UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÁN THỊ NGỌC LAN
TIỂU THUYẾT MÙA TƠM CỦA THAKAZHI
SIVASANKARA PILLAI NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Chun ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120
Phú Thọ, 2018
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÁN THỊ NGỌC LAN
TIỂU THUYẾT MÙA TƠM CỦA THAKAZHI
SIVASANKARA PILLAI NHÌN TỪ PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Chun ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:TS. Phạm Phƣơng Chi
Phú Thọ, 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp với đề tài “Tiểu thuyết Mùa tôm
của Thakazhi Sivasankara Pillai nhìn từ phê bình sinh thái” là cơng trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai.
Tơi xin chịu mọi trách nhiệm về cơng trình nghiên cứu của riêng mình !
Phú Thọ, ngày 19 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Hán Thị Ngọc Lan
ii
LỜI CẢM ƠN
Với lịng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn TS. Phạm Phƣơng
Chi (Viện Văn học – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam) đã hƣớng dẫn
tận tình, sát sao; động viên, khích lệ và tin tƣởng em trong quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu và hồn thành khóa luận.
Em xin trân trọng cảm ơn TS. Nguyễn Thúy Hằng (Trƣởng khoa Khoa
học xã hội và nhân văn, trƣờng Đại học Hùng Vƣơng - Phú Thọ) đã chỉ bảo
nhiệt tình, cho em những ý kiến quý báu làm sáng tỏ vấn đề.
Em vô cùng cảm ơn các thầy cô giảng dạy tại khoa Khoa học xã hội và
nhân văn - trƣờng Đại học Hùng Vƣơng - Phú Thọ, trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội, các thầy cơ trƣờng Đại học Văn hóa Hà Nội, Viện Văn học, Viện Từ
điển và ngôn ngữ - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam,… đã giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn sự động viên, tạo điều kiện thuận lợi của gia
đình, bạn bè, đồng nghiệp và ngƣời thân!
Phú Thọ, ngày 19 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Hán Thị Ngọc Lan
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC………………………………………............................................... .....iii
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu......................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................................2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................7
3.1. Mục tiêu nghiên cứu.............................................................................................7
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................................8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..........................................................................8
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu...........................................................................................8
4.2. Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................................8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.........................................................................................9
6. Cấu trúc luận văn ....................................................................................................9
NỘI DUNG ...............................................................................................................10
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT CHUNG ........................................................................10
1.1. Phê bình sinh thái ...............................................................................................10
1.1.1. Phê bình sinh thái nhƣ là một hƣớng tiếp cận văn học ...................................10
1.1.2. Cách tiếp cận tác phẩm văn học trong phê bình sinh thái ...............................12
1.2. Nhà văn Thakazhi Sivasankara Pillai và tiểu thuyết Mùa tôm ..........................17
1.2.1. Nhà văn Thakazhi Sivasankara Pillai..............................................................17
1.2.2. Tiểu thuyết Mùa tôm…………… ………… ……………………………………19
Chƣơng 2 ...................................................................................................................22
CẢM THỨC SINH THÁI BIỂN TRONG TIỂU THUYẾT MÙA TƠM .................22
2.1. Biển - vị trí tối thƣợng........................................................................................22
2.2. Biển - những đòi hỏi về ứng xử .........................................................................31
2.3. Biển và phụ nữ ...................................................................................................47
iv
Chƣơng 3. ..................................................................................................................56
CÁC BIỂU TƢỢNG SINH THÁI TRONG TIỂU THUYẾT MÙA TÔM ...............56
3.1. Biểu tƣợng biển. .................................................................................................57
3.2. Biểu tƣợng con thuyền .......................................................................................64
3.3. Biểu tƣợng khuôn ngực phụ nữ ..........................................................................71
3.4. Biểu tƣợng màu sắc ............................................................................................78
KẾT LUẬN ...............................................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................89
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Manh nha vào những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay, trải qua mấy
chục năm phát triển, phê bình sinh thái khơng cịn là một khuynh hƣớng mới
mẻ; tuy nhiên nó vẫn là một mảnh đất màu mỡ, giàu tiềm năng thôi thúc
khám phá ở Việt Nam.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con ngƣời phải
đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái. Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đơ
thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật, con ngƣời đang ngày càng quay lƣng
với tự nhiên, khai thác quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên
nhiên trả thù con ngƣời không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, mà đáng
sợ hơn, trả thù bằng sự biến mất của chính nó. Cái “dây chuyền sống” huyền
diệu của tạo hóa đang ngày càng bị phá hủy. Phê bình sinh thái (ecocritisim)
nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp về mơi trƣờng khơng còn là
vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc nữa, nó ảnh hƣởng đến sự sống. Văn học
quan tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt của phê bình sinh thái xét đến cùng
lại liên quan đến bản thể của văn học.
Trên thế giới, khởi phát từ Anh – Mĩ, phê bình sinh thái đang là một
trào lƣu năng động hiện nay, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều hơn các
nƣớc ngoài phƣơng Tây. Đặc biệt, sau bài phát biểu “ Những tƣơng lai của
phê bình sinh thái và văn học” của Karen Thornber (2013), văn chƣơng Châu
Á - nơi đƣợc coi là có truyền thống sùng kính tự nhiên - đƣợc khơi dậy, nhìn
nhận và đánh giá lại theo con mắt riêng của phê bình sinh thái. Văn học Ấn
Độ cũng khơng nằm ngồi đánh giá đó.
Hơn nữa, Ấn Độ có một nền văn hóa - văn học lớn mà ở nhà trƣờng
phổ thơng cịn chƣa đƣợc giới thiệu nhiều, trong đó có Mùa tơm và tác giả
Pillai. Chúng tôi chọn tiểu thuyết Mùa tôm của Thakazhi Sivasankara Pillai để
2
đánh giá lại giá trị tác phẩm từ góc nhìn của phê bình sinh thái, kéo gần nền
văn hóa - văn học Ấn Độ với con ngƣời Việt Nam.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Tiểu thuyết Mùa tôm đƣợc dịch ở Việt Nam và in sách từ trƣớc năm
1982 (cuốn sách cũ nhất mà chúng tơi có, in lần thứ hai, do Nhà xuất bản Tác
phẩm mới xuất bản năm 1982). Tiểu thuyết Mùa tôm và tên tác giả Pillai đã
khơng cịn xa lạ với độc giả Việt Nam. Mùa tôm từng đƣợc đƣa lên sân khấu
kịch, sân khấu cải lƣơng ở Việt Nam rầm rộ những năm 90 của thế kỷ trƣớc,
cốt truyện đã trở nên vô cùng gần gũi với độc giả. Tuy nhiên, Mùa tôm chủ
yếu đƣợc khai thác trên màn ảnh nhỏ, qua cảm nhận trực quan từ diễn xuất
sân khấu. Cho đến nay, chúng tôi tìm đƣợc rất ít các báo cáo, luận văn, luận
án thuộc chuyên ngành ngữ văn ở Việt Nam viết về tác giả và tác phẩm trên.
Hiện tại, có hình thức nghe đọc truyện online trên một số địa chỉ Web (ví dụ
nhƣ />Cuốn Văn học Ấn Độ (NXB Giáo dục, 1999) của Lƣu Đức Trung
cung cấp cho ngƣời đọc một cái nhìn xuyên suốt từ đặc điểm đất nƣớc Ấn Độ
đến đặc điểm văn học dân gian, văn học viết, văn học cận hiện đại. Trong đó,
Thakazhi Sivasankara Pillai đƣợc nhắc đến là một trong những tác giả tiêu
biểu của văn học cận hiện đại với những tác phẩm chính và cách tân của một
nhà văn hiện thực mới. Tiểu thuyết Mùa tơm đƣợc tóm tắt ngắn gọn và đƣợc
đánh giá là tác phẩm nổi tiếng nhất của Pillai. Chủ yếu nhằm cung cấp một
cái nhìn bao chứa về văn học Ấn Độ, cuốn sách viết về Pillai và Mùa tơm chỉ
ở mức độ khái qt nhất.
Cuốn Giáo trình văn học Ấn Độ (NXB Đại học quốc gia, 2016) của
Đỗ Thu Hà viết cụ thể hơn một chút về cả tác giả Thakazhi Sivasankara Pillai
và tiểu thuyết Mùa tôm. Tuy nhiên, vấn đề mà Đỗ Thu Hà đề cập tới là những
đóng góp, vị trí của Pillai và Mùa tơm về bút pháp hiện thực can đảm, về nội
3
dung tố cáo xã hội và thành công của thể loại tiểu thuyết tâm lý trữ tình. Dù
năm 2015, phê bình sinh thái đã trở thành tiếng nói lớn trong phê bình văn
học, nhƣng mục đích của giáo trình khơng dành phê bình bất kỳ nội dung sinh
thái trong bất kỳ tác phẩm nào.
Một nghiên cứu chi tiết khác về tác phẩm Mùa tôm ở Việt Nam là báo
cáo khoa học: “Phân tích tác phẩm Mùa tơm trong văn học Ấn Độ” của tác giả
Nguyễn Tùng Lâm, gồm 19 trang [39]. Nội dung chính của báo cáo này xoay
quanh nội dung và nghệ thuật chủ đạo của tiểu thuyết. Theo phƣơng pháp phê
bình truyền thống, tác giả trên chú ý đặc biệt tới sự phản ánh sinh hoạt, đời
sống, sản xuất, phong tục, tập quán, tín ngƣỡng trong cộng đồng dân chài Ấn
Độ; tập trung phân tích tình u giữa hai nhân vật chính của tiểu thuyết là
Karuthamma và Parikutti, hôn nhân của Karuthamma và Palani nhƣ là một bi
kịch đớn đau tận cùng của con ngƣời khi bị bủa vây bởi hàng loạt tập tục cổ
hủ, hà khắc; đánh giá số phận con ngƣời (nhất là ngƣời phụ nữ) trong xã hội
Ấn Độ với nhiều tầng áp bức hữu hình và vơ hình. Về nghệ thuật, báo cáo
trình bày nghệ thuật kịch hóa; tiếng hát của Parikutti trở thành chất xúc tác
cho xung đột và một số đặc trƣng nghệ thuật khác nhƣ trữ tình ngoại đề, câu
nghi vấn, miêu tả sự vận động tâm lý nhân vật. Yếu tố thiên nhiên, văn hóa,
đạo đức hịa quyện nhƣ một môi trƣờng sinh thái không phải là hƣớng khai
thác của báo cáo này.
Phê bình sinh thái là một khoa học phê bình văn học tƣơng đối mới ở
Việt Nam, và tuyệt nhiên càng khơng có một nghiên cứu nào về Mùa tôm theo
quan điểm, lập trƣờng, nhân sinh quan của phê bình sinh thái. Vì vậy, khi
chọn đề tài “Tiểu thuyết Mùa tơm của Pillai nhìn từ phê bình sinh thái” chúng
tơi gặp những khó khăn nhất định về tài liệu tham khảo phân tích chuyên sâu;
mặt khác, vấn đề trở ngại này lại cho chúng tôi hy vọng sẽ mang một tiếng
4
nói mới và khác về một tác phẩm quen thuộc, đã đƣợc hiểu sâu sắc về những
giá trị cơ bản.
Trên thế giới, cũng chƣa có cơng trình nghiên cứu chun sâu nào về
tiểu thuyết Mùa tơm từ góc độ sinh thái. Tuy nhiên có một số bài tạp chí
nghiên cứu nội dung sinh thái biển trong tiểu thuyết này. Có thể kể ra đây bài
viết “Đảm bảo sự giàu mạnh hàng hải qua hiến dâng biển: đọc tiểu thuyết
Mùa tôm (International Journal of Research Culture Society, No.1, Issue 7,
2017) của Thakazhi Sivasankara Pillai của tác giả Diana Joe K và Joy Jacob.
Bài viết tập trung phân tích hệ thống niềm tin của nhƣng ngƣời dân bản địa
thuộc khu vực ven biển Kerala đƣợc thể hiện trong tiểu thuyết và phám phá
cách thức mà hệ thống niềm tin và thực hành này tác động đến việc bảo vệ
đời sống biển nhƣ thế nào. Mặc dù bị coi là lạc hậu, nhƣng những ngƣời bản
địa này là những ngƣời là những ngƣời chăm sóc thực sự đối với tự nhiên, bởi
vì mối quan hệ giữa họ với thiên nhiên dựa trên mối liên kết tinh thần sâu sắc,
sự kính trọng, sự khiêm tốn và sự trao nhận giữa thiên nhiên và con ngƣời.
Nhƣ vậy, văn hóa của ngƣời dân bản địa thƣờng xun hịa nhập với thiên
nhiên, họ tơn thờ Katalamma, nữ thần biển nhƣ là những ngƣời cung cấp
nguồn sống tốt bụng và nhƣ là nữ thần cai trị. Niềm tin này ngăn cản các hoạt
động bóc lột đời sống biển, do đó tạo nên sự cân bằng lí tƣởng giữa tự nhiên
và con ngƣời.
Bài viết “Biển cả không tha thứ: Đức tin, Phê bình sinh thái và Sự siêu
nghiệm trong Mùa tôm của Thakazhi Sivasankara Pillai” [Host Gator Web
Hosting, 2018] của Shakhi Nair cũng chia sẻ ý kiến với Diana Joe K và Joy
Jacob về nội dung sinh thái trong tiểu thuyết Mùa tơm. Đó là sự khám phá về
mối quan hệ giữa tƣ tƣởng tôn trọng tự nhiên với đức tin bản địa dành cho nữ
thần Biển. Ngƣời dân làng chài hoàn toàn tin tƣởng vào nữ thần biển cả
Katalamma, ngƣời nuôi dƣỡng và bảo vệ họ. Tất cả các thần thoại, các tín
5
ngƣỡng mê tín, các tập tục tơn giáo, đều xoay quanh nữ thần Biển. Cả cộng
đồng dƣờng nhƣ là có tôn giáo riêng của họ, thần thoại riêng liên quan đến
các ngƣ phủ, những ngƣời sẽ đƣợc bảo vệ khỏi sóng thần. Pillai miêu tả niềm
tin và nỗi sợ hãi của con ngƣời, những ngƣời tin rằng thần Biển sẽ gột rửa họ
khỏi các run rủi nếu nhƣ họ giữ đạo đức và sự trong sạch. Mùa tôm biểu hiện
triết lí về sự siêu nghiệm qua những trang miêu tả về đời sống của cộng đồng
ngƣ dân ở bờ biển Kerala, những ngƣời coi bản thân họ là con trai của thần
Biển và vợ của họ là con gái của thần Biển. Ý tƣởng về hậu quả của những
việc làm sai trái có thể đem lại lời nguyền của thần Biển biểu hiện mối quan
hệ gắn kết giữa con ngƣời và thiên nhiên. Do đó, tƣ tƣởng siêu nghiệm về sự
hợp nhất của toàn thể là nội dung chủ đạo của cuốn tiểu thuyết.
Trong bài viết “Lí thuyết điện tử: Sự cộng gộp của văn học và môi
trƣờng trong văn học Anh ngữ Nam Á” (Journal of Higher Education and
Research Society, A Refereed International, Vol 1, Issue 1, 2013) của
Shivkumar Tumwad, tiểu thuyết Mùa Tôm đƣợc khẳng định nhƣ là “ví dụ của
phê bình sinh thái” [59; 484]. Theo tác giả, cuốn tiểu thuyết khắc họa cộng
đồng đánh cá điển hình với sự nghèo đói, sự mê tính dị đoan và tình u với
những phong tục và mơi trƣờng cũ. Pillai đã đem đến cho độc giả bức tranh
sống động về môi trƣờng, Tự nhiên, thôn quê, biển, cánh đồng cỏ, trang trại,
hồ v.v… Những ngƣời đánh cá có niềm tin mãnh liệt vào sự hiện diện của nữ
thần Katalamma, ngƣời đƣợc cho là sống trong lòng biển sâu vào không thể
biết đƣợc trạng thái và sự nguyền rủa của nữ thần; bất cứ khi nào có ai đó vi
phạm quy tắc đạo đức trong việc khai thác tự nhiên và môi trƣờng, nữ thần sẽ
nổi giận và tạo ra các sinh vật hung dữ trong biển. Và đây là bài học về bảo vệ
sinh thái biển mà cuốn tiểu thuyết muốn chuyển tải.
Tác giả bài viết “Không mất mát trong dịch thuật: Mùa tôm ở những bờ
biền xa lạ” (Translation Today, Vol 4, No.1, 2007), Mini Chandran khai thác
6
biểu tƣợng “đất nhƣ là phụ nữ” của tiểu thuyết. Tác giả cho rằng sự đề cao ý
thức bảo vệ môi trƣờng sinh thái đƣợc gửi gắm trong sự đồng nhất giữa sự an
tồn/sự tơn trọng của đất đai với thân thể phụ nữ. Sự thiếu tôn trọng và xâm
hại thân thể phụ nữ đƣợc miêu tả song song với sự hoạt động xói mịn, bóc lột
đất đai. Tác giả cho rằng niềm tin văn hóa này phản ánh ý thức tôn trọng môi
trƣờng, môi sinh của tiểu thuyết Mùa tơm.
Những phân tích cụ thể nhất về nội dung sinh thái trong tiểu thuyết
Mùa tơm có lẽ là bài viết “Thế giới của Amitav Ghosh và Thakazhi
Sivasankara Pillai – Những cổ mẫu sinh thái” (Online International
Interdisciplinary Research Journal, Vol 5, Issue 3, 2015) của S. Karunya. Bài
viết phân tích biểu tƣợng biển trong cuốn tiểu thuyết. Theo đó, biển thực sự là
một ngƣời Mẹ, ngƣời đem lại thức ăn, ngƣời duy trì sự sống cho cộng đồng
đánh bắt cá. Biển đƣợc miêu tả trong tác phẩm vừa là kẻ hủy diệt, vừa là
ngƣời bảo vệ. Cổ mẫu biển đƣợc phân tích nhƣ là biểu tƣợng cho sự bất biến.
Sự tuần hoàn trong cuộc sống của các thuyền trài đƣợc duy trì hàng ngày, đó
là việc đƣa thuyền ra biển, và khi mặt trời lên, họ đánh cá và sau đó đổ ca lên
bờ, chờ đợi có thƣơng lái mua cá với giá tốt và sau đó thì mặt trời lặn. Biển
chiếm hữu một phần lớn của trái đất. Diện mạo của biển đem lại cho con
ngƣời những trải nghiệm bí ẩn khi mà đƣờng chân trời ám chỉ khoảng trống
vô định và những miền đất thần bí của biển cả. Biển cả những là biểu tƣợng
của hành trình đời sống. Giống nhƣ biển cả, con ngƣời tốt và xấu cùng một
lúc. Trạng thái của họ di chuyển và không vĩnh viễn. Các con thuyền tái hiện
chuyến đi và các chuyến chu du con ngƣời trải qua trong cuộc sống của mình
và họ khơng phải đối mặt với ranh giới ngăn cản nào trên biển. Nhà nghiên
cứu phân tích hình ảnh những đứa con của biển trong tiểu thuyết Mùa tôm sợ
hãi lời nguyền của biển nhƣ thế nào. Nếu con ngƣời khơng gìn giữ phẩm
hạnh, biển cả nổi giận; những ngƣời con trai của biển sẽ bị kéo đi vô định; và
7
thậm chí nếu biển cả thay đổi tâm trạng thì nƣớc biển có thể chuyển thành đen
ngịm. Cụ thể là, khi Karuthamma không giữ phẩm hạnh của một ngƣời vợ thì
cuộc sống của Palani trở nên khốn cùng khi phải đối đầu với sự thay đổi bất
thình lình, lên xuống của những dịng biển. Chỉ vì Karuthamma khơng cầu
nguyện cho chồng mình mà lại nhớ đến một ngƣời đàn ơng khác, Palani bị
mắc kẹt giữa cơn cuồng nộ của sóng khi mà nó dâng cao lên đến đỉnh núi.
Biểu tƣợng thứ hai mà nhà nghiên cứu phân tích là cổ mẫu màu sắc.
Khi biển có màu xanh và có một chút âm thanh thì đời sống của những ngƣời
dân chài an toàn trong bàn tay của biển cả, nhƣng cuối cùng, khi biển trở nên
bình lặng và có màu đen, Palini bị mắc kẹt trong bão và bị chết trong vịng
xốy của biển cả. Những nhân vật trong tác phẩm này gắn chặt với biển, cuộc
sống của họ không đi vƣợt quá khỏi biển cả. Nói tóm lại, ngƣời mẹ thiên
nhiên đƣợc miêu tả nhƣ là ngƣời cứu thế đồng thời cũng là kẻ hủy diệt; nếu
thiên nhiên thấy mình đƣợc bảo vệ, nó sẽ bình an; hoặc ngƣợc lại, nếu thiên
nhiên cảm thấy bị làm phiền và chịu đựng, nó sẽ lấy đi sự sống của những
ngƣời vơ tội. Cuối bài nghiên cứu, tác giả kết luận, thiên nhiên đƣợc đan dệt
trong văn bản một cách nghệ thuật. Sự cân bằng sinh thái của tiểu thuyết là
bài học cần thiết cho ngày nay.
Có thể nói các nghiên cứu hiện nay chủ yếu hƣớng vào mối quan hệ
giữa thiên nhiên và đời sống tâm linh đƣợc thể hiện trong tác phẩm Mùa tơm.
Cơng trình này cố gắng vƣợt qua sự tập trung vào nội dung thiên nhiên của
tác phẩm để đi sâu phân tích tiểu thuyết Mùa tơm từ góc độ phê binh sinh thái
nhƣ là một hƣớng tiếp cận văn học.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, đề tài muốn khẳng định lại một lần nữa giá trị của tiểu thuyết
Mùa tôm đối với độc giả Việt Nam và thế giới. Ngoài những nội dung mang
8
tính xã hội, tác phẩm cịn mang giá trị về tƣ tƣởng sinh thái, văn hóa sinh thái,
cái nhìn sâu sắc về “nhân vật tự nhiên”.
Thứ hai, trên cở sở đọc tiểu thuyết Mùa tơm từ góc độ phê bình sinh
thái và đặt cách đọc đó trong truyền thống văn hóa của Ấn Độ, đề tài vừa
khẳng định “khả năng ứng dụng đƣợc” (applicability) của phê bình sinh thái
trong việc đọc văn bản văn học nào thuộc bất cứ truyền thống văn hóa, văn
học nào trên thế giới và vừa gợi ý về đặc trƣng của “khả năng ứng dụng
đƣợc” này trong trƣờng hợp văn học Ấn Độ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thuyết về phê bình sinh thái, tác giả Thakazhi Vasankara Pillai
và tiểu thuyết Mùa tơm
- Phân tích các yếu tố nội dung thể hiện cảm thức về mối quan hệ giữa
sinh thái biển và con ngƣời
- Phân tích giá trị sinh thái của tác phẩm trên các phƣơng diện biểu
tƣợng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Tiểu thuyết Mùa tôm của nhà văn Ấn Độ Thakazhi Sivasankara Pillai
(Bản dịch của Hoàng Cƣờng, Nhà xuất bản Văn học, năm 2015) từ góc nhìn
của phê bình sinh thái.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài phân tích tiểu thuyết Mùa tôm của Pilai-văn học Ấn Độ từ lăng
kính của phê bình sinh thái và có những so sánh đánh giá trong tƣơng quan
với văn hóa đặc trƣng của Ấn Độ. Từ đó, đề tài khẳng định giá trị của cuốn
tiểu thuyết này nói riêng và của văn học Ấn Độ nói chung trong mối quan hệ
với mơi trƣờng và văn hóa Ấn Độ.
9
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Vận dụng "cảm quan nhìn lại" của phê bình sinh thái làm tiền đề để
nhận thức mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên xung quanh nhƣ một thực
thể của chỉnh thể sinh thái. Sự nhận thức lại này sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ
hơn mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa.
- Phƣơng pháp phê bình nhìn từ góc độ văn hóa: bản chất của phê bình
sinh thái chính là phê bình văn hóa. Vậy khơng thể thiếu sự tìm hiểu từ văn
hóa, tín ngƣỡng, quan niệm để kiến giải cảm quan sinh thái, những biểu tƣợng
sinh thái, những màu sắc sinh thái.
- Phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã đƣợc
vận dụng để nhận diện khuynh hƣớng văn xuôi mang cảm thức sinh thái qua
các hình ảnh biểu tƣợng, những sắc màu của thiên nhiên,...
- Phƣơng pháp liên ngành: văn học, địa lý, văn hóa, tơn giáo,…
- Phƣơng pháp thống kê, phân tích, khái qt - tổng hợp các vấn đề.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Giới thuyết chung.
Chƣơng 2: Cảm thức sinh thái biển trong tiểu thuyết Mùa tôm.
Chƣơng 3: Các biểu tƣợng sinh thái trong tiểu thuyết Mùa tôm.
10
NỘI DUNG
Chƣơng 1. GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1. Phê bình sinh thái
1.1.1. Phê bình sinh thái như là một hướng tiếp cận văn học
Loài ngƣời, sau một thời gian dài, mải miết đi tìm cho mình sự sung túc
và thụ hƣởng bằng cách nêu cao khẩu hiệu “chinh phục tự nhiên”, bằng suy
nghĩ tự nhiên phải phục tùng, dâng hiến và bằng hành động khai thác tự nhiên
vô độ; rồi một ngày nhận ra trái đất nóng lên, nguồn nƣớc khơ cạn, muông thú
bị hủy diệt, và cuộc sống đầy ắp những bất an từ tự nhiên mang lại. Loài
ngƣời lay gọi nhau ngộ tỉnh trƣớc nguy cơ suy thoái sinh thái đang diễn ra
trên toàn cầu. Các ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đều hƣớng sự
quan tâm cấp thiết của mình tới mơi trƣờng. Các nhà nghiên cứu văn học còn
thờ ơ, nghĩ rằng lĩnh vực văn học mình đảm trách chƣa liên hệ gì tới tự nhiên
rồi cũng thừa nhận rằng mình khơng thể đứng ngồi cuộc. Trong bối cảnh
tồn cầu hóa và sự nhập cuộc chủ động của các ngành, “phê bình sinh thái” ra
đời, trở thành một thuật ngữ chuyên ngành nhanh chóng lan truyền và hoạt
động phê bình sinh thái trở thành một phong trào có sức tỏa rộng trên phạm vi
tồn thế giới.
Các học giả trên khắp thế giới đƣa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu về
phê bình sinh thái. Có thể nhận ra phê bình sinh thái có những điểm sau:
Thứ nhất, bằng nhiều cách gọi khác nhau nhƣng phê bình sinh thái
đƣợc khẳng định là một khoa học xã hội có phƣơng pháp nghiên cứu, nguyên
tắc thẩm mỹ, định hƣớng, mục tiêu rõ ràng.
11
Thứ hai, phê bình sinh thái nghiên cứu mối quan hệ giữa con ngƣời và
tự nhiên trong văn học trên nguyên tắc mỹ học của văn bản văn học, lấy trái
đất làm nhân vật trung tâm. Phê bình sinh thái “nghiên cứu mối quan hệ giữa
con ngƣời và môi trƣờng vật lí…, nó lấy cách tiếp cận “lấy trái đất làm trung
tâm” để nghiên cứu văn học.” [8].
Cụ thể, phê bình sinh thái đặt câu hỏi xoay quanh vai trị của tự nhiên
hay vai trị của “thế giới khơng phải con ngƣời” (non-human world) đối với
sự phát triển nội tại của tác phẩm văn học. Hơn nữa, phê bình sinh thái cịn
tìm hiểu sự tƣơng tác của tác phẩm văn học với hiện thực vật chất của môi
trƣờng, nhƣ việc tác phẩm văn học, nhƣ là một “mã văn hóa”, “mã ngôn ngữ”
hay một “đạo đức về môi trƣờng” hay một “ẩn dụ mang tính văn học” về
thiên nhiên, có “ảnh hƣởng có ích hay nguy hại đối với mơi trƣờng” và “đã
dẫn đến sự khủng hoảng sinh thái toàn cầu” [8].
Phê bình sinh thái khơng chỉ mang quan điểm “lấy trái đất làm trung
tâm” mà hơn thế cịn tìm sự hài hòa giữa trái đất với con ngƣời. Phê bình sinh
thái thay mặt tự nhiên hỏi lại con ngƣời những câu hỏi về vị trí, vai trị, ảnh
hƣởng, ý nghĩa của tự nhiên; trả lại cho tự nhiên chỗ đứng xứng đáng. Từ đó
tìm hiểu thái độ, tƣ tƣởng, quan niệm của nhân vật, của nhà văn nói riêng và
con ngƣời nói chung trong cách ứng xử đạo đức với tự nhiên.
Thứ ba, phê bình sinh thái cần cái nhìn liên ngành, đa chiều; liên quan
mật thiết đến các vấn đề về văn hóa, dân tộc, nữ quyền, lịch sử, địa lý,...
Thứ tƣ, đối tƣợng khảo sát của phê bình sinh thái rất rộng: tồn bộ các
văn bản văn học từ cổ chí kim viết theo bất cứ một thể loại hay một xu hƣớng
nào, phủ kín phạm vi khắp các vùng lãnh thổ trên thế giới. Phê bình sinh thái
khơng đối lập với bất kỳ một hình thức phê bình nào, song nó có năng lực
đánh giá riêng, thậm chí lật lại tồn bộ các vấn đề tác phẩm một cách ngoạn
12
mục bất ngờ, dẫn ngƣời đọc đến một tƣ tƣởng mới giàu nhân văn và khoa
học.
Thứ năm, mặc dù phạm vi rộng lớn của những vấn đề đặt ra và mức độ
khác nhau của sự phức tạp, toàn bộ phê bình sinh thái chia sẻ những giả
thuyết cơ bản mà văn hóa con ngƣời kết nối với thế giới tự nhiên, ảnh hƣởng
tới nó và chịu ảnh hƣởng của nó. Phê bình sinh thái đặt ra vấn đề quan hệ nối
kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngơn ngữ và
văn học. Nhƣ là một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở
văn học và chân kia trên mặt đất; nhƣ là một diễn ngơn lí thuyết, phê bình
sinh thái dàn xếp giữa con ngƣời và (thế giới) phi nhân.
1.1.2. Cách tiếp cận tác phẩm văn học trong phê bình sinh thái
Phƣơng châm của phê bình sinh thái là lấy con ngƣời làm trung tâm.
Điều này có thể thấy trong định nghĩa của Cheryll Glotfelty, một trong học
giả đầu tiên nỗ lực tìm một định nghĩa cụ thể cho phê bình sinh thái” “Phê
bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi
trƣờng tự nhiên”…” Với tƣ cách là một quan điểm phê bình, phê bình sinh
thái đứng một chân ở văn học, một chân ở trái đất; với tƣ cách là một diễn
ngơn lý thuyết, nó làm hài hịa mối quan hệ giữa nhân loại và thế giới phi
nhân loại”…”Phê bình sinh thái mang đến một phƣơng pháp nghiên cứu văn
học lấy trái đất làm trung tâm” [28]. Có thể thấy, định nghĩa của Glotfelty có
nhiều cụm từ, nhiều cách diễn đạt trở thành “câu cửa miệng” khi ngƣời ta nói
đến phê bình sinh thái, nhƣ “Phê bình sinh thái là khoa học nghiên cứu mối
quan hệ giữa văn học và mơi trƣờng tự nhiên”, hay “nó làm hài hịa mối quan
hệ giữa nhân loại và thế giới phi nhân loại” hay “phê bình sinh thái mang đến
một phƣơng pháp nghiên cứu văn học lấy trái đất làm trung tâm”. Thế nhƣng,
để có thể áp dụng đƣợc lí thuyết phê binh sinh thái trong việc đọc văn bản,
13
hay để có thể đọc văn bản văn học từ lăng kính của phê bình sinh thái, cần có
những định nghĩa mang tính diễn giải và chỉ dẫn cụ thể hơn.
Và đúng là đã có nhiều cách tiếp cận và cách diễn đạt khác nhau về phê
bình sinh thái nhằm cụ thể hóa định nghĩa mang tính khái qt ban đầu của
Glotfelty. Những cách diễn đạt này có ích trong việc giúp độc giả hình dung
đƣợc cách thức nghiên cứu một hiện tƣợng văn học từ góc độ sinh thái là nhƣ
thế nào, để không lẫn với các cách tiếp cận văn học khác.
Với Richard Kerridge, ông định nghĩa “Phê bình sinh thái
(ecocriticism) là phê bình văn học và văn hóa từ điểm nhìn của chủ nghĩa mơi
trƣờng (environmentalism). Văn bản đƣợc đánh giá từ góc độ là có ảnh hƣởng
nguy hại hay có ích về mặt mơi trƣờng. Niềm tin và tƣ tƣởng đƣợc xem xét về
từ những ẩn ý về môi trƣờng của văn học [30; 530]. Ở đây, Kerridge nhấn
mạnh đến hai phƣơng diện của đọc tác phẩm văn học từ góc độ phê bình sinh
thái. Thứ nhất, đó là tìm các ẩn ý hay các cách diễn đạt về môi trƣờng, về tự
nhiên trong tác phẩm. Thứ hai, đó là việc phân tích xem những ẩn ý đó hay
các diễn đạt đó có thể có tác động (tốt hay xấu) về khía cạnh mơi trƣờng. Nhƣ
vậy, theo định nghĩa của Kerridge, ngƣời làm nghiên cứu văn học cần phải có
kiến thức và trách nhiệm về mơi trƣờng để có thể thảo luận, phân tích xem
văn bản văn học với các nội dung về môi trƣờng và thiên nhiên của nó có thể
có ích gì hay gây hại gì đối với mơi trƣờng. u cầu này đƣợc Karen
Thornber chỉ ra rõ ràng trong định nghĩa về phê bình sinh thái của bà. Bà cho
rằng “Cách con ngƣời tƣơng tác với môi trƣờng chịu sự chi phối mạnh mẽ của
những ý niệm/diễn ngơn về mơi trƣờng. Phân tích các diễn ngôn này nằm
trong số những nhiệm vụ quan trọng nhất của phê bình sinh thái – một
khuynh hƣớng lí thuyết phê bình đang phát triển rất năng động hiện nay, đặc
biệt ở Anh, Mỹ. Đây là một lí thuyết liên ngành, kết hợp giữa văn học và khoa
14
học, giữa phân tích văn chƣơng và rút ra những cảnh báo về môi trƣờng”.
[46].
Ở đây, giống nhƣ Kerridge, Thornber đề ra yêu cầu về sự hiểu biết liên
ngành (ngoài văn học cịn có kiến thức về mơi trƣờng, tự nhiên) trong nghiên
cứu phê bình sinh thái. Điều thú vị và quan trọng trong phê bình sinh thái mà
Thornber và Kerridge cùng nhấn mạnh đó là những biểu đạt về sinh thái trong
tác phẩm văn học có thể có hại hay có lợi cho mơi trƣờng sinh thái. Thornber
cho rằng diễn ngôn về sinh thái phản ánh và tác động lên cách hành xử của
con ngƣời đối với thế giới sinh thái xung quanh. Điều này đƣợc bà phân tích
một cách tỉ mỉ ở đoạn tiếp sau trong định nghĩa về phê bình sinh thái của bà.
Đó là việc bà cho rằng các nhà phê bình “có thể khơng đƣa ra đƣợc những
giải pháp trực tiếp cho những vấn đề mơi trƣờng nghiêm trọng hiện nay”, thế
nhƣng việc “phân tích các diễn ngơn về thiên nhiên và mơi trƣờng” có thể
“có thể tác động đến tâm thức con ngƣời, điều chỉnh nhận thức, khắc phục
đƣợc những ngộ nhận về môi trƣờng, đề từ đó, có những hành động đúng đắn
hơn, hƣớng đến sự phát triển bền vững và xa hơn, đồng thời là quan trọng hơn
cả, là hình thành một chủ nghĩa nhân văn mới, ở đó, con ngƣời biết nghe
tiếng nói của thiên nhiên để đối thoại với nó” (ngƣời viết nhấn mạnh) [9].
Ở đây, điều thú vị là Thornber cho rằng sự phân tích cách biểu đạt về mơi
trƣờng hay nhƣ cách nói của Joseph Mecker, sự “nghiên cứu về chủ đề và mối
quan hệ của sinh vật học xuất hiện trong tác phẩm văn học” [theo 9] phải bao
gồm việc phân tích hay nghiên cứu tác động của cách biểu đạt sinh thái hay
chủ đề sinh thái đó đối với việc hình thành nên ý thức sinh thái của con ngƣời
và bản thân sự phân tích và nghiên cứu đó cũng đã là một việc có khả năng
hình thành nên ý thức về sinh thái trong chính ngƣời nghiên cứu. Nhƣ vậy, cả
Kerridge và Thornber nhấn mạnh bƣớc đầu tiên của việc phê bình sinh thái là
phân tích cách biểu đạt về thiên nhiên và mơi trƣờng trong tác phẩm văn học
15
và bƣớc thứ hai là phân tích tác động của cách biểu đạt đó đối với ý thức về
sinh thái trong độc giả và với bản thân hiện thực sinh thái.
Định nghĩa của Scott Slovic, ngƣời sáng lập Hiệp hội Mơi trƣờng và
Văn học thế giới có thể coi là một cụ thể hóa hai bƣớc hay hai nội dung trong
phê bình sinh thái mà Thornber và Kerridge đề cập. Với Slovic, “Phê bình
sinh thái là chỉ hai phƣơng diện nghiên cứu”: phƣơng diện thứ nhất, đó là việc
“nghiên cứu lối viết tự nhiên”, nghiên cứu “hàm nghĩa sinh thái và mối
quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên” (ngƣời viết nhấn mạnh). Thậm chí,
Slovic cho rằng ngƣời nghiên cứu có thể phân tích mối quan hệ giữa con
ngƣời và tự nhiên “trong bất cứ bất cứ văn bản văn học nào cho dù những văn
bản ấy thoạt nhìn có vẻ nhƣ rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại”. Phƣơng
diện thứ hai, đó là việc tìm hiểu “nhận thức ngày càng lớn của xã hội đƣơng
đại về tầm quan trọng và tính dễ bị tổn thƣơng của thế giới phi nhân loại”
thông qua sự miêu tả mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên trong tác phẩm
[9] Nhƣ thế, phê bình sinh thái yêu cầu ngƣời nghiên cứu phải phân tích thế
giới tự nhiên và cách diễn đạt về tự nhiên ở trong tác phẩm.
Có thể thấy, Slovic cũng nhấn mạnh hai bƣớc trong công việc của nhà
phê bình sinh thái, điều mà Kerridge và Thornber cũng chia sẻ. Điều đặc biệt
trong nhận định của Slovic là ông nhấn mạnh việc phân tích mối quan hệ của
con ngƣời và tự nhiên trong tác phẩm. Lawrence Buell, một nhà lí luận chủ
chốt của phê bình sinh thái, đã cụ thể hóa hơn, các bƣớc của việc xem xét mối
quan hệ của con ngƣời và tự nhiên, trong cuốn The Environmental
Imagination (Cambridge, Mass., and London: Harvard University Press,
1995) của mình. Bà chỉ ra, thứ nhất, ngƣời nghiên cứu cần xem xét xem thế
giới môi trƣờng, tự nhiên trong tác phẩm hiện lên nhƣ là một phƣơng tiện,
một khung nền hay là nhƣ một nhân vật tác động đến số phận, tâm trạng con
16
ngƣời, từ đó cho thấy số phận con ngƣời gắn kết với diễn tiến của thế giới tự
nhiên. Thứ hai, ngƣời nghiên cứu cần tìm hiểu liệu trong tác phẩm văn học
đó lợi ích con ngƣời có phải ln ln là lợi ích hợp pháp khơng. Thứ ba, tác
phẩm có nhấn mạnh đến trách nhiệm của con ngƣời với môi trƣờng khơng.
Tính đạo đức về vấn đề mơi trƣờng đƣợc thể hiện trong tác phẩm cũng đã
đƣợc William Howarth miêu tả cụ thể trong quan niệm của ông về công việc
của nhà phê bình sinh thái. Đó là ngƣời “đánh giá những ƣu nhƣợc tốt xấu
trong các tác phẩm miêu tả ảnh hƣởng của văn hóa đến tự nhiên, chủ trƣơng
ca ngợi tự nhiên, lên án kẻ tàn phá tự nhiên và thơng qua hành động chính trị
để làm giảm bớt sự thƣơng tổn của tự nhiên” [36; 69]. Thứ tư, tác phẩm có
hàm ẩn về chu trình hiểu biết về môi trƣờng trong tác phẩm hay không. Buell
nhấn mạnh rằng, những nguyên tắc này tập hợp thành một chỉ dẫn để tránh xu
hƣớng lấy con ngƣời làm trung tâm một cách vơ tâm và thờ ơ.
Nói một cách cụ thể hơn, khi tiếp cận tác phẩm từ góc độ phê bình sinh
thái, ngƣời nghiên cứu đặt các câu hỏi đặc trƣng nhƣ “tự nhiên đƣợc hình
dung nhƣ thế nào trong các bài thơ trữ tình? Vai trị của bối cảnh tự nhiên
trong cốt truyện của tiểu thuyết? Các giá trị thể hiện trong kịch có nhất qn
với trí tuệ sinh thái? Làm thế nào chúng ta có thể mơ tả cách viết về tự nhiên
nhƣ một thể loại? Ngoài chủng tộc, giới tính nên đặt điểm nào trở thành danh
mục phê bình mới? Nhà văn nam viết về tự nhiên khác nhà văn nữ nhƣ thế
nào? Cách đọc nào chịu ảnh hƣởng của mối quan hệ của con ngƣời với thế
giới tự nhiên? Ý niệm về sự hoang dã sẽ thay đổi nhƣ thế nào trong thời gian
tới? Những cách nào và những tác động gì mà khủng hoảng mơi trƣờng thấm
vào văn học đƣơng thời và văn hóa đại chúng? (…) Những hƣớng đi nào khoa
học sinh thái học hƣớng đến trong nghiên cứu văn học? Khoa học mở ra nhƣ
thế nào trong việc phân tích văn học? Sự trao đổi lẫn nhau giữa những khái
niệm không giống nhau có thể có giữa nghiên cứu văn học và diễn ngôn môi
17
trƣờng trong mối quan hệ liên ngành nhƣ lịch sử, triết học, tâm lí, lịch sử
nghệ thuật, đạo đức?” [36].
Nhƣ vậy, có nhiều định nghĩa về phê bình sinh thái với nhiều cách diễn
đạt và sự nhấn mạnh khác nhau. Từ những khái qt này, chúng ta có thể hình
dung ra hai công việc cơ bản mà ngƣời nghiên cứu cần tiến hành khi tiếp cận
văn bản văn học, hiện tƣợng văn học, truyền thống văn học từ góc độ phê
bình sinh thái. Thứ nhất, đó là phân tích cách biểu đạt và nội dung về sinh
thái, về mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, về các bài học đạo đức liên
quan đến sinh thái, quá trình nhận thức về sinh thái trong trong tác phẩm văn
học. Thứ hai, đó là phân tích nội dung đó và cách biểu đạt đó có thể có ảnh
hƣởng gì trong việc hình thành ý thức về sinh thái và mơi trƣờng trong ngƣời
đọc và có ảnh hƣởng gì đến chính hiện thực tự nhiên và môi trƣờng.
Trong luận văn này, ngƣời viết vận dụng lý thuyết phê bình sinh thái để
đọc tác phẩm Mùa tôm của Thakazhi Sivasankara Pillai. Mặt khác, trong quá
trình triển khai đề tài, ngƣời viết cũng đặt tiểu thuyết trong bối cảnh văn hóa
Ấn Độ để có hiểu rõ hơn đặc trƣng của phê bình sinh thái khi áp dụng vào
một tác phẩm văn học Ấn Độ.
1.2. Nhà văn Thakazhi Sivasankara Pillai và tiểu thuyết Mùa tôm
1.2.1. Nhà văn Thakazhi Sivasankara Pillai
Thakazhi Sivasankara Pillai sinh ngày 17/4/1912 tại làng Thakagi bang
Kerala Ấn Độ, là nhà văn hiện thực, cây bút tiểu thuyết và truyện ngắn nổi
tiếng viết bằng tiếng Malayalam. Ơng là ngƣời sáng lập Liên đồn các nhà
văn tiến bộ bang Kerala (1942).
Ngay từ những tác phẩm đầu tay nhƣ Hoa mới nở - 1934, Những câu
chuyện làng Thakagi – 1938, Pillai đã dũng cảm đứng về phía những ngƣời
nghèo khổ, phê phán những bất cơng xã hội, lên án tội ác của chế độ đẳng
18
cấp, các tục lệ tôn giáo dã man ở Ấn Độ. Tên tuổi của ông một phần đƣợc mọi
ngƣời biết đến khi tổ chức Liên Hiệp quốc về Giáo dục, Khoa học và văn hóa
(UNESCO) dịch kiệt tác Mùa tơm sang tiếng Anh, đƣợc dựng thành phim
năm 1966. Pillai đƣợc coi là hạt nhân của các nhà văn hiện thực xã hội chủ
nghĩa, những tác phẩm của ông phần nhiều là những bức chân dung của tình
yêu và bi kịch. Rất ít các nhà tiểu thuyết Ấn Độ đã khai thác bản chất của tình
cảm theo lối mà Pillai đã làm. Ông thƣờng viết về giai cấp tƣ sản, dùng ngơn
ngữ cuộc sống của tầng lớp dƣới và đi tìm những lúc thăng trầm trong những
mối hy vọng của đất nƣớc Ấn Độ hiện đại.
Khung cảnh mà Thakazhi Sivasankara Pillai miêu tả trong tác phẩm
của mình là hàng ngàn số phận đại diện cho muôn vàn loại ngƣời ở Kerala:
ngƣời đánh cá, thƣ ký, tiểu nơng, chúa đất,...Ơng đã cố gắng để bắt kịp bƣớc
chuyển mình của xã hội, tìm ra những nội lực sâu kín, bí ẩn trong từng con
ngƣời trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Tất cả những điều đó đã khiến cho tác
phẩm của ơng trở thành những bức tranh sinh động về đất nƣớc, con ngƣời và
truyền thống Ấn Độ.
Ngồi tiểu thuyết Mùa tơm (1956) đƣợc giải thƣởng cao nhất của Viện
Hàn lâm văn học Ấn Độ do tổng thống Ấn Độ trao tặng vào năm 1957, ơng
cịn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác nhƣ Cái đầu lâu (1947), Con trai người
quét rác (1948), Hai vốc cơm (1949),...Ông đƣợc trao giải Padma Bhushan,
giải thƣởng văn học cao quý nhất ở Ấn Độ. Ông mất ngày 10/4/1999, thọ 87
tuổi.
Thakazhi Sivasankara Pillai là một cây bút có nhiều đóng góp xuất sắc
trong việc cách tân nền văn học Ấn Độ. Thời kỳ đầu, Pillai theo bút pháp lãng
mạn, sau đó nhanh chóng chuyển sang bút pháp hiện thực. Nghệ thuật trong
mỗi tác phẩm đều đƣợc đánh giá cao. Cách miêu tả tâm lý và phản ánh hiện
thực rất sâu sắc. Pillai là nhà văn đã góp phần quyết định vào sự phát triển của
19
chủ nghĩa hiện thực cận hiện đại Ấn Độ. Một ngòi bút giàu lƣơng tri, nhân ái,
suốt đời chiến đấu cho sự đổi mới và tiến bộ xã hội, dũng cảm bênh vực
những khát vọng của con ngƣời ở dƣới đáy xã hội, luôn kêu gọi họ hợp lực
đấu tranh cho một cuộc sống xứng đáng với con ngƣời.
Hàng loạt tiểu thuyết và hơn 600 truyện ngắn của Pillai đã góp phần
làm cho nền văn chƣơng Ấn Độ ngang tầm với nhiều lãnh thổ lớn của văn học
thế giới hiện đại. Cùng với Mohandas Koramchand Gandhi, Aurobindo
Ghose,
Valaton,
Xubramaniam
Bharati,
Jawaharlal
Nehru,
Panto
Xumitorannadan , Munrai Anando, Thakazhi Sivasankara Pillai đƣợc đánh
giá là một trong không nhiều các nhà văn tiêu biểu của văn học cận hiện đại
Ấn Độ - thế kỷ XIX, XX.
1.2.2. Tiểu thuyết Mùa tôm
Tiểu thuyết Mùa tôm, đƣợc viết năm 1956, là một trong ba tiểu thuyết
nổi tiếng nhất của Pillai, tác phẩm đƣợc trao giải của Viện Hàn lâm Ấn Độ,
giải thƣởng văn học danh giá thứ nhì tại Ấn Độ. Tác phẩm đƣợc đƣa vào
Tuyển tập của UNESCO các tác phẩm tiểu biểu – Loạt truyện Ấn Độ do
Victor Gollancz xuất bản tại London năm 1962. Đây là tiểu thuyết bằng tiếng
Malayalam đầu tiên đƣợc dịch sang tiếng Anh ở Ấn Độ sau khi độc lập hay
giai đoạn đầu của thời kỳ hậu thuộc địa Ấn Độ. Tác phẩm còn đƣợc dịch ra
các tiếng Pháp, Nga, Đức, Ý, Ả rập và nhiều tiếng khác và chuyển thể thành
phim trong 15 xứ. Bộ phim Mùa tôm chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên
và đƣợc trao Mề đay vàng cho phim hay nhất của thủ tƣớng Ấn Độ năm 1965.
Bối cảnh ở đây là một làng chài Ấn Độ, chống chọi với giông
tố bão bùng giữa thiên nhiên nghiệt ngã. Và những lối đi giữa những con
ngƣời, những khoảng cách bị đẩy đi quá xa giữa họ vì những giáo lý, vì
những mối ràng buộc đẳng cấp và tín ngƣỡng. Tất cả bị chặn lại bởi lề lối vơ
tình mà đau xót, họ không thể vƣợt qua và kết cục bi thảm đã xảy ra. Câu