1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HỐ DU LỊCH
--------------------------------
CAO NGUYỄN HẢI YẾN
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CƠNG HOAN NHÌN TỪ TÂM LÝ ĐÁM ĐƠNG
KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sƣ phạm Ngữ văn
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng
Phú Thọ, năm 2019
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu .......................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận ....................................... 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 9
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 9
7. Cấu trúc khóa luận....................................................................................... 10
CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ TÂM LÍ ĐÁM ĐƠNG VÀ TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN 11
1930 - 1945......................................................................................................... 11
1.1. Cơ sở lí luận về đám đơng ........................................................................ 11
1.1.1. Thuật ngữ “tâm lí”................................................................................... 11
1.1.2. Thuật ngữ “đám đơng” ............................................................................ 13
1.1.3. Thuật ngữ “tâm lí đám đơng”.................................................................. 15
1.2. Nhà văn Nguyễn Cơng Hoan trong dịng chảy văn học Hiện thực phê
phán 1930 – 1945 .............................................................................................. 24
1.2.1. Tiểu sử ...................................................................................................... 24
1.2.2. Quan điểm văn học................................................................................... 26
1.2.3. Những đóng góp trong nền văn học Hiện thực phê phán 1930 - 1945.... 27
CHƢƠNG 2: TÂM LÍ ĐÁM ĐƠNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
CÔNG HOAN- TỪ PHƢƠNG DIỆN NỘI DUNG ....................................... 29
2.1. Khảo sát trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan................................... 29
2.2. Cộng đồng dân nghèo................................................................................ 36
2.2.1. Từ đặc trưng tâm lí cộng đồng dân nghèo ............................................... 36
2.2.2. Đến niềm tin, đạo đức đám đông nghèo trong truyện ngắn Nguyễn Công
Hoan. .................................................................................................................. 37
2.2.3. Nguyên nhân cốt lõi của niềm tin đạo đức đám đông nghèo ................... 44
2.3. Cộng đồng ngƣời giàu ............................................................................... 46
3
2.3.1. Từ đặc trưng tâm lí cộng đồng người giàu .............................................. 46
2.3.2. Đến những biểu biện vô đạo và tham vọng thống trị của đám người giàu
............................................................................................................................ 47
2.3.3. Nguyên nhân cốt lõi của sự vô đạo và tham vọng thống trị của đám người
giàu ..................................................................................................................... 51
CHƢƠNG 3: TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG TRONG TRYỆN NGẮN NGUYỄN
CÔNG HOAN – TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT ............................... 54
3.1. Nghệ thuật trào phúng .............................................................................. 54
3.1.1. Khái lược về nghệ thuật trào phúng trong văn học Hiện thực phê phán 54
3.1.2. Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Cơng Hoan trong thể hiện tâm lí đám
đơng .................................................................................................................... 55
3.2. Nghệ thuật trần thuật ............................................................................... 63
3.2.1. Khái niệm và vai trò của nghệ thuật trần thuật đối với truyện ngắn ...... 63
3.2.2. Nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Công Hoan trong thể hiện tâm lí đám
đơng .................................................................................................................... 65
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77
4
LỜI CẢM ƠN
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị
Thúy Hằng - Trƣởng khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa Du lịch (Trƣờng Đại
học Hùng Vƣơng - Việt Trì - Phú Thọ) - ngƣời đã trực tiếp hƣớng dẫn, động
viên, khích lệ tơi trong suốt q trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khoa học Xã hội và
Văn hóa Du lịch, Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng - Việt Trì - Phú Thọ đã ln
giúp đỡ tơi trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thiện luận văn.
Tơi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè đã tạo điều kiện cho
tơi hồn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu.
Việt Trì, ngày 10 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Cao Nguyễn Hải Yến
5
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Bảng thống kê theo tiêu chí “giàu - nghèo”………………........…...35
………
Bảng 1.2. Bảng thống kê theo vị trí xã hội của nhân vật……………….......….35
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Đầu thế kỉ XX, hoàn cảnh xã hội đặc biệt, làn gió văn hóa phƣơng
Tây cùng sức mạnh nội sinh đã khiến văn học Việt Nam phát triển tột bậc. Bên
cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khuynh hƣớng lãng mạn, khuynh hƣớng cách
mạng, chủ nghĩa hiện thực trong khoảng thời gian ngắn đã đạt đƣợc nhiều thành
tựu đáng ghi nhận với hàng loạt tên tuổi của các nhà văn lớn: Vũ Trọng Phụng,
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao... Nguyễn Công Hoan (1903-1977)
đƣợc xem là cây bút mở đầu dòng văn học phê phán nửa đầu thế kỉ XX. Với sức
sáng tạo dồi dào, dẻo dai, Nguyễn Công Hoan chứng tỏ tài năng đặc biệt trong
hệ thống sáng tác để lại - một di sản quý cho dòng văn học dân tộc, đó là hàng
trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết và một số những ghi chép tản mạn khác.
1.2. Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan thƣờng đi sâu khám phá
những bình diện hiện thực trong xã hội, nhất là xã hội thực dân nửa phong kiến
Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945. Đa số các sáng tác của ông đều bắt nguồn từ
những đề tài, những mảnh đời mà ơng chứng kiến. Đó là những ngang trái, bất
công nảy sinh trong xã hội hiện tại. Yếu tố thực, tính thời sự vì thế trong truyện
ngắn và tiểu thuyết của ơng ln ln nóng hổi. Hơn một nửa thế kỉ cầm bút, với
phong cách nghệ thuật độc đáo, Nguyễn Cơng Hoan có những đóng góp quan
trọng vào sự phát triển của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, đặc biệt là thể loại
truyện ngắn. Cho đến nay, Nguyễn Cơng Hoan có một vị trí vững vàng, đầy
vinh dự trong lịch sử văn học dân tộc. Là một trong số những nhà văn đặt nền
móng cho văn học hiện thực trong văn học Việt Nam 1930 – 1945, “ơng có đóng
góp quan trọng trong việc mở đƣờng và phát triển thể loại truyện ngắn hiện đại,
đặc biệt là truyện ngắn trào phúng, đƣa nó tới một tầm cao mà cho tới nay, chƣa
có cây bút nào sánh nổi” [21].
1.3. Văn học là sản phẩm của con ngƣời. Văn học có mối quan hệ khăng
khít, gắn bó chặt chẽ với văn hóa. Trong văn học có văn hóa và ngƣợc lại, văn
hóa thời đại tác động hình thành sản phẩm văn chƣơng mang dáng hình của
chính nó. Xƣa nay, mối quan hệ văn hóa - văn học ln hiện hữu song việc khai
2
thác yếu tố văn hóa trong văn học chƣa phải là nhiều. Hầu hết, giới nghiên cứu
phê bình vẫn quen con đƣờng tiếp cận văn học bằng phƣơng thức tự sự, thi pháp
học, cấu trúc... hoặc bằng rất nhiêu lí thuyết hiện đại khác. Tiếp cận tác phẩm
văn học từ góc nhìn văn hóa, giới nghiên cứu phê bình thực sự làm phát lộ
những khía cạnh giá trị khơng đơn giản từ chính những tác phẩm vốn quen
thuộc. Chúng tơi cho rằng, đó cũng là một cánh cửa mở đối với ngƣời nghiên
cứu. Văn học cũng đồng thời là sản phẩm của một q trình tâm lí hoặc một
xung năng tâm lí ẩn ức trong một thời gian nào đó của đời ngƣời. Khám phá văn
học từ một cái nhìn của tâm lí học khơng đơn thuần nhƣng cũng hết sức khả thi
khi xác định một vỉa tầng giá trị trong tƣ tƣởng của một nhà văn về những vấn
đề xã hội nổi cộm.
Tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ góc độ văn hóa và góc độ
tâm lí học, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến biểu hiện của “tâm lí đám đơng”
trong hàng loạt truyện ngắn của ơng trƣớc cách mạng tháng Tám. Dù lí thuyết về
tâm lí đám động chƣa đƣợc phổ chúng rộng rãi, song học thuyết Tâm lí học đám
đơng (Le Bon) đã trở thành cơng cụ nền tảng cho những ai u thích khai thác
văn học từ góc độ này.
1.4. Truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan đã đƣợc đƣa vào cấp học phổ thông
và Đại học. Tiếp cận truyện ngắn của ơng từ nhiều phía sẽ giúp cho thầy trị
trong trƣờng học nhìn nhận rõ hơn đặc sắc thế giới nghệ thuật cũng nhƣ những
đóng góp của nhà văn đối với văn học nƣớc nhà.
Từ những lí do trên, tơi mạnh dạn lựa chọn “Truyện ngắn Nguyễn Cơng
Hoan – nhìn từ tâm lí đám đơng” làm đề tài nghiên cứu khóa luận.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nguyễn Công Hoan là nhà văn đƣợc coi là ngƣời tạo nền móng cho
khuynh hƣớng văn xi hiện thực phê phán nƣớc ta giai đoạn 1930-1945. Viết
nhiều thể loại, song Nguyễn Công Hoan đã gây đƣợc sự chú ý của dƣ luận ngay
từ khi những truyện ngắn đầu tiên ra đời bởi tính hiện thực nóng hổi và giá trị
nhân đạo sâu sắc của từng tác phẩm. Đã có nhiều cơng trình tìm hiểu, đánh giá
truyện ngắn của ông trên nhiều lĩnh vực (đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng, nghệ thuật...).
3
Khơng thể thống kê hết các cơng trình nghiên cứu về một nhà văn lớn nhƣ
Nguyễn Công Hoan, song chúng tôi đã gắng khảo cứu sắp xếp những nghiên
cứu về truyện ngắn của ông trên những nét lớn mà các nhà nghiên cứu quan tâm.
2.1. Những nghiên cứu chung về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan:
Hải Triều trong bài Cuộc tranh luận “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh”
giai đoạn 1935 – 1939 đã có cảm nhận khá sâu sắc về ý nghĩa của khuynh
hƣớng sáng tác vì con ngƣời trong những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan:
“Cái chủ trƣơng nghệ thuật vị nhân sinh của tôi ngày nay đã đƣợc biểu hiện rõ
bằng những bức tranh rất linh hoạt dƣới ngịi bút tài tình của nhà văn Nguyễn
Cơng Hoan” [26].
Trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tác giả Nguyễn Trác đã đƣa ra
những nhận định sâu sắc về nội dung truyện ngắn Nguyễn Công Hoan: “Truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan là một tấn trò đời rộng rãi và phong phú. Ông chỉ cốt
khám phá trong hiện thực những mâu thuẫn, những cảnh tƣơng phản hoặc trái
ngƣợc nhau. Thế giới của Nguyễn Công Hoan là thế giới của những kẻ khốn khổ
đáng thƣơng” [25].
Trong cuốn Văn và người đƣợc viết năm 1976, tác giả Phong Lê đã nhận
định về tiếng cƣời Nguyễn Cơng Hoan: “Một thứ vũ khí. Ơng đứng trên tất cả
mà cƣời. Cƣời với mọi cung bậc: hả hê, khối trá, chua chát, chê giễu, khinh bỉ,
đau xót, căm giận,… Có cái cƣời ra nƣớc mắt của một tấm lịng nhân hậu.
Nhƣng lại có cái cƣời để mà cƣời, của một ngƣời vơ tình hay vơ tâm, thậm chí
có khi lạc điệu. Cho nên cần thấy nét đặc sắc trong cái cƣời của Nguyễn Công
Hoan, nhƣng cũng phải thấy không phải cái cƣời nào của ông cũng đúng chỗ và
có ý nghĩa” [14;87].
Tiếp cận từ góc nhìn thể loại, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại
đã có ý kiến khá sắc sảo chỉ ra những ƣu, nhựơc điểm về nhân vật trong truyện
ngắn của Nguyễn Công Hoan: “Ơng tả đủ hạng ngƣời trong xã hội nhƣng ít khi
ông tả những ý nghĩ của họ nhất là những điều u uẩn của họ thì khơng bao giờ
ơng đả động đến. Bao giờ ông cũng đặt họ vào những khn riêng, đó là khn
lễ giáo hay phong tục mà họ đã ra trò với những bộ mặt phƣờng tuồng của họ”.
4
Bên cạnh đó, Vũ Ngọc Phan cịn nhận xét rất sâu sắc và xác đáng về Nguyễn
Công Hoan ở hai thể loại: “Ngƣời ta nhận thấy Nguyễn Công Hoan sở trƣờng về
truyện ngắn hơn truyện dài. Trong các truyện dài nhiều chỗ lúng túng rồi ông
kết thúc giản dị quá, không xứng với một truyện to tát ông dựng. Trái lại ở
truyện ngắn ông tỏ ra là một ngƣời kể truyện có dun. Phần nhiều truyện ngắn
của ơng linh động lại có nhiều cái bất ngờ, làm cho ngƣời đọc khối trá vơ cùng.
Những truyện ngắn của ơng tiêu biểu cho một thứ văn rất vui, thứ văn mà có lẽ
từ ngày nƣớc Việt Nam có tiểu thuyết viết theo lối mịn ngƣời ta chỉ thấy ở ngịi
bút của ơng thơi” [22]. Có thể thấy, Vũ Ngọc Phan là một trong số ít những nhà
nghiên cứu trƣớc cách mạng đã có cái nhìn rất thấu đáo về nhân vật cũng nhƣ
ngịi bút xây dựng truyện của nhà văn Nguyễn Cơng Hoan. Nhƣ vậy, từ những
năm đầu tiên, quá trình nghiên cứu nhân vật trong truyện của cây bút Nguyễn
Công Hoan đã đƣợc chú ý.
Trong lời giới thiệu Truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 nhà nghiên cứu
Nguyễn Hoành Khung cũng đã nhấn mạnh về tài năng của Nguyễn Công Hoan
đối với thể loại truyện ngắn: “Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan là hiện
tƣợng chƣa từng có tới hai lần trong văn học Việt Nam. Tính chất trào phúng ở
Nguyễn Cơng Hoan là thuộc về năng khiếu thiên bẩm là sự kế thừa truyền thống
trào phúng của văn học dân tộc” [12].
Tiếp cận tác phẩm từ hệ thống nhân vật, tác giả Nguyễn Đức Đàn trong
Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam (NXB khoa học xã hội 1968)
đã có nhận xét khá sắc sảo về thế giới nhân vật trong truyện Nguyễn Công Hoan
nhƣ sau: “Với một số lƣợng khá lớn nhƣ vậy truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
hợp thành một bức tranh rộng lớn khá đầy đủ về xã hội cũ. Hầu hết trong xã hội
thực dân phong kiến đều có mặt: nơng dân, cơng nhân, tiểu tƣ sản, trí thức làm
các nghề tự do nhƣ thầy thuốc, làm báo, nhà văn, nhà giáo, các nghệ sĩ, rồi tƣ
sản, nhà bn, nhà thầu khốn, địa chủ, quan lại, cƣờng hào, nghị viên, công
chức, học sinh, cô đào, nhà thổ, đứa ở, phu xe, kẻ cắp, anh hát xẩm, chị bán
hàng rong, binh lính, bồi bếp. từ các giai cấp bị áp bức, bóc lột, các giai cấp
5
thống trị và các tầng lớp trung gian cho đến những ngƣời ở dƣới đáy của một xã
hội hết sức phức tạp” [4].
Là ngƣời dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, cũng
trong cuốn Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán (NXB Khoa học - xã hội
1968), Nguyễn Đức Đàn đã nhận định: “Về nghệ thuật viết truyện ngắn phải nói
rằng Nguyễn Cơng Hoan là ngƣời có nhiều khả năng và kinh nghiệm. Truyện
của ơng thƣờng rất ngắn. Lời văn khúc chiết, giản dị. Cốt truyện đƣợc dẫn dắt
nghệ thuật để hấp dẫn ngƣời đọc. Thƣờng kết cục bao giờ cũng đột ngột. Mỗi
truyện thƣờng nhƣ một màn kịch ngắn có giới thiệu, thắt nút và mở nút. Cố
nhiên không phải tất cả truyện đều đạt cả. Nhƣng thƣờng những truyện không
đạt chủ yếu là do nội dung tƣ tƣởng” [4;77-81].
Tiếp cận tác phẩm từ cái nhìn lịch sử - xã hội, trong cuốn Tìm hiểu truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan (NXB Khoa học - xã hội 1979) PGS. Lê Thị Đức đã
chia quá trình viết truyện ngắn của nhà văn thành 5 thời kì. Theo PGS. Lê Thị
Đức thời kì 1929-1935 Nguyễn Cơng Hoan viết theo 3 chủ đề: - Thứ nhất là tố
cáo, lên án những bọn chuyên sống bằng cách áp bức, bóc lột, hành hạ những
ngƣời nghèo khổ. Ở chủ đề này, cây bút Nguyễn Công Hoan đã miêu tả những
cảnh khổ cực của ngƣời nông dân và những ngƣời nghèo khác nhƣ kép hát, đi ở,
phu xe. – Thứ hai là phê phán những hạng ngƣời dù không phải là tƣ sản nhƣng
cũng nhờ đế quốc mà phong lƣu, ảnh hƣởng lối sống tƣ sản đồi truỵ ở Châu Âu.
Thời kì 1936-1939: Ngịi bút Nguyễn Cơng Hoan đã có những truyện đả kích,
châm biếm từ tên đầu sỏ phong kiến rồi tên thực dân Pháp và cả những vấn đề
chiến tranh chống phát xít. Đối với tầng lớp lao động Nguyễn Cơng Hoan đã có
những truyện viết về những ngƣời cơng nhân. Thời kì 1940-1945: Nguyễn Cơng
Hoan bƣớc đầu biểu lộ sự bất bình, tố cáo những hiện tƣợng áp bức nhƣng do
những khó khăn chủ quan, khách quan nên mặt tiến bộ của nhà văn khơng phát
triển đƣợc, cịn mặt tiêu cực thì lại có dịp đƣợc bộc lộ. Đó là tƣ tƣởng vốn có
của nhà văn, cộng với ảnh hƣởng một cách không tự giác của chủ trƣơng không
phục cổ của thực dân phát xít [5].
6
Nguyễn Hoành Khung trong: Văn học Việt Nam 1900 – 1945 (tập 1) đã đi
từ quá trình sáng tác trƣớc cách mạng đến sau cách mạng của Nguyễn Công
Hoan và đã dừng lại lâu hơn ở tiểu thuyết Bước đường cùng. Nguyễn Hồnh
Khung đã có những phát hiện, phân tích và lý giải rất nhiều về những vấn đề
thuộc về nội dung cũng nhƣ nghệ thuật trong các tác phầm của Nguyễn Công
Hoan mang đầy sức thuyết phục. Đặc biệt là ở phƣơng diện nghệ thuật, Nguyễn
Hồnh Khung đã có những ý kiến sắc sảo chỉ ra đƣợc những ƣu nhƣợc điểm về
nhân vật trong Bước đường cùng : “Đã xây dựng thành cơng hai nhân vật chính
Nghị Lại và Pha. Do cái nhìn xã hội tiến bộ gần với quan điểm giai cấp nhà văn
đã thể hiện khá sâu sắc bản chất giai cấp bọn địa chủ và số phận ngƣời nơng dân
lao động. Tuy vậy những hình tƣợng nhân vật này vẫn chƣa có sức sống nội tại
mạnh mẽ với một cá tính sắc nét. Cây bút Nguyễn Cơng Hoan ít thành cơng
trong việc xây dựng những tính cách có giá trị điển hình cao vừa có cá tính sắc
nét vừa đa dạng, đầy đặn có sức sống nội tại tự thân. Chƣa hồn tồn vƣợt khỏi
trình độ tƣ duy nghệ thuật của tiểu thuyết truyền thống”. Dù đƣợc viết bằng
bút pháp hiện thực hay lãng mạn, nhìn chung về các tác phẩm tiểu thuyết của
Nguyễn Công Hoan đã phản ánh đƣợc nhiều mặt của đời sống xã hội Việt
Nam thời kì này, có sức tố cáo mạnh. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đều
thống nhất và khẳng định “Tiểu thuyết không phải là sở trƣờng của Nguyễn
Công Hoan” [13].
Trong bài Vấn đề nông dân và cuộc sống nông thôn trong truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng (tạp chí Văn học, số 6/1970), Lê Thị
Đức Hạnh đã viết: “Nguyễn Công Hoan cũng đã sống ở nông thơn trong nhiều
năm, ơng chịu khó quan sát nên có nhiều hiểu biết về nơng thơn. Ơng sáng tác
nhiều truyện về đề tài này” [7].
Các nhà nghiên cứu tựu chung đều khẳng định ƣu thế của truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan, song cũng có tác giả đã nói về một vài hạn chế trong truyện
ngắn của ơng. Phê bình Kép Tư Bền in trong báo Bắc Hà 8/1835, Trần Đình Hạc
viết: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan chỉ có ở trong truyện
ngắn. Nguyễn Cơng Hoan là nhà văn ƣa tả, ƣa vẽ cái xấu xa, hèn mạt, đê tiện
7
của một hạng ngƣòi xƣa nay vẫn đeo cái mặt nạ giả dối. Ơng khơng hề có tỉ mỉ,
lơi thơi nhƣ phần nhiều các nhà văn tả chân. Vậy mà từ một lời nói, từ một cử
chỉ của những nhân vật trong truyện đều nhƣ chép nguyên sự thực. Ông làm
“sống” một cách linh động những nhân vật” [9].
Gần đây cũng đã có rất nhiều những chuyên đề luận văn thạc sĩ tìm hiểu
về truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan về phƣơng diện nghệ thuật, ngơn ngữ,
phong cách. Đó là những cơng trình chúng tơi sơ bộ, thống kê có đề cập đến
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan. Điều này giúp cho chúng tơi có những gợi ý
quan trọng và có hƣớng khám phá về truyện ngắn của tác giả này.
2.2. Những nghiên cứu có dẫn gợi đến vấn đề tâm lí đám đơng trong truyện
ngắn Nguyễn Cơng Hoan
Có thể nhận định rằng, trong các bài viết hoặc các luận văn viết về truyện
ngắn Nguyễn Cơng Hoan, chƣa có bài viết nào nghiên cứu về truyện ngắn
Nguyễn Cơng Hoan từ góc độ tâm lí đám đơng. Tuy nhiên, trong một số bài
nghiên cứu đã có một số tác giả ít nhiều đụng chạm đến cộng đồng đám đơng,
tâm lí, đặc trƣng của cộng đồng ấy. Chúng tơi cho rằng đó là những dẫn gợi
đáng q. Ví nhƣ GS. Trần Đình Sử cho rằng: “Con ngƣời trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan là con ngƣời bị tha hóa, vật hóa, sống và hoạt động hầu nhƣ
phi nhân tính. Thế giới truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan là thế giới làm trò, nhân
vật là kẻ làm trị”. Với nhận định này, Trần Đình Sử hƣớng ngƣời nghiên cứu
nhìn nhận về cộng đồng của những “sân khấu hề” trong q trình tha hóa. Tiếp
cận tác phẩm từ góc độ nghệ thuật, nói về đám quan lại, nhà giàu, trong cuốn Sơ
thảo Lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945, tập thể tác tác giả đã nhận xét : “Ơng
sở trƣờng về cách mơ tả tƣ cánh hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu
mọt, bọn nha lại hãnh tiến giàu có sang trọng và khinh ngƣời” [22]. GS. Lê
Thị Đức Hạnh trong cuốn Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan đã có
một nhận định chung: “Với Nguyễn Cơng Hoan thì chỗ mạnh nhất của ông là
miêu tả nhân vật phản diện, tức bọn quan lại, địa chủ, cƣờng hào với bao điều
xấu xa, dơ dáy của xã hội cũ. Cách miêu tả nhân vật là miêu tả trong sự đối
8
lập giữa hai sự vật, bản chất khác nhau, giữa bản chất - hiện tƣợng, giữa nội
dung - hình thức” [8].
Dù không liên quan trực tiếp, nhƣng những nghiên cứu nêu trên tạo ra
một định hƣớng cho chúng tôi khi đánh giá, nhìn nhận đám đơng ngƣời giàu
trong truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan.
Nhƣ vậy, các cơng trình nghiên cứu, các bài viết, tiểu luận, chun đề nói
nhiều đến Nguyễn Cơng Hoan và các tác phẩm của ông nhƣng vấn đề tâm lí
đám đơng và những giá trị tƣ tƣởng mà tác giả muốn gửi gắm qua biểu hiện của
tâm lí đám đơng thì chƣa đƣợc giới nghiên cứu quan tâm. Vì vậy, trong quá trình
khai thác vấn đề, một mặt tôi kế thừa, tiếp thu những kết quả, thành tựu đáng
trân trọng của các nhà nghiên cứu, một mặt mong muốn đƣợc đi sâu tìm hiểu và
khám phá những giá trị ẩn chứa trong các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan qua
đề tài: Tâm lí đám đơng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hƣớng đến mục tiêu quan trọng nhất là tìm
hiểu, minh chứng về tâm lí đám đơng đƣợc thể hiện trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan.
Trong khuôn khổ đề tài khóa luận, chúng tơi hƣớng tới nghiên cứu truyện
ngắn Nguyễn Cơng Hoan từ phƣơng diện tâm lí học – tâm lí đám đơng, qua đó
thấy đƣợc những ý nghĩa về nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm trong
bối cảnh chung của truyện ngắn Việt Nam trƣớc và sau cách mạng tháng Tám
năm 1945.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hƣớng đến ba nhiệm vụ:
- Thứ nhất, xác định cơ sở lí luận về tâm lí đám đơng và vai trị truyện
ngắn Nguyễn Cơng Hoan trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945.
- Thứ hai, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ phƣơng diện tâm lí
học – tâm lí đám đơng, từ đó hiểu đƣợc các đặc trƣng của tâm lí đám đơng cộng
đồng đƣợc thể hiện qua nội dung của truyện ngắn.
9
- Thứ ba, tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Công Hoan từ phƣơng diện
nghệ thuật để thấy rõ đƣợc tài năng Nguyễn Cơng Hoan trong thể hiện tâm lí
đám đơng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là tâm lí đám đơng trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan.
Phạm vi tƣ liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu: Truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan (Tập 1, Nhà xuất bản Văn học, năm 2014).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt những yêu cầu mà đề tài đặt ra, tơi tiến hành khóa luận
dựa trên sự vận dụng, kết hợp những phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp tâm lí học: Trong luận văn, chúng tơi áp khuynh hƣớng
nghiên cứu tâm lí học sáng tác nhằm tìm hiểu những tác động tâm lí nguồn gốc
tới sáng tác; đồng thời, khuynh hƣớng nghiên cứu tâm lí học tiếp nhận cũng
đƣợc sử dụng nhằm đƣa ra những nhận thức của ngƣời đọc về vấn đề tâm lí đám
đơng trong đối tƣợng nghiên cứu.
- Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa học: Từ cái nhìn văn hóa, chúng tơi sẽ
tìm thấy những mối quan hệ tƣơng hỗ, biện chứng giữa văn hóa và văn học.
- Phƣơng pháp hệ thống: đƣợc dùng trong hệ thống ngữ liệu nghiên cứu.
- Phƣơng pháp loại hình: dùng để nghiên cứu, phân loại ngữ liệu dựa trên
những dấu hiệu đặc trƣng về mặt loại hình.
Ngồi ra, chúng tơi sử dụng các phƣơng pháp khác nhƣ so sánh, phân
tích, thuyết minh,… nhƣ những thao tác thƣờng xuyên.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần xây dựng cơ sở tìm hiểu tâm lí đám
đơng nói chung và trong truyện truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan nói riêng để
phục vụ cho việc nghiên cứu Văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu góp phần
nhỏ trong việc nghiên cứu, giảng dạy học tập học phần Văn học Việt Nam giai
đoạn 1930-1945.
10
7. Cấu trúc khóa luận
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của khóa luận đƣợc triển trai
qua ba chƣơng:
Chương 1: Vấn đề tâm lí đám đơng và truyện ngắn Nguyễn Công Hoan trong
văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945.
Chương 2: Tâm lí đám đơng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan – từ phương
diện nội dung.
Chương 3: Tâm lí đám đơng trong truyện ngắn Nguyễn Cơng Hoan – từ phương
diện nghệ thuật.
11
CHƢƠNG 1
VẤN ĐỀ TÂM LÍ ĐÁM ĐƠNG VÀ TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG VĂN HỌC HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
1930 - 1945
1.1. Cơ sở lí luận về đám đơng
1.1.1. Thuật ngữ “tâm lí”
Tâm lí là tất cả những hiện tƣợng tinh thần nảy sinh trong đầu óc chúng
ta, nó tham gia điều khiển, điều chỉnh những hành vi, hành động, hoạt động của
con ngƣời. Tâm lí là hiện tƣợng tinh thần, là đời sống nội tâm của con ngƣời, vô
cùng phong phú đa dạng và đầy tính tiềm tàng bởi tâm lí mỗi ngƣời mỗi khác và
biến đổi theo thời gian. Tâm lí cịn đƣợc gọi là thời gian nội tâm hay “lòng
ngƣời”, là sự phản ánh hiện thực của bản thân, của tự nhiên, của xã hội. Định
nghĩa về khái niệm này, có một số ý kiến nhƣ sau:
Theo Từ điển tiếng Việt (1988): “Tâm lí là ý nghĩa, tình cảm làm thành
thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con ngƣời” [19]. Nói một cách chung
nhất, tâm lí là tất cả những hiện tƣợng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con
ngƣời, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con ngƣời.
Từ điển Tâm lí học đã viết: “Tâm lí là thuộc tính đặc biệt của vật chất tổ
chức cao, là sự phản ánh hiện thực khách quan đảm bảo cho cơ thể sống có thể
thích ứng với mơi trƣờng một cách hiệu quả” [18;731]. Phản ánh tâm lí về thế
giới ln đƣợc thực hiện trong các hoạt động sống tích cực của cơ thể. Trong
tâm lí thể hiện cả các sự kiện quá khứ, hiện tại và tƣơng lai. Ở con ngƣời, các sự
kiện quá khứ đƣợc thể hiện trong kinh nghiệm, các biểu tƣợng trí nhớ; các sự
kiện của hiện tại đƣợc thể hiện trong các hình ảnh, các trải nghiệm cảm xúc và
hành động trí tuệ; cịn các sự kiện của tƣơng lai đƣợc thể hiện trong các lực thúc
đẩy, các mục đích, tƣởng tƣợng và ƣớc mơ. Bên cạnh đó, tâm lí của con ngƣời
có thể đƣợc ý thức hoặc khơng đƣợc ý thức, nhƣng những gì khơng đƣợc ý thức
ở con ngƣời khác về chất so với tâm lí động vật. Điểm khác biệt cơ bản nhất của
tâm lí ngƣời so với tâm lí động vật – đó chính là tính mục đích có ý thức của các
biểu hiện tâm lí ngƣời. Ý thức là đặc điểm cơ bản của tâm lí ngƣời. Nhờ có ý
12
thức, con ngƣời nhận biết đƣợc các mối liên hệ nhân qủa của các sự vật, hiện
tƣợng, xác định đƣợc mục tiêu cho hành động của mình. Với sự phát triển của ý
thức, con ngƣời trở thành một thực thể xã hội. Nhờ não bộ và các cơ quan cảm
giác của những cơ thể sống có tổ chức cao có thể phản ánh một cách tích cực và
thậm chí phản ánh trƣớc (trƣớc khi hành động) các khách thể bên ngồi dƣới
hình thức tâm lí, nên những cơ thể sống đó có thể thực hiện các hành động một
cách phù hợp với thuộc tính của các khách thể đó. Và cũng nhờ đó mà con
ngƣời có thể sống sót và phát triển. Các dấu hiệu cơ bản của tâm lí là: Phản ánh
đem lại hình ảnh về mơi trƣờng hoạt động và cơ thể sống; định hƣớng cho cơ thể
trong mơi trƣờng đó; thỏa mãn nhƣ cầu tiếp xúc của cơ thể với môi trƣờng và sự
tiếp xúc này theo nguyên tắc mối liên hệ ngƣợc, cho phép cơ thể sống kiểm tra
lại tính đúng đắn của các phản ánh.
Trong lịch sử, tâm lí học đã từng đƣợc định nghĩa nhƣ khoa học về tâm
hồn, về tinh thần hay ý thức. Sau đó tâm lí học đã đƣợc xem nhƣ khoa học về
hành vi con ngƣời. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và phong phú các
lĩnh vực nghiên cứu, ứng dụng tâm lí cũng làm cho định nghĩa về tâm lí học
cũng đa dạng. có thể đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối khái quát nhƣ sau: “Tâm lí
học là khoa học về tâm lí, về các quy luật xuất hiện và phát triển tâm lí”. Tâm lí
học đã xuất hiện từ rất lâu, cụ thể là từ thời cổ đại. Trong lịch sử phát triển của
mình, đã có một thời gian tâm lí học xuất hiện trong lịng của triết học. Thuật
ngữ tâm lí học xuất hiện ở cuối thế kỉ thứ XVI và trở thành phổ biến và giữa thế
kỉ XVIII, tâm lí học trở thành khoa học độc lập vào thế kỉ XIX với việc đƣa thực
nghiệm vào lĩnh vực khoa học này.
Trong một thời gian dài đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa
duy tâm và chủ nghĩa duy vật về các vấn đề tâm lí học. Đó là cuộc đấu tranh
giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại đến nay về các vấn
đề tâm lí là gì? Ý thức là gì? Mối quan hệ giữa q trình tâm lí và sinh lí ở con
ngƣời. Theo chủ nghĩa duy tâm tâm hồn (đời sống tâm lí của con ngƣời) tách
khỏi vật chất, diễn ra một cách riêng biệt không phụ thuộc vào não. Theo quan
điểm duy vật biện chứng thì tâm lí là sản phẩm đặc biệt của vật chất có tổ chức
13
cao (não), phản ánh hiện thực khách quan. Tâm lí và ý thức chỉ xuất hiện ở giai
đoạn phát triển cao của vật chất. Các hiện tƣợng tâm lí và sinh lí có mối liên hệ
mật thiết với nhau trong một thể thống nhất.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, tâm lí học ngày càng xuất hiện
nhiều phân ngành mới. Ngƣời ta ƣớc tính hiện nay tâm lí học có trên 70 phân
ngành và chắc chắn số lƣợng các phân ngành tâm lí học khơng dừng lại ở con số
này trong thời gian tới. Có thể nêu ra một số phân ngành tâm lí học sau: Tâm lí
học bệnh học, tâm lí học dân tộc, tâm lí học di truyền, tâm lí học đại cƣơng, tâm
lí học lao động, tâm lí học lứa tuổi, tâm lí học ngơn ngữ, tâm lí học đám đơng,
tâm lí học sáng tạo, tâm lí học thần kinh, tâm lí học tơn giáo, tâm lí học tun
truyền, chuẩn đốn tâm lí, tâm sinh lí học, tâm vật lí,…
Tâm lí học ngày càng góp phần quan trọng đối với việc giải quyết những
vấn đề nảy sinh của đời sống xã hội và ngày nay, tâm lí học tham gia vào việc
nghiên cứu và ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Qua việc tìm hiểu trên, tơi nhận thấy rằng: Tâm lí đóng vai trị rất quan
trọng, nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của con người, chi phối hành vi
hoạt động của con người. Nói một cách chung nhất thì tâm lí là tất cả những
hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi
hành động, hoạt động của con người (Ngƣời viết nhấn mạnh).
1.1.2. Thuật ngữ “đám đơng”
Theo nghĩa thơng thƣờng đám đơng có nghĩa là một sự kết hợp của những
cá nhân bất kì khơng phụ thuộc vào dân tộc, giới tính và nguyên do kết hợp. Là
tên gọi một nhóm ngƣời có những biểu hiện thống nhất về cảm xúc và hành
động nhất thời khi cùng chú ý nhƣ nhau đến một đối tƣợng hay lí tƣởng giống
nhau. Ngƣời ta thƣờng nói tới tinh thần của đám đông, linh hồn của đám đông
hay các hiện tƣợng của đám đơng.
Trong tâm lí học đám đơng trƣớc đây, đám đông là một số ngƣời tụ tập
với nhau và đó là điều kiện gây ra tình trạng thiếu sự kiểm tra lý trí, làm tăng
việc lây lan cảm xúc hay những “tình cảm và đạo đức của đám đơng” mà trong
cuốn Tâm lí học đám đơng (1985), G.Lebon đã khái quát nhƣ sau: Tính bốc
14
đồng, dễ thay đổi, dễ bị kích động; tính dễ bị gợi ý và nhẹ dạ; sự phóng đại và
giản đơn trong tình cảm; đạo đức khơng thuần nhất, quyền lợi là động cơ đặc
biệt của cá nhân riêng lẻ.
Trong Tâm lí học đám đơng theo tinh thần thực nghiệm (W.Moede,
1920), cho rằng đám đông chẳng qua là sự hiện diện bên nhau của những ngƣời
tiến hành các công việc giống nhau, do đó, số thành tích của các thành viên
riêng rẽ chịu sự tác động qua lại lẫn nhau (thuận lợi, ức chế, cào bằng…).
Theo R.H.Turnen & L.M.Killian (1963), có thể phân loại đám đơng theo
sự kết hợp của ba mặt hay ba chiều kích sau đây: cá nhân chủ nghĩa hay hợp
tác; tập trung hay phân tán; tích cực hay chỉ hƣớng vào các mục tiêu ở ngoài
đám đông.
Theo G.Lebon cho rằng những đám đông luôn bị vô thức tác động, họ xử
sự nhƣ ngƣời nguyên thủy, ngƣời dã man, khơng có khả năng suy nghĩ, suy luận
mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên kết các ý tƣởng, họ không kiên
định, thất thƣờng và đi từ trạng thái nhiệt tình cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ
ngẩn nhất. Vả lại, do thể trạng của mình, những đám đơng ấy cần có một thủ
lĩnh, một ngƣời cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt họ và cho bản năng của họ một ý
nghĩa. Ông cho rằng đám đông nuôi dƣỡng sự giấu tên và tạo ra xúc cảm đã bị
một số nhà phê bình tranh cãi. Clark McPhail chỉ ra các nghiên cứu cho thấy
rằng đám đông điên rồ không đảm nhận một cuộc sống riêng của mình, ngồi
những suy nghĩ và ý định của các thành viên.
Norris Johno sau khi điều tra sự hoảng loạn tại một buổi hòa nhạc của The
Who vào năm 1979 đã kết luận rằng đám đơng bao gồm nhiều nhóm những
ngƣời hầu hết là cố gắng giúp đỡ lẫn nhau. Thêm vào đó, lí thuyết của Le Bon
đã bỏ qua bối cảnh văn hóa – xã hội của đám đơng, mà một số nhà lí luận cho
rằng có thể làm mất đi sự thay đổi xã hội. R.Brown thì giả định rằng đám đơng
là đồng nhất, cho thấy thay vì những ngƣời tham gia tồn tại trên một liên tục,
khác nhau trong khả năng của họ để đi chệch khỏi các chuẩn mực xã hội.
Khác với sự đối lập đám đông thấp kém của Lebon, Ortega Y Gasset coi
xã hội là sự thống nhất của hai yếu tố: Giới tinh hoa và các đám đông.
15
Nhà phê bình ngƣời Anh - Raymond Williams đã có cái nhìn rất sâu sắc:
“Trong các loại hình xã hội, chúng ta thấy những ngƣời khác rất thƣờng xuyên,
trong vô số biến thể khác nhau; một cách hữu hình, ln đứng cạnh nhau. Họ ở
đây, và chúng ta cũng ở cùng với họ. Vấn đề là chúng ta khơng thốt khỏi họ.
Đối với ngƣời khác, chúng ta cũng là đám đông. Đám đông là những ngƣời
khác, những ngƣời mà chúng ta khơng biết và khơng thể biết”.
Qua việc tìm hiểu trên, tôi nhận thấy rằng: đám đông là một hiện tượng
phổ biến trong xã hội hiên nay, họ là một tập thể, một nhóm người phản ánh
những tính chất khác nhau của xã hội. Nghiên cứu về đám đông sẽ giúp chúng
ta hiểu rõ hơn được bản chất, những suy nghĩ của con người trong cùng một tập
thể chứ không phải là một cá thể riêng lẻ nữa (Ngƣời viết nhấn mạnh).
1.1.3. Thuật ngữ “tâm lí đám đơng”
1.1.3.1. Sự hình thành đám đơng
Ở trên, chúng ta đã đi tìm hiểu và hiểu rõ đƣợc những nét khái quát về
khái niệm tâm lí và khái niệm đám đơng. Tâm lí là một hiện tƣợng tinh thần rất
quan trọng , là đời sống nội tâm vô cùng phong phú và đa dạng của con ngƣời,
nó gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con ngƣời. Đám đơng có
nghĩa là một sự kết hợp của những cá nhân bất kì khơng phụ thuộc vào dân tộc,
giới tính và ngun do kết hợp. Việc chỉ ra tâm lí đám đơng là kết quả hoạt động
khoa học của nhà tâm lí học ngƣời Pháp Gustave Le với cơng trình Tâm lí học
đám đông (1985). Trong cuốn sách này, tác giả đã khẳng định: “Thời đại mà
chúng ta bƣớc vào sẽ thực là thời đại của những đám đơng” [3;19]. Vậy thì ta
hiểu khái niệm về tâm lí đám đơng nhƣ thế nào?
Theo S.Freud “tâm lí đám đơng là một tập hợp ngƣời có sự gắn bó libido
với tộc trƣởng (lãnh tụ) và giữa các cá nhân với nhau” [6]. Khái niệm tâm lí đám
đơng nhằm phân biệt với một đám đơng nhẫu nhiên.
Lí giải về vấn đề này, Le Bon đã đƣa ra những chính kiến thuyết phục để
lí giải một hiện tƣợng đời sống tâm lí con ngƣời: tâm lí đám đông. Đề tài này sẽ
dựa vào cuốn sách trên và có phần trích dẫn những quan điểm của Le Bon, từ đó
có những đánh giá, phân tích theo cách hiểu của bản thân ca nhân ngƣời viết.
16
Theo Gustave Le Bon, trong cuốn Tâm lý học đám đông, những đám đông
luôn bị vô thức tác động, họ xử sự nhƣ ngƣời ngun thuỷ, ngƣời dã man, khơng
có khả năng suy nghĩ, suy luận, mà chỉ cảm nhận bằng hình ảnh, bằng sự liên
kết các ý tƣởng, họ không kiên định, thất thƣờng, và đi từ trạng thái nhiệt tình
cuồng loạn nhất đến ngây dại ngớ ngẩn nhất. Vả lại, do thể trạng của mình,
những đám đơng ấy cần có một thủ lĩnh, một ngƣời cầm đầu, kẻ có thể dẫn dắt
họ và cho bản năng của họ một ý nghĩa. Le Bon đã chỉ rõ đó là sự ngộ ngận và
cho thấy rằng, có những tiêu chí để làm nên tên gọi là đám đơng. Đó chính là
“Tâm lí đám đơng”.
Theo tác giả: “Hành động vơ thức của đám đơng thay thế cho hoạt động
có ý thức của mỗi cá nhân là một trong những điểm chính của thời hiện tại”
[2;20]. Le Bon cho rằng mỗi một cá nhân lại có một ý thức tâm lí riêng, là suy
nghĩ cá nhân của từng ngƣời. Nhƣng khi một số cá nhân này họp nhau lại thành
đám đông để hành động, thì chính sự áp sát nhau của những cá nhân này sẽ sinh
ra một số nét tâm lí mới, những nét tâm lí này lại tạo nên tâm hồn của chủng tộc
đó và nó là điểm chính của thời đại lúc bấy giờ.
Le Bon chỉ ra vai trò, cho thấy quyền lực của đám đông: “Trên đống đổ
nát của biết bao tƣ tƣởng, đƣợc coi là chân lí trƣớc đây nhƣng nay đã chết, của
biết bao quyền lực mà cuộc cách mạng đã liên tiếp đập tan, thì quyền lực của
đám đông là cái bậc nhất vƣợt lên, và nó sớm đƣợc giao cho sứ mệnh hấp thu
hết những quyền lực khác. Trong khi mọi niềm tin cổ xƣa đều trao đảo và biến
mất, những trụ cột già cỗi của xã hội lần lƣợt sụp đổ thì quyền lực của đám đơng
là lực lƣợng duy nhất chẳng gì đe dọa nổi và uy thế của nó ngày càng lớn lên”
[3;29]. Việc nảy sinh quyền lực đám đồn, xuất phát từ việc một số tƣ tƣởng đã
du nhập vào bộ não của con ngƣời, rồi từng bƣớc liên kết với những cá nhân để
hiện thực hóa về mặt lí thuyết. Và qua đó, sức mệnh đám đơng trở nên vơ cùng
to lớn: “Những tín điều mà ta thấy đang nảy sinh chẳng mấy chốc sẽ có sức
mạnh nhƣ những tín điều xƣa cũ, nghĩa là sức mạnh chuyên chế và tối thƣợng
không đƣợc bàn cãi. Luật thiêng của đám đông thay thế luật thiêng của vua
chúa”. [3;31].
17
Le Bon quan niệm: “Đám đơng tâm lí là một tồn tại tạm thời, hợp thành
bởi những yếu tố dị loại chỉ gắn kết với nhau thành một sinh vật mới, biểu lộ
những tính cách rất khác biệt với tính chất mà riêng từng tế bào đã có” [2;48].
Theo Le Bon, nếu các cá nhân trong đám đông đã liên kết với nhau thành một
khối thống nhất thì nhất định phải có yếu tố nào đó gắn kết chúng lại vớ nhau và
có thể là đặc trƣng của đám đơng.
Qua việc tìm hiểu trên, tơi nhận thấy rằng: tâm lí đám đơng là một nhánh
của tâm lí học xã hội nghiên cứu về tâm lí và hành xử của một người bình
thường trong những hoạt động mang tính chất tập thể. Nghiên cứu tâm lí đám
đơng giúp chúng ta có sơ sở để phân tích nét tâm lí này trong các tác phẩm văn
học cụ thể, qua đó khẳng định được tài năng và những đóng góp bậc thầy của
các tác giả khi đưa một nét tâm lí mới này và trong tác phẩm của mình (Ngƣời
viết nhấn mạnh).
1.1.3.2. “Tình cảm” và “đạo đức” của đám đơng
a. “Tình cảm” của đám đơng
Khi nghiên cứu về những đặc tính cơ bản của đám đông, Le Bon đã chỉ rõ
đám đông hầu nhƣ bị vơ thức điều khiển. Theo ơng, tình cảm đám đông đƣợc
biểu hiện qua những phƣơng diện sau:
Thứ nhất, là tính bốc đồng, dễ thay đổi và tính dễ bị kích động của đám
đơng. Những hành vi của nó thƣờng chịu ảnh hƣởng của hệ thần kinh thực vật
hơn là của não. Về phƣơng diện này, đám đông gần giống với nguyên thủy.
Những hành vi thực thi có thể đƣợc thực hiện một các hoàn hảo, song não bộ lại
không chỉ đạo những hành vi ấy, nên cá nhân hành động ngẫu nhiên tùy theo các
kích thích. Đám đơng là trị chơi của mọi kích thích bên ngồi và phản ánh
những biến đổi khơng ngừng của chúng. Vì vậy, đám đơng chính là nơ lệ của
các kích thích mà nó thu nhận. Mỗi cá nhân riêng lẻ có thể cùng chịu những kích
thích nhƣ con ngƣời trong đám đơng; nhƣng vì bộ não chỉ ra những bất lợi khi
nhƣợng bộ điều đó, nên nó khơng nhƣợng bộ. Về mặt sinh học, đó là điều ngƣời
ta có thể biểu lộ khi nói rằng cá nhân tách riêng có khả năng làm chủ những
phản xạ của mình, nhƣng đám đơng thì không.
18
Những xung đột khác nhau mà đám đông phải tuân theo này, tùy theo các
kích thích mà những cơn bốc đồng của đám đơng có thể là độ lƣợng hay tàn bạo,
anh hùng hay hèn nhát, nhƣng các xung đột ấy ln quyết liệt đến mức lợi ích cá
nhân và thậm chí cả sự tồn tại của chính cá nhân khơng chế ngự đƣợc nữa. Các
kích thích tác động vào đám đông thay đổi liên tục một cách đa dạng và đám
đông luôn tuân theo chúng, do vậy mà đám đơng cực kì dễ dao động và dễ biến
đổi; và chính vì thế ta thấy họ trong phút chốc có thể chuyển từ trạng thái tàn
bạo đẫm máu nhất sang trạng thái khoan dung độ lƣợng nhất hoặc can đảm nhất.
Một đám đơng có thể dễ dàng trở thành đao phủ, nhƣng cũng khơng khó để trở
thành một kẻ tử vì đạo. Chính vì trong tim họ ln tràn đầy nhiệt huyết, mà đây
là điều rất cần cho sự khải hồn của mỗi đức tin. Khơng cần phải ngƣợc dịng
lịch sử về với thời đại anh hùng để thấy đƣợc những gì đám đơng có thể làm.
Theo những gì chúng ta nói ở trên, thì khi có một cc chiến nào nổi dậy, họ
không bao giờ tiếc sinh mạng của mình; và chỉ cách đây khơng lâu, một vị tƣớng
đã đƣợc lịng dân dễ dàng có đƣợc hàng nghìn ngƣời sẵn sang hy sinh vì sự
nghiệp của ơng ta nếu vị tƣớng đó u cầu.
Và những điều đƣợc mƣu tính trƣớc, lên kế hoạch sẵn thì khơng tồn tại
trong đám đơng. Đám đơng có thể liên tiếp chuyển đi qua các sắc thái tình cảm
rất trái ngƣợc nhất, song vẫn ln do ảnh hƣởng của những kích thích nhất thời.
Họ giống nhƣ những chiếc lá bị giông bão cuốn lên, tan tác thành từng ngả rồi
rơi xuống.
Tính thay đổi của đám đơng làm cho nó rất khó điều khiển, đặc biệt là khi
một phần quyền lực công rơi vào tay họ. Khi những nhu cầu cần thiết của cuộc
sống hàng ngày khơng phải là một nhân tố điều hịa vơ hình của sự vật, thì các
nền dân chủ cũng khó tồn tại lâu dài. Ngay cả khi đám đông ƣớc muốn điều gì
một cách cuồng nhiệt thì những mong muốn đó cũng khơng tồn tại q lâu, điều
này cho thấy rõ nét về tính hay thay đổi của tâm lí đám đơng. Nó khơng có ý chí
bền bỉ, cũng nhƣ là khả năng tƣ duy.
Đám đơng khơng chỉ có tính bốc đồng và tính hay thay đổi. Giống nhƣ
những kẻ hoang dã, họ khơng cho phép bất cứ thứ gì hay điều gì xem vào giữa
19
sự thèm muốn và việc thỏa mãn sự thèm muốn đó. Họ càng ít cho phép hơn khi
hiểu rằng đám đông đảm bảo cho họ về sức mạnh bất khả kháng. Đây là khái
niệm về điều không thể biến mất ở mỗi cá nhân trong đám đông. Một cá nhân
đơn lẻ ý thức rất rõ ràng về việc anh ta khơng thể một mình đốt cháy một cung
điện, cƣớp phá một cửa hàng. Và nếu bị xúi giục thì anh ta sẽ dễ dàng kháng cự
đƣợc cám dỗ của chính mình. Nhƣng khi là thành viên của đám đơng, anh ta sẽ
nhận rõ sức mạnh của số đông mang lại và chỉ cần gợi lên cho anh ta ý tƣởng về
việc giết ngƣời hay là cƣớp bóc là đủ để anh ta sẵn sàng tuân phục cám dỗ. Một
vật cản vơ tình sẽ bị đập tan trong cơn thịnh nộ. Nếu cơ thể ngƣời cho phép giận
dữ vĩnh tồn, thì ta có thể nói rằng giận dữ là trạng thái bình thƣờng của đám
đơng bị dồn nén.
Các tính cách cơ bản đó vốn là ngọn nguồn khơng thay đổi nảy sinh mọi
tình cảm của chúng ta, ln tác động đến tính dễ bị kích động, thói bốc đồng và
tính dễ bị thay đổi của đám đông, cũng nhƣ đến tất cả các tình cảm phổ biến mà
chúng ta sẽ nghiên cứu. Mọi đám đơng đều bị kích động và bốc đồng, tuy nhiên
nó cũng tùy thuộc vào những mức độ khác nhau. Một đám đông Latinh và một
đám đông Anglo – Saxon rất khác nhau. Những sự kiện gần đây nhất trong lịch
sử nƣớc Pháp là bằng chứng sống động về điều này. Năm 1870, chỉ việc công bố
bức điện tín tƣờng trình việc một vị đại sứ hình nhƣ bị xúc phạm đã làm bùng
lên một cơn thịnh nộ, và đó là nguyên nhân dẫn đến một cuộc chiến khủng
khiếp. Vài năm sau, cũng chỉ vì một bức điện về thất bại nhỏ tại Lạng Sơn
(trong chiến tranh Pháp – Thanh 1984 – 1985) lại gây ra một cơn giận dữ mới
dẫn đến sự việc chính phủ bị giải tán. Nhƣng cùng thời điểm đó, thất bại nặng nề
hơn nhiều của quân viễn chinh Anh tại Sudan chỉ gây nên một xáo động nhỏ và
chẳng có bộ nào bị lật đổ. Nhƣ vậy, chúng ta có thể thấy rằng, đám đơng mang
thói bốc đồng, tính hay thay đổi và dễ bị kích động.
Thứ hai, là tính dễ bị ám thị và tính cả tin của đám đơng. Khi định nghĩa
về đám đơng, chúng ta đã nói một trong những đặc tính chung về tình cảm của
đám đơng là tính dễ bị ám thị, điều này lí giải cho việc tình cảm nhanh chóng
hƣớng về một chiều nhất định. Tuy nhiên, dù ta giả định đám đông tập trung đến
20
mấy, thì nó vẫn đứng ở trạng thái chờ đợi, thuận lợi cho tiếp nhận ám thị. Ám thị
đầu tiên đƣợc đƣa ra là qua sự lây nhiễm, não bộ lập tức đƣợc áp đặt và sự định
hƣớng cũng đƣợc thiết lập ngay. Cũng nhƣ ở tất cả những ngƣời bị ám thị, ý
tƣởng đi vào não bộ có xu hƣớng biến thành hành động. Dù là phá hủy một cung
điện hay là tận tụy hy sinh bản thân mình, đám đông cũng sẵn sàng. Tất cả phụ
thuộc vào bản chất của các tác nhân kích thích chứ khơng phụ thuộc vào mối
liên hệ giữa hành động bị ám thị và những lí do có thể ngăn cản việc thực hiện
hành động đó.
Do đó đám đơng “ln lang thang trong ranh rới của sự vô thức, dễ dàng
chịu mọi ám thị, có sự mãnh liệt trong cảm xúc phù hợp với những ngƣời khơng
chịu ảnh hƣởng của lí trí, chẳng có tinh thần phê phán, đám đơng cũng q cả
tin” [3;53]. Đối với đám đơng, khơng có gì là khơng thể.
Những gì lƣu truyền trong đám đơng khơng chỉ vì tính cả tin mà cịn do
sự xun tạc các sự kiện trong trí tƣởng tƣợng của đám đơng một cách khủng
khiếp. Có khi chỉ là những sự kiện bình thƣờng nhất cũng bị đám đơng bóp méo.
Đám đơng suy nghĩ bằng hình ảnh và khi hình ảnh hiện lên lại kéo theo một
chuỗi các hình ảnh mới chẳng có liên hệ logic nào với hình ảnh ban đầu. Để hiểu
rõ hơn thì chúng ta có thể liên tƣởng đếm một loạt ý nghĩa kỳ cục mà đôi khi
một sự việc bất kì dẫn dắt chúng ta tới. Lí trí cho ta thấy những hình ảnh rời rạc,
nhƣng đám đơng lại khơng để ý đến và thậm chí lại trộn thêm trí tƣởng tƣợng
méo mó vào những sự kiện có thật. Đám đông không phân biệt đƣợc cái chủ
quan và khách quan. Đám đơng ln ý thức rằng những hình ảnh gợi lên trong
tâm thức là thực, và thƣờng hình ảnh ấy lại khác xa với thực tại đƣợc quan sát.
Do các cá nhân trong đám đơng có tính cách khác nhau nên đám đông
nhào nặn sự việc mà họ chứng kiến theo cách thức khác nhau. Sự bóp méo đầu
tiên là hạt nhân làm lây nhiễm ám thị. Qua lây nhiễm và ám thị, bất cứ một điều
gì do một ngƣời lan truyền lại đƣợc đám đông tiếp nhận ngay. Quá trình hình
thành hoang tƣởng thƣờng xảy ra trong lịch sử, có những đặc điểm đƣợc mang
tính xác thực, vì đó là những hiện tƣợng đƣợc hàng nghìn ngƣời chứng kiến.