Nhàn trong văn
học đất Tổ
Chƣơng 2: Ngƣời kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong Người quê
của Nguyễn Hữu Nhàn
Chƣơng 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong Người quê của
Nguyễn Hữu Nhàn
10
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN HỮU NHÀN
TRONG VĂN HỌC ĐẤT TỔ
1.1. Khái quát về tự sự
1.1.1. Khái niệm tự sự
Tự sự (narrative) là một phạm vi rộng lớn trong hoạt động giao tiếp của
con ngƣời nói chung cũng nhƣ trong tác phẩm văn học. Đây là hoạt động
dùng một phƣơng tiện ký hiệu biểu nghĩa nhất định (ngơn ngữ, điệu bộ, hình
ảnh,…) kể một chuyện/ sự kiện cho ngƣời khác nghe, xem nhằm gửi một
thông điệp hay tƣ tƣởng. Tự sự là hoạt động có nhận thức. Để hiểu một sự
việc, ngƣời ta tìm cách kể sự việc ấy cho có đầu có đi, có ngun nhân, kết
quả. Trong nghệ thuật, khi ngƣời ta kể một chuyện theo thứ tự nhất định, lần
lƣợt với các chi tiết, sự kiện đƣợc lựa chọn, sắp xếp trƣớc sau thể hiện sự biến
đổi của nhân vật thì ta có một tự sự có nội dung đƣợc nhận thức, vì đã nhận ra
các mối quan hệ nhân quả, trƣớc sau, các quan hệ qua lại của các nhân vật, sự
kiện của nó. Tự sự là một phƣơng thức đúc kết kinh nghiệm đời sống, đồng
thời là hình thức thể hiện kinh nghiệm thẩm mĩ. Khi truyện kể đƣợc tiếp nhận,
ngƣời đọc và ngƣời nghe nhận đƣợc thông tin là một sự kiện giao tiếp. Thông
tin của truyện kể có thể làm thay đổi nhận thức, niềm tin, thái độ, tình cảm
của ngƣời tiếp nhận. Cịn nếu trong trƣờng hợp sáng tạo, hƣ cấu, truyện kể có
ý nghĩa thẩm mỹ, có khả năng đem đến sự hứng thú, niềm vui, sự thăng hoa,
thanh lọc cho tâm hồn. Truyện kể thực hiện nhiệm vụ của mình qua nghệ
thuật tự sự. Nghệ thuật này lại đƣợc thực hiện trong khn khổ các thể loại,
phong cách nhất định. Nó phải sử dụng các ngơn ngữ, mơ hình tự sự đƣợc
tích trong truyền thống văn hóa, văn học, do đó nó có tính ký hiệu, tính liên
11
văn bản. Qua tự sự, con ngƣời thể hiện một hệ thống giá trị đạo đức, xã hội,
nhân văn, thể hiện kinh nghiệm đời sống và các bài học nhân sinh.
Tự sự khác với phi tự sự ở chỗ, tự sự phải có sự kiện. Có nhiều quan
điểm khác nhau về sự kiện. Có ý kiến cho rằng, sự kiện chính là sự thực hiện
hay trải nghiệm của nhân vật về một chuyển biến từ trạng thái này sang một
trạng thái khác (M.Bal), hoặc là sự di chuyển của nhân vật qua một trƣờng
nghĩa (Ju. Lotman). Còn G. Prince nhấn mạnh tính tự sự thể hiện ở chỗ tự sự
phải lấy chuyện, sự kiện làm tiền đề. Nói chung, tự sự lấy sự kiện làm nội
dung và phƣơng thức/ phƣơng tiện thể hiện. Nhƣng sự kiện khơng chỉ có tiêu
chí biến đổi nhƣ thế, mà cịn có tiêu chí thứ hai là “đƣợc nhận biết”, đƣợc con
ngƣời đƣa vào vùng chú ý của mình. Một biến đổi mà khơng ai chú ý thì chƣa
thể thành sự kiện. Do vậy, sự kiện có tính chất tinh thần, có tính giá trị. Bởi
vậy, sự kiện là ký hiệu về sự biến đổi mà mỗi cá nhân tự nhận biết đƣợc trong
quá trình tự mình giao tiếp. Sau đó, vì nhu cầu giao tiếp với mọi ngƣời mà
ngƣời ta mới kể ra bằng một phƣơng tiện nhất định nhƣ ngơn ngữ, hình ảnh,
động tác,… Nhƣ thế sự kiện chính là sản phẩn của giao tiếp và chúng ta
khẳng định khơng có sự kiện ngồi giao tiếp.
Tự sự khơng chỉ có sự kiện mà cịn phải có ngƣời kể, có nghĩa là ngƣời
chứng kiến, nhìn thấy, phát hiện ý nghĩa và kể lại. Sự kiện chỉ có ý nghĩa đối
với ngƣời chứng kiến, trải nghiệm, phân tích, bình luận,… Một việc xảy ra
mà chẳng có ai trải nghiệm cũng nhƣ chứng kiến thì coi nhƣ khơng có ý
nghĩa. Và một việc xảy ra mà khơng có ai chứng kiến, kể lại thì cũng khơng
thành tự sự đƣợc. Trong tác phẩm nghệ thuật, ngƣời nghệ sỹ còn sáng tác, hƣ
cấu, chọn lựa các sự kiện cho riêng tác phẩm của mình. Vì thế mà mỗi nhà
văn sẽ quan tâm tới một số loại sự kiện đặc thù, khác với nhà văn khác. Nhƣ
vậy, tự sự không thể thiếu ngƣời chứng kiến, ngƣời kể chuyện và sự kể, hành
vi kể.
12
Nhƣ vậy, có thể hiểu tự sự là hình thức trần thuật một hoặc nhiều hơn
một sự kiện có thật hoặc hƣ cấu bằng phƣơng tiện ngôn ngữ, nhất là ngơn ngữ
tự sự. Và theo Jonathan Culler, “Hình thức câu chuyện là một phƣơng thức
chủ yếu giúp nhân loại hiểu đƣợc sự vật” [52;36]. Trong thực tế, tự sự cũng là
một hình thức giao tiếp nhằm một mục đích hay một ý nghĩa nào đó.
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của tự sự
Một tác phẩm tự sự thông thƣờng phải bao gồm các yếu tố cơ bản nhƣ:
Sự kiện, nhân vật, ngƣời kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, thời gian nghệ thuật
và không gian nghệ thuật.
Yếu tố thứ nhất và cũng là yếu tố quan trọng nhất của văn bản tự sự là
sự kiện. “Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi các sự kiện có thực
hay hƣ cấu bằng phƣơng tiện ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự” (G.
Genette). Một văn bản tự sự sẽ có ba đặc điểm là ngƣời kể, hành động tự và
có sự kiện đƣợc kể ra. Sự kiện chính là nền tảng của tự sự, vì nó tạo nên
chuyện. Nếu khơng có sự kiện thì sẽ khơng có tự sự. Tuy nhiên, ngƣời ta chƣa
quan tâm đến cấu trúc ngữ nghĩa của sự kiện trong văn bản tự sự. Mãi đến
cuối thế kỷ XX, lý thuyết tự sự đã chuyển sang nghiên cứu truyện kể với tính
chất ký hiệu, ngơn ngữ của nó. Cuối cùng, từ 1970, IU. M. Lotman trong cuốn
Cấu trúc văn bản nghệ thuật đã xác định sự kiện là cơ sở của truyện kể, là
tiêu chí phân biệt văn bản có chuyện (cốt truyện) với văn bản khơng có
chuyện (khơng có sự kiện). Và ơng đã nêu khái niệm: “sự kiện trong văn học
nhƣ là việc nhân vật di chuyển qua ranh giới của trƣờng nghĩa” [37; 243]
trong tác phẩm.
Bên cạnh sự kiện, một yếu tố khơng thể thiếu của tự sự chính là nhân
vật. Từ xƣa, Aristote trong Nghệ thuật thơ ca chỉ coi trọng hành động, còn
nhân vật chỉ là một yếu tố phụ thuộc vào hành động của bi kịch. Rồi nhà
nghiên cứu Golden và Hardison trong cơng trình nghiên cứu của mình là
Nghệ thuật thơ ca cũng viết: “Trong lý thuyết cổ đại, trọng tâm là hành động,
13
chứ không phải con ngƣời trong hành động” [1; 23]. Nhà nghiên cứu ngƣời
Nga B. Tomashevski trong cuốn Lí luận văn học - Thi pháp học trong tiết
“Nhân vật” cũng xem nhân vật nhƣ là yếu tố thứ yếu. Ông từng viết: “Thủ
pháp thơng thƣờng để nhóm và xâu chuỗi các motiv là đƣa ra nhân vật, những
yếu tố mang sự sống của các motiv. Quy thuộc một motiv nào đó vào một
nhân vật nhất định sẽ làm giảm sút chú ý của ngƣời đọc. Nhân vật là sợi chỉ
hƣớng dẫn, cung cấp khả năng để hiểu mớ bòng bong của các motiv, là
phƣơng tiện thích hợp để phân loại và sắp xếp trật tự của các motiv riêng lẻ.
Mặt khác, có các thủ pháp giúp cho việc hiểu nhân vật và quan hệ của chúng.
Nhân vật cần phải biết nhận ra, mặt khác nó cần phải thu hút sự chú ý nhiều
hay ít”. Khơng những thế, ơng cịn viết thêm “Nhân vật khơng phải là thuộc
tính tất yếu của câu chuyện”. Đến thế kỷ XIX, các nhà tiểu thuyết và phê bình
đều xem nhân vật là một cá tính, một nhân cách, một thế giới có tính độc lập
với câu chuyện. Câu chuyện chỉ nhằm mục đích là giúp phát lộ con ngƣời
trong nhân vật. Chủ nghĩa nhân bản còn đòi hỏi xem con ngƣời nhƣ là thật,
tức là nhân vật phải có máu thịt, có sự sống động hẳn hoi. Sau này, với việc
phát hiện tính chức năng, tính vai trị của nhân vật trong tự sự có một ý nghĩa
rất quan trọng. Nó cho thấy: nhân vật là ngôn ngữ và là ký hiệu trong văn học;
là phƣơng thức kết hợp của nhân vật trong việc tạo nên sự kiện và câu
chuyện.
Yếu tố thứ ba chính là người kể chuyện. Nếu hiểu theo nghĩa đen,
ngƣời kể chuyện chính là ngƣời kể (câu chuyện) cho ngƣời đọc nghe. Ngƣời
kể chuyện đƣợc coi là nhân vật trung tâm của tự sự. Vì tồn bộ văn bản tự sự
đều là sản phẩm của danh nghĩa ngƣời kể chuyện. Khi ta đọc văn bản tự sự, ta
thƣờng thấy có một lời kể, một giọng điệu, một tiếng nói cho ta biết có sự
việc gì đã, đang hay sẽ xảy ra. Có ngƣời kể chuyện xƣng “tơi”, có cá tính, giới
tính; có ngƣời chỉ nghe thấy tiếng mà không biết là ai. Có truyện chỉ có một
ngƣời kể, có truyện lại có nhiều ngƣời kể thay thế nhau. Tuy nhiên, lại có
14
trƣờng hợp không thấy dấu hiệu của ngƣời kể mà dƣờng nhƣ “câu chuyện tự
kể”. Rồi có ngƣời kể là thƣợng đế, có ngƣời kể là lồi vật, lại có khi ngƣời kể
là cái máy hoặc đồ vật,... tất cả đều mang tính nhân hóa trong điểm nhìn,
trong giọng điệu. Ngƣời kể chuyện khơng chỉ có tiếng nói mà cịn có cả cái
nhìn. Nhà nghiên cứu N. Tamarchenco viết: “Ngƣời kể chuyện là chủ thể lời
nói và là ngƣời đại diện cho điểm nhìn trong tác phẩm văn học... Ngƣời kể
chuyện đƣợc khách quan hóa và đƣợc tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt
khơng gian, lẫn bình diện tu từ mà cụ thể nó đƣợc gắn với một hồn cảnh văn
hóa - xã hội và ngơn ngữ cụ thể để từ vị thế ấy nó mơ tả các nhân vật khác”.
Nhƣ vậy, ngƣời kể chuyện nhƣ là một chủ thể trung tâm trong các chủ thể
khác của tự sự, nhƣ tác giả hàm ẩn, ngƣời hàm ẩn, ngƣời nghe chuyện hay
nhân vật.
Trong quá trình sáng tác, nhà văn phải có sự chọn lựa góc nhìn, giọng
điệu để từ đó chọn ngƣời kể chuyện cho thích hợp. Chức năng của ngƣời kể
chuyện trong tác phẩm tự sự là một chức năng có nhiều tính chất, bao gồm
tính kỹ thuật, giao tiếp, nghệ thuật, thực hiện quy ƣớc sáng tác của nhà văn.
Ngƣời kể chuyện có các chức năng nhƣ chức năng kỹ thuật bao gồm cả kể, tả
và mở, kết; chức năng giao tiếp; chức năng nghệ thuật; chức năng quy thuộc.
Yếu tố thứ tƣ của văn bản tự sự chính là điểm nhìn trần thuật. Đây là
yếu tố cơ bản nhất tạo nên phƣơng thức trần thuật của tác phẩm. Tự sự cần
phải có ngƣời kể chuyện hay ngƣời chứng kiến sự việc xảy ra, điểm nhìn trần
thuật của ngƣời ấy thể hiện tập trung cách kể chuyện của tự sự. Chúng ta cần
hiểu rằng: điểm nhìn khơng chỉ là vị trí ngƣời kể nhìn sự vật mà còn là cách
quan sát, tri nhận nhƣ thế nào; cách cảm thấy sự vật bằng kinh nghiệm của
mình kể cả biểu đạt, từ đó mà thể hiện phạm vi ý thức của chủ thể đối với sự
vật. Thực tế, câu chuyện vốn là một hành động có tính nhân quả, nó là một
khách thể vì thế khơng có một điểm nhìn nào. Thế nhƣng khi câu chuyện
đƣợc kể ra, ngƣời kể chuyện với tƣ cách là một chủ thể, sẽ có điều kiện để
15
ngắm, thƣởng thức, nhận xét, giới thiệu,... nên cần phải biết đặt điểm nhìn từ
đâu để kể cho phù hợp, kể từ đầu hay kể từ kết thúc, kể ngƣợc lại hay kể từ
giữa câu chuyện, kể từ nhân vật chính hay nhân vật phụ, kể từ ngồi hay từ
nội tâm nhân vật kể ra,... Chính vì thế, điểm nhìn trần thuật giống nhƣ ống
kính camera trong máy quay phim. Song nó lại quan trọng hơn rất nhiều cái
dụng cụ quang học camera ấy, vì nó là cơ quan cảm nhận của con ngƣời.
Camera chỉ quay đƣợc những cảnh bên ngồi, cịn tự sự có thể quay đƣợc cả
nội tâm thầm kín, bí ẩn của các nhân vật. Điểm nhìn còn nối kết đƣợc giữa lời
kể với bức tranh thế giới đƣợc kể trong truyện. Vì thế, khơng phải ngẫu nhiên
mà G. Genette trong cuốn Diễn ngôn tự sự (1972) đã viết: trong tự sự khơng
phải chỉ có vấn đề “ai kể” mà cịn có cả vấn đề “ai nhìn”.
Yếu tố tiếp theo của tự sự là thời gian trần thuật hay còn đƣợc gọi là
thời gian tự sự. Khái niệm thời gian trần thuật, ban đầu do một nhà nghiên
cứu ngƣời Đức đƣa ra, sau này đƣợc G. Genette phát triển lên trong cơng
trình nghiên cứu Diễn ngơn tự sự (1972). Bản thân câu chuyện tự nó đã có
một trật tự thời gian liên tục của tính nhân quả, theo một trật tự trƣớc sau
không thể đảo ngƣợc - đó là thời gian chuyện. Khi kể lại câu chuyện, nhằm
gây chú ý, để làm nổi trọng tâm hay tô đậm chủ đề, tổ chức trật tự theo dõi
cho ngƣời đọc, ngƣời kể sẽ phải có sự lựa chọn điểm mở đầu, kết thúc hoặc
phân chƣơng, mục, rút ngắn hay kéo dài,... bắt buộc phải có sự xáo trộn thời
gian chuyện và tạo nên thời gian trần thuật. Thời gian trần thuật đƣợc tác giả
kiến tạo dựa trên dòng tuyến tính của ngơn từ, bởi quan hệ trƣớc - sau của
ngôn từ trong ý thức ngƣời đọc biến thành thời gian, nhƣng bản thân nó
khơng phải chỉ là tuyến tính. Nếu hiểu thời gian trần thuật là nghệ thuật tạo sự
chờ đợi thì vector chờ đợi có thể hƣớng tới tƣơng lai hoặc hƣớng về quá khứ
hay cái trăn trở cùng cái bây giờ và ở đây. Thời gian trần thuật là thời gian có
tính hữu hạn, có mở đầu và có kết thúc. Tồn bộ cấu trúc của thời gian trần
thuật là chuỗi liên tục “cái bây giờ” trong mối tƣơng quan của các thời đoạn,
16
thời điểm. Chúng ta nếu muốn hiểu thời gian tự sự thì cần phân biệt đƣợc thời
gian câu chuyện với thời gian trần thuật. Đó cũng là điều mà các nhà hình
thức ngƣời Nga gọi bằng thời gian chuyện và thời gian truyện kể. Nếu thời
gian truyện là thời gian diễn tiến của các sự kiện thì thời gian trần thuật là thời
gian của truyện kể, của sự kể, nằm ở cấp độ khác so với thời gian câu chuyện
nhƣng là thời gian tri nhận chuyện; nó gắn với thời gian câu chuyện không thể
nào tách rời trong sự sắp xếp lại, tạo nên cái “thời gian kép”. Có một điều là
một khi đã tách khỏi thời gian câu chuyện thì thời gian trần thuật cũng khơng
tồn tại bởi nó khơng có sự kiện, khơng có sự chờ đợi. Và ngƣời đọc một khi
đã nhập vào thời gian trần thuật rồi thì bắt đầu sống trong thời gian sự kiện
cho đến khi hết truyện, trong đó khơng thể nào phân biệt đƣợc đâu là thời
gian trần thuật, đâu là thời câu chuyện. Chính vì cái tính chất kép đó mà làm
cho thời gian trần thuật có tính đặc thù của thời gian thể nghiệm, tìm tịi, phát
hiện đối với thời gian sự kiện, câu chuyện.
Yếu tố cuối cùng của tự sự chính là khơng gian nghệ thuật. Với quan
niệm văn học là nghệ thuật thời gian đƣợc hình thành từ thời Khai sáng, vì thế
một thời gian dài, cứ nói đến tự sự là ngƣời ta chỉ nói đến phạm trù thời gian
mà không nhắc đến phạm trù về không gian tự sự. Mở đầu cho sự khám phá
mới về hình thức khơng gian tự sự đƣợc đánh dấu từ năm 1945, nhà phê bình
ngƣời Anh J. Frank trong bài Hình thức khơng gian trong văn học hiện đại.
Ơng đã đi vào phân tích hình thức khơng gian trong các tác phẩm hiện đại chủ
nghĩa của T.S.Eliot, E. Pound, J. Joyce, M. Proust từ ba mặt về không gian
ngôn ngữ, không gian vật lý của câu chuyện và không gian tâm lý của ngƣời
đọc dùng đồng hiện thay cho liên tục.
Khi một ai đó muốn kể một câu chuyện thì ngƣời đó phải mơ hình hóa
cái khơng gian mà nhân vật và sự kiện sẽ xảy ra trong đó. Khơng gian là một
phạm trù thể hiện bản chất của cấu trúc, văn hóa cùng ký hiệu của tự sự.
Khơng gian tự sự là yếu tố nội tại của tự sự. Bất cứ tác phẩm tự sự nào cũng
17
cần phải có nhân vật, sự kiện và khơng gian. Khơng gian chính là điều kiện tất
yếu để nhân vật tồn tại và để sự kiện diễn ra. Không gian gắn liền với thời
gian trong cấu trúc không gian và thời gian của tự sự. Không gian cần đƣợc
hiểu là một trong những phƣơng thức tạo nghĩa. Vì thế, nó khơng chỉ có ý
nghĩa địa lý mà phải có ý nghĩa văn hóa, quan niệm, tƣ tƣởng.
Khơng gian ở trong tự sự thể hiện ở sự miêu tả về các địa điểm, nơi
chốn, vị trí mà các nhân vật và sự kiện xảy ra. Đồng thời, khơng gian cịn thể
hiện qua hệ thống các từ ngữ phƣơng bị nhƣ cao - thấp, xa - gần, dài - ngắn,
trên - dƣới, phải - trái, đông - tây, nam - bắc,... Và các phƣơng vị này thƣờng
đƣợc kết hợp với ý nghĩa của đạo đức, tôn giáo, địa lý, lịch sử. Không gian tự
sự đƣợc thể hiện qua các biểu tƣợng không gian tự nhiên nhƣ sông, biển, núi
cao, đồng rộng, trời đất, thế giới bên này, thế giới bên kia và cả những thứ
không tƣởng không thuộc về tự nhiên. Một điều nữa, khơng gian nghệ thuật
tự sự cịn ln gắn liền với điểm nhìn của nhân vật kể chuyện hay nhân vật
hành động. Thơng qua điểm nhìn mà có thêm các khơng gian bên trong, bên
ngồi, khơng gian q khứ hay không gian thuộc về tƣơng lai. Không gian tự
sự rất phong phú và đa dạng, nó đƣợc thể hiện qua các mơ hình nhƣ khơng
gian điểm, khơng gian tuyến tính, khơng gian lập thể. Cịn theo S. Chatman,
trong tự sự chúng ta có thể phân biệt đƣợc về khơng gian diễn ngơn và khơng
gian câu chuyện.
1.1.3. Vai trị của trần thuật trong tác phẩm tự sự
Trần thuật có vai trò rất đặc biệt và quan trọng trong các tác phẩm tự
sự. Bởi trần thuật là một biện pháp nghệ thuật cơ bản để nhà văn tạo nên thế
giới nghệ thuật trong chính tác phẩm của mình. Khơng những thế, nó cịn
đồng thời góp phần tạo nên phong cách hay cá tính sáng tạo của từng ngƣời
nghệ sĩ. Ta thấy, có thời điểm nhiều nhà nghiên cứu chỉ quan tâm đến các vấn
đề của nội dung mà coi nhẹ các yếu tố hình thức của trần thuật. Mặc dù đã có
sự thừa nhận yếu tố cá nhân hay về “phong cách ngôn ngữ”. Tuy nhiên, thế
18
vẫn chƣa phải là sự đề cao vai trò của nghệ thuật trần thuật. Chúng ta biết
rằng: thực tế, chính lối kể chuyện mới là mấu chốt để độc giả nhận ra phong
cách của nhà văn, chứ không phải là các yếu tố tƣ tƣởng hay chủ đề,... Trong
văn xuôi nghệ thuật, với tài năng, bằng cách kể chuyện của nhà văn câu
chuyện mới trở nên hấp dẫn, mới mẻ và thu hút đƣợc ngƣời đọc. Nói nhƣ thế
có nghĩa: các truyện căn bản chỉ là những mảnh ghép hay là những lát cắt
trong cuộc sống đời thƣờng, nó khơng thể phản ánh đƣợc các giá trị sâu sắc
hay những quy luật của đời sống một cách sinh động nếu không thông qua
cách kể chuyện hấp dẫn của tác giả. Chính vì thế mà trong cuốn Dẫn luận
nghiên cứu văn học, G.N.Pospelov khẳng định vai trị của trần thuật, ơng cho
rằng: “Đóng vai trị quyết định trong loại tác phẩm tự sự là nghệ thuật trần
thuật” [42; 66].
Xét từ thực tiễn văn học, ta cũng thấy rằng một trong những yếu tố
nịng cốt góp phần thể hiện phong cách, cá tính sáng tạo của nhà văn chính là
nghệ thuật trần thuật. Thật vậy, trong quá trình sáng tác, một ngƣời nghệ sĩ tài
năng bắt buộc cần phải có sự sáng tạo, tìm tịi, tạo ra cái mới mẻ “chân trời xa
lạ” hay tạo ra “một tầm đón đợi mới” (Jauss). Mà trần thuật lại là yếu tố quan
trọng góp phần xây dựng nên hình hài của một tác phẩm tự sự trên cả hai
phƣơng diện về hình thức và nội dung. Qua lời ngƣời kể chuyện, các chi tiết,
sự việc, hoàn cảnh của đời sống sẽ đƣợc hiện lên một cách rõ nét nhất.
Trần Đăng Suyền từng khẳng định: “Trần thuật là một phƣơng thức cơ
bản của tự sự, một yếu tố quan trọng tạo nên hình thức của một tác phẩm văn
học” [46; 204]. Nhƣ vậy, tùy theo đặc điểm cũng nhƣ xu hƣớng phát triển của
từng thể loại, mà vai trò của trần thuật sẽ đƣợc biểu hiện đậm nhạt khác nhau.
Trong văn xi tự sự thì trần thuật lại có vai trị hết sức quan trọng. Vì nó là
thành phần tạo nên sự liên kết, xâu chuỗi các sự kiện, đƣa đẩy câu chuyện và
là chính câu chuyện. Mặt khác, nghệ thuật trần thuật còn là một trong những
19
cơ sở để đánh giá tài năng sáng tạo cùng phong cách nghệ thuật của mỗi nhà
văn. Chính vì lẽ đó, ngƣời nghệ sĩ tài năng phải là ngƣời ln ln có sự tìm
tịi, phải biết đổi mới, sáng tạo linh hoạt các yếu tố của trần thuật thì tác phẩm
của mình mới thành cơng.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định trần thuật ln có một vai
trị quan trọng trong tác phẩm tự sự. Trần thuật chính là cửa ngõ đi vào thế
giới sâu kín trong tác phẩm, là nơi hé mở những tài năng, phong cách của tác
giả. Từ đó, trần thuật lại nhƣ tác động ngƣợc để quy chiếu hành trình khám
phá của ngƣời đọc trong vai trò đồng sáng tạo.
1.2. Nguyễn Hữu Nhàn trong văn mạch đất Tổ
1.2.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn
Nguyễn Hữu Nhàn sinh ngày 11 tháng 12 năm 1938 tại xã Tứ Xã,
huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ông đƣợc coi là một trong những “cây đại
thụ” của làng văn đất Tổ. Hiện nay, nhà văn sống ở khu Quế Trạo, phƣờng
Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quê hƣơng của nhà văn – Tứ Xã,
một trong những làng Việt cổ, cịn bảo lƣu nhiều dấu tích văn hóa cổ xƣa,
trong đó có lễ hội “Trị trám” một lễ hội phồn thực, mang đậm bản sắc văn
hóa của cƣ dân trồng lúa nƣớc.
Nguyễn Hữu Nhàn là nạn nhân của tục lệ tảo hơn xƣa cịn rớt lại trên
q hƣơng. Năm 12 tuổi, ông đã phải lấy cô vợ lên 8. Từ hồi cịn ngồi trên
ghế nhà trƣờng phổ thơng, nhà văn đã rất mê đọc Thời thơ ấu của M.Gorki,
rồi chú tâm tìm đọc các tác phẩm của Ngun Hồng, Ngơ Tất Tố, Nguyễn
Công Hoan, Nam Cao,… để nuôi mộng ƣớc trở thành nhà văn. Với ƣớc mơ
đƣợc trở thành nhà văn, Nguyễn Hữu Nhàn bén duyên theo học khóa III
Trƣờng bồi dƣỡng những ngƣời viết văn trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam năm
1968. Sau ngày ra trƣờng, nhà văn về nhận cơng tác ở Phịng xuất bản Sở văn
hóa tỉnh Vĩnh Phú cho đến năm nghỉ hƣu (1993). Tiếp đến, ông chuyển về