Tải bản đầy đủ (.pdf) (81 trang)

Truyện ngắn nguyễn thị thu huệ từ góc nhìn tính nữ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (989.56 KB, 81 trang )

i

TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH
------------------------------

ĐÀO HỒNG ANH

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
TỪ GĨC NHÌN TÍNH NỮ

KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sƣ phạm Ngữ văn

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG

Phú Thọ, 2019


ii
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp đã đƣợc hồn thành tại khoa KHXH & VHDL
trƣờng Đại học Hùng Vƣơng.
Với tình cảm chân thành, em xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi để em hồn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu,
khoa KHXH & VHDL trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện khóa luận.
Nhân đây, tơi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động
viên, ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt q


trình học tập và hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Việt Trì, tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện

Đào Hồng Anh


iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... i
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 2
3. Mục tiêu khóa luận ........................................................................................ 9
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 9
6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 10
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn..................................................................... 10
8. Cấu trúc nội dung khóa luận ....................................................................... 11
Chƣơng 1. VẤN ĐỀ TÍNH NỮ VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ
THU HUỆ....................................................................................................... 12
1.1. Giới thuyết về tính nữ ............................................................................ 12
1.1.1. Quan niệm về tính nữ xƣa và nay ......................................................... 12
1.1.2. Đặc trƣng, biểu hiện của tính nữ ........................................................... 16
1.2. Tính nữ trong văn học Việt Nam sau 1975 .......................................... 20
1.2.1. Khái lƣợc về tính nữ trong văn học Việt Nam ...................................... 20
1.2.2. Tính nữ nhƣ một thiên hƣớng nổi trội trong văn xuôi Việt Nam sau
năm 1975 ......................................................................................................... 28
1.3. Nguyễn Thị Thu Huệ và vấn đề “tính nữ” .......................................... 30
1.3.1. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ .............................................................. 30

1.3.2. “Tính nữ” nhƣ một đặc trƣng nổi trội trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ ........................................................................................................... 32
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 35
Chƣơng 2. TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU
HUỆ - NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG ........................................ 37
2.1. Cả tin và yếu đuối................................................................................... 37
2.2. Hi sinh và cam chịu ................................................................................ 40
2.3. Khát vọng tình yêu và hạnh phúc ......................................................... 44
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 52


iv
Chƣơng 3. TÍNH NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU
HUỆ - NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ................................. 53
3.1. Biểu tƣợng mang tính nữ....................................................................... 53
3.1.1. Về thuật ngữ “biểu tƣợng” .................................................................... 53
3.1.2. Biểu tƣợng mang tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ..... 55
3.2. Giọng điệu mang tính nữ ....................................................................... 58
3.2.1. Về thuật ngữ “giọng điệu” .................................................................... 58
3.2.2. Giọng điệu mang tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ..... 60
3.3. Ngơn ngữ mang tính nữ ......................................................................... 63
3.3.1. Ngôn ngữ trần thuật dịu dàng đằm thắm............................................... 63
3.3.2. Ngơn ngữ nhân vật vừa kín đáo, vừa suồng sã ..................................... 66
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 71
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 75


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Truyện ngắn là một thể loại tự sự mang những đặc trƣng riêng cả
về nội dung và nghệ thuật so với thể loại khác. Dung lƣợng của nó khơng
nhiều nhƣ tiểu thuyết, chỉ bao gồm vài dòng hay vài chục trang giấy nhƣng vơ
cùng xúc tích và hàm nghĩa. Các yếu tố nhƣ: tình huống, cốt truyện, nhân vật,
giọng điệu,…đƣợc coi là hạt nhân của thể loại này. Trong nền văn học Việt
Nam, thể loại này đã sớm đƣợc hình thành, tuy nhiên sau năm 1975 mới thực
sự phát triển mạnh mẽ và đã tạo dựng đƣợc một vị trí vững chắc bên cạnh các
thể loại khác, tồn tại nhƣ một dòng chảy trong văn học dân tộc. Ở giai đoạn
này, thể loại truyện ngắn cũng đã góp phần làm nên tên tuổi của rất nhiều tác
giả với những tập truyện ngắn hết sức sống động và độc đáo theo những
phong cách riêng của từng nhà văn. Nhìn từ góc độ nền tảng, ta thấy rằng thể
loại truyện ngắn đã tạo nên những sắc diện mới cho văn hóa – văn học giai
đoạn này.
1.2. Văn học Việt Nam nói chung và nền văn xi nói riêng từ sau năm
1975 đến nay đã có rất nhiều khởi sắc. Đặc biệt với thể loại truyên ngắn đã trở
thành yếu tố tinh thần không thể thiếu trong nền văn học đƣơng đại và với độc
giả. Một trong những yếu tố tạo nên sắc màu tƣơi mới của văn xuôi giai đoạn
này phải kể đến sự đóng góp đơng đảo của những cây bút nữ nhƣ: Phan Thị
Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phong Điệp, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị
Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tƣ, … đã mang tới những thành công vang dội với
luồng sinh khí đa màu sắc mới mẻ. Bằng tài năng và sự nỗ lực của mình
những cây bút trẻ đó bên cạnh việc kế thừa tinh hoa của thế hệ đi trƣớc, cùng
với sự sáng tạo học hỏi lẫn nhau họ đã chọn cho mình những phong cách
riêng với lối viết sắc xảo, độc đáo. Trong số những tên tuổi ấy, Nguyễn Thị
Thu Huệ một cây bút nữ với phong cách nhẹ nhàng mà thâm thúy, sắc sảo đã
để lại ít nhiều dấu ấn trong lòng độc giả.
Với tài năng, và kinh nghiệm của hơn hai mƣơi năm cầm bút, chị đã
thu hút nhiều độc giả bởi nhiều tác phẩm giá trị, đƣợc in trong các tập truyện



2
ngắn nhƣ: Cát đợi (1992), Hậu Thiên Đường (1993), 37 truyện ngắn Nguyễn
Thị Thu Huệ (2006) và Thành Phố Đi Vắng (2012) đƣợc sáng tác gần đây
nhất, … Đã giúp Nguyễn Thị Thu Huệ nhận đƣợc nhiều giải thƣởng lớn nhƣ:
Đạt giải nhì cuộc thi truyện ngắn của Hội văn học nghệ thuật Hà Nội (1986);
giải nhì cuộc thi truyện ngắn tác phẩm tuổi xanh báo Tiền Phong (1993); giải
nhất cuộc thi truyện ngắn Nxb Hà Nội (1994), cũng vào năm đó chị đạt giải
nhất cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức và đƣợc
nhận tặng thƣởng Hội nhà văn với tác phẩm Hậu thiên đường. Với tập truyện
ngắn Thành phố đi vắng đã giúp chị nhận giải thƣởng của Hội nhà văn. Và trở
thành một trong những nữ nhà văn xuất sắc nhất sau năm 1975.
1.3. Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa sau thời kì đổi mới ngày càng
gắn bó mật thiết và khăng khít hơn. Song song với sự phát triển của văn học
chính là văn hóa; văn học là một hình thái tinh thần, là tấm gƣơng của văn hóa,
là thƣớc đo những giá trị văn hóa trong xã hội. Trong tác phẩm văn học, ta tìm
thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn. Đồng thời
ta cũng sử dụng văn hóa để soi chiếu vào văn học, qua những tác phẩm phần
nào giúp ta nhìn thấu đƣợc hiện thực của một xã hội đƣơng thời.
Tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ từ góc nhìn văn hóa là
một hƣớng đi khơng mới nhƣng có thể đƣa lại những giá trị từ một góc nhìn
khác cho thế giới nghệ thuật truyện Thu Huệ. Vì vậy, chúng tơi lựa chọn
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - từ góc nhìn tính nữ làm đối tƣợng nghiên
cứu. Mong muốn góp phần chỉ ra những đặc sắc về thành tựu của thể loại
truyện ngắn sau thời kì đổi mới nói chung và đặc sắc về phong cách, vị trí của
Nguyễn Thị Thu Huệ nói riêng trong văn đàn văn học Việt Nam.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu truyện ngắn nữ
Văn xi nói chung, truyện ngắn nói riêng là đối tƣợng của nhiều cơng
trình nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là các nghiên cứu về truyện ngắn nữ

sau 1975. Có thể khẳng định, sau 1975 và đặc biệt sau 1986, mảng văn học nữ
giới “mang đến một sức sống mới, với những cảm xúc mới mẻ và sự mẫn cảm


3
nữ giới” [1]. Các tác phẩm của các tác giả nữ nhƣ Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân
Hà, Y Ban, Phạm Thị Hồi... đã đƣợc tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và
đƣợc khẳng định giá trị.
Trong các nghiên cứu về các tác giả nữ và tác phẩm sau 1975 không
thể không kể đến những nghiên cứu về Nguyễn Thị Thu Huệ. Tuy nhiên,
nghiên cứu truyện ngắn của các nhà văn nữ đã có từ lâu bởi vậy trƣớc khi nói
tới những nghiên cứu về Nguyễn Thị Thu Huệ và tác phẩm chúng tơi sẽ trình
bày một số nghiên cứu về nhà văn nữ nói chung.
Trƣớc 1975 các nghiên cứu về nhà văn nữ đã xuất hiện dƣới dạng các
bài viết nhỏ lẻ. Càng về sau các nghiên cứu về nhà văn nữ càng tập trung hơn.
Trước hết đối với các bài nghiên cứu.
Trên tạp chí Văn học số 9 năm 1967 có bài nghiên cứu về truyện ngắn
của nhà văn Vũ Thị Thƣờng với nhan đề Nhân vật nữ nông thôn trong truyện
ngắn Vũ Thị Thường của Lê Đức Hạnh. Vẫn trên tạp chí này, Lê Đức Hạnh
cịn có bài nghiên cứu Nhân vật phụ nữ ba đảm đang qua sáng tác của một số
nhà văn nữ.
Nhà văn nữ và các sáng tác của họ đƣợc chú ý bởi đã đem đến sự khác
biệt so với các sáng tác của nhà văn nam. Về điểm này, nhà nghiên cứu văn
học Phạm Xuân Nguyên có đƣa ra nhận xét đội ngũ các nhà văn nữ hiện nay
khá đa dạng, mỗi người có một gam riêng, chứ khơng thuần bản năng như có
người nghĩ. Cái gam riêng mà Phạm Xuân Ngun nói đến có thể tìm thấy ở
các tác giả nữ khác nhau nhƣ Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh...
Sau năm 1975, nghiên cứu về nhà văn nữ và các sáng tác của họ trở nên
phong phú hơn. Các nghiên cứu này không chỉ xuất hiện trên các tạp chí
chun ngành mà trên báo chí nói chung. Báo nơng nghiệp Việt Nam, số 138,

2001 đăng bài của Văn Chinh giới thiệu về sáng tác của các nhà văn nữ Việt
Nam với nhan đề “Văn nữ thế kỷ XX - một tuyển tập đáng quý”. Mặc dù mục
đích của bài viết chủ yếu là giới thiệu về tác giả tác phẩm tiêu biểu, nhƣng tác
giả cũng đã khái quát một số đặc điểm của các sáng tác của các nhà văn nữ
nhƣ “nữ tính được miêu tả thật hơn, sâu hơn”, “giữa cái tốt, cái xấu trả ra


4
rộng hơn và lắm cung bậc hơn”, “khi các nhà văn nam đang cảm thấy mệt
mỏi bế tắc thì sự xuất hiện của các nhà văn nữ đã mang đến cho văn xi sự
tươi tắn, trẻ trung có vẻ như nữ tính của họ phát triển và được nhìn dưới ánh
sáng của trí tuệ thời đại”[42].
Trên báo văn nghệ số 10, năm 2017 có đăng bài “Văn học dân tộc thiểu
số ngày càng thêm nhiều cây bút nữ” của tác giả Dƣơng Thuấn. Trong bài
viết, Dƣơng Thuấn đã nêu lên các cây bút nữ là nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên
cứu văn học của các dân tộc thiểu số. Trong số các cây bút đƣợc nhắc đến có
những cái tên đƣợc nhiều ngƣời biết nhƣ Vi Thùy Linh (ngƣời dân tộc Tày),
Dƣ Thị Hoàn (ngƣời dân tộc Hoa). Dƣơng Thuấn đã khẳng định những đóng
góp của các cây bút nữ này.
Bên cạnh các bài viết về nhà văn nữ thì cịn có các nghiên cứu tập
trung, chun sâu. Qua khảo sát, tìm tịi chúng tơi nhận thấy số nghiên cứu về
các nhà văn nữ rất phong phú. Tôi xin điểm qua một số nghiên cứu về các nhà
văn nữ viết truyện ngắn nữ. Chúng tôi cũng tác riêng những nghiên cứu mà
trong đó có nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.
Luận văn thạc sĩ với tên đề tài “Khảo sát truyện ngắn của các nhà văn
nữ Việt Nam từ 1986 đến 1996” của Hồ Thị Liễu bảo vệ năm 2002 tại trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã mang đến một cái nhìn bao quát, hệ
thống về truyện ngắn nữ trong khoảng mƣời năm đầu từ sau đổi mới năm
1986. Trong luận văn của mình, Hồ Thị Liễu đã bƣớc đầu đƣa ra những nhận
định về đặc điểm nội dung và nghệ thuật và những đóng góp của các cây bút

nữ. Về phƣơng diện nội dung, tác giả luận văn đã khảo sát các truyện ngắn
của các nhà văn nữ theo các đề tài nhƣ: chiến tranh, đời sống thế sự, khát
vọng tình yêu, mong muốn hạnh phúc. Về phƣơng diện nghệ thuật biểu hiện,
luận văn làm rõ các đặc điểm về nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ. Mặc dù đƣa ra
đƣợc những nhận định có sức thuyết phục nhƣng luận văn mới chỉ khảo sát
các sáng tác trong khoảng mƣời năm từ 1986 đến 1996, nghĩa là đến nay dã
xuất khoảng trống nghiên cứu. Từ năm 1996 đến nay có nhiều tên tuổi nhà


5
văn nữ xuất hiện trên văn đàn nhƣ Đoàn Minh Phƣơng, Phạm Hải Anh, Võ
Thị Xuân Hà, Võ Thị Hảo, Thùy Dƣơng, Dạ Ngân, Thuận...
Bên cạnh luận văn của Hồ Thị Liễu, cịn có luận văn thạc sỹ “Ngƣời
phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số nhà văn nữ” của Trần Thúy An bảo
vệ tại Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007. Tác giả luận văn
đã khảo sát truyện ngắn của một số cây bút nữ nhƣ: Y Ban, Võ Thị Xuân Hà,
Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan, Trần Thùy Mai,
Bích Ngân, Dạ Ngân, Thuận... Luận văn đã mang đến một cách đánh giá về
cái nhìn của các nhà văn nữ, nhƣ một chủ thể sáng tạo, về ngƣời phụ nữ hiện
đại. Theo tác giả thì các nhà văn nữ đều ý thức đƣợc trách nhiệm của họ khi
viết về ngƣời phụ nữ. Luận văn đã chỉ ra chân dung ngƣời phụ nữ đƣợc khắc
họa trong truyện ngắn của các tác giả nữ. Trong sáng tác của các nhà văn nữ
ngƣời phụ nữ đƣợc đặt vào trong các mối quan hệ phức tạp nhƣ quan hệ với
gia đình, quan hệ với xã hội, quan hệ với bản thân. Có thể nói, qua góc nhìn
về ngƣời phụ nữ trong xã hội hiện đại có thể thấy đƣợc một phần của tính nữ
trong tác phẩm của các nhà văn.
Các bài báo, các nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn của các nhà văn
nữ đã tiếp cận đối tƣợng này từ nhiều hƣớng khác nhau. Kế thừa những thành
quả của những bài viết, nghiên cứu đó và cố gắng xác lập một hƣớng đi riêng
chúng tơi đi sâu nghiên cứu tính nữ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn

Thị Thu Huệ.
2.2. Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút tiêu biểu cho văn xuôi nữ sau
1975. Chị vốn là một nhà văn đƣợc nghiên cứu nhiều nên chúng tôi xin điểm
qua một số nghiên cứu về nhà văn này bao gồm các bài báo và các cơng trình
nghiên cứu.
Trƣớc hết có thể kể đến các bài nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ đƣợc đăng trên báo và in trên các tạp chí nhƣ: Nguyễn Đăng Điệp
(2008), Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam
đương đại.www, Tạp chí Văn học, (5); Vƣơng trí Nhàn, Phụ nữ và sáng tác


6
văn chương, Tạp chí văn học số 6 (1999); Hồng Thị Hồng Hà (2013),
Truyện ngắn nữ và xu hướng tự nghiệm, Tạp chí Văn hóa – Văn nghệ Cơng
an, (10); Vũ Đức Tân (2003), “Văn xuôi của một số cây bút nữ”, Báo ngƣời
Hà Nội, (10); Nguyễn Thị Thành Thắng (2004), Phác thảo vài nét về diện
mạo truyện ngắn đương đại và sự góp mặt của một số cây bút nữ, Tạp chí
Văn học Tp Hồ Chí Minh; Bích Thu (2001), Văn xi phái đẹp, Tạp chí sơng
Hƣơng, (145), tháng 3,…
Trong bài nghiên cứu có nhan đề “Ngơn ngữ độc thoại trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” tác giả Lộc Hồng Lê Na đã khẳng định qua
ngơn ngữ độc thoại trong tập 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ có thể
nhận thấy một lối tƣ duy mới, một cách cảm, cách nghĩ mới mang đậm màu
sắc nữ giới. Lộc Hoàng Lê Na viết: “Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
sử dụng ngôn ngữ độc thoại đời thường một cách phổ biến. Việc lựa chọn
ngôn ngữ này xuất phát từ tư duy hướng vào đời tư, bám sát hiện thực đời
sống. Nguyễn Thị Thu Huệ đã đưa vào tác phẩm của mình một tiếng nói của
đời sống thường nhật, dung nạp nhiều khẩu ngữ tự nhiên, làm độc giả khơng
mấy khó khăn khi tiếp cận tác phẩm. Ngôn ngữ này dường như thô nhám, đôi

khi suồng sã, bỗ bã như “mặt mũi những thằng đàn ơng suốt đời bị mất trộm”
(Tình yêu ơi ở đâu); hoặc những câu nói từ thành ngữ: “nó ăn ốc, mình đổ
vỏ. Ở đời chuyện ấy thường lắm” (Nước mắt đàn ơng). Cũng có khi thứ ngôn
ngữ này được diễn tả theo một chiều hướng khác bằng lối nói dân gian “lọt
sàng thì xuống đất rồi chơn ln, khơng có nia nào cả” (Thời gian của mỗi
người). Lối nói suồng sã trong truyện ngắn của chị thể hiện rõ trong những
dòng độc thoại nội tâm suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và con người, thể
hiện cách nghĩ của nhân vật về thời cuộc, về chính mình. Những dịng độc
thoại nội tâm bằng lối nói dân gian khi suồng sã, có lúc bỗ bã đến khơng ngờ
làm cho các nhân vật của chị như gai góc hơn, thực tế hơn, đôi khi là thực
dụng về đời với một tâm trạng buồn xa xơi và chua xót” [23]. Tiếp cận truyện
ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ từ phƣơng diện ngôn từ là một hƣớng đi độc
đáo. Tác giả bài viết đã xem ngôn ngữ trong truyện ngắn là là sự bám sát hiện


7
thực đời sống. Tuy nhiên, theo chúng tôi, ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong văn
bản ngoài việc phản ánh hiện thực thì cịn có thể tạo nên tính nữ.
Thứ hai là các nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn của Nguyễn Thị
Thu Huệ.
Có thể kể đến các nghiên cứu của Lƣu Thị Mai Hoa, Nguyễn Thị Thêu,
Vũ Thị Thanh Tâm, Nguyễn Thị Hoa, Vũ Thị Tố Nga, Nguyễn Thị Thu
Hằng, Bùi Thị Duyên, Nguyễn Thị Thủy...
Trong luận án “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ”, tác giả Lƣu Thị
Mai Hoa đã nghiên cứu sự chuyển đổi tƣ duy nghệ thuật của văn học sau
1975 để làm cơ sở phân tích truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trên hai
phƣơng diện nội dung và phƣơng thức thể hiện.
Nguyễn Thị Thêu trong luận án “Cảm hứng thế sự đời tƣ trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” đã nêu cơ sở hình thành cảm hứng thế sự đời tƣ
trong các truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ. Sau đó, tác giả luận án phân tích

cảm hứng thế sự đời tƣ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ nhìn từ
phƣơng diện nội dung và phƣơng diện nghệ thuật để khẳng định sự đổi mới
của văn học Việt Nam sau 1975 và q trình vận động của nó.
Cũng nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ nhƣng Vũ Thị
Thanh Tâm lại quan tâm đến các nhân vật trong truyện ngắn. Luận án “Thế
giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” đã phân loại các nhân
vật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ theo đặc tính nhƣ nhân vật
toan tính ti tiện, nhân vật khát vọng, nhân vật cô đơn, nhân vật tự ý thức. Tác
giả luận văn cũng làm rõ nghệ thuật xây dựng nhân vật nhƣ: sử dụng tình
huống có tính chất tâm lý, sử dụng ngôn ngữ độc thoại để biểu đạt nội tâm
nhân vật.
Tác giả Vũ Tố Nga trong luận án “Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời
trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ: nhìn từ phƣơng diện thể loại” đã
làm rõ về con ngƣời và sự thể hiện con ngƣời trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ.


8
Trong các cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,
có thể thấy nghiên cứu “Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ” của Nguyễn Thị Thủy và luận văn “Nhân vật nữ trong truyện ngắn
của các nhà văn nữ Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ” của Bùi Thị
Duyên khá gần với hƣớng nghiên cứu của chúng tôi.
Viết về thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Thị Thủy tiến hành phân loại theo loại hình đối với các nhân vật.
Theo tác giả luận văn, trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ có các loại
hình nhân vật nữ: nhân vật bi kịch, nhân vật kiếm tìm hạnh phúc, nhân vật tự
vấn. Cũng theo tác giả luận văn, nhân vật nữ đƣợc khắc họa thông qua miêu tả
tâm lý, sử dụng giọng điệu và xây dựng không gian và thời gian.
Nguyễn Thị Thu Huệ không chỉ đƣợc nghiên cứu độc lập mà còn đƣợc

nghiên cứu chung với các nhà văn nữ khác nhƣ Dạ Ngân, Y Ban...
Ở luận văn “Nhân vật nữ trong truyện ngắn của các nhà văn nữ đƣơng
đại Việt Nam (qua sáng tác của Dạ Ngân, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Nguyễn Ngọc Tƣ)”, Bùi Thị Duyên cho rằng Nguyễn Thị Thu Huệ và nhiều
nhà văn nữ khác đã động chạm đến nhiều cấm kị nhƣ một sự “cởi trói” cho
phái nữ. Truyện ngắn của họ vừa có dấu ấn của thời đại vừa bộc lộ những
khao khát của ngƣời trẻ tuổi cô đơn, khao khát đƣợc sống và đƣợc yêu, đƣợc
“xiên ngang” “đâm toạc” những khn khổ ràng buộc để là chính mình. Tác
giả luận văn cũng cho rằng các nhà văn nữ không chỉ dừng lại với việc miêu
tả tâm lý, xây dựng cốt truyện, tình huống truyện, tạo điểm nhìn trần thuật mà
cịn tập trung khắc họa ngơn ngữ, giọng điệu nhân vật, tạo lập các hình ảnh
biểu tƣợng có tính nghệ thuật cao nhằm làm nổi bật bản chất bên trong của
nhân vật, khiến nhân vật trở nên có chiều sâu, chân thực, độc đáo và gây đƣợc
ấn tƣợng mạnh với ngƣời đọc.
Trở lại với luận văn “Ngƣời phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một số
nhà văn nữ” của Trần Thúy An mà chúng tơi đã nói đến ở trên; tác giả luận
văn đã khẳng định quan niệm của các nhà văn - trong đó có Nguyễn Thị Thu
Huệ - về ngƣời phụ nữ hiện đại. Trần Thúy An khẳng định: ở một số phƣơng


9
diện, quan niệm của các nhà văn nữ có thể khác nhau nhƣng điểm chung là
đều đánh giá cao khả năng của ngƣời phụ nữ; xuất phát từ giới nữ, các nhà
văn nhìn nhận hạnh phúc của ngƣời phụ nữ thƣờng gắn liền với sự hy sinh;
các nhà văn nữ đều xây dựng những ngƣời phụ nữ Việt Nam có nhiều phẩm
chất tốt đẹp nhƣ: chăm chỉ, cần kiệm, thông minh, năng động... Theo chúng
tôi, những điểm chung này của các nhà văn nữ khi xây dựng nhân vật ngƣời
phụ nữ đã tạo nên tính nữ trong các tác phẩm của họ.
Trên đây là một số cơng trình nghiên cứu về Truyện ngắn của Nguyễn
Thị Thu Huệ đã đƣợc các tác giả có vị trí trong giới văn học và nghiên cứu

phê bình đánh giá. Tuy nhiên các khía cạnh nghiên cứu đó vẫn cịn khiêm tốn
và cần đƣợc khai thác ở nhiều khía cạnh mới lạ. Những cơng trình nghiên cứu
đó sẽ là cơ sở mang tính chất định hƣớng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu
về vấn đề “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - từ góc nhìn tính nữ” - một
nội dung khá mới mẻ.
3. Mục tiêu khóa luận
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu tính nữ trong truyện
ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ từ phƣơng diện nội dung và nghệ thuật. Từ đó
khẳng định vị trí của tác giả trên văn đàn Việt Nam thời kì đổi mới.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận đi sâu vào tìm hiểu các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận về tính nữ
- Tìm hiểu biểu hiện tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ.
- Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu
dƣới đây:
- Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa học
- Phƣơng pháp tiếp cận tác phẩm từ đặc trƣng thể loại
- Phƣơng pháp so sánh – đối chiếu


10
- Phƣơng pháp phối hợp kĩ thuật phân tích, tổng hợp
6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng trung tâm của khóa luận là tính nữ trong truyện ngắn
Nguyễn Thị Thu Huệ.
- Khi nghiên cứu về “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - từ góc nhìn
tính nữ”, chúng tôi chỉ nghiên cứu dựa trên một tập truyện ngắn nhƣng hết

sức tiêu biểu. Ở tập truyện đó tập trung rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, điển hình
của Nguyễn Thị Thu Huệ . Đó là tập truyện 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu
Huệ (2006, NXB Văn học).
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
7.1. Nghiên cứu về Tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đề
tài góp phần làm sáng tỏ thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn nữ
này. Bên cạnh đó, đề tài chỉ rõ thêm một phƣơng diện trong những thành tựu
của văn học thời kì đổi mới, giúp độc giả có cái nhìn bao quát đa chiều khi
tiếp cận với các truyện ngắn sau 1975.
Vận dụng những nghiên cứu của khóa luận, sinh viên ngành văn có
thêm cách nghiên cứu bài học khi tìm hiểu về tác giả, tác phẩm văn xi
sau 1975.
7.2. Nghiên cứu về tính nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ là
hƣớng nghiên cứu khả quan. Theo hƣớng này, chúng tôi tiếp cận từ hƣớng
mới đối với một đối tƣợng của nhiều cơng trình nghiên cứu. Với hƣớng tiếp
cận thế giới nghệ thuật trong văn bản từ góc nhìn tính nữ chúng tơi muốn
khẳng định cái đã kiến tạo nên thế giới nghệ thuật ấy-tính nữ-và muốn làm
sáng tỏ thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn này. Bên cạnh đó, từ
góc nhìn tính nữ đề tài của chúng tôi chỉ rõ thêm một phƣơng diện trong
những thành tựu của văn học thời kì đổi mới, giúp độc giả có cái nhìn bao
qt đa chiều khi tiếp cận với các truyện ngắn sau 1975.
7.3. Chúng tôi sẽ sử dụng những kinh nghiệm có đƣợc khi nghiên cứu
đối tƣợng này để tiến hành nghiên cứu những đối tƣợng tiếp theo. Chúng tôi
cũng mong muốn trên cơ sở những gì thu đƣợc từ quá trình nghiên cứu về


11
tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ để áp dụng vào việc nghiên
cứu, giảng dạy các tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng.
8. Cấu trúc nội dung khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của đề
tài chúng tôi dự kiến sẽ triển khai qua 3 chƣơng:
Chương 1: Vấn đề tính nữ và truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Chương 2: Tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - nhìn từ
phương diện nội dung
Chương 3: Tính nữ trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ - nhìn từ
phương diện nghệ thuật


12
Chƣơng 1
VẤN ĐỀ TÍNH NỮ VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
1.1. Giới thuyết về tính nữ
Tính nữ là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến từ xƣa đến nay tuy nhiên ý
nghĩa của thuật ngữ này với các thuật ngữ khác nhƣ nữ giới và đặc biệt là nữ
tính chƣa có phân định rõ rệt. Từ điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ, Nxb Đà
Nẵng, 2003) đƣa ra định nghĩa về nữ tính mà khơng đƣa ra định nghĩa về tính
nữ. Theo cuốn từ điển này, nữ tính là “giới tính nữ” (744). Với ý nghĩa đó, nữ
tính tƣơng đƣơng về nghĩa với từ nữ giới còn nữ giới đƣợc định nghĩa trong
cùng cuốn từ điển là “những người đàn bà con gái” (744). Trên thế giới, từ
năm 1970 đến 1973, các nghiên cứu nữ quyền đƣợc hệ thống hóa với tốc độ
nhanh chóng. Từ một vài khóa học đầu tiên trong hai năm 1969-1970 đã tăng
lên thành 4.500 khóa học trong hai năm 1972 - 1973. Những ngƣời tiến hành
các khóa học này chủ yếu là các trợ giảng hay những trợ lý giáo sƣ. Họ vốn
có vị thế thấp hơn các giảng viên chính và những khóa học mà họ tiến hành
có thể xem là những dự án liều lĩnh bởi nó khơng hề đƣợc những giảng viên
chính chú ý. Họ“chưa từng đặt ra được một cái tên riêng cho những dự án
liều lĩnh này-nó có nhiều cách gọi khác nhau: Nghiên cứu tính nữ/ phụ nữ hay
Nghiên cứu nữ quyền (female, women’s, feminist studies); và song song với
tình trạng ấy, họ cũng khơng có được một sự mơ tả chính xác đủ để thuyết

phục các đồng nghiệp rằng: cái mà họ đang theo đuổi có thể trở thành một
lĩnh vực riêng biệt, cần được tách riêng xem xét trong nghiên cứu học thuật”
[22, 34]. Nhƣ vậy, thực tế giữa các thuật ngữ nữ tính, tính nữ, giới nữ chƣa
có sự phân định ý nghĩa rõ ràng, điều đó đồng nghĩa với việc ý nghĩa của một
thuật ngữ cũng chƣa rõ ràng. Từ thực tế một thuật ngữ chƣa có sự rõ ràng về ý
nghĩa nhƣ vậy, trong phần này chúng tôi cố gắng xác lập quan niệm về tính
nữ một cách chung nhất trên cơ sở những quan niệm về tính nữ xƣa và nay.
1.1.1. Quan niệm về tính nữ xưa và nay
Tính nữ là quan niệm xuất hiện từ xa xƣa. Ngay từ khi xuất hiện hình
tƣợng nữ trong văn học, nghệ thuật... thì có nghĩa đã xuất hiện quan niệm về


13
tính nữ, nữ tính và giới nữ. Các hình tƣợng nữ xuất hiện cổ xƣa nhất có thể kể
đến nhƣ các hình vẽ trong hang đá tiền sử, hình vẽ trong kim tự tháp Ai Cập
hay hình tƣợng nhân vật Eva trong kinh thánh, hình tƣợng nhân vật Phật bà
trong kinh phật... Qua các hình tƣợng đó có thể thấy sự xuất hiện đồng thời
của tính nữ, nữ tính và phái nữ. Cũng qua chính các hình tƣợng này, có thể
khẳng định tính nữ khác biệt trong mỗi cộng đồng văn hóa và trong những
thời đại khác nhau.
Trên thế giới, văn minh phƣơng Đơng và văn minh phƣơng Tây có sự
khác biệt từ xƣa đến nay. Bởi vậy, để làm rõ quan niệm về tính nữ từ xƣa đến
nay, chúng tơi sẽ đặt trong hai cộng đồng văn hóa phƣơng đơng và phƣơng
tây nhằm tìm ra những điểm chung nhất.
Ở thời điểm ra đời của những hình tƣợng nữ đầu tiên, mặc dù đã xuất
hiện đồng thời quan niệm về tính nữ, nữ tính và giới nữ nhƣng chƣa có sự
phân định rõ ràng - sự phân định rõ ràng các phạm trù chỉ có đƣợc khi con
ngƣời đạt đến một trình độ tƣ duy cao hơn. Do vậy, tính nữ cổ xƣa đƣợc thể
hiện cụ thể trong các hình tƣợng hơn là một sự diễn giải.
Ở phƣơng Đông và cụ thể ở Việt Nam, quan niệm về tính nữ xƣa có thể

đƣợc tìm thấy trong văn học qua các văn bản văn học dân gian và cả trong các
văn bản triết học. Hầu nhƣ ở thể loại nào cũng có thể tìm thấy sự xuất hiện
của hình tƣợng nhân vật nữ nghĩa là có sự xuất hiện của quan niệm tính nữ.
Chúng tơi sẽ nói về tính nữ trong văn học dân gian trong mục 1.2.1. Khái lược
về tính nữ trong văn học Việt Nam.
Tƣơng tự nhƣ ở phƣơng Đơng, ở phƣơng Tây tính nữ cũng có thể tìm
thấy trong văn học qua các văn bản văn học dân gian và trong triết học.
Bởi sự xuất hiện sớm của tính nữ nên nghiên cứu về tính nữ cần xuất
phát từ những điểm khởi đầu của nó. Trong các nghiên cứu về tính nữ, khơng
thể khơng kể đến nghiên cứu của Simon de Beauvoir (1908-1986) - nhà văn,
nhà triết học hiện sinh, nhà lý thuyết nữ quyền.
Nguyễn Tấn Hùng trong bài viết Tư tưởng của Simone de Beauvoir về
vấn đề nữ quyền trong Giới tính thứ hai đã nêu ra quan niệm của Beauvoir về


14
féminité: “Khái niệm “féminité (tiếng Anh: “feminitnity”, tạm dịch “nữ
tính”) được Beauvoir dùng với nghĩa là tập hợp những đặc trưng về xã hội
của nữ giới (không phải là những đặc trưng sinh tâm lý). Theo Bà, những đặc
trưng xã hội này khơng phải là cái vốn có của phụ nữ, mà chỉ là tư tưởng của
nam giới gán cho phụ nữ nhằm mục đích chứng minh rằng phụ nữ khơng có
khả năng bình đẳng với nam giới” [36, 13]. Nói một cách ngắn gọn, quan
niệm của Beauvoir về féminité là những đặc trƣng xã hội của nữ giới đƣợc
nam giới gán cho. Đƣa ra quan niệm này, Beauvoir đặt ra mối liên hệ giữa
féminité và nữ quyền. Hơn nữa, Beauvoir đã bao quát đƣợc cả quan niệm của
phƣơng Đông và phƣơng Tây về féminité” “Là phụ nữ thì phải tỏ ra mình là
người yếu đuối, vơ tích sự, thụ động, ngoan ngỗn”, theo Beauvoir, [féminité]
khơng phải do yếu tố sinh học, tâm lý hay kinh tế, mà do toàn bộ nền văn
minh tạo ra. Nếu chúng ta so sánh với phương Đơng thì “tam tịng, tứ đức”
cũng là những đặc trưng nói lên sự phụ thuộc và yếu kém của phụ nữ như

quan niệm phương Tây. Beauvoir nói: “Như vậy, tính thụ động vốn được cho
là đặc trưng cơ bản của người nữ” là một nét đã phát triển từ những năm đầu
cuộc đời. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng nó có một nguồn gốc sinh
học; thật ra nó chỉ là số phận được áp đặt bởi giáo dục và xã hội” [36, 13].
Trong bài viết Phê bình nữ quyền, nhà nghiên cứu Raman Selden đã khẳng
định nhận định về féminité với ý nghĩa vị thế kẻ dƣới, phụ thuộc trong nghiên
cứu Giới tính thứ hai/ le Deuxième của Simone de Beauvoir: “Đàn bà bị siết
chặt vào một mối quan hệ chênh lệch với đàn ông. Đàn ông là kẻ Một, đàn bà
là kẻ Khác. Sự thống trị của đàn ơng củng cố một khí hậu ý hệ về sự phục
tùng: “những nhà lập pháp, giáo sĩ, triết gia, nhà văn và nhà khoa học đã
phấn đấu để chỉ ra rằng vị thế phụ thuộc của đàn bà thì được muốn từ trên
trời và thuận lợi trên trái đất”. De Beauvoir dùng tài liệu minh chứng lập
luận của mình với sự uyên bác. Đàn bà bị tạo thành những kẻ dưới và sự
áp bức được phức hợp bởi niềm tin của đàn ông rằng đàn bà là những
kẻ-dưới-bởi-bản-tính” [36, 48]. Giáo dục tạo nên féminité mà Beauvoir


15
nói đến bao gồm cả giáo dục xã hội và giáo dục gia đình - sự giáo dục của
cha mẹ, anh chị.
Theo Simon de Beauvoir, chúng tôi quan niệm féminité là những đặc
trƣng xã hội của ngƣời thuộc giới tính nữ. Những đặc trƣng này tiềm ẩn trong
tư duy của họ nhờ giáo dục và xã hội, theo chúng tôi, nó trở thành một diễn
ngơn cho mọi phát ngơn của họ và rộng hơn, cho mọi hành vi trong đời sống
của họ. Quan điểm của chúng tôi xuất phát từ nhận định của Raman Selden
rằng “dường như có năm tiêu điểm chính dính líu trong hầu hết những thảo
luận về sự khác biệt giới tính: sinh học, kinh nghiệm, diễn ngôn, vô thức,
những điều kiện kinh tế và xã hội”. Cụ thể hơn nữa, Raman Selden khẳng
định “tiêu điểm thứ ba, diễn ngôn, nhận được nhiều sự chú ý bởi những nhà
nữ quyền. Cuốn Ngôn ngữ do đàn ông tạo ra/ Man-Made Language của Dale

Spender, như cái nhan đề gợi ý, cứu xét rằng phụ nữ bị đàn áp một cách nền
tảng bởi một ngôn ngữ bị nam giới thống trị. Nếu chúng ta chấp nhận lập
luận của Foucault rằng cái gì là “chân thực” phụ thuộc vào người kiểm
sốt diễn ngơn, vậy thì hợp lý để tin rằng sự ngự trị của đàn ông về diễn
ngôn đã đánh bẫy đàn bà bên trong một “chân lí” giống đực. Từ quan
điểm này thì tạo nghĩa cho những nhà văn nữ tranh chấp với sự kiểm sốt
ngơn ngữ của đàn ơng hơn là đơn thuần rút vào một cấm khu của diễn
ngơn phái nữ” [36, 50].
Beauvoir xem tính nữ thuộc phạm trù ý thức - bởi thuộc ý thức nên nó
có thể đƣợc giáo dục. Tuy nhiên, con ngƣời không chỉ có thế giới ý thức mà
cịn có thế giới vơ thức. Và bởi vậy, trong vô thức, giới nữ cũng có tính nữ.
Nếu trong ý thức, tính nữ mang tính xã hội - vì nó là cái đƣợc giáo dục; thì
trong vơ thức, tính nữ là sinh ra cùng giới tính - và nó là cái tự nhiên.
Từ féminité đƣợc Từ điển tâm lý lâm sàng Pháp-Anh-Việt định nghĩa là
“nữ tính” [22, 92]. Tuy nhiên, chúng tơi sử dụng cách dịch “tính nữ” cho
thuật ngữ féminité. Chúng tơi dùng tính nữ để chỉ những đặc trƣng xã hội của
ngƣời thuộc giới nữ và những đặc trƣng tâm sinh lý của họ cùng tồn tại trừu
tƣợng - tồn tại trong ý thức và trong vơ thức; dùng nữ tính để chỉ sự biểu hiện


16
cụ thể của tính nữ ra bên ngồi - tồn tại cụ thể. Chúng tôi sử dụng giới nữ để
chỉ đặc trƣng mang tính sinh học.
Một con ngƣời sinh ra với các đặc điểm cơ thể của giới nữ sẽ đƣợc giáo
dục tính nữ và từ đó có những biểu hiện nữ tính. Bởi mối quan hệ giữa tính
nữ, nữ tính và giới nữ nên khi nói về tính nữ khơng thể khơng nói về nữ tính
và giới nữ.
Từ những quan niệm trên có thể thấy rằng quan niệm về tính nữ xƣa và
nay đã có sự khác biệt hồn tồn. Tùy thuộc vào từng thời đại và nền văn
hóa mà tính nữ mang những đặc trƣng riêng biệt. Tính nữ xƣa đƣợc nhấn

mạnh hai chữ thụ động, cam chịu. Họ bị áp đặt bởi sự giáo dục của xã hội và
khơng có quyền bình đẳng nhƣ nam giới. Nhƣng cho tới ngày nay, quan
niệm về tính nữ đã có sự đổi khác. Trong quan niệm bình đẳng giới, giới nữ
đƣợc tơn trọng và đƣợc phép thể hiện mình trong xã hội. Ngƣời phụ nữ mặc
sức vẫy vùng, thể hiện khát vọng, ƣớc mơ của bản thân và khơng cịn bị gị
ép bởi bất kì một khn mẫu cổ hủ nào. Đơi khi, tính nữ hiện đại cịn xuất
hiện yếu tố “nổi loạn”, khi ý thức về cái tôi phát triển vƣợt trội, thể hiện
khẳng định cái tôi bản thể.
Từ quá trình nghiên cứu tìm hiểu, kế thừa và phát triển kết quả nghiên
cứu của những ngƣời đi trƣớc, chúng tơi xin đƣa ra quan điểm về khái niệm
tính nữ nhƣ sau: Tính nữ là những đặc trưng xã hội của những người thuộc
giới nữ và là những đặc trưng thuộc về bản chất sinh học của người thuộc
giới nữ.
1.1.2. Đặc trưng, biểu hiện của tính nữ
Với quan niệm tính nữ là những đặc trƣng xã hội của ngƣời thuộc giới
nữ và những đặc trƣng tâm lý cùng tồn tại trừu tƣợng - tồn tại trong tƣ duy ý
thức và trong vơ thức; nữ tính là sự biểu hiện cụ thể của tính nữ ra bên ngồitồn tại cụ thể thì chỉ ra những đặc trƣng của tính nữ, là chỉ ra cụ thể những đặc
trƣng xã hội, tâm lý của giới nữ tồn tại nhƣ thế nào trong thực tế.
Thứ nhất, đặc trƣng của tính nữ. Theo Simon de Beauvoir thì tính nữ là
sự yếu đuối, vơ tích sự, thụ động, ngoan ngoãn. Đây là điểm chung trong quan


17
niệm có tính xã hội về ngƣời thuộc giới nữ ở cả phƣơng Đông và phƣơng Tây
trƣớc đây. Quan niệm này đã ảnh hƣởng đến số phận của giới nữ từ xƣa đến
nay trong hành trình của lồi ngƣời. Bên cạnh quan niệm của Beauvoir về tính
nữ nhƣ một đặc trƣng xã hội, chúng tơi cho rằng tính nữ cịn là một đặc trƣng
tâm lý. Ngƣời phụ nữ sinh ra với thiên chức làm mẹ nên cùng với đó sẽ là tâm
lý yêu thƣơng che chở.
Thứ hai biểu hiện của tính nữ: nữ tính. Nữ tính rất phong phú và đa

dạng trong bản thân một nền văn hóa và trong nhiều nền văn hóa khác nhau.
Nữ tính là biểu hiện ra bên ngoài của sự tồn tại trừu tƣợng của cả đặc trƣng xã
hội và đặc trƣng tâm lý. Nữ tính với bản chất nhƣ vậy có thể thấy trong ứng
xử của giới nữ với những ngƣời xung quanh, với bản thân và thậm chí với
mơi trƣờng tự nhiên. Nhƣ vậy, nữ tính thuộc về phạm trù văn hóa.
Nữ tính trƣớc hết là biểu hiện trong ứng xử của giới nữ xuất phát từ sự
yếu đuối, thụ động, ngoan ngoãn. Trong Văn hóa ứng xử của các dân tộc Việt
Nam, Phạm Vũ Dũng đã phân tích cách ứng xử của ngƣời phụ nữ trong Việt
Nam đối với tự nhiên, xã hội, gia đình, bản thân.
Ngƣời phụ nữ với sự yếu đuối về thể trạng và vị thế thấp trong xã hội
trong đời sống và đặc biệt trong lao động nên trong quan hệ với tự nhiên, họ
ln mong muốn có sự trợ giúp của lực lƣợng siêu nhiên, đó là lịng tin vào
thế giới để tìm sự cân bằng trong cuộc sống, sau đó là tìm sự cơng bằng trong
xã hội: “Phần lớn phụ nữ trong xã hội nông nghiệp là những nông dân,
những người lao động, nên những ứng xử với tự nhiên (thiên nhiên) phần lớn
cũng được bộc lộ qua sinh hoạt lao động nghề nghiệp (nghề nông, mà thuở
ban đầu gắn bó và phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên). Đối với người
nguyên thủy và đối với một phần khá đơng nhân dân lao động trong đó có
người phụ nữ trong các xã hội có giai cấp sau này nữa, việc tác động với giới
tự nhiên không những chỉ được thực hiện bởi lao động của bản thân con
người, mà còn được thực hiện bởi hoạt động của những lực lượng siêu nhiên.
Con người, và đặc biệt là những người phụ nữ, vốn có vị thế thấp trong xã
hội, ln tin rằng có một lực lượng siêu nhiên (ơng trời, thần thánh, mưa gió,


18
sấm chớp, tổ tiên...) sẽ phù giúp cho công việc, lao động, sinh hoạt của họ đạt
kết quả tốt hơn nếu họ biết ứng xử tốt và đúng với lực lượng siêu nhiên đó”
[Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, 112-113]. Sâu xa thì có thể nhận thấy
đây là khát vọng ổn định cuộc sống gia đình, tìm niềm hi vọng sống an vui.

Trong mối quan hệ với tự nhiên, nữ tính là niềm tin, sự mong muốn đƣợc trợ
giúp bởi siêu nhiên tự nhiên. Bởi quan niệm có sự tồn tại của siêu nhiên tự
nhiên nên có thể thấy đây là một nữ tính cổ xƣa.
Ngƣời phụ nữ trong ứng xử với nam giới trong xã hội bị đặt vào thế
phụ thuộc. Họ không tự quyết định đƣợc số phận của mình, điều này đặc biệt
đúng với xã hội phong kiến phƣơng Đơng khi có sự ảnh hƣởng sâu sắc bởi
Nho giáo. Trong xã hội phong kiến, cả cuộc đời ngƣời phụ nữ khơng lúc nào
có quyền tự quyết: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tịng tử”.
Ngƣời phụ nữ ln phụ thuộc nam giới nên bóng dáng của họ trong đời sống
xã hội thƣờng nhạt nhòa:“ở thế phụ thuộc, với địa vị thường là thấp kém hơn
trong các quan hệ xã hội rộng lớn, bóng dáng và hình ảnh ứng xử của người
phụ nữ trong các mối quan hệ xã hội thường là thống qua, chỉ trừ mối quan
hệ tình cảm nam nữ trong các hồn cảnh xã hội khác nhau” [Văn hóa ứng xử
các dân tộc Việt Nam, 114]. Nơi hình ảnh họ xuất hiện đậm nét nhất có lẽ là
tình u nam nữ, nhƣng ngay cả ở đây họ cũng không phải ngƣời chủ động:
“thuyền theo lái, gái theo chồng”. Với tƣ tƣởng phụ thuộc, tính nữ bộc lộ ra
trong đời sống hàng ngày là mong muốn đƣợc nƣơng nhờ, đƣợc che chở.
Trong mối quan hệ với gia đình, đức tính ngoan ngỗn khiến họ tìm
cách cân bằng trong nhiều mối quan hệ chằng chéo giữa hai bên họ hàng:
“Gia đình truyền thống Việt là loại hình gia đình mở rộng,…phần lớn là gia
đình thuộc dạng tam tứ đại đồng đường, ... Trong ứng xử gia đình, người phụ
nữ phải phân thân trong rất nhiều vai trị để có thể , hầu như cùng một lúc, có
được thế ứng xử hợp lý trong các mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái,
chị em, nàng dâu - mẹ chồng, bà - cháu, quan hệ họ hàng...Có thể tìm thấy
trong cuộc sống thực tiễn, cũng như trong văn hóa nghệ thuật, một hệ thống
ứng xử với gia đình của người phụ nữ Việt, với tất cả các khía cạnh đa dạng,


19
phong phú của nó” [Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam, 114-115]. Để

đảm bảo tất cả những mối quan hệ phức tạp trong gia đình, trong họ hàng của
tính nữ thì ngƣời phụ nữ cần phải cố gắng, nỗ lực, đảm đang tháo vát. Điều đó
có nghĩa, nữ tính là sự cố gắng, nỗ lực, đảm đang tháo vát và đặc biệt là
sự hi sinh tận lực. Tuy nhiên khơng phải lúc nào nét nữ tính này cũng có
thể nhận thấy một cách trực tiếp trong thực tế và trong văn học mà chỉ có
thể nhận ra qua sự vất vả ngƣợc xuôi, sự đau đớn cả thể xác và tâm hồn.
Bên cạnh sự cố gắng cân bằng mọi mối quan hệ phức tạp trong gia đình,
họ hàng nhƣ một biểu hiện của tính nữ ngoan ngỗn thì tính nữ này cịn
đƣợc thể hiện ở sự cam chịu.
Trong mối quan hệ với bản thân, do ngƣời phụ nữ luôn bị đặt vào trong
vị thế phụ thuộc, yếu đuối và cƣ xử một cách ngoan ngoãn nên phải chịu
nhiều thiệt thịi. Ngƣời phụ nữ ý thức đƣợc điều đó, nên trong mối quan hệ
với bản thân, họ thƣơng cho số phận của chính mình. Sau khi trải qua nhiều
vất vả, đớn đau họ rút ra những chiêm nghiệm, triết lý. Nhƣng cũng có khi sự
vất vả của ngƣời phụ nữ đƣợc đền đáp, khi đó đối với bản thân mình, họ cảm
thấy mãn nguyện. Ngƣời phụ nữ trong mối quan hệ với bản thân, nữ tính là sự
xót xa cho số phận và sự mãn nguyện hạnh phúc.
Nữ tính cịn là biểu hiện của đời sống vơ thức. Giống nhƣ nam giới,
giới nữ cũng có khát vọng thân xác và có thế giới tâm linh. Tuy nhiên, khát
vọng thân xác thƣờng bị kiểm soát bởi ý thức tức là bị kiểm sốt bởi nữ tính
đƣợc giáo dục bởi xã hội - thụ động, yếu đuối, ngoan ngoãn. Khát vọng này
(nữ tính vơ thức) chỉ thực biểu hiện rõ ràng thành nữ tính khi khơng cịn sự
kiểm sốt của nữ tính ý thức. Khác với khát vọng thân xác, thế giới tâm linh
của ngƣời phụ nữ đƣợc thể hiện rõ ràng hơn vì nó khơng bị nữ tính ý thức
kiểm sốt, thậm chí nó cịn tìm đƣợc tiếng nói chung với nữ tính ý thức khi
mà cả đối với nam giới và với lực lƣợng siêu nhiên nữ giới luôn ở vị thế của
kẻ yếu đuối. Ở văn học trung đại biểu hiện cái vô thức nhiều hơn, nhƣng đến
đƣơng đại, yếu tố khát vọng vô thức đã trở thành ý thức về nữ quyền. Tuy
nhiên theo thời gian, tính nữ cũng có sự thay đổi phù hợp với từng thời đại.



20
Tính nữ vơ thức và tính nữ ý thức có mối quan hệ qua lại với nhau và
cùng biểu hiện ra thành nữ tính. Ở giai đoạn này nhiều yếu tố đã quyện hòa
với nhau, nhất là khát vọng thân xác đã trở thành yếu tố nữ quyền. Bởi vậy,
trong Chƣơng 2 chúng tơi sẽ làm rõ tính nữ dƣới các phƣơng diện: sự cả tin
và yếu đuối; hi sinh và cam chịu; khát vọng tình yêu và hạnh phúc ở các
truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ trong tập “37 truyện ngắn Nguyễn Thị
Thu Huệ”. Tính nữ vơ thức và tính nữ ý thƣớc đƣợc biểu hiện trong từ xƣa
đến nay trong đời sống và trong văn học. Bởi vậy, trong mục 1.2.1. Khái lược
về tính nữ trong văn học Việt Nam sau 1975, chúng tơi sẽ trình bày về tính nữ
qua những biểu hiện của nó từ văn học dân gian, qua văn học trung đại đến
văn học hiện đại.
1.2. Tính nữ trong văn học Việt Nam sau 1975
Tính nữ trong văn học là sự chi phối của đặc trƣng xã hội của ngƣời
thuộc giới nữ và những đặc trƣng tâm sinh lý của họ vốn cùng tồn tại trừu
tƣợng - tồn tại trong ý thức và trong vơ thức đối với việc tạo dựng hình
tƣợng nhân vật, xây dựng biểu tƣợng, sử dụng ngôn ngữ và sử dụng giọng
điệu. Tất cả những hình tƣợng nhân vật, biểu tƣợng, ngôn ngữ và giọng điệu
đƣợc sử dụng đều đƣợc kiến tạo bởi tính nữ và đều mang những đặc điểm
của nữ tính. Điều đó có nghĩa, tính nữ biểu hiện cụ thể thành nữ tính và đến
lƣợt mình, nữ tính đƣợc thể hiện bởi hình tƣợng nhân vật, biểu tƣợng, ngơn
ngữ và giọng điệu.
1.2.1. Khái lược về tính nữ trong văn học Việt Nam
Văn học Việt Nam có thể đƣợc phân chia thành hai bộ phận dựa trên cơ
sở phƣơng thức tồn tại và lƣu truyền của các văn bản văn học là văn học dân
gian và văn học viết. Ở bộ phận văn học viết lại có thể có nhiều cách phân kỳ
và phân đoạn. Thơng thƣờng, văn học viết đƣợc phân kỳ và phân đoạn dựa
vào các dấu mốc lịch sử quan trọng của dân tộc. Theo cách này, văn học viết
đƣợc chia thành văn học trung đại và văn học hiện đại. Thời kỳ văn học trung

đại bắt đầu từ thế kỷ X và kết thúc vào thế kỷ XIX với các giai đoạn X - XIV,
XV - XVII, XVIII - đầu XIX và cuối XIX. Thời kỳ văn học hiện đại bắt đầu


21
từ đầu thế kỷ XX cho đến nay với các giai đoạn: từ đầu thế kỷ XX (1901) 1945, 1946 - 1975, sau 1975 đến nay. Bên cạnh cách phân kỳ, phân đoạn dựa
vào các dấu mốc lịch sử nhƣ trên cịn có thể kể đến cách phân chia dựa trên
mơ hình nghĩa - chữ nhƣ Đỗ Lai Thúy đƣa ra trong Thơ như là mỹ học của cái
khác. Trong cơng trình này, Đỗ Lai Thúy có nhắc đến ba mơ hình tƣơng ứng
với ba thời kỳ nối tiếp nhau của văn học là tiền hiện đại, hiện đại và hậu hiện
đại. Để khái lƣợc về tính nữ trong văn học Việt Nam từ xƣa đến nay chúng tôi
sử dụng cách phân kỳ và phân đoạn dựa vào các dốc mốc lịch sử vì tính phổ
biến của nó.
Văn học dân gian là bộ phận văn học ra đời đầu tiên trong lịch sử văn
học của lồi ngƣời nói chung và của văn học Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, khi
văn học dân gian ra đời thì tính nữ chƣa đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề học
thuật. Dẫu vậy, tính nữ vẫn có sự chi phối với việc tạo ra các tác phẩm văn
học dân gian.
Văn học dân gian có thể ra đời trƣớc và trong, sau thời kỳ phong kiến
nhƣng dù ra đời vào thời kỳ nào thì sự biểu hiện của tính nữ trong tác phẩm
cũng cho thấy tính nữ là điều đƣợc giáo dục. Sự khác biệt của tính nữ trong
các thời kỳ khác nhau chỉ ở chỗ nó chủ yếu đƣợc giáo dục bởi gia đình hay xã
hội. Thời kỳ phong kiến với sự thống trị của một tƣ tƣởng nào đó sẽ khiến
tính nữ đƣợc hình thành chủ yếu từ sự giáo dục của xã hội.
Văn học dân gian Việt Nam có số lƣợng thể loại phong phú với 12 thể
loại khác nhau: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ
ngơn, truyện cƣời, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ, chèo. Cùng với số
lƣợng thế loại phong phú đó là hệ thống tác phẩm đồ sộ với sự xuất hiện phổ
biến biểu hiện của tính nữ.
Tính nữ khi mới xuất hiện mặc dù chƣa đƣợc nhận thức một cách rõ

ràng, tuy nhiên đã đƣợc thể hiện trong các sáng tác dân gian. Những hình ảnh
ngƣời phụ nữ, biểu tƣợng và ngơn ngữ, giọng điệu nữ tính là biểu hiện của
tính nữ.


×