BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
TRẦN THỊ BẢN
TỰ SỰ MẢNH VỠ TRONG TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
TRẦN THỊ BẢN
TỰ SỰ MẢNH VỠ TRONG TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. Đặng Thị Bích Hồng
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tự sự mảnh vỡ trong tiều thuyết Patrick
Modiano ” là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu và kết
quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và được đúc rút trong q trình tơi
nghiên cứu các tài liệu khoa học và tác phẩm của nhà văn. Việc tham khảo
các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo
đúng quy định. Luận văn hồn tồn đảm bảo tính khách quan, trung thực và
khoa học.
Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Phú Thọ, tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn
Trần Thị Bản
ii
LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tơi xin chân thành cảm ơn
TS. Đặng Thị Bích Hồng người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tơi trong
suốt q trình thực hiện luận văn.
Tơi cũng xin chân thành cảm ơn thầy cô khoa Ngữ văn, Ban giám hiệu
trường Đại học Hùng Vương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tơi trong suốt
q trình học tập và nghiên cứu tại trường .
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp, cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và giúp tơi hồn thành luận
văn này.
Trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ, tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn
Trần Thị Bản
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
5.1. Phương pháp khảo sát thống kê phân loại ................................................. 6
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp........................................................... 6
5.3. Phương pháp tiếp cận thi pháp học ............................................................ 6
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 6
7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
Chương 1 ........................................................................................................... 8
KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ MẢNH VỠ ............................................................. 8
VÀ TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO ................................................... 8
1.1. Khái quát về tự sự mảnh vỡ ....................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm tự sự, tự sự mảnh vỡ .............................................................. 8
1.1.2. Đặc trưng tự sự mảnh vỡ trong tiểu thuyết hậu hiện đại. ..................... 17
1.2. Khái quát về tiểu thuyết Patrick Modiano ............................................... 26
1.2.1. Vài nét về cuộc đời Patrick Modiano.................................................... 26
1.2.2. Tiểu thuyết trong sự nghiệp sáng tác của Patrick Modiano .................. 29
Chương 2. NHÂN VẬT MẢNH VỠ .............................................................. 34
TRONG TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO ......................................... 34
iv
2.1. Bản thể nhân vật: những mảnh vỡ ký ức ................................................. 34
2.1.1. Sự đánh mất ký ức qua hình tượng nhân vật Guy- Roland................... 34
2.1.2. Sự phức hợp bản thể qua nhân vật Louki ............................................ 40
2.2. Quan hệ giữa các nhân vật: sự chắp nối mảnh vỡ.................................... 47
2.2.1. Mảnh vỡ trong quan hệ tình u, hơn nhân .......................................... 47
2.2.2. Mảnh vỡ trong mối quan hệ bạn bè, xã hội .......................................... 54
Chương 3 ......................................................................................................... 63
KHÔNG GIAN THỜI GIAN MẢNH VỠ ...................................................... 63
TRONG TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO ........................................ 63
3.1. Không gian mảnh vỡ trong tiểu thuyết Patrick Modiano ........................ 63
3.1.1. Sự phi tâm không gian. ......................................................................... 65
3.1.2. Sự đan cài không gian. .......................................................................... 74
3.2. Thời gian mảnh vỡ trong tiểu thuyết Patrick Modiano ............................ 79
3.2.1. Sự đồng hiện và sai lệch thời gian hiện tại ........................................... 81
3.2.2. Sự xáo trộn và vỡ vụn thời gian quá khứ .............................................. 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 94
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cũng như nhiều quốc gia nổi tiếng trên thế giới, Pháp mang trong mình
niềm tự hào là một đất nước hoa lệ với thủ đô Paris lãng mạn bậc nhất thế
giới. Đến với Pháp người ta được ngắm nhìn những cơng trình kiến trúc tinh
tế, cổ kính, những nét văn hóa đặc sắc của phương Tây. Đặc biệt hơn Pháp
còn được biết đến là một trung tâm văn học – nghệ thuật của châu Âu. Vào
thế kỉ XIX, XX ở Pháp xuất hiện nhiều nhà văn nổi tiếng và có tầm cỡ thế
giới. Nhiều nhà văn giành giải thưởng nobel văn học như: Anatole France,
André Gide, Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Claude Simon… những nhà
văn có cơng lao lớn trong việc kế thừa và tìm tịi một hướng đi mới cho tiểu
thuyết hiện đại phương Tây: Biến cố và tình tiết li kì khơng còn quan trọng
mà là những nỗ lực phá hủy cốt truyện thay vào đó là thế giới của đồ vật và
dịng chảy của ngơn từ. Câu chuyện chỉ là dịng ý thức của nhân vật. Đổi mới
không gian thời gian, đa bội điểm nhìn trong trần thuật, tính phi lí của thời
gian. Những biến động của xã hội Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX và
những trào lưu văn hóa tư tưởng thế giới đã tác động mạnh mẽ, kích thích sự
sáng tạo và thể nghiệm của các nhà văn. Mỗi nhà văn lại có những cách nhìn
cách viết khác nhau về xã hội và đời sống con người Pháp.
Xuất hiện vào những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, nhà văn
Patrick Modiano ngay lập tức gây được sự chú ý với người đọc và trở thành
hiện tượng văn học của thế giới. Patrick Modiano nằm trong số 14 nhà văn
Pháp đạt giải Nobel văn học. Ông vinh dự được nhận giải thưởng Nobel văn
học vào năm 2014, giải thưởng vô cùng xứng đáng cho những cống hiến nghệ
thuật vì văn học Pháp và văn học nhân loại. Ông thực sự là một trong những
tài năng lớn của nước Pháp, cống hiến cho nền văn học đương đại những cuốn
tiểu thuyết xuất sắc. Năm 1968 Patrick Modiano cho xuất bản tiểu thuyết
Quảng trường ngôi sao, tác phẩm sau khi ra mắt đã đoạt hai giải thưởng văn
2
học Roger Nimier và Feneon. Những đại lộ ngoại vi (1975) được Viện Hàn
lâm Pháp tặng giải thưởng lớn về tiểu thuyết. Và ba năm sau, giải Goncourt,
giải văn học quan trọng nhất của Pháp, được trao cho ông về cuốn Phố của
những cửa hiệu u tối. Điểm nổi bật trong các tác phẩm của nhà văn là các
nhân vật thường loay hoay định vị mình. Các nhân vật ln băn khoăn, day
dứt về bản thể và sự hiện hữu bản thân. Họ tìm về lịch sử, mong có thể cắt
nghĩa được hiện tại. Bởi thế, họ ln tìm hiểu quá khứ của mình và dưới ánh
sáng ấy, họ hình dung rõ hơn những đường nét của tương lai. Patrick
Modiano một nhà văn mới với những bước chuyển mình trong tư duy nghệ
thuật, nhà văn của những hoài niệm, của sự trăn trở về định vị bản thân. Ông
đã khai thác di sản triết học của Guy Debord một cách mềm mại, biến lý
tưởng “trôi dạt” của triết gia độc đáo ấy trở thành một tác phẩm cuốn hút bằng
lối văn chương ảo diệu, độc đáo của riêng mình.
Được coi là một hiện tượng của văn học Pháp đương thời, Patrick
Modiano đã kích thích sự tị mị của nhiều độc giả và các nhà nghiên cứu phê
bình. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đã có về Patrick Modiano vẫn cần
được mở rộng đào sâu hơn nữa để đưa các tác phẩm của ông đến gần hơn với
bạn đọc Việt. Hơn nữa, nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đương đại cũng
được viết theo lối tự sự phân mảnh – một đặc điểm nổi bật của văn học hậu
hiện đại. Như vậy, việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Patrick
Modiano là hướng tiếp cận mới mẻ giúp ta khai thác nội tại văn bản. Việc
nghiên cứu ít nhiều góp phần tìm hiểu các tác phẩm văn học Việt Nam đương
đại có lối tự sự tương tự.
Mỗi một tác phẩm văn học đều được nhà văn tổ chức, sắp xếp và kể
theo một lối tự sự riêng biệt. Tự sự bộc lộ nhận thức, tài năng và phong cách
nhà văn. Vì vậy nhà văn ln tìm tịi và xây dựng cách kể sao cho phù hợp
nhất với tác phẩm của mình. Đọc tác phẩm của Patrick Modiano ta thấy một
lối tự sự đối lập với kiểu tự sự liền mạch, đơn tuyến của truyện kể truyền
3
thống. Mỗi tác phẩm đều khơng có biến cố dữ dội hay kịch tính mà chỉ là
những mảnh vỡ rời rạc nằm cạnh nhau, hướng đến nhiều chủ đề khác nhau,
mỗi nhân vật là một câu chuyện riêng, những mảng kí ức riêng, họ loay hoay
để tìm lại chính mình. Đó là nhờ vào lối tự sự mảnh vỡ mà nhà văn Patrick
Modiano sử dụng trong việc thể hiện tư tưởng và chủ đề của mình ở các tác
phẩm. Tự sự mảnh vỡ trong các sáng tác của ông đã giúp nhà văn tái hiện lên
số phận của cả nhân loại thời hậu chiến, có đổ vỡ, có mất mát, và đau đớn
nhưng ở một khía cạnh nào đấy người đọc vẫn có thể thấy khoảnh khắc lãng
mạn, đậm chất thơ trong cuộc đời nhân vật qua những miền kí ức tươi đẹp.
Chính điều ấy đã tạo nên ấn tượng khó phai trong lịng người đọc khi đến với
tác phẩm của ông. Cho đến nay, một số tác phẩm của Patrick Modiano đã
được dịch ở Việt Nam như: Quảng trường ngơi sao (Vũ Đình Phịng dịch),
Phố của những cửa hiệu u tối và Những đại lộ ngoại vi (Dương Tường dịch),
Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối (Trần Bạch Lan dịch), Từ thăm thẳm lãng
quên và Một gánh xiếc đi qua (Cao Việt Dũng dịch), Catherine cô bé đeo mắt
kính (Hồng Nhụy dịch). Trong số các tiểu thuyết đã được dịch trên, người
viết lựa chọn 2 tiểu thuyết để nghiên cứu đó là Phố của những cửa hiệu u tối
và Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối với lí do đây là hai tác phẩm cùng tái
hiện cuộc sống qua những miền kí ức vỡ vụn của nhân vật.
Từ những lí do trên người viết chọn đề tài nghiên cứu: Tự sự mảnh vỡ
trong tiểu thuyết Patrick
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nhà văn Patrick Modiano và phong cách nghệ thuật của ông đã được
nhiều nhà nghiên cứu, dịch giả và nhà báo quan tâm. Tuy nhiên, ở Việt Nam
trong phạm vi khả năng nghiên cứu của chúng ta, số bài viết vẫn còn hạn chế.
Trên tạp chí sơng Hương (ngày 8/12/2014) Dương Tường cho rằng:
“Một điều đặc biệt ở Patrick Modiano là ông sinh năm 1945 khi Thế Chiến II
vừa kết thúc, nhưng ưu tâm văn học của ông lại chốt vào thời kỳ nước Pháp bị
4
phát-xít Đức chiếm đóng (1940-1944). Nhà văn tìm kiếm gì trong hình ảnh
nước Pháp bại trận ấy? Ngay từ đầu, hệ chủ đề (thématique) của Modiano đã
được xác định với hai chủ đề khắc khoải xuyên suốt đời văn của ông: 1/ khảo
sát quá khứ, đi tìm bản ngã (của mình và của những người xung quanh mình);
2/ sự bất lực không thể hiểu những hỗn mang của thời đại, luôn che khuất quá
khứ. Tiểu thuyết của Modiano không bao giờ quá 200 trang khổ trung bình,
nhiều khi mượn cái thủ pháp treo lửng của tiểu thuyết trinh thám để giữ người
đọc hồi hộp đợi chờ. Văn phong Modiano giản dị, khơng khó đọc, và thường
đượm một nét buồn xa vắng, để lại dư vị nao lòng, những trang viết thao thức
đầy ám ảnh dai dẳng triền miên của quá khứ. Modiano có cái tài phù phép với
thời gian, xóa nhòa được ranh giới giữa các lớp thời gian khác nhau khiến cho
những sự vật hiện ra như không thể tin được dưới một ánh sáng lung linh kỳ
ảo”. [38]
Trong bài viết Patrick Modiano – Nhà thám hiểm quá khứ của văn học
Pháp nhà báo Thụy Oanh cho biết: những kí ức đau buồn của tuổi thơ, sự chia
li, nỗi cô đơn, cảm giác trống trải và cái chết của người em trai Rudy khi mới
10 tuổi được nhắc lại nhiều lần trong các sáng tác của Patrick Modiano. “Hai
đề tài xuyên suốt trong sáng tác của Patrick Modiano là đi tìm bản ngã và sự
bất lực của cá nhân trước những hỗn mang của thời đại. Các nhân vật trong
tiểu thuyết của Patrick Modiano phần lớn đều khơng có q khứ và ln
muốn đi tìm q khứ của chính mình như cách xác định căn cước bản thân.
Chính sự “say mê khám phá quá khứ” của tác giả đã khiến Thư kí thường trực
của Viện hàn lâm Thụy Điển- Peter Englund phải thốt lên: “Patrick Modiano
có thể được coi là Marcel Proust trong thời đại của chúng ta”. Chính tuổi thơ
bất hạnh, thiếu tình thương đã khiến nhà văn coi quá khứ như nguồn cảm
hứng bất tận”. [26]
Không gian, thời gian là yếu tố mà nhà văn Patrick Modiano đặc biệt
quan tâm trong tiểu thuyết của mình. Chia sẻ về điều này nhà báo Văn Bảy
5
từng nhận định “Patrick Modiano được coi là chuyên gia về Paris - với sự
rành rẽ đáng kinh ngạc các đường phố, khu vực, lịch sử và con người. Hai chủ
đề quan trọng trong các tác phẩm của Patrick Modiano: quá khứ, cụ thể là
chiến tranh, cụ thể hơn nữa là Thế chiến thứ hai, trong mối quan hệ với người
cha của mình - ơng thường có câu chuyện đi xuyên thời gian về quãng thời
gian chiến tranh; chủ đề quan trọng nữa là thân phận người Do Thái ở Pháp
nói riêng và ở phương Tây nói chung…” [1]
Ngồi ra cịn có một số đề tài, luận văn nghiên cứu khác như: Sự đối
cực không gian trong tiểu thuyết của Patrick Modiano do Nguyễn Thảo Tâm
nghiên cứu. Thời gian nghệ thuật trong Phố của những cửa hiệu u tối do Lê
Khắc Long nghiên cứu.
Trên đây là tập hợp một số bài viết rải rác bàn về thi pháp nghệ thuật
trong tiểu thuyết của Patrick Modiano. Các bài viết đã chỉ ra đặc điểm sáng
tác của Patrick Modiano thiên nhiều về việc đi tìm q khứ như để tìm lại
chính mình. Tuy nhiên, các bài viết nghiên cứu chưa đề cập sâu đến tự sự
mảnh vỡ trong tiểu thuyết của Patrick Modiano. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa
những ý kiến của các bài viết nghiên cứu trước đó, chúng tơi nghiên cứu vấn
đề: Tự sự mảnh vỡ trong tiểu thuyết Patrick Modiano, từ đó, giúp độc giả có
cái nhìn sâu sắc về đặc điểm tự sự của nhà văn Patrick Modiano.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về tự sự mảnh vỡ trong văn chương
hậu hiện đại, đề tài khảo sát, nhận diện, phân tích đặc trưng tự sự mảnh vỡ
trong tiểu thuyết Patrick Modiano trên các bình diện: nhân vật mảnh vỡ,
khơng gian mảnh vỡ, thời gian mảnh vỡ, từ đó khẳng định những giá trị độc
đáo làm nên vị thế văn chương của Patrick Modiano.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Tự sự mảnh vỡ trong tiểu thuyết
Patrick Modiano
6
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: Tiểu thuyết Phố của những cửa
hiệu u tối (Dương Tường dịch; NXB Văn học, năm 2019) và tiểu thuyết Ở
quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối (Cao Việt Dũng dịch; NXB Văn học, năm
2018).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp khảo sát thống kê phân loại
Khảo sát, thống kê tự sự mảnh vỡ trong tác phẩm: Phố của những cửa
hiệu u tối và tiểu thuyết Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối của Patrick
Modiano
5.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng để làm rõ những
mảnh vỡ đặt cạnh nhau không liên quan và hướng tới các chủ đề khác nhau.
5.3. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Thi pháp học là cơng việc tìm ra phương thức tư duy nghệ thuật của
nhà văn để tạo thành hình thức nghệ thuật sao cho vừa vặn với nội dung của
tác phẩm. Nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học ở Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng kể. Những biểu hiện của thi pháp tác phẩm, tác
giả, lịch sử văn học…là căn cứ để chỉ rõ những biểu hiện của lối tự sự trong
tiểu thuyết của Patrick Modiano.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn là cơng trình nghiên cứu chun biệt về Tự sự mảnh vỡ trong
tiểu thuyết Patrick Modiano. Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp
phần làm sáng tỏ đặc trưng tự sự ở hai tiểu thuyết Phố của những cửa hiệu u
tối và Ở quán cà phê của tuổi trẻ lạc lối, từ đó thấy được những đóng góp của
nhà văn ở lĩnh vực văn học hậu hiện đại cho nền văn xuôi đương đại Pháp nói
riêng và văn học thế giới nói chung.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có nội dung
7
được chia làm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về tự sự mảnh vỡ và tiểu thuyết Patrick Modiano
Chương 2. Nhân vật mảnh vỡ trong tiểu thuyết Patrick Modiano
Chương 3. Không gian, thời gian mảnh vỡ trong tiểu thuyết Patrick Modiano
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ TỰ SỰ MẢNH VỠ
VÀ TIỂU THUYẾT PATRICK MODIANO
1.1. Khái quát về tự sự mảnh vỡ
1.1.1. Khái niệm tự sự, tự sự mảnh vỡ
Khái niệm tự sự:
Theo nghĩa rộng, “tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết
sự vật” (Jonathan Culler). Đó là một sự truyền đạt thơng tin trong q trình
giao tiếp bằng nhiều phương thức, nhiều con đường khác nhau, thông qua hội
họa, điêu khắc, kiến trúc, phục trang… Có nhiều cách để con người giao tiếp
với nhau trong đó có một cách phổ biến và hiệu quả đó là thơng qua một câu
chuyện. Câu chuyện ấy khơng chỉ có trong các lĩnh vực của nghệ thuật như tiểu
thuyết, kịch, chèo, tuồng… mà cịn có cả trong lĩnh vực đời sống, kinh doanh.
Trong chiến lược kinh doanh, một người làm maketting thành đạt phải là một
người biết kể chuyện, biết chạm vào cảm xúc của khách hàng thông qua những
câu chuyện họ kể. Khi đi du lịch được nghe một câu chuyện về một địa danh
nào đó, thì bỗng nhiên địa danh bình thường ấy sẽ trở nên nổi tiếng. Xoay
quanh Lầu Hoàng Hạc (lầu hạc vàng) một trong tứ đại danh lâu của Trung
Quốc cũng đã có biết bao câu chuyện về nó. Có khi nó được gắn với truyền
thuyết của chàng tu sĩ Phí Văn Vi đắc đạo thành tiên tại núi này, thường cưỡi
Hạc Vàng ngao du sơn thủy. Có khi nó lại được kể gắn với câu chuyện của một
người bán rượu tốt bụng dưới chân núi Hoàng Cốc đã giúp đỡ một đạo sĩ
nghèo và được báo đáp bằng một con hạc trong bức vẽ biết nhảy múa để dụ
khách bốn phương đến thăm. Những câu chuyện kể đó “tuy cũng có cơ sở là sự
thật nào đó, nhưng tồn bộ nhân vật, việc làm đều là hư cấu. Đây là điều làm
cho tác phẩm văn học tự sự khác với lịch sử, báo chí. Giá trị của tự sự, do đó
9
không phải ở chỗ tư liệu, con người, hành động có thật trong thực tế hay
khơng, mà là ở chỗ người và việc ấy có phù hợp với lơgic cuộc sống hay
khơng, có ý nghĩa như thế nào?” [33,114].
“Tự sự là hoạt động có tính chất nhận thức. Để hiểu một sự việc, người
ta tìm cách kể sự việc ấy có đầu có đi, có ngun nhân, kết quả” [35,69].
Tức là câu chuyện được kể ra theo một hệ thống cốt truyện gồm các sự kiện
thay thế nhau, thúc đẩy nhau, các nhân vật có quan hệ với nhau, có tình
huống, bối cảnh, cảnh tượng và cảnh vật. Trong nghệ thuật khi người ta kể
một chuyện theo một thứ tự nhất định có đầu có cuối lần lượt với các chi tiết,
sự kiện được lựa chọn, sắp xếp trước sau thể hiện sự biến đổi của nhân vật thì
ta có một tự sự có nội dung được nhận thức vì đã nhận ra các mối quan hệ
nhân quả, trước sau, các quan hệ qua lại của các nhân vật, sự kiện của nó. Tự
sự là một phương thức đúc kết kinh nghiệm đời sống, đồng thời là hình thức
khống chế kinh nghiệm. Nó thường hướng tới một kết thúc nhất định có tác
dụng định hướng giá trị cho cuộc đời. Hoạt động tự sự thực hiện trong khuôn
khổ các thể loại, phong cách nhất định. Nó phải sử dụng các ngơn ngữ, mơ
hình tự sự được tích lũy trong truyền thống văn hóa, văn học, do đó nó có tính
kí hiệu, tính ngơn ngữ, tính liên văn bản. Qua tự sự con người thể hiện một hệ
thống giá trị đạo đức, xã hội, nhân văn, thể hiện kinh nghiệm đời sống và các
bài học để đời. Bởi suy cho cùng tự sự là những câu chuyện được bắt nguồn
từ đời sống và phản ánh cuộc sống của con người.
Theo nghĩa hẹp, tự sự là một loại hình văn học lớn, bao gồm nhiều thể
loại. Từ thời cổ xưa đã có thần thoại, anh hùng ca, truyền thuyết, truyện cổ
tích, truyện ngụ ngơn, truyện thơ. Thời kì trung cận hiện đại thì xuất hiện nhiều
thể loại mới như truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi, truyện vừa, truyện
ngắn, tiểu thuyết. Đọc mỗi tác phẩm tự sự người ta thường nhớ tới các nhân vật
và diễn biến kết quả của các câu chuyện kể mà tác phẩm tự sự đem lại. Khái
niệm tự sự được giáo sư Trần Đình Sử đưa ra trong cuốn Tự sự học lí thuyết và
10
ứng dụng: “Tự sự là hoạt động dùng một phương tiện kí hiệu biểu nghĩa nhất
định (ngơn ngữ, điệu bộ, hình ảnh…) kể một chuyện (sự kiện) cho người khác
nghe, xem, nhìn nhằm gửi một thơng điệp, tư tưởng. Kể là trình bày lần lượt,
thứ tự, có đầu có đi, các chi tiết cho thấy sự biến đổi của nhân vật, sự vật. Sự
ở đây là những việc, hành động, sự kiện xảy ra, những thay đổi có ý nghĩa nhân
sinh” [35,69]. Cịn trong cuốn Những vấn đề lí luận văn học phương Tây hiện
đại – tự sự học kinh điển Gérard Genette đưa ra cách hiểu: “Tự sự là trình bày
một sự kiện hay một chuỗi sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngôn
ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự” [29,89].
“Tự sự là một truyện hư cấu thì nhất định nó phải có một khoảng cách
với đời sống thực tế. Đó chính là điểm đánh dấu sự thăng hoa của các câu
chuyện hàng ngày nơi thôn quê, phố chợ, để bước vào thế giới nghệ thuật. Giá
trị của tự sự là sau khi đọc nó người ta sẽ nhìn cuộc sống mới hơn, sắc hơn, rõ
hơn, sâu hơn” [33,114].
“Xét về mặt ý nghĩa, tự sự bao giờ cũng là một sự giải thích có khuynh
hướng, phản ánh nhận thức của con người mỗi thời đại” [33,115]. Tự sự mang
phong cách của thời đại lịch sử mà nó phụ thuộc. Tự sự nguyên thủy trong
thần thoại khác xa với tự sự trong sử thi, tự sự trong cổ tích khác xa với
truyền kì thời trung đại, đến tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa cận hiện đại
lại khác xa thời trung đại. Thời xa xưa có Thần trụ trời, Sơn Tinh-Thủy Tinh,
Mị Châu –Trọng Thủy, người ta tìm cách giải thích tự nhiên, giải thích các
hiện tượng tự nhiên qua trí tưởng tượng phong phú của mình. Thời kì trung
đại, đọc Truyền kì mạn lục, Truyện Kiều ta nhận thấy rõ ý thức hệ của tư
tưởng Nho, Phật, Lão giáo như triết lí nhân sinh và luân lí đạo đức. Thời kì
hiện đại tự sự phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống của con người gắn liền
với hiện thực lịch sử, đọc truyện của Ngô Tất Tố, Nam Cao, nhận thấy con
người nghèo khổ sống trong sự áp bức, bóc lột, đè nén bị dồn đẩy đến bước
đường cùng, với những mâu thuẫn giai cấp gay gắt ở nông thôn trước cách
11
mạng tháng Tám 1945. Đọc truyện của Vũ Trọng Phụng, ta thấy hiện lên cả
một xã hội tư sản ở thành thị bị biến dạng, méo mó, đồi bại về nhân cách và
lối sống.
Nếu thơ ca muốn người ta dễ nhớ thì thơ ca phải có vần. Cịn tự sự
muốn người ta nhớ phải có sự kiện. “Sự kiện là sự thực hiện hay trải nghiệm
của nhân vật về một chuyển biến từ trạng thái này sang một trạng thái khác
(M. Bal), hoặc là sự di chuyển của nhân vật qua một trường nghĩa (Ju.
Lotman). Nhân vật trải qua thay đổi từ hạnh phúc đến bất hạnh, từ sống đến
chết, từ tốt sang xấu, từ che giấu đến bại lộ, hay ngược lại... Sự biến đổi làm
bộc lộ bản chất sự vật, con người, làm hé lộ các ý nghĩa bị che giấu” [35,70].
Các văn bản thơ ca trữ tình, tùy bút, bút kí… đều khơng được coi là tự sự. Ở
thơ trữ tình nếu có sự kiện thì sự kiện chỉ là cái nền để bộc lộ cảm xúc, cảm
xúc là sản phẩm của sự kiện. Đối tượng biểu hiện của thơ trữ tình là cảm xúc
chứ khơng phải là sự kiện.
“Sự kiện là tổng hợp các tình huống, nhân vật, hành động, hồn tồn
phi hình thức chứa đựng một cách nào đó trong tác phẩm (hoặc kể lộ liễu hay
kín đáo, tập trung hay tản mạn). Nó là chất liệu, nhưng khơng phải là ngun
liệu thơ sơ, vì đã có ý nghĩa nào đó, đã được chứng kiến” [35,100]. Sự kiện
không chỉ làm bộc lộ bản chất sự vật, con người, làm hé lộ các ý nghĩa bị che
giấu mà sự kiện phải được con người đưa vào vùng chú ý của mình, nếu sự
kiện mà chưa gây chú ý chưa làm cho người khác để tâm thì chưa được coi là
sự kiện. “Vì thế sự kiện có tính chất tinh thần (mentalitet), tính giá trị. Cho
nên sự kiện là kí hiệu về sự biến đổi mà mỗi cá nhân tự nhận biết trong cuộc
tự mình giao tiếp với mình” [35,71].
Bên cạnh sự kiện thì nhân vật là yếu tố không thể thiếu của tự sự. Nhân
vật giữ vai trị cực kì quan trọng trong cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm tự sự.
“Nhân vật là hình tượng về con người mà nhà văn muốn nói, muốn gửi gắm
những chủ đề tư tưởng vào đó” [33,36]. Nhân vật có thể là những người có họ
12
tên cụ thể có lai lịch rõ ràng như: Tơn Ngộ Không của Ngô Thừa Ân , Tào
Tháo, Lưu Bị, của La Quán Trung, Chí Phèo của Nam Cao, chị Dậu của Ngô
Tất Tố… hoặc những nhân vật không tên như con sen, thị, lính lệ, nơ tì. Nhân
vật khơng chỉ là những con người được khắc họa sâu đậm hoặc thống qua
mà cịn là thế lực thần linh hay ma quỷ, là loại vật, là hoa lá, hay vật thể tự
nhiên nào đó. Cũng có thể nhân vật là tập thể nhân dân trong Chiến tranh và
hịa bình của L. Tơnxtơi, thời gian là nhân vật chính trong sáng tác cuả
Sêkhốp, chiếc quan tài là nhân vật chính trong Chiếc quan tài của Nguyễn
Cơng Hoan. Suy cho cùng có bốn kiểu cấu trúc nhân vật là: nhân vật chức
năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng.
“Tự sự khơng chỉ có sự kiện mà cịn phải có người kể, tức là người
chứng kiến, nhìn thấy, phát hiện ý nghĩa và kể lại” [35,71]. Trong thực tế, mỗi
ngày có vơ số các sự kiện xảy ra, tuy nhiên các sự kiện ấy nếu cứ diễn ra mà
khơng có ai chứng kiến và kể lại thì không thể thành câu chuyện được. Trong
nghệ thuật cũng vậy, một việc xảy ra mà không ai chứng kiến, trải nghiệm và
kể lại thì khơng thể thành tự sự được. Nhà văn (người kể chuyện) sẽ lựa chọn,
nhào nặn và sắp xếp các sự kiện đó rồi xâu chuỗi thành một câu chuyện có ý
nghĩa. Mỗi nhà văn lại có cách nhìn, cách viết, cách kể khác nhau làm cho câu
chuyện hiện ra trong tâm trí người đọc sinh động và cụ thể. Lời kể của nhà
văn có vai trị quan trọng không chỉ ảnh hưởng sâu sắc tới nội dung kể mà cịn
ảnh hưởng tới tâm lí của người tiếp nhận. Chẳng hạn cùng kể về người nông
dân trước cách mạng nhưng cách kể của nhà văn Nam Cao và Ngô Tất Tố
khác nhau. Cách kể của Nam Cao khiến người ta ám ảnh nhiều về cái đói, cái
nhếch nhác khổ sở, méo mó về nhân cách của người nơng dân. Cịn Ngơ Tât
Tố kể về người nơng dân dù nghèo khổ nhưng vẫn sáng ngời những phẩm
chất tốt đẹp. Hay đọc hai tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài
Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du, mặc dù cùng viết về một câu chuyện,
13
một nhân vật, nhưng lời kể khác nhau đã tạo nên hai giá trị văn học khác nhau
ở mỗi nước.
Ngoài lời kể, tự sự cịn có hành vi tự sự, hành động của người tự sự,
người trần thuật có thể kể xuôi, kể ngược, kể gần, kể xa, kể nhanh, kể chậm.
Người kể có thể chọn tiêu cự bằng khơng của người kể biết hết mọi sự theo
ngôi kể thứ 3, có thể kể biểu hiện bên ngồi, lẫn diễn biến nội tâm, như các
truyện Thủy Hử, Tam quốc diễn nghĩa. Người kể có thể kể theo ngơi thứ nhất,
chỉ kể những gì mà phạm vi quan sát thực tế của một người có thể biết được
như Những ngơi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, Một người Hà Nội của
Nguyễn Khải.
Tự sự mảnh vỡ:
Từ cái nhìn triết học, ta thấy mảnh vỡ là sản phẩm của quan niệm hỗn
độn về cuộc sống, khi xã hội đang đứng ở ngưỡng vận động, thay đổi. Những
mảnh vỡ va chạm, tương tác nhau tạo nên sự sống và sự phát triển.
Từ cái nhìn mĩ học, mảnh vỡ diễn đạt về Cái đẹp là cái chưa hồn hảo
trong hình hài của những mảnh vỡ. Mảnh vỡ luôn cho thấy sự khiếm khuyết,
sự chưa hiện diện thành một cái “tôi” với đầy đủ nhân hình, nhân dạng và
nhân tính.
Lí thuyết về mảnh vỡ thực sự xuất hiện ở văn chương hậu hiện đại và là
đặc trưng nổi bật của tư sự hậu hiện đại. Mảnh vỡ (cịn gọi là tính phân mảnh).
“Có lần John Hawkes tiết lộ rằng khi bắt đầu viết ông dự tưởng “những kẻ thù
thực sự của tiểu thuyết là cốt chuyện, nhân vật, cảnh trí và đề tài” dẫn theo
[50,244-245]. Sau này các nhà văn hậu hiện đại đã cố gắng tiêu diệt những kẻ
thù đó. Họ làm cho “cốt truyện bị nghiền thành từng viên nhỏ của biến cố và
hồn cảnh, nhân vật bị phân tán thành một bó của những khát vọng nhức nhối,
cảnh trí thì chỉ hơn những phông màn dựng tạm một chút mà thôi, hoặc đề tài
trở thành mơ hồ đến nỗi nếu cho rằng những cuốn tiểu thuyết nào đó nói về
điều này hay điều nọ thì thật là sai lầm một cách buồn cười” dẫn theo [50,245].
14
Phương thức tự sự trong văn học hậu hiện đại khác nhiều so với phương
thức tự sự truyền thống “Nhà văn hậu hiện đại khơng cịn tín nhiệm cái tổng
thể và sự kết thúc gắn liền với những truyện truyền thống mà ưa chuộng một
phương thức khác của kết cấu tự sự. Một phương thức mà có thể thay vào đó
là phương thức đa kết, đó là phương thức chống lại sự kết thúc bằng cách ban
cho một cốt truyện rất nhiều hệ quả có thể có được” [50,245]. Các nhà văn
hậu hiện đại đã tìm cho mình một hình thức thể hiện văn bản sao cho phù hợp
với lối viết tự sự mới đó là “Một phương tiện khác để tạo chỗ thuận lợi cho sự
bỏ ngỏ và tính vô chung là phá vỡ văn bản thành những mảnh hay đoạn ngắn,
phân chia bởi khoảng trống, những nhan đề, những con số hay những biểu
tượng” [50,246].
Trong phần dẫn nhập Surfiction: Fiction Now…and Tomorrow (1975),
Raymond Federmen nói: “Trong những khoảng trống ấy, nơi khơng có gì để
viết, nhà văn hư cấu có thể, bất cứ lúc nào, đưa ra những chất liệu (những
trích dẫn, hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản thiết kế, mảnh vụn của những lối hành
ngôn khác,v.v…) hồn tồn khơng có quan hệ gì tới câu chuyện cả” dẫn theo
[50, 246]. Về lí luận phê bình trên thế giới các nhà nghiên cứu đã đề cập đến
một số phương diện của tự sự mảnh vỡ, nhà nghiên cứu Terry Eagleton cho
rằng “tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại điển hình nhất là tùy tiện, đa trị, lai
ghép, lệch tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng, hệt như một mơ phỏng” [dẫn theo
39]. Cịn Barry Lewis coi tự sự hâu hiện đại là “sự hỗn độn thế tục, cóp nhặt,
mảnh vỡ, sự nới lỏng tổ chức, tính hồi nghi và vòng tương tác” [dẫn theo
39].
Trong cuốn Từ điển phê bình về tư tưởng hậu hiện đại của Stuart Sim,
nhà nghiên cứu đã khái quát rằng một số nhà văn đã phá vỡ cách kể chuyện
theo trình tự có mở đầu và kết thúc trọn vẹn “Fowles phá vỡ cách kể chuyện
bằng cách nhảy dù, (phô bày sự thân mật, gần gũi) của ông với Marx, Darwin
và những người khác. Ơng trực tiếp nói chuyện với người đọc, thậm chí ở một
15
mức độ bước hẳn vào trong câu chuyện của chính ông với tư cách như là một
nhân vật” [dẫn theo 39].
Văn học hậu hiện đại tự sự theo kiểu phá vỡ tính hồn kết của văn học
truyền thống “làm cho khơng có điểm bắt đầu và khơng có kết thúc, bằng
cách bẻ gẫy văn bản thành những mảnh vụn hoặc từng phần, bị chia cắt bởi
không gian, nhan đề, các con số hoặc các biểu tượng. Tiểu thuyết và truyện
ngắn của Richard Brautigan và Donald Barthelme đầy ắp những mảnh vỡ.
Một số tác giả khác thậm chí cịn đi xa hơn và mảnh vỡ là của chính kết cấu
văn bản với các hình minh họa, bản in hoặc trộn lẫn với điện ảnh. Như
Raymond Federman đưa nó vào trong lời giới thiệu cho Tiểu thuyết siêu thực:
Tiểu thuyết hiện nay... và mai sau (1975): trong những khơng gian nơi khơng
có gì để viết, các tác giả tiểu thuyết có thể, ở bất cứ thời điểm nào, đưa vào
chất liệu (dấu trích dẫn, các bức tranh, các sơ đồ, bảng biểu, chữ ký, những
mẩu của văn bản/diễn ngơn khác...) hồn tồn khơng liên quan gì đến câu
chuyện” [dẫn theo 39]. Minh họa cho điều này, Stuart Sim dẫn câu chuyện
Người vợ cô đơn của Willie Master (1967) của William Gass. “Tác giả đã
thực hiện tất cả những điều trên trong 60 trang giấy kì quặc của nó, và đó là
một văn bản của nhà văn hậu hiện đại tuyệt vời (parexelence). Những trang
giấy đó, trong bản thân nó gồm bốn màu khác nhau: màu xanh sổ tay ghi
chép, xanh kaki, màu đỏ dâu và màu trắng bóng láng. Một phụ nữ “nude”
nằm ườn chiếm hết trang bìa trước. Nàng là một người vợ vỡ mộng, người ẩn
dụ cho sự hiện thân của ngơn ngữ tình dục (lovemaking language)”. Bên cạnh
đó, tác giả đề cập đến một ví dụ nữa, để minh họa cho tính ghép mảnh, sự bị
bẻ gãy của văn bản, đó là tác phẩm của Marshall McLuhan. “Sự bài trí, bày
đặt thực sự kì cục, lập dị có lẽ được thiết kế bởi Marshall McLuhan trong chất
gây ảo giác. Sự đa dạng của các mặt chữ (in đậm, in nghiêng), các phơng chữ
(Gơ tích; kí tự), các kí hiệu (biểu tượng của âm nhạc, chất giọng), và sự pha
tạp các cách sắp xếp (nhiều cột, nhiều lời chú thích), tranh giành không gian
16
với những hình ảnh lố bịch (những vết bẩn của tách cà phê, dấu hoa thị khổng
lồ). Trong một bài nghiên cứu khái quát, Ronald Sukenic gọi đó là “một cơn
mưa rào bất chợt của những sự kiện mảnh vỡ”” [dẫn theo 39].
Ở Việt Nam thuật ngữ “mảnh vỡ” cũng được các nhà nghiên cứu phê
bình văn học quan tâm. Trong bài đề dẫn Hậu hiện đại như là một siêu ngôn
ngữ, Lê Huy Bắc nhận xét “Ngày nay, những khái niệm mảnh vỡ, phân mảnh,
trò chơi, phi trung tâm, liên văn bản, nhại, hỗn độn,... đã trở nên quá quen
thuộc với giới nghiên cứu trẻ và sách báo” [dẫn theo 39]. Lê Ngun Cẩn
trong cơng trình Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại, ghi nhận:
“Chủ nghĩa hậu hiện đại là sự tiếp nối điển hình xu hướng tính phân mảnh”,
về sự “giải” các siêu tự sự, tạo ra các tiểu tự sự “Với đại tự sự sẽ có giải đại tự
sự, nghĩa là tạo ra các tiểu tự sự, bởi vì theo J.F. Lyotard thì ngày nay chúng
ta là nhân chứng chứng kiến sự đập vụn, xé lẻ những lịch sử lớn và sự xuất
hiện vô vàn những câu chuyện lịch sử manh mún, đơn giản, cục bộ; ý nghĩa
của những thiên trần thuật có bản chất cực kì nghịch lí ấy khơng phải là hợp
thức hóa tri thức, mà là kịch tính hóa sự hiểu biết của chúng ta về khủng
hoảng” [dẫn theo 39].
“Mỗi mảnh vỡ trở thành một câu chuyện, có thể lơgic có thể khơng, tùy
thuộc trạng thái của nhân vật người kể chuyện, trạng thái kể có ý thức hay vơ
thức. Cho nên, mỗi mảnh vỡ đều có giá trị tự thân, giá trị đó lớn hay nhỏ, tùy
thuộc chuẩn đánh giá của người đọc mà không nằm trong ràng buộc với một
chuẩn chung nào cả. Chuẩn chung chỉ xuất hiện khi xã hội là một tổng thể,
còn ở chủ nghĩa hậu hiện đại, xã hội là giải kết hợp, là không thể liên kết
được với nhau, là nằm trong trạng thái tâm thần phân lập. Tính đa trị được
hiểu là như thế” [dẫn theo 39].
Tuy nhiên cho đến nay các nhà nghiên cứu văn học hậu hiện đại trong và
ngoài nước chưa đưa ra khái niệm cụ thể nào về tự sự mảnh vỡ, bởi lẽ trong
quá trình sử dụng khái niệm tự sự mảnh vỡ được hiểu vô cùng linh hoạt.
17
Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu về tự sự mảnh vỡ, chúng tôi đưa ra
cách hiểu về thuật ngữ này như sau:
Tự sự mảnh vỡ là đặc trưng cơ bản của văn học hậu hiện đại, là cách các
nhà văn kể một câu chuyện hướng đến nhiều chủ đề khác nhau và mở ra tối
đa những con đường để người đọc tự đi vào văn bản. Lối viết này ra đời trên
cơ sở giải tâm, bất định, đứt đoạn, rời rạc, lắp ghép, phân mảnh, trống rỗng,
ngoại biên, phi nghiêm cẩn, ngẫu nhiên... xuất hiện hầu hết trong các tác
phẩm văn chương, thể hiện cảm quan “hoài nghi các đại tự sự” của con người
hậu hiện đại.
Tự sự mảnh vỡ thể hiện ở tất cả các phương diện, tất cả các yếu tố cơ bản
của hình thức nghệ thuật trong tác phẩm như: cốt truyện, nhân vật, tâm lí nhân
vật, thời gian, không gian, nghệ thuật trần thuật, ngôn từ… Phá vỡ trật tự
tuyến tính, khơng theo một khn mẫu nào thường thấy trong cách trần thuật
của văn học truyền thống, mà ln ln có sự xáo trộn, đứt gãy, biến động,
phi lí, bất thường. Phát huy tối đa những nỗ lực diễn giải ở người đọc, người
đọc phải tham gia tích cực vào việc sắp xếp, tập hợp, thu gom các phần mảnh
đó lại để có thể hình dung và tiếp nhận câu chuyện.
Từ cái nhìn lí thuyết phê bình văn học: mảnh vỡ là sản phẩm của giải
cấu trúc. Khi cái ngoại biên được xem trọng như cái trung tâm và dần dịch
chuyển vào trung tâm để làm phi trung tâm một sự vật hiện tượng nào đó thì
mảnh vỡ ra đời. Vậy, khi nói đến mảnh vỡ là nói đến hiện tượng phi trung
tâm, giải chính thống,... giải những đại tự sự đã trở nên lỗi thời.
1.1.2. Đặc trưng tự sự mảnh vỡ trong tiểu thuyết hậu hiện đại.
Trong văn học hậu hiện đại, tự sự mảnh vỡ trước hết thể hiện ở kiểu nhân
vật mảnh vỡ. Thay vì con người “khổng lồ” của thời đại Phục hưng, con người
duy lí trong thời kì Khai sáng, con người cô đơn, xa lạ trong cái hiện thực phi lí
song vẫn cố gắng tìm kiếm bản thể hồi hịa, ngun vẹn của mình trong nghệ
thuật hiện đại chủ nghĩa, nghệ thuật hậu hiện đại tìm đến với con người mảnh
18
vỡ, con người bị chấn thương từ bên trong bởi sức ép của thực tại rối ren và sự
hỗn độn bản thể. Kiểu nhân vật này dựa trên nguyên tắc cắt mảnh của trần
thuật hậu hiện đại. Có thể hiểu, nhân vật mảnh vỡ là kiểu nhân vật mà cuộc đời
của họ bị chia cắt thành những mảnh vụn rời rạc, đứt đoạn theo dòng hồi ức, kỷ
niệm, sự kiện xảy ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Kiểu nhân vật này đi
ngược lại với nhân vật tính cách trong văn chương truyền thống, thể hiện sự
đánh mất niềm tin vào các “đại tự sự”. Khắc hoạ nhân vật theo kiểu này, nhà
văn có điều kiện chạm vào chiều sâu và những góc tối khó ngờ của cảm xúc,
tâm hồn cũng như phản ánh và thể hiện được sự phức hợp của bản thể. Tác
phẩm nghệ thuật vì thế trở thành những cấu trúc mở, những văn bản đa bình
diện, nghĩa của nó được tạo sinh khơng ngừng qua các cách đọc. Bạn đọc đã
từng được biết đến các tác giả văn học như: Raymond Carver, Alice Munro,
Toni Morrison, Marcel Proust, André Gide…Và không thể không kể đến
Patrick Modiano.
Các nhà văn có xu hướng kể chuyện đồng dạng, phi trung tâm. Đối với họ
cách tân là một thuộc tính căn bản của nghệ thuật, chứ khơng phải là một mục
tiêu cách mạng nữa. Do đó, chúng ta có thể thấy họ không gây nên phong trào,
không tụ họp thành nhóm hay trường phái, thay vào đó, mỗi người tự chơi một
trị chơi riêng của mình. Họ cũng khơng q khổ cơng tạo nên những kĩ thuật
hồn tồn mới, thay vào đó, họ thoải mái tái sử dụng tất cả những gì sẵn có
trong kho tàng văn chương nhân loại, từ văn phong đến kĩ thuật. Tất nhiên,
cảm thức hậu hiện đại làm công việc tái sử dụng tái sử dụng trở thành công
việc sáng tạo thực sự: họ dùng lại những cái cũ nhưng tước bỏ những cơ sở mỹ
học cũ của chúng (tước bỏ những bóng đen sau lưng chúng) và đặt chúng đứng
gần nhau, hay xen lấn vào nhau, chồng chất lên nhau, như hình ảnh của cái
“hiện thực thậm phồn” đương đại. Chúng ta có thể thấy trong văn chương hậu
hiện đại dày đặc những sự nhái lại các “mảnh” văn thể hay bút pháp cũ, sự ứng
dụng những cấu trúc cũ như những phần của địa hình chuyển động trong tác
19
phẩm, và thậm chí, sự trích lại nguyên bản những câu văn lừng danh ngày xưa
để biến thành những phát ngôn mới hay lắp ghép lẫn lộn vào nhau như những
bức tranh cắt dán nhiều màu sắc. Không những đã thoải mái tái sử dụng những
cái cũ trong văn chương, các nhà văn hậu hiện đại mở luôn tất cả những cánh
cửa khác chung quanh họ để đón nhận tất cả những gì đang có trong thế giới
của “hiện thực thậm phồn”. Mọi thứ trên đời đều có thể trở thành chất liệu cho
tác phẩm: từ những kiến thức phức tạp và chuyên biệt trong mọi ngành hoạt
động của thế giới đa văn hóa, cho đến những gì từng bị rẻ rúng bởi tinh thần
văn hóa cao cấp của văn chương hiện đại
“Tuy nhiên, dù các nhà văn hậu hiện đại khơng cịn tự xem văn chương
của họ thuộc về một nền văn hóa cao cấp, tác phẩm của họ vẫn không thể là
loại văn chương cho đại chúng. Trước hết, họ khơng thể hồn tồn quay lại
thứ ngơn ngữ và cách kể chuyện theo tuyến tính của chủ nghĩa hiện thực, vì
ngơn ngữ và cách kể chuyện đó khơng thể thích nghi với thế giới của “hiện
thực thậm phồn” đương đại... Họ chỉ có thể sử dụng chúng để thực hiện một
mảnh nhỏ nào đó trong tác phẩm” [50,232]
Donald Barthelme từng tuyên bố “truyện ngắn hay hiện nay phải là
truyện được xây dựng từ những mảnh vỡ của hiện thực. Nguyên tắc sáng tạo
của kiểu truyện này là sử dụng những mơtíp đồng dạng xếp cạnh nhau nhưng
khác với những nhà văn hiện đại, người thường hướng đến một chủ đề nhất
định, thì các nhà văn hậu hiện đại lại hướng đến nhiều chủ đề khác nhau”
[50,429]. “Lớp học” là truyện ngắn độc đáo của Barthelme. Học sinh được
dạy thực hành: trồng cây thì cây chết, ni rắn rắn chết, ni cá cá chết, ni
chó chó chết, nhận bảo trợ một em bé Triều Tiên thì em bé này cũng chết và
cuối cùng là các bạn Matthew và Tony chết do bị gỗ công trường đè phải.
Bọn trẻ rất hoang mang và buồn. “Ngày nọ chúng tôi thảo luận lớp. Chúng
hỏi tôi (người kể chuyện và là thầy giáo), chúng đã đi đâu? Đám cây, con kì
nhơng, cá nhiệt đới, cún Edgar, ba và mẹ, Mathew và Tony, họ đã đi đâu? Và