Tải bản đầy đủ (.pdf) (50 trang)

Trần thuật phi hư cấu trong lời nguyện cầu từ chernobyl của svetlana alexievich

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (871.11 KB, 50 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH

VŨ THỊ KIM ANH

TRẦN THUẬT PHI HƯ CẤU TRONG LỜI NGUYỆN CẦU TỪ
CHERNOBYL CỦA SVETLANA ALEXIEVICH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: ĐHSP Ngữ văn

Phú Thọ, 2020


TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH

VŨ THỊ KIM ANH

TRẦN THUẬT PHI HƯ CẤU TRONG LỜI NGUYỆN CẦU TỪ
CHERNOBYL CỦA SVETLANA ALEXIEVICH

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: ĐHSP Ngữ văn

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. Đặng Thị Bích Hồng

Phú Thọ, 2020


i


LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm đạo đức trong học thuật. Tôi
cam kết nghiên cứu này là do tôi thực hiện đảm bảo trung thực, không vi phạm
yêu cầu về đạo đức trong học thuật.
Tác giả

Nhận xét của GVHD


ii

LỜI CẢM ƠN
Với sự kính trọng và tấm lịng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất đến TS. Đặng Thị Bích Hồng – người đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn, giúp đỡ tơi nghiên cứu và hồn thành luận văn này.
Tơi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa học xã hội và Văn hóa du
lịch, Trường Đại học Hùng Vương đã giảng dạy, trang bị kiến thức và tạo điều
kiện thuận lợi để luận văn của tôi đạt được kết quả cao nhất. Tơi xin gửi lời biết
ơn đến gia đình và bạn bè đã ln ln ủng hộ, khích lệ, giúp đỡ tơi trong q
trình thực hiện luận văn.
Với sự nỗ lực và cố gắng hết mình tơi đã hồn thành luận văn, tuy nhiên
luận văn của tôi cũng không tránh khỏi những khuyết điểm và thiếu xót. Tơi
kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của q thầy cơ và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Việt Trì, tháng 06 năm 2020
Sinh viên thực hiện


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM KẾT ...................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 2
3. Mục tiêu của khóa luận ..................................................................................... 6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 7
Chương 1: THỂ LOẠI VĂN HỌC PHI HƯ CẤU VÀ SVETLANA
ALEXIEVICH TRONG DÒNG VĂN HỌC PHI HƯ CẤU ............................... 8
1.1. Khái quát chung về thể loại văn học phi hư cấu ............................................ 8
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................... 8
1.1.2. Phân biệt văn học hư cấu và phi hư cấu ...................................................... 9
1.1.3. Các tiểu loại văn học phi hư cấu ................................................................. 9
1.1.4. Đặc trưng của thể loại phi hư cấu ............................................................. 12
1.2. Svetlana Alexievich trong dòng văn học phi hư cấu ................................... 14
1.2.1. Cuộc đời - sự nghiệp của Svetlana Alexievich ......................................... 14
1.2.2. Đặc điểm phong cách văn chương phi hư cấu của Svetlana Alexievich .. 15
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 18
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG LỜI
NGUYỆN CẦU TỪ CHERNOBYL .................................................................. 19
2.1. Vấn đề “người kể chuyện” trong văn học .................................................... 19
2.1.1. Khái niệm “người kể chuyện” .................................................................. 19
2.1.2. Phân loại người kể chuyện trong truyện kể .............................................. 19
2.2. Người kể chuyện nhân chứng trong Lời nguyện cầu từ Chernobyl ............ 21
2.2.1. Người kể chuyện/ tác giả như là người lắng nghe, quan sát ..................... 21


iv

2.2.2. Kể chuyện bằng điểm nhìn của nhân vật - vấn đề đạo đức trong trần thuật
phi hư cấu ............................................................................................................ 24
Tiểu kết chương 2................................................................................................ 26
CHƯƠNG 3 : CÂU CHUYỆN ĐƯỢC KỂ HIỆN THỰC CHERNOBYL SAU
THẢM HỌA HẠT NHÂN.................................................................................. 27
3.1. Thảm họa hạt nhân và sự ảnh hưởng đến thế giới tự nhiên ......................... 28
3.1.1. “Độc thoại về một viên đạn” hay là những con thú khơng có quyền
sống .......................................................................................................... 28
3.1.2. Những khu vườn Chernobyl hay là biểu tượng về một thảm thực vật
chết ...................................................................................................................... 30
3.2. Thảm họa hạt nhân và sự ảnh hưởng tới cuộc sống con người ................... 32
3.2.1. Người Chernobyl trên đường biên sống và chết ....................................... 32
3.2.2. Những chấn thương tinh thần sau thảm họa Chernobyl ........................... 35
Tiểu kết chương 3................................................................................................ 39
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 42


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
i. Trong rất nhiều thể loại, phi hư cấu là dịng sách nói về những thứ tồn
tại trong thực tế. Sách phi hư cấu thường phục vụ mục đích cung cấp thơng tin,
cung cấp kiến thức, truyền cảm hứng hoặc tổng hợp tài liệu. Các mảng mà sách
phi hư cấu bao trùm rất đa dạng, gồm có văn học, triết học, lịch sử, khoa học, kỹ
thuật, kinh tế, toán học, vật lý… Khi chúng ta đang cần tìm tài liệu để học, để
nghiên cứu, để tiếp cận kiến thực một cách thực tế, một cách khơng hốn dụ,
khơng ẩn ý, khơng tưởng tượng hoặc để tìm đến những lời khuyên, những giải
pháp cho các vấn đề thì sách phi hư cấu chính là một lựa chọn vô cùng hợp lý.
ii. Chiến tranh, thảm họa, thiên tai đã và còn là một đề tài lớn trong văn

chương nghệ thuật. Với Svetlana Alexievich, chúng ta từ bỏ loại văn học của
những thứ to tát, lên gân giả tạo về chiến tranh (và về cuộc sống nói chung), để
đến với văn học của cuộc sống thực, trần trụi và nhân bản. Svetlana Alexievich
sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948, là một nhà báo điều tra và nhà văn thể loại văn
xuôi hiện thực. Bà là người Beralus nhưng viết văn và báo bằng tiếng Nga. Bà
được trao giải Nobel văn học năm 2015 vì “lối viết phức điệu, một tượng đài
tưởng niệm người thống khổ và lòng can đảm trong thời đại của chúng ta”. Bà là
nhà văn Beralus đầu tiên nhận được giải thưởng này. Bên cạnh Chiến tranh
khơng có một khn mặt phụ nữ thì Lời nguyện cầu từ Chernobyl cũng là một
tác phẩm vô cùng xuất sắc và tiêu biểu cho lối viết phi hư cấu trong văn học hậu
hiện đại. Nhờ đó hai tác phẩm này đã vinh dự mang về cho Svetlana giải thưởng
Nobel văn học vô cùng cao quý.
iii. Lời nguyện cầu từ Chernobyl có thể coi là cuốn nhật kí hiếm hoi của
người Beralus về thảm họa Chernobyl - thảm họa mơi trường gây ảnh hưởng lớn
đối với tồn nhân loại. Nếu một câu hỏi được đặt ra, vấn đề gì là quan trọng nhất
đối với người Việt Nam hiện nay, thì chắc chắn một trong những vấn đề khơng
thể khơng kể ra, đó là vấn đề về mơi trường. Từ đó, độc giả thêm thấm thía
những bài học mà tác giả Svetlana đã gửi gắm đến mọi dân cư của tồn cầu
thơng qua những câu chuyện về Chernobyl mà bà đã ghi lại một cách trung thực


2
bằng lương tri và trách nhiệm của một nhà báo, nhà văn, một con người của quê
hương Beralus.
iv. Với sự hứng thú và say mê với thể loại trần thuật phi hư cấu, chúng tôi
tiếp cận tác phẩm Lời nguyện cầu từ Chernobyl với mong muốn được nghiên
cứu một trường hợp điển hình về văn học Phi hư cấu, từ đó nhận diện những độc
đáo của tác phẩm này cũng như những đóng góp của nhà văn vào đời sống thể
loại.
Với những lí do như vậy, chúng tơi lựa chọn đề tài “Trần thuật phi hư cấu

trong Lời nguyện cầu từ Chernobyl của Svetlana Alexievich”. Thực hiện đề tài
này, chúng tôi hướng đến làm rõ những nét đặc sắc của nghệ thuật phi hư cấu có
trong tác phẩm, từ đó góp một tiếng nói nhỏ trong việc nghiên cứu, học tập về
văn học Phi hư cấu của sinh viên ngành Sư phạm Ngữ Văn ở Trường Đại học
Hùng Vương.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về văn học phi hư cấu
Hiện nay, ở Việt Nam, các cơng trình nghiên cứu về vấn đề văn học phi
hư cấu theo tính chất học thuật chưa nhiều, bàn luận về phi hư cấu chủ yếu dừng
lại ở hình thức các bài viết, ý kiến trao đổi trên internet. Cụ thể trong bài báo
Sức hấp dẫn của văn chương phi hư cấu, tác giả Huỳnh Như Phương có viết:
"Trong thời đại thơng tin và tồn cầu hóa, văn xi phi hư cấu (Non-fiction)
ngày càng có vai trị to lớn và có tác động quan trọng tới độc giả không chỉ trong
lĩnh vực báo chí mà cả trong lĩnh vực văn học. Có thể nói lịch sử văn học giao
thoa với lịch sử báo chí là ở thể loại này. Trong văn bản phi hư cấu, người trần
thuật luôn là người chứng kiến câu chuyện được kể lại. Đó khơng phải là câu
chuyện được tưởng tượng mà là những sự kiện, biến cố có thật, có thể được
kiểm chứng một cách khách quan” [19]. Những sự việc và con người ở đây đều
phải được xác định rõ ràng về địa chỉ. Sức hấp dẫn mà văn xi phi hư cấu đem
lại chính là sức hấp dẫn của sự thật. Vì vậy mà người viết văn phi hư cấu thường
có tư chất của người nghiên cứu đi tìm sự thật. Điều chính yếu làm nên giá trị,


3
phẩm chất và ưu thế của văn phi hư cấu là tính chính xác và trung thực của nó.
Sự kiện đã xảy ra khi nào? Ở nơi chốn nào? Ai đã tham gia vào sự kiện đó?
Trong tất cả những trường hợp này, người đọc đòi hỏi câu trả lời cặn kẽ và rõ
nghĩa, dù đó là con số, ngày tháng, lời khẳng định hay phủ định. Huỳnh Như
Phương nhận định: “Những thể loại phi hư cấu được phổ biến rộng rãi trên báo
chí trước khi in thành sách là ký sự, phóng sự, hồi ký, bút ký, nhật ký, tạp bút…

Nhiệm vụ của ký sự là trình bày và giải thích những sự kiện mới và đặc biệt
quan trọng nhưng lúc đầu chưa được cơng chúng chú ý thích đáng” [19].
Bàn về sức hấp dẫn của văn xuôi phi hư cấu, tác giả Huỳnh Như Phương
chia sẻ rằng: “Trong văn bản phi hư cấu, người trần thuật luôn là người chứng
kiến câu chuyện được kể lại. Đó khơng phải là câu chuyện được tưởng tượng mà
là những sự kiện, biến cố có thật, có thể được kiểm chứng một cách khách quan.
Những sự việc và con người ở đây đều phải được xác định rõ ràng về địa chỉ.
Sức hấp dẫn mà văn xuôi phi hư cấu đem lại chính là sức hấp dẫn của sự thật. Vì
vậy mà người viết văn phi hư cấu thường có tư chất của người nghiên cứu đi tìm
sự thật” [19]
Đặt vấn đề Thêm cách nhìn về dịng văn học phi hư cấu: Bức xúc không
làm ta vô can, tác giả Ngọc Hà chia sẻ quan điểm của Đặng Hoàng Giang về tác
phẩm văn học phi hư cấu: “bước vào cuộc đời nhân vật, tác giả đóng vai là
người lắng nghe, khơng phán xét, không đưa ra lời khuyên, kỳ vọng hay an ủi…
và anh đã được chấp nhận. Bức tranh cuộc sống được “phơi bày” trong từng
trang sách là một cuộc “vật lộn” với hiện thực. Hiện thực đó là những con người
được lựa chọn trong số hàng chục nhân vật, hàng trăm giờ ghi âm của tác giả.
Trong số đó, có những số phận tưởng rằng sẽ đóng vai chính trong cuốn sách
nhưng lại khơng, có những câu chuyện tưởng là điểm kết nhưng lại xảy ra tình
huống bất ngờ…” [9]
Đặt câu hỏi Sách phi hư cấu:Dễ đọc, dễ viết nhưng có dễ dãi?, tác giả
Phan Thị Uyên đánh giá: “Làng văn đang trầm lắng thì sự nóng sốt của dạng
sách phi hư cấu được kỳ vọng là con đường dẫn dắt bạn đọc trở lại với văn
chương đỉnh cao. Nhưng trong trào lưu nhà nhà viết sách phi hư cấu, người


4
người viết sách phi hư cấu, không phải ai cũng có thể có được một tác phẩm
chất lượng, có chiều sâu, hấp dẫn người đọc.” [31].
Như vậy, ở Việt Nam, thể loại văn học phi hư cấu đã bắt đầu nhận được

sự quan tâm trong giới sáng tác và phê bình, tuy nhiên, những ý kiến về thể loại
văn học này vẫn cịn rải rác và chưa có những cơng trình nghiên cứu chuyên sâu.
2.2. Những nghiên cứu về Svetlana Alexievich
Sự nghiệp văn chương của Alexievich đã được chú ý ở Việt Nam, dnhất
là sau khi bà được trao giải Nobel văn học của Viện Hàn lâm khoa học Thụy
Điển. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu chun sâu về nữ nhà văn tài
năng này vẫn chưa thật phong phú.
Ngày 24-12, dưới sự tổ chức của Liên hiệp các Hội VHNT và Hội Nhà
văn TP Đà Nẵng, nhà văn Nguyên Ngọc đã có buổi nói chuyện với giới văn
nghệ sĩ và những người yêu thích văn học ở Đà Nẵng về nhà văn Svetlana
Alexievich (1948) - người nhận giải Nobel Văn học 2015. Với lối nói chuyện
hóm hỉnh, nhà văn Nguyên Ngọc đã cung cấp thêm một số thông tin khá thú vị
về nữ văn sĩ 67 tuổi người Belarus này. Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, việc
Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao Giải Nobel Văn học năm 2015 cho nữ
nhà văn Svetlana Alexievich là hoàn toàn xứng đáng. Đây cũng là lần đầu tiên,
Giải Nobel Văn học được trao cho một nhà văn chuyên viết thể loại văn học
không hư cấu (tạm dịch). Bà được xem là một trong số những nhà văn có giọng
văn đặc biệt - đa giọng điệu, phức điệu. Với thể loại tiểu thuyết khơng hư cấu
này, bà đã góp phần sáng tạo ra một thể loại văn học mới, phá vỡ ranh giới giữa
các thể loại khác. Cũng trong buổi trao đổi về giải Nobel Văn học 2015, nói về
những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của Svetlana Alexievich, nhà văn
Nguyên Ngọc đã khẳg định: "Nữ văn sĩ Svetlana Alexievich - một Dostoesky
không hư cấu, nhà văn Svetlana Alexievich rất chú ý quan sát đến lời nói sinh
động của con người trong cuộc sống. Bà tự ví mình là người phụ nữ “lỗ tai”. Bà
cho rằng, lời nói là một phần hết sức quan trọng trong đời sống con người. Cũng
theo bà, văn học chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của lời nói sinh động của
con người trong cuộc sống. Nhiều người trong giới chuyên môn đánh giá và cho


5

rằng bà là người sáng tạo ra một loại “tiểu thuyết lời nói”. Điều này được thể
hiện rõ nhất trong tác phẩm Chiến tranh khơng có khn mặt phụ nữ. Tác phẩm
này được lấy nguyên liệu từ những cuộc phỏng vấn của bà với hàng trăm phụ nữ
từng tham gia trong chiến tranh Thế chiến thứ II. Thông qua buổi trị chuyện,
một thơng điệp khác mà nhà văn Ngun Ngọc gửi đến cho những người sáng
tác đó chính là khơng ngừng sáng tạo, đột phá và khai phá” [26]
Nói về sự nghiệp của Svetlana Alexievich, nhà báo Vũ Văn Việt đã có
những nhận xét như sau: “Sự nghiệp văn chương của nữ văn sĩ Svetlana
Alexievich khắc họa đầy đủ Liên bang Xô Viết trong lịch sử nhân loại. Đúng
như dự đoán của nhiều người, nữ văn sĩ Svetlana Alexievich trở thành chủ nhân
giải Nobel Văn học thứ 112 trong lịch sử. Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố:
Giải Nobel Văn học 2015 được trao cho Svetlana Alexievich để tôn vinh những
dòng văn phức điệu của bà. Văn của bà là tượng đài tri ân sự đau khổ và lòng
dũng cảm trong thời đại chúng ta. Những dòng văn phi thường giúp nhân loại
hiểu biết sâu sắc hơn về cả một thời đại của thế giới - thời đại Liên bang Xơ
Viết” [30].
Đình Phương khi điểm tên 03 tác phẩm tiêu biểu đưa Svetlana Alexievich
đến với giải Nobel đã đánh giá sự kiện trao giải Nobel Văn học 2015 là một
“hiện tượng bất thường”, bất thường bởi “Chủ nhân giải thưởng không phải tiểu
thuyết gia hay nhà thơ như những năm trước mà là Svetlana Alexievich – tác giả
được biết đến nhiều hơn cả bởi những tác phẩm mang “hơi thở” báo chí” [18].
2.3. Những nghiên cứu về Lời nguyện cầu từ Chernobyl
Trong gia tài sáng tác được thế giới tôn vinh của Alexievich, gây tiếng
vang bậc nhất phải kể đến Lời nguyện cầu từ Chernobyl - cuốn sách xuất bản
năm 1998, phơi bày nỗi kinh hoàng của những người sống sót sau thảm họa hạt
nhân Chernobyl.
Cũng trong bài viết 03 tác phẩm tiêu biểu đưa Svetlana Alexievich đến với
giải Nobel, Đình Phương mơ tả Lời nguyện cầu từ Chernobyl là “tập hợp nhiều
bài phỏng vấn, là cảm xúc chân thật nhất của con người chịu ảnh hưởng sau sự



6
kiện này, đặc biệt là những người phụ nữ mất chồng, những người mẹ mất con,
và con cái mất cha” [18].
Nina L. Khrushcheva trong Thành tựu của Nobel văn học 2015 Svetlana
Alexievich nhận định Lời nguyện cầu về Chernobyl là tác phẩm suy ngẫm về ảnh
hưởng toàn cầu của thảm họa hạt nhân - một thảm họa không thể nào lý giải
nổi” [14].
Như vậy, các ý kiến bàn về Lời nguyện cầu về Chernobyl đều đã ít nhiều
chú ý đến đặc trưng lối viết phi hư cấu ở tác phẩm này. Tuy nhiên, chưa có một
bài viết nào nghiên cứu hệ thống về đặc sắc nghệ thuật trần thuật phi hư cấu
trong Lời nguyện cầu về Chernobyl của Alexievich.
3. Mục tiêu của khóa luận
Từ xác định cơ sở lý thuyết về nghệ thuật phi hư cấu trong dòng chảy văn
học đương đại, đề tài đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật
phi hư cấu trong tác phẩm Lời nguyện cầu từ Chernobyl của Svetlana
Alexievich để làm rõ những đặc sắc và đóng góp riêng của tác giả vào đời sống
thể loại văn học này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài của chúng tôi đặt ra và thực hiện các
nhiệm vụ như sau:
- Xác định nội hàm khái niệm văn học phi hư cấu và tìm hiểu những đặc
trưng cơ bản của thể loại văn học này.
- Phân tích và làm rõ đặc điểm hình tượng người kể chuyện trong Lời
nguyện cầu từ Chernobyl.
- Từ những câu chuyện được kể, tác phẩm tái hiện chân thực bức tranh
hiện thực Chernobyl sau thảm họa hạt nhân thảm khốc.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại những câu văn,
đoạn văn thể hiện đặc trưng của văn học phi hư cấu



7
- Phương pháp phân tích, bình giảng: phân tích, bình giảng những phương
diện nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật trần thuật phi hư cấu có trong tác phẩm.
Phương pháp này được sử dụng để đánh giá, phân tích, cảm nhận cái hay, cái
độc đáo, đặc sắc của nghệ thuật phi hư cấu trong tác phẩm.
- Phương pháp liên ngành: Sử dụng các kiến thức ngành liên quan như
ngôn ngữ, lý luận văn học, triết học, lịch sử... để tiếp cận cũng như vận dụng
những cơ sở lý thuyết đã có để giải quyết một số nội dung, đặc biệt là lý giải
những vấn đề liên quan đến văn học phi hư cấu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đặc sắc nghệ thuật trần thuật phi hư cấu trong tác phẩm Lời
nguyện cầu từ Chernobyl.
- Phạm vi nghiên cứu : Tác phẩm Lời nguyện cầu từ Chernobyl của tác
giả Svetlana Alexievich, dịch giả Nguyễn Bích Lan chuyển ngữ, NXB Phụ nữ
năm 2016.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài được cấu trúc
thành 3 chương:
Chương 1: Thể loại văn học phi hư cấu và Svetlana Alexievich trong dòng
văn học phi hư cấu
Chương 2. Đặc điểm hình tượng người kể chuyện trong Lời nguyện cầu từ
Chernobyl
Chương 3. Câu chuyện được kể: hiện thực Chernobyl sau thảm họa hạt
nhân


8
Chương 1: THỂ LOẠI VĂN HỌC PHI HƯ CẤU VÀ SVETLANA

ALEXIEVICH TRONG DÒNG VĂN HỌC PHI HƯ CẤU
1.1. Khái quát chung về thể loại văn học phi hư cấu
Trong đời sống văn chương đương đại, đồng thời với sự phát triển của
nhiều thể loại văn học khác nhau, phi hư cấu đang là một thể loại có xu hướng
nở rộ, là mảnh đất màu mỡ cho thu hút sự quan tâm của nhiều cây bút sáng tạo
cũng như sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình. Cùng với sự phát triển của
công nghệ thông tin, thời đại công nghệ số, phi hư cấu ngày càng chiếm một vị
trí hết sức quan trọng trong đời sống văn chương.
1.1.1. Khái niệm
Phi hư cấu, phi viễn tưởng hay phi giả tưởng (tiếng Anh: Non - Fiction hoặc
Nonfiction) là những câu chuyện có thật, thể hiện các sự kiện, sự vật... trong
thực tế. Người tạo ra nội dung phi hư cấu cần đảm bảo được độ chính xác của
các sự kiện, con người hay thơng tin mình trình bày. Nội dung phi hư cấu được
dùng để phân biệt với nội dung Hư cấu (giả tưởng - Fiction). Nội dung hư cấu là
những nội dung được sáng tạo hoàn toàn tự do, dựa trên tưởng tượng, chứa đựng
những yếu tố khơng có trong thực tế… Thuật ngữ này thường được dùng trong
văn học, đặc biệt là trong văn xuôi. Phi hư cấu là một trong hai thể loại văn học
chính, bên cạnh hư cấu (giả tưởng). Các tác phẩm phi hư cấu viết về người thật,
việc thật, thơng tin thật. Cịn các tác phẩm giả tưởng sẽ xử lý thông tin, sự kiện,
và các nhân vật hoặc đã qua nhào nặn, thêm thắt từ thực tế (tưởng tượng một
phần), hoặc hồn tồn khơng có thật (tưởng tượng tồn phần).
Lee Gutkind mơ tả: “Các thuật ngữ ‘sáng tạo’ và ‘phi hư cấu’ phản ánh
vấn đề hình thức. ‘Sáng tạo’ cho phép người viết sử dụng các kỹ thuật văn
chương, những kỹ thuật được sử dụng bởi các nhà văn, nhà soạn kịch, nhà thơ
để tạo ra thứ văn xuôi hiện thực chân xác về người thật, việc thật - một lối viết
hấp dẫn, sống động, kịch tính. Mục tiêu của sự ‘sáng tạo’ là làm cho câu chuyện
phi hư cấu được đọc như câu chuyện hư cấu, khiến độc giả bị mê hoặc bởi thực
tế như họ vẫn tưởng tượng. Nhưng câu chuyện là có thật” [11].



9
1.1.2. Phân biệt văn học hư cấu và phi hư cấu
Các chất liệu nghệ thuật, văn học... được dùng trong q trình sáng tạo
nội dung hư cấu nói chung thường không phù hợp để tạo ra nội dung Phi hư cấu.
Trên thực tế, những chất liệu này vẫn tồn tại trong các nội dung Phi hư cấu,
nhưng được điều chỉnh yếu và ít hơn nội dung hư cấu nhiều, nhằm làm nổi rõ
các thông tin thực trong tác phẩm.
Trực diện, rõ ràng, và thẳng thắn là một số đặc điểm quan trọng của thể
loại Phi hư cấu. Nếu như trong hư cấu, người viết tin rằng độc giả sẽ tìm tòi để
tự hiểu những lời dẫn gián tiếp, lời giải tích trừu tượng về chủ đề, thì những
người sáng tạo nội dung Phi hư cấu lại thấy việc trực tiếp cung cấp thơng tin hữu
ích và có khả năng mở rộng hơn. Việc hiểu được đối tượng độc giả tiềm năng
dùng tác phẩm của mình như thế nào và nền tảng kiến thức của họ là hai điều
căn bản để viết được một tác phẩm Phi hư cấu hiệu quả.
Mặc dù Phi hư cấu dựa trên sự thật, nhưng mỗi sự thường có nhiều quan
điểm, góc nhìn. Một tác phẩm phi hư cấu cần đủ sức thuyết phục người đọc để
họ đồng ý với các ý tưởng. Chính vì vậy, các luận điểm của tác phẩm phi hư cấu
cần công, bằng nhất quán và truyền tải đến độc giả rằng : Những ý kiến trái
chiều và tranh luận là vô cùng quan trọng.
Ranh giới giữa Hư cấu và Phi hư cấu đang dần được xóa nhịa và gây
nhiều tranh cãi khi, đặc biệt là trong mảng viết về tiểu sử; như Vigina Woolf
từng nói: Nếu chúng ta coi sự thật là một thứ vững như đá hóa cương và coi cá
tính con người là một thứ mơ hồ như cầu vồng, và mục đích của văn tiểu sử là
để nối hai thứ đó vào làm một tổng thể liền mạch, thì chúng ta phải thừa nhận
vấn đề là một thứ cứng đầu và rằng chúng ta không cần phải tự hỏi nếu người
viết tiểu sử phần thất bại trong việc giải quyết đó.
1.1.3. Các tiểu loại văn học phi hư cấu
Trong bài báo Sức hấp dẫn của văn chương phi hư cấu, tác giả Huỳnh
Như Phương cũng đã chỉ ra rằng: “Nội dung phi hư cấu dạng viết được sử dụng
trong nhiều mảng: Văn học, triết học, lịch sử, khoa học, kỹ thuật, kinh tế... Các



10
thể loại phi hư cấu dạng viết bao gồm: Tiểu luận, tiểu sử, hồi ký; bài hướng
dẫn... viết dưới dạng sách, báo chí, blog…
Ngồi ra , hình nhiếp ảnh, bản vẽ kỹ thuật, đồ thị, ... cũng thường được
xếp vào Phi hư cấu. Bên cạnh các nội dung dạng viết như sách hay báo chí.
Các thể loại khác khơng được xếp hẳn vào hư cấu và phi hư cấu là như là
thư, tạp chí, và các thể loại biểu đạt khác của trí tưởng tượng. Chúng có thể
thuộc cả hư cấu lẫn phi hư cấu, có thể là một trong hai hoặc cũng có thể là bán
hư cấu (Semi - fiction ) hoặc có thể là sự giao thoa cân bằng giữa cả hai thể loại.
Trong văn bản phi hư cấu, người trần thuật luôn là người chứng kiến câu
chuyện được kể lại. Đó khơng phải là câu chuyện được tưởng tượng mà là
những sự kiện, biến cố có thật, có thể được kiểm chứng một cách khách quan.
Những sự việc và con người ở đây đều phải được xác định rõ ràng về địa chỉ.
Sức hấp dẫn mà văn xi phi hư cấu đem lại chính là sức hấp dẫn của sự thật. Vì
vậy mà người viết văn phi hư cấu thường có tư chất của người nghiên cứu đi tìm
sự thật.
Điều chính yếu làm nên giá trị, phẩm chất và ưu thế của văn phi hư cấu là
tính chính xác và trung thực của nó. Sự kiện đã xảy ra khi nào? Ở nơi chốn nào?
Ai đã tham gia vào sự kiện đó? Trong tất cả những trường hợp này, người đọc
đòi hỏi câu trả lời cặn kẽ và rõ nghĩa, dù đó là con số, ngày tháng, lời khẳng
định hay phủ định.
Văn bản phi hư cấu giống như những mảnh tranh ghép, được xây dựng từ
những bức chân dung nhân vật, những bức tranh miêu tả cảnh quan đời người và
sân khấu chính trị – xã hội, những suy niệm và trầm tư thế sự…
Tiếp xúc với một văn bản phi hư cấu, độc giả có niềm tin rằng đây là cuộc
đời tự nó lên tiếng và người trần thuật khơng can thiệp làm méo mó bản chất của
sự kiện. Nhưng đồng thời, độc giả cũng chờ đợi cuộc gặp gỡ với một người trần
thuật sâu sắc và tinh tường, có năng lực phán xét thơng minh và nhạy bén. Nếu

khơng, bức tranh sự kiện có thể trở nên xanh xao, thiếu máu và tác giả có thể bị
trách cứ là ngây thơ, ngờ nghệch, thụ động trước đời sống.


11
Những thể loại phi hư cấu được phổ biến rộng rãi trên báo chí trước khi in
thành sách là ký sự, phóng sự, hồi ký, bút ký, nhật ký, tạp bút… Nhiệm vụ của
ký sự là trình bày và giải thích những sự kiện mới và đặc biệt quan trọng nhưng
lúc đầu chưa được cơng chúng chú ý thích đáng.
Ký sự ln ở vùng giáp ranh giữa báo chí và văn học, cho phép văn học
nhanh chóng hưởng ứng những đề tài và vấn đề thời sự của xã hội và con người.
Ký sự đa dạng về nội dung, nó liên quan đến những vấn đề chính trị, kinh tế,
khoa học và văn hóa, miêu tả những hiện tượng trong đời sống xã hội, thiên
nhiên và môi trường, những câu chuyện ở chiến trường và pháp đình, những
điển hình tiêu biểu cho các nhóm lợi ích và nghề nghiệp khác nhau…
Phóng sự có đặc điểm là tính kịp thời, sự dồn nén thông tin và văn phong
năng động. Là một thể loại phi hư cấu, phóng sự cịn mang yếu tố chính luận:
câu chuyện kể về các sự kiện được xen kẽ với những suy nghĩ và bình luận
ngoại đề của tác giả. Đối tượng của phóng sự thường là những tình huống cực
đoan: tai nạn, thảm họa, những sự kiện ở các điểm nóng, chẳng hạn ở vùng
chiến sự, thiên tai…
Hồi ký là một dạng văn phi hư cấu, một dạng văn học tư liệu, đồng thời
cũng là hình thức văn xi tự thuật. Đó là sự trần thuật về những sự kiện và hiện
tượng trong đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, nghệ thuật mà tác giả là người
chứng kiến hay tác nhân của lịch sử, với những nhân vật mà người ấy tiếp xúc.
Ở Việt Nam có một số hồi ký của các nhà văn được chú ý như Cát bụi chân
ai và Chiều chiều của Tơ Hồi, Ta đã làm chi đời ta của Vũ Hồng
Chương, Những nhân vật ấy đã sống với tơi của Nguyên Hồng, Từ bến sông
Thương của Anh Thơ, Hồi ký của Nguyễn Hiến Lê, Hồi ký song đôi của Huy
Cận… Ngồi ra cịn có hồi ký của một số nhà hoạt động nghệ thuật như Phạm

Duy, Trần Văn Khê…
Trong văn học Việt Nam cũng như thế giới đã từng xuất hiện khơng ít
trường hợp những tác phẩm phi hư cấu là đề tài tranh luận của giới sáng tác và
phê bình, khi nó viết về những con người và sự kiện có thật nhưng đưa ra những
nhận xét chủ quan và tùy tiện làm tổn thương không chỉ nhân vật mà cả niềm tin


12
của độc giả. Điều này đặt ra một trong những vấn đề cốt lõi của thể loại phi hư
cấu, đó là sự ràng buộc đạo đức của người viết và giới hạn can thiệp của người
này vào cuộc đời riêng tư của người khác. Lynn Bloom giải thích: “Những gì
vốn được coi như sự thật hóa ra lại là những thứ mơ hồ, khơng chắc chắn. Điều
gì đúng với nhà văn cũng đúng với độc giả, chúng ta trải nghiệm cuộc sống
nhiều hơn, học hỏi bản thân nhiều hơn, và khi thế giới tự thay đổi, chúng ta nhận
thức được về các sự kiện, về con người. Nhưng cho dù những sự kiện của câu
chuyện vẫn giữ nguyên thì sự thật của nó - giống như những ấn tượng theo thời
gian - cũng có thể thay đổi” [11].
1.1.4. Đặc trưng của thể loại phi hư cấu
Mô tả về thể loại phi hư cấu, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều ý kiến khác
nhau. Trong bài viết Nghệ thuật trình hiện sự thật: kể chuyện phi hư cấu trong
Lời nguyện cầu từ Chernobyl của Svetlana Alexievich, Đặng Thị Bích Hồng đã
lược thuật những quan điểm nghiên cứu về thể loại văn học này [11]. Cụ thể như
sau:
Phillip Gerard liệt kê năm đặc điểm của thể loại bao gồm: 1. một chủ đề rõ
ràng (yếu tố thuyết giảng) và một chủ đề ở bề sâu (liên quan đến chuỗi tư duy
trong tâm trí nhà văn); 2. tác phẩm khơng nhất thiết phải được viết ‘ngay lập
tức’, tồn tại độ căng trong mối quan hệ giữa tính cấp thiết của sự kiện với độ mở
về ý nghĩa của chúng; 3. khung trần thuật (cảnh, định hướng hành động, nhân
vật, đối thoại); 4. sự phản ánh, điểm dừng của ý tưởng; sự đồng cảm về ý tưởng;
5. sự chú ý kỹ thuật viết lách. Phi hư cấu là sự thật. Sáng tạo phi hư cấu là hành

vi kể chuyện. Nó được đọc như thể hư cấu nhưng phải đảm bảo trung thành với
sự thật. Theo Gerard, các hình thức của thể loại phi hư cấu có thể là tiểu luận,
hồi ký, khám phá tự nhiên, phân tích chính trị, tái hiện điều tra, hồ sơ cá nhân…
Nhiệm vụ đặc biệt của nhà văn là tạo dựng đoạn mở đầu thu hút sự chú ý của
độc giả và thiết kế đoạn kết với những dư âm dài lâu. Một tác phẩm phi hư cấu
hấp dẫn tạo ra từ các yếu tố hư cấu: đối thoại, cốt truyện, xung đột… Quan điểm
của Gerard được minh chứng trong tác phẩm của khơng ít cây bút phi hư cấu nổi
tiếng như Terry Tempest Williams, Annie Dillard, Barry Lopez, Ron Powers…


13
Robert L. Root và Michael Steinberg liệt kê năm yếu tố của sáng tạo phi hư
cấu là: 1. sự hiện diện cá nhân, dù đó là tác phẩm hướng đến sự tự thể hiện của
người viết hay tác phẩm tái hiện thực tế khách quan bên ngoài mà tác giả chỉ là
người quan sát thì bạn đọc vẫn được đặt vào hành trình khám phá thế giới tinh
thần của nhà văn; 2. tự khám phá, tự trải nghiệm, thể loại phi hư cấu cho phép
nhà văn tự do khám phá mà không cần bất cứ một dự kiến nào về sự kết thúc.
Các thao tác tự do tìm hiểu, đặt câu hỏi, thăm dị, phân tích, nghiền ngẫm, lo
lắng, lật ngược vấn đề… được cho phép, thậm chí khuyến khích trong thể loại
phi hư cấu; 3. sự linh hoạt của hình thức, sáng tạo phi hư cấu là khu vực để các
nhà văn thử nghiệm và mở rộng ranh giới giữa các thể loại, vận dụng linh hoạt
các kỹ thuật văn chương; 4. tính chính xác, sáng tạo phi hư cấu là hiện thực
được xác tín bằng kinh nghiệm thực tế, tác giả hoặc trải nghiệm trực tiếp hoặc là
người quan sát và ghi lại sự kiện; 5. sự tiếp cận ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ của
sáng tạo phi hư cấu như là ngôn ngữ văn học, cũng giàu chất tưởng tượng, cũng
có giá trị trữ tình, tự sự, tạo dựng kịch tính… Trong khi thừa nhận phi hư cấu là
thể loại thứ tư, tương đương với thơ, văn xuôi và kịch, cuốn sách tập trung vào
các tiểu loại của hình thức phi hư cấu bao gồm hồi ký, viết về thế giới tự nhiên,
tiểu luận cá nhân, báo chí văn học, phê bình văn hóa và viết về trải nghiệm du
lịch.

Lee Gutkind cho rằng, một trong những thách thức của sáng tạo phi hư cấu
là viết sự thật theo phong cách chính xác và nhiều thơng tin như phóng sự nhưng
lại phải mang tính cá nhân, khiêu khích và kịch tính như là hư cấu. Yếu tố tạo
nên sự song song giữa sáng tạo phi hư cấu với nghệ thuật trần thuật và phân biệt
nó với lối viết phi hư cấu thông thường là “cảnh” (the scene). Cảnh, theo
Gutkind, gồm họa tiết, tình tiết, lát cắt của hiện thực và những yếu tố tương tự
như thế, là yếu tố chính để phân biệt sáng tạo phi hư cấu với phong cách báo chí
truyền thống hay những lối viết văn xuôi vô vị. Một nhà văn kém tài sẽ “nói”
(tell) với độc giả về một chủ đề, một khơng gian, một tính cách, trong khi một
nhà văn phi hư cấu sẽ “trưng ra” (show) chủ đề đó, khơng gian đó hoặc thể hiện
tính cách trong hành động.


14
Từ quá trình lược thuật này, tác giả nhận định: “trong sáng tạo phi hư cấu,
nhà văn sử dụng những kỹ thuật của văn chương hư cấu để kể câu chuyện có
thật mang tính cá nhân riêng tư, từ đó lan tỏa ý nghĩa, giá trị của câu chuyện
được kể. Trong trần thuật phi hư cấu, người kể chuyện đồng nhất với tác giả người duy nhất có thẩm quyền định hình các nhân vật trong câu chuyện hoặc lựa
chọn nội dung truyện kể. Tuy nhiên, khi kể câu chuyện của người khác, tác giả
cần tơn trọng tính khách quan của người thật, việc thật” [11]. Đây cũng là căn cứ
để chúng tôi tiếp cận và làm rõ đặc trưng nghệ thuật trần thuật phi hư cấu trong
Lời nguyện cầu từ Chernobyl của Alexievich.
1.2. Svetlana Alexievich trong dòng văn học phi hư cấu
1.2.1. Cuộc đời - sự nghiệp của Svetlana Alexievich
Svetlana Alexievich sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948 là một nhà báo điều
tra và nhà văn thể loại văn xuôi hiện thực. Bà là người Belarus nhưng viết văn
và báo bằng tiếng Nga. Bà được trao giải Nobel Văn học năm 2015 "vì lối
viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong
thời đại của chúng ta". Bà là nhà văn đầu tiên của Belarus nhận giải thưởng này.
Sinh ra tại thị trấn phía tây Ukraine Stanislav (kể từ năm 1962 có tên

là Ivano-Frankivsk) trong gia đình cha là người Belarus mẹ là người Ukraina,
Alexievich lớn lên ở Belarus. Sau khi học xong bà đã làm phóng viên trong một
số tờ báo địa phương trước khi tốt nghiệp từ Đại học Lenin (1972) (bây giờ
là Đại học Nhà nước Belarus) ở Minsk và trở thành một phóng viên của tạp chí
văn học Neman ở Minsk (1976).
Khởi nghiệp trong ngành báo chí, Alexievich bắt đầu ghi âm lời kể những
nữ binh sĩ từng tham gia chiến tranh thế giới thứ 2, nói về những khía cạnh cuộc
chiến mà chưa hề được đề cập tới, khi bà là phóng viên một tờ báo địa phương
trong thập niên 1970, và hoàn thành tác phẩm nổi tiếng đầu tiên Chiến tranh
khơng có một gương mặt phụ nữ. Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của Alexievich, bà
“là tác giả của sáu tập phim tài liệu về những trải nghiệm của người dân Xô viết
trong thời kỳ khủng hoảng của chính quyền. Bên cạnh việc làm báo, bà cịn


15
được biết đến như là một “nhà sử học truyền miệng” qua những tác phẩm phi hư
cấu khám phá cảm xúc con người, những gì con người nghĩ, hiểu và nhớ về
những sự kiện bi thương mà họ từng trải nghiệm. Chiến tranh khơng có một
khn mặt phụ nữ (1984) phơi bày hiện thực thế chiến II từ một góc nhìn khác:
góc nhìn của những người phụ nữ đã chiến đấu và sống sót sau cuộc chiến. Cậu
bé trong quan tài kẽm: Những tiếng nói Xơ viết từ chiến tranh Afghanistan
(1991) kể về những tổn thương đối với tâm hồn Nga, văn hóa Nga sau cuộc viễn
chinh kéo dài chín năm tại Afghanistan. Thời gian Second-hand (2013) ghi lại
số phận bi thảm của những nhân chứng đầu tiên thuộc thế hệ hậu Xơ viết, trong
đó có cả những trải nghiệm bi kịch của chính Alexievich khi chứng kiến lịch sử
Xơ viết với cấu trúc kinh tế, xã hội, chính trị bị xé toạc và biến thành tro tàn…”
[11].
1.2.2. Đặc điểm phong cách văn chương phi hư cấu của Svetlana Alexievich
Cuốn sách Chiến tranh khơng có một gương mặt phụ nữ cũng như những
cuốn sách sau này của Alexiyevich được viết theo một lối mà xóa mờ biên giới

giữa sách hư cấu và chuyện thật sự.
Alexievich phỏng vấn người dân, diễn tả lại cuộc phỏng vấn với họ, và
dàn xếp đi, dàn xếp lại các đoạn cho thành một bài văn mà đọc nghe như một
truyện ngắn hay là một tiểu thuyết hơn là một tài liệu. Nói về những tác phẩm
của mình, Alexievich chia sẻ: “Họ nói với tơi: tốt, ký ức khơng phải là lịch sử
hay văn học. Nó đơn giản là cuộc sống, đầy rác và không được dọn dẹp bởi bàn
tay của một nghệ sĩ. Nguyên liệu thô của cuộc chuyện, mỗi ngày đều được lấp
đầy. Những viên gạch nằm ở khắp mọi nơi. Những viên gạch không làm nên
ngôi đền. Nhưng với tôi tất cả đều khác. Nó ở chính xác chỗ đó, trong giọng nói
ấm áp của con người, trong sự phản ánh sống động của quá khứ - nơi lộ hiện
những niềm vui sơ khởi bị che giấu hay những bi kịch của cuộc sống tưởng như
không thể vượt qua. Sự hỗn loạn và mạnh mẽ của nó. Sự độc đáo và bí ẩn của
nó. Khơng tồn tại bất cứ một bàn luận nào. Những nguyên bản. Tôi xây dựng
những ngôi đền cho cảm xúc của chúng tơi. Niềm hồi bão. Nỗi thất vọng.
Những giấc mơ” [11].


16
“Svetlana Alexievich đã mang đến những tác phẩm xuất chúng đầy mẫu
mực về nỗi đau, lòng dũng cảm hiện hữu trong thời đại của chúng ta. Bằng câu
chữ và phương pháp kết nối hình ảnh con người đặc biệt của mình bà ấy đã tái
hiện những trang sử về tâm hồn, những cung bậc cảm xúc mà độc giả chưa bao
giờ được biết đến, đồng thời đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về cả một thời đại
”, thư ký thường trực Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển Sara
Danius chia sẻ trong phần công bố kết quả Nobel Văn học trao cho Aalexievich
năm 2015.
Lời nguyện cầu từ Chernobyl (1997) của Alexievich viết về thảm họa nổ
lò phản ứng hạt nhân ở Belarus. Vào ngày 26/4/1986, một loạt các vụ nổ đã xảy
ra, phá hủy lò phản ứng số 4 của Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl, giải phóng
vào bầu khí quyển 50 triệu đơn vị phóng xạ (70% lượng phóng xạ này rơi xuống

lãnh thổ Belarus). Thảm họa này đã xóa sổ 485 ngơi làng và khu dân cư của
Belarus, trong đó, 70 ngơi làng bị chơn lấp vĩnh viễn dưới lịng đất. 2,1 triệu
người dân Belarus (khoảng 700.000 người trong số đó là trẻ em) sống trên
những vùng đất nhiễm phóng xạ.
Để viết Lời nguyện cầu từ Chernobyl, tác giả Svetlana Alexievich đã thực
hiện những cuộc phỏng vấn với khoảng 500 người có liên quan trực tiếp đến vụ
nổ lò phản ứng số 4 của Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl (ngày 26/4/1986).
“Suốt 3 năm rịng, tơi đã đi khắp Chernobyl, phỏng vấn mọi người: những công
nhân làm việc ở nhà máy điện, các nhà khoa học, các quan chức của đảng cũ,
các bác sỹ, những người lính, các phi cơng lái trực thăng, thợ mỏ, những người
tị nạn, những người dân tái định cư. Tất cả họ đều có những số phận khác, nghề
nghiệp khá, tính khí khác; nhưng Chernobyl là nội dung chính trong thế giới của
họ,” nữ nhà văn Svetlana Alexievich chia sẻ trong lời kết cuốn sách.
Tờ Publishers Weekly gọi cuốn sách này là “cuộc chiếu X-quang tâm hồn
Nga”. Nhìn từ góc độ chính trị, “có lẽ khơng phải cuộc cải tổ của Gorbachev,
Chernobyl mới chính là nguyên nhân thực sự khiến Liên bang Xơ viết sụp đổ”
(Political Affairs). Nhìn từ lăng kính xã hội, đây là thành quả gom nhặt hơn 10
năm những nỗi đau “tàn khốc và dữ dội” (New York Times Book Review) khiến


17
cả thế giới một lần nữa phải bàng hồng. Có lẽ Alexievich đã quyết tâm truyền
đi Lời nguyện cầu từ Chernobyl không phải ở tư cách một nhà báo hay nhà văn,
mà trước hết ở tư cách một người Belarus ghi chép về “sự sống và cái chết của
đồng bào mình” (The Nation).
Những dịng viết trong Lời nguyện cầu từ Chernobyl không cầu kỳ, hoa
mĩ, nhưng phản chiếu sự thật lạnh lùng, tàn khốc ẩn sau cái vỏ bọc tưởng chừng
êm ả. Đó là những lời tường thuật từ những công nhân làm việc ở nhà máy điện,
các nhà khoa học, quan chức của đảng cũ, các bác sĩ, những người lính, phi cơng
lái trực thăng, thợ mỏ, những người tị nạn, những người dân tái định cư… Họ

đều có những số phận khác, nghề nghiệp khác, tính khí khác nhau. Nhưng trong
thế giới của họ, sự cố Chernobyl là nội dung chính khi cả thành phố và tồn bộ
đất nước bị nhiễm độc đến từng viên đá trên đường cho đến những gốc cây chết
khô sau rặng núi. Chất độc khiến tự nhiên và con người chết dần mòn mà khơng
bao giờ được tẩy sạch. Nó thấm sâu vào từng ánh mắt vơ hồn và dịng máu khơ
qnh dần với phóng xạ khiến những người dân bình thường nhất cũng đều có
những ký ức kinh hồng về hậu quả khủng khiếp của vụ nổ Chernobyl.
Thế nhưng, Svetlana Alexievich đã quyết tâm truyền đi Lời nguyện cầu từ
Chernobyl không chỉ ở góc độ một nhà văn, nhà báo mà trước hết là với tư cách
của một người ghi chép về sự sống và cái chết ở mảnh đất đầy khắc nghiệt. “Tôi
đã từng biết tới những nỗi bất hạnh của những người khác nhưng ở đây, trong
cuốn sách này, tôi cũng giống như họ, là nhân chứng. Cuộc đời tôi là một phần
của sự kiện này. Tôi sống ở đây, với tất cả những chuyện này,” tác giả viết. Vậy
là, 15 năm sau thảm họa ấy, khi mà khả năng nhiễm xạ vẫn còn đe dọa bất cứ ai
đặt chân đến vùng Chernobyl, nữ nhà báo-nhà văn Svetlana Alexievich đã có
mặt ở đó, thu thập dữ liệu, gặp gỡ và phỏng vấn những người đã từng chứng
kiến hoặc trực tiếp tham gia công tác khắc phục hậu quả sau sự cố.
Thế nhưng, vượt lên những chết chóc và nỗi bi thương cùng cực, Lời
nguyện cầu từ Chernobyl vẫn truyền tới người đọc thơng điệp về tình u - tình
u giữa con người với con người và tình yêu của con người với những loài vật
xung quanh. Bởi thế, bức tranh về những hậu quả của một trong những thảm họa


18
hạt nhân kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại khơng chỉ có gam màu tối với
nước mắt và những niềm đau dai dẳng mà cịn có sự ấm áp của tình u, vẻ đẹp
của lịng vị tha và đức hy sinh cao cả. Svetlana Alexievich không dựng lên
khung cảnh Chernobyl - một góc địa cầu đã từng bị coi là vùng đất chết bằng
những số liệu thống kê mà bằng cảm xúc và những câu chuyện về phận người
bởi bà tin rằng: “những dữ liệu đơn thuần, những dữ liệu mang tính kỹ thuật

khơng thể gần sự thật hơn một cảm xúc… Tại sao chúng ta cứ lặp lại những dữ
liệu, chúng ta che giấu cảm xúc của chúng ta. Sự phát triển của những cảm xúc
này - những cảm xúc lọt qua các dữ kiện, là điều cuốn hút tơi. Những con người
này đã chứng kiến những gì mà đối với người khác vẫn còn là điều chưa biết.
Tơi cảm thấy như thể mình đang ghi chép tương lai” [1, 379].
Năm 2015, khi lựa chọn Svetlana Alexievich là tác giả nhận giải Nobel
Văn chương, Viện Hàn lâm Thụy Điển nhận định: “Svetlana Alexievich được
trao giải vì những trang viết đa dạng về giọng điệu, một biểu tượng mẫu mực về
sức chịu đựng và lòng can đảm trong thời đại của chúng ta.” [1].
Tiểu kết chương 1
Lời nguyện cầu từ Chernobyl không chỉ là một tác phẩm văn học. Đó cịn
là một tác phẩm lịch sử. Đó cịn là một tác phẩm triết học. Khơng có tác phẩm
chính trị học nào bàn về các thể chế, các chế độ chính trị, văn hóa cầm quyền
xuất sắc hơn Lời nguyện cầu từ Chernobyl. Đó cịn là một tác phẩm xã hội học,
tâm lí học. Nhưng trên hết, nó vẫn là một tác phẩm văn học, một tác phẩm văn
học đoạt giải Nobel. Cuốn sách thực sự là “liều vắc xin tinh thần” cho mỗi
chúng ta trong một xã hội đầy biến động, tai ương và bất trắc.


19
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG LỜI NGUYỆN CẦU TỪ CHERNOBYL
2.1. Vấn đề “người kể chuyện” trong văn học
2.1.1. Khái niệm “người kể chuyện”
Người kể chuyện là một trong những phạm trù cơ bản của trần thuật học.
Ở bất cứ tác phẩm truyện kể nào, hình tượng người kể chuyện cũng tồn tại và
giữ chức năng điều khiển các tình huống, dẫn dắt câu chuyện. Đây là hình tượng
hư cấu của nhà văn để tổ chức văn bản và xuất hiện cùng bậc giao tiếp với người
nghe chuyện. Trong xu hướng đổi mới truyện kể, người ta đề xuất nhiều ý tưởng
táo bạo như thủ tiêu nhân vật, xóa bỏ cốt truyện…, song dù đổi mới như thế nào

đi chăng nữa thì một câu chuyện khi được kể ra sẽ khơng thể nào thiếu được
hình tượng người kể chuyện, nói cách khác, chừng nào loại hình tự sự cịn tồn
tại, chừng đó vấn đề người kể chuyện còn được đặt ra.
Người kể chuyện là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do
hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành. Trong khi kể miệng, người trần thuật là
một người sống sinh động. Trong trần thuật viết phi văn học (như báo chí, lịch
sử), người trần thuật nói chung đồng nhất với tác giả. Nhưng trong tác phẩm trần
thuật mang tính chất văn học thì người trần thuật lại khác, nó bị trừu tượng hóa
đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự.
Cách thức thực hiện các chức năng trên ở người trần thuật miệng, trần thuật
phi văn học và trần thuật văn học hoàn toàn khác nhau. Nắm vững thực chất,
chức năng của người trần thuật sẽ giúp người đọc phận tích nghệ thuật tự sự
được khoa học hơn, tránh những ngộ nhận không cần thiết.
2.1.2. Phân loại người kể chuyện trong truyện kể
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại người kể chuyện trong truyện
kể. Căn cứ vào việc người kể chuyện có hoặc khơng tham gia câu chuyện,
Gérard Genette chia làm bốn kiểu người kể chuyện: người kể chuyện bên
trong/intradiegetic narrator và người kể chuyện bên ngoài/extradiegetic narrator


×