Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Tiếp biến mô típ cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (661.93 KB, 99 trang )

UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

TIẾP BIẾN MƠ TÍP CỔ TÍCH
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120

Phú Thọ, 2018

Phú Thọ - 2018


UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG

NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

TIẾP BIẾN MƠ TÍP CỔ TÍCH
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120


Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng

Phú Thọ, 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai cơng bố trong bất
kỳ cơng trình nào khác.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Lan Hƣơng


ii

LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành đề tài “Tiếp biến mơ típ cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp”, tơi đã nhận đƣợc nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báu của các tập
thể và cá nhân.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng,
Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng - ngƣời đã tận tâm hƣớng dẫn tơi trong q
trình học tập và triển khai luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, các
thầy cô giáo trong Tổ bộ mơn Lí luận văn học, Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt q trình học tập, nghiên cứu
và hồn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin phép bày tỏ sự biết ơn đến gia đình, ngƣời thân và bạn

bè đã ln động viên, giúp đỡ để tơi có đƣợc cơng trình này.
Phú Thọ, ngày 15 tháng 9 năm 2018
Học viên

Nguyễn Thị Lan Hƣơng


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1.Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................. 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 2
3. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................. 9
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 10
5. Đóng góp của luận văn ................................................................................ 11
6. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 11
CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ MƠ TÍP TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ DẤU ẤN
CỔ TÍCH TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP .................... 12
1.1. Vấn đề mơ típ trong truyện cổ tích .......................................................... 12
1.1.1. Khái niệm truyện cổ tích ....................................................................... 12
1.1.2. Đặc trƣng của truyện cổ tích ................................................................. 14
1.1.3. Mơ típ trong truyện cổ tích ................................................................... 15
1.2. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và những dấu ấn cổ tích ...................... 18
1.2.1. Vài nét về Nguyễn Huy Thiệp .............................................................. 18
1.2.2. Dấu ấn cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp .......................... 18
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 24
CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT – TIẾP BIẾN TỪ MƠ TÍP CỔ TÍCH ĐẾN
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP .................................................... 25
2.1. Nhân vật văn học ...................................................................................... 25

2.2. Mơ típ nhân vật trong truyện cổ tích ........................................................ 26
2.3. Mơ típ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ........................... 30
2.3.1. Kiểu nhân vật huyền thoại .................................................................... 30
2.3.2. Kiểu nhân vật thế tục............................................................................. 33
2.4. Tiếp biến từ mơ típ nhân vật cổ tích đến truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. ... 35
2.4.1. Mơ típ nhân vật tài năng........................................................................ 36


iv

2.4.2.Mơ típ nhân vật ra đi .............................................................................. 40
2.4.3. Mơ típ nhân vật tha hóa......................................................................... 48
Tiểu kết chƣơng 2............................................................................................ 53
CHƢƠNG 3: KHƠNG GIAN NGHỆ THUẬT – BIẾN ĐỔI TỪ MƠ TÍP CỔ
TÍCH ĐẾN TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP ................................ 54
3.1. Mơ típ khơng gian trong truyện cổ tích.................................................... 54
3.2. Mơ típ không gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ...................... 57
3.3. Những biến đổi từ mơ típ khơng gian của truyện cổ tích đến truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp. ......................................................................................... 60
3.3.1. Mơ típ khơng gian rừng núi .................................................................. 61
3.3.2. Mơ típ khơng gian dịng sơng, biển cả .................................................. 69
3.3.3. Mơ típ khơng gian giấc mơ ................................................................... 77
Tiểu kết chƣơng 3............................................................................................ 83
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 86


1

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Trong di sản văn hóa nhân loại nói chung và văn học dân gian nói
riêng bộ phận truyện cổ tích chiếm một vị trí quan trọng và là một bộ phận
nghệ thuật ngơn từ đƣợc nhiều ngƣời yêu thích. Cùng với thời gian, những
câu chuyện xa xƣa ấy vẫn sống, vẫn đƣợc tiếp tục đồng hóa, tái sinh trong q
trình hình thành và phát triển của văn học. Với văn học viết Việt Nam, truyện
cổ tích có vai trị quan trọng cung cấp các hình tƣợng, biểu tƣợng, cốt truyện,
thi pháp...để các nhà văn tiếp tục tái tạo và sáng tạo ra những hình thức nghệ
thuật mới mẻ chứa đựng những dấu ấn tinh hoa của quá khứ. Văn học Việt
Nam đƣơng đại cũng khơng nằm ngồi sự ảnh hƣởng ấy, các nhà văn có xu
hƣớng quay về dân gian. Các yếu tố truyện cổ đóng vai trị làm nền, tạo
khơng khí, tạo sự phản ứng, sự đối sánh cho việc suy luận và phán xét những
vấn đề trong xã hội đƣơng đại. Ta bắt gặp dấu ấn cổ tích trong các sáng tác
của Ngơ Tự Lập, Hịa Vang, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ...và rõ ràng
nhất trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp.
1.2. Nguyễn Huy Thiệp ngay sau khi ra mắt những tác phẩm đầu tiên đã
lập tức gây đƣợc sự chú ý với ngƣời đọc, làm văn đàn lần nữa sôi động sau
Nguyễn Minh Châu, và lập tức trở thành hiện tƣợng văn học đặc biệt. Nguyễn
Huy Thiệp trải nghiệm ngịi bút của mình ở khá nhiều thể loại, song thành
công hơn cả ở thể loại truyện ngắn. Mỗi một sáng tác của ông ra đời ngay lập
tức trở thành một đề tài nóng cho nhiều cuộc tranh luận, phê bình văn chƣơng.
Các ý kiến đánh giá dù trái chiều thế nào nhƣng cuối cùng đều thừa nhận
Nguyễn Huy Thiệp là một tài năng mới lạ. Với sự xuất hiện của yếu tố huyền
thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ…đặc biệt của truyện cổ tích trong rất
nhiều truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp đã đƣa độc giả đến với thế giới khác
qua những trang viết. Nhƣng cái mới lạ, độc đáo của nhà văn ở chỗ không
“viết lại” mô thức cổ tích truyền thống mà có sự tiếp thu, biến đổi chúng để


2


phản ánh những vấn đề của cuộc sống hiện đại. Sự vận động về thi pháp thể
loại - từ cổ tích truyền thống đến truyện ngắn hiện đại trong sáng tác của
Nguyễn Huy Thiệp vì vậy là điều đƣợc khẳng định không chút hồ đồ. Cũng
không hề khoa trƣơng khi ta nhấn mạnh: Nguyễn Huy Thiệp có vai trị quan
trọng trong viêc góp phần hình thành diện mạo truyện ngắn Việt Nam đƣơng đại.
1.3. Trong chƣơng trình giáo dục bậc cao đẳng, đại học chuyên ngành
Ngữ văn, hệ thống kiến thức về văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975 là một
chặng đƣờng quan trọng. Nguyễn Huy Thiệp là một tác giả tiêu biểu của
chặng đƣờng văn học ấy đƣợc giới nghiên cứu đặc biệt quan tâm. Những kết
quả nghiên cứu đã có về Nguyễn Huy Thiệp vẫn cần đƣợc tiếp tục mở rộng,
đào sâu để phục vụ tốt hơn cho nhiệm vụ giáo dục nói trên. Nhƣ vậy, việc tìm
hiểu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp định hƣớng tiếp nhận
từ phƣơng diện thi pháp, đặc biệt là những tiếp biến mô tip truyện là điều vô
cùng cần thiết. Nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp với những dấu ấn thi pháp
truyện cổ có ý nghĩa thực tiễn cao, giúp ngƣời học, ngƣời nghiên cứu và giảng
dạy có thêm những góc nhìn trong đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp nói riêng và diện mạo truyện ngắn Việt Nam đƣơng đại nói chung.
Từ những lí do trên, ngƣời viết chọn đề tài nghiên cứu Tiếp biến mơ típ cổ
tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Các cơng trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của truyện cổ tích đối
với văn học viết tại Việt Nam
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực folklore và văn học đã
sớm có những bài viết, cơng trình về sự ảnh hƣởng của văn học dân gian tới
văn học viết. Và bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX, văn học sử Việt
Nam đã thực sự xem văn học dân gian nhƣ một bộ phận hợp thành của văn
học dân tộc. Nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên trong bài viết Nhà văn và sáng
tác dân gian khẳng định: “Kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của nhân loại



3

hằng bao đời nay đã vạch rõ nguyên nhân thành công chủ yếu của các tác
phẩm ƣu tú ở tất cả các nƣớc là sự liên hệ mật thiết của nhà văn với đời sống
nhân dân, với sáng tác tập thể của nhân dân” [93; 367]. Tiếp tục, ông nhấn
mạnh tính chất và quy mơ mối liên hệ của nhà văn với sáng tác dân gian biểu
hiện ra một cách khác nhau do phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử xã hội
nhất định. Đồng quan điểm trên, các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xn Diên
qua cơng trình Văn học dân gian Việt Nam cũng khẳng định những giá trị lâu
bền của văn học viết trong tƣơng quan với văn học dân gian.
Vào năm 1976, Vũ Ngọc Phan trong cuốn tiểu luận Qua những trang văn
với bài viết: Ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian truyền miệng và văn
học thành văn Việt Nam và bài Thử xem thơ khác ca dao như thế nào? đã
cùng khuynh hƣớng nhận định về vai trò quan trọng của văn học dân gian
trong việc ảnh hƣởng đến nhiều thể tài văn học, đồng thời tác giả chỉ ra quan
hệ qua lại song song tồn tại của hai bộ phận văn học.
Bên cạnh đó, Kiều Thu Hoạch cũng nhấn mạnh tới giá trị và sức ảnh hƣởng của
văn học dân gian trong nền văn học dân tộc: “Trong suốt mƣời thế kỉ của thời kì Đại
Việt độc lập tự chủ, kho tàng truyện dân gian vẫn luôn là một tác nhân mạnh mẽ,
chẳng những góp phần vào sự hình thành của các thể loại văn học tự sự, mà cịn ln
giữ vai trò cơ sở tƣ tƣởng – thẩm mĩ trong các thể loại đó” [96; 20]. Tiếp theo, có thể kể
tới Võ Quang Trọng với cơng trình đáng chú ý Vai trị của văn học dân gian Việt Nam
trịn văn xi Việt Nam hiện đại. Ông đã đƣa ra một hệ thống lí luận về mối quan hệ
giữa văn học dân gian và văn học viết của các nhà nghiên cứu châu Âu. Từ đó, tác giả
vận dụng lý thuyết chung để tiếp cận nghiên cứu vai trò của văn học dân gian trong
một số tác phẩm văn xuôi hiện đại Việt Nam nhƣng chỉ dừng lại khảo sát các tác phẩm
đƣợc sáng tác trƣớc 1975.
Cùng định hƣớng chỉ ra những vấn đề mang tính khái quát về sự ảnh hƣởng của
văn học dân gian đến văn học viết, luận án Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác

của các nhà văn hiện đại: dấu ấn của cốt truyện cổ dân gian trong một số tác phẩm tự


4

sự Việt Nam sau 75 của Phạm Thị Trâm đã nhận diện, khảo sát những dấu ấn truyện cổ
đối với những sáng tác tự sự sau năm 1975. Tác giả làm nổi bật vai trò và sức sống
tiềm ẩn của truyện cổ dân gian tới văn học hiện đại; đi vào tiếp cận một số hình thức
mơ phỏng cốt truyện dân gian từ đó sáng tạo mới của các tác phẩm văn học Việt Nam
sau năm 75.
Khơng chỉ có các cơng trình nghiên cứu chun sâu về tầm ảnh hƣởng của văn học
dân gian đến văn học viết, các báo và tạp chí cũng xuất hiện nhiều bài viết đáng chú ý
khi đề cập tới vấn đề này. Điển hình nhƣ Lê Linh Khiêm với bài viết Một số vấn đề lý
thuyết chung về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết đã nhận định:
“Không thể nghiên cứu văn học dân gian mà khơng tìm hiểu tác động qua lại của nó
với văn học viết, càng không thể hiểu đƣợc đầy đủ, sâu sắc bộ phận văn học viết nếu
không biết đến ảnh hƣởng của văn học dân gian” [93; 327]. Tác giả mạnh dạn hƣớng
đến việc xây dựng tổng quát những tác động qua lại giữa hai bộ phận văn học dựa trên
cơ sở đối sánh về phƣơng diện xã hội, nội dung ý thức hệ và phƣơng diện sáng tạo
nghệ thuật. Ông nhấn mạnh rằng: “Quy luật chung về mối quan hệ giữa văn học dan
gian và văn học viết trong những giai đoạn khác nhau về lịch sử, tùy theo trình độ phát
triển của văn hóa dân tộc, tùy theo chất liệu ngơn ngữ đƣợc sử dụng sẽ có những biểu
hiện đặc thù. Quy luật chung đó trên các thể loại khác nhau, trong các tác phẩm của các
nhà văn thuộc các khuynh hƣớng nghệ thuật khác nhau lại mang những xác định riêng
mà chỉ có sự phân tích cụ thể mới chỉ ra đƣợc” [93; 337]. Những quan điểm Lê Linh
Khiêm đƣa ra chủ yếu mang tính khái quát cao, chƣa đi sâu nghiên cứu trƣờng hợp cụ
thể nào về tầm ảnh hƣởng của văn học dân gian tới văn học viết. Tiếp theo, có thể kể
tới Hồng Cẩm Giang trong bài Sự xâm nhập và tái sinh của một số mô thức tự sự dân
gian trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay đã hệ thống các hình thức xâm nhập của
truyện cổ dân gian đối với tiểu thuyết và truyện ngắn Việt Nam từ 1986 với những kiểu

chính: giải huyền thoại, giải cổ tích, truyện cổ viết lại và truyện lồng trong truyện. Trên
cơ sở đó, tác giả đƣa ra những kiến giải về sự biến đổi trong cấu trúc thể loại cùng


5

những sáng tạo đƣợc tạo nên từ quá trình trên: “mọi ranh giới đều bị xóa nhịa, thực và
ảo, q khứ và hiện tại đan xen, từ liên văn bản đã trở thành liên thế giới” [19; 54].
Đến Bùi Thanh Truyền trong bài viết Mạch ngầm cổ tích trong dịng chảy văn học
dân tộc đã nhấn mạnh có một mạch ngầm liên tục chảy từ truyện cổ tích dân gian – cổ
tích văn học đến truyện giả cổ tích, truyện cũ viết lại. Ông cũng phát hiện những truyện
viết theo kiểu giả cổ tích hay viết lại truyện cũ khơng có ý định phục cổ, khơng phải là
“văn học phỏng theo văn học” mà đó là một sáng tác ngơn từ đúng nghĩa. Văn học
truyền thống đã nuôi dƣỡng, làm bƣớc đệm tạo ra nguồn động lực, năng lƣợng cho sự
phát triển của văn học hiện đại.
Ngoài ra, một loạt những bài viết của các tác giả nhƣ Đặng Văn Lung với Vai trò
của văn học dân gian trong sự phát triển của văn học dân tộc, Hà Công Tài với bài Để
nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết hay bài tham luận Các
hình thức tương tác cơ bản của văn học dân gian và văn học viết của Trần Đức Ngôn
tại hội thảo khoa học Quan hệ văn học dân gian – văn học viết tại khoa Ngữ văn
trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội (2009)… đều đề cập tới vấn đề trên.
Nói chung, khi đề cập đến quan hệ giữa cổ tích dân gian và văn học viết
nói riêng, ý kiến của các tác giả đều gặp nhau ở chỗ xác định ảnh hƣởng của
sáng tác dân gian đối với tác phẩm văn học viết Việt Nam (trên nhiều phƣơng
diện và mức độ khác nhau). Dựa trên những cơng trình nghiên cứu, những bài
viết về vai trò quan trọng của văn học dân gian với văn học viết, ta có thể
khẳng định: truyện cổ tích - một thể loại của văn học dân gian đã cung cấp
chất liệu nghệ thuật không thể thiếu cho các nhà văn đƣơng đại trong việc
chuyển tải những vấn đề thiết cốt của cuộc sống hiện đại. Bằng chứng là sự
thành công của rất nhiều tác phẩm văn học trên thế giới và trong nƣớc nhờ khả

năng vận dụng linh hoạt thi pháp truyện cổ tích. Các nhà văn hiện đại đã tiếp
cận truyện cổ tích bằng nhiều con đƣờng khác nhau: giả cổ tích, giả huyền
thoại; truyện lồng truyện; truyện cổ viết lại. Phần lớn các nhà văn hiện đại
Việt Nam đi theo hai khuynh hƣớng đầu. Sự xâm nhập và ảnh hƣởng mạnh


6

mẽ của tƣ duy cổ tích trong văn học Việt Nam đƣơng đại đánh dấu sự trở về
của những cổ mẫu trong vốn liếng folklore dồi dào của dân tộc, sự thẩm thấu
những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc cũng nhƣ sự kế thừa và tiếp
thu những thành tựu của văn học dân gian thế giới. Sự tƣơng tác giữa những
yếu tố nội sinh và ngoại sinh đã tạo nên gƣơng mặt vừa phong phú vừa độc
đáo của truyện ngắn mang dấu ấn cổ tích Việt Nam thời kỳ sau Đổi mới. Đó
là những gợi hƣớng quan trọng mà chúng tôi đƣợc kế thừa khi nghiên cứu
khảo sát một cách có hệ thống những ảnh hƣởng của truyện cổ tích về phƣơng
diện mơ típ đối với truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
2.2. Các cơng trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của thi pháp truyện
cổ tích đối với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Nghiên cứu về dấu ấn thi pháp cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp có rất nhiều bài viết rải rác khác nhau trên các báo, tạp chí, các trang
mạng xã hội nhƣng tập trung nhiều nhất trong cuốn sách Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp do Phạm Xuân Nguyên tổng hợp và biên soạn. Tuy chỉ mang tính chất
sƣu tầm, tổng hợp nhƣng cuốn sách đƣợc coi nhƣ chìa khóa gợi mở cho
những ai đã và đang yêu thích văn chƣơng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
Hầu hết những ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình khi phân tích về thi
pháp cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều tập trung vào những
khía cạnh chính nhƣ: cảm hứng huyền thoại, tính chất giả truyền thuyết, giả
cổ tích, giải thiêng lịch sử và những dấu hiệu cách tân về mặt cấu trúc thể
loại. Dƣới đây chúng tơi xin tóm lƣợc một số bài viết bàn về vấn đề thi pháp

cổ tích dân gian trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ở những góc
độ khác nhau.
Nhà nghiên cứu ngƣời Nga TN.Philimonova đã khẳng định: “Các nhân
vật và sự kiện dƣờng nhƣ có thật (giống sự thật) trong các truyện ngắn truyền thuyết này đƣợc bọc trong một cái vỏ cổ tích”…“Nhƣng nền tảng của
các truyện ngắn này (Những ngọn gió Hua Tát) sử dụng các mơ típ cổ tích


7

điển hình và cũng giống nhƣ trong truyện cổ tích, điều đóng vai trị quyết định
trong số phận của các nhân vật chính là các phép lạ” [49; 70]. Cũng trong
cuốn sách này cịn có bài viết Về cái ma lực trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp của tác giả Đông La, Đọc Nguyễn Huy Thiệp của Văn Tâm, Nguyễn
Huy Thiệp: Những chuyện huyền kì, núi, sơng và nước… của Nguyễn Vi
Khanh, Tư duy tiểu thuyết và Folklore hiện đại của Hồng Ngọc Hiến đều
đề cập đến chất triết lí, chất huyền thoại trong tầng bậc truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp.
Tiếp tục khẳng định về nguồn mạch cổ tích chảy trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào với bài Biển khơng có
thủy thần cũng nhận định dấu ấn cổ tích hiện lên rõ nét trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp ở phƣơng diện xây dựng những nhân vật ngốc nghếch, mồ
côi,… Những nhân vật ấy rất gần với nhân vật trong truyện cổ và “đó là điểm
gần gụi của truyện Nguyễn Huy Thiệp với cổ tích và một số truyện phổ cập ở
dân gian” [49; 389]. Điều này “nằm trong dòng chảy ngầm của tinh thần
phạm thƣợng bắt nguồn từ dân gian. Những kẻ dị dạng này nhiều khi làm nên
điểm sáng nhân hậu, trí tuệ anh minh của câu chuyện” [49; 391]. Nhƣng đáng
chú ý hơn, tác giả chỉ ra rằng những nhân vật kể trên luôn ẩn chứa một
“nghịch lí phản cổ tích”. Và đó chính là nét sáng tạo mới mẻ trong nhiều sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp.
Đồn Hƣơng trong cuốn Văn luận lại hình dung Nguyễn Huy Thiệp

giống nhƣ “ngƣời kể chuyện cổ tích hiện đại”. Tác giả khẳng định truyện của
Nguyễn Huy Thiệp hấp dẫn độc giả chính là ở “cái cách kể chuyện đơn giản
bằng chính ngơn ngữ của nhân dân là một thi pháp đã có từ trong truyền
thống nhƣ đã từng có trong truyện cổ tích Việt Nam” [31; 621]. Từ đó, nhà
nghiên cứu chỉ ra mạch ngầm dân gian chảy trong sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp còn biểu hiện rõ qua cách thức mở đầu và kết thúc truyện. Bởi vì truyện
của Nguyễn Huy Thiệp “vốn ƣa cấu trúc một cốt truyện đơn giản nhƣ chẳng


8

có gì” nên có những “cái kết thúc đẹp đẽ mang tính biểu tƣợng của một kết
thúc có hậu của truyện cổ tích” [31; 622].
Đến Vƣơng Thanh Hiền trong luận văn Ảnh hưởng của văn hóa dân gian
đối với truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã cho rằng: “Yếu tố nghệ thuật kì ảo,
những mơ típ cổ tích chiếm một vị trí lớn trong cốt truyện truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp” [25; 44]. Tác giả khẳng định những cốt truyện trong sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp mang dấu ấn của mơ típ cổ tích rất rõ ràng.
Trên các báo và tạp chí cũng có nhiều bài viết nổi bật khi nghiên cứu về
dấu ấn cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Trong bài viết Ảnh
hưởng thần thoại và cổ tích trong cách xây dựng nhân vật văn xuôi hôm nay,
Bùi Thanh Truyền nhận định: “Xây dựng nhân vật thần thoại, cổ tích, hầu hết
các cây bút văn xi hơm nay đều lồng vào đó thế giới quan mới mẻ, cái nhìn,
lạ hóa” của ngƣời hiện đại. Vì thế có thể xem đây là những truyện cổ tích,
thần thoại đời mới” [81; 45]. Đi sâu làm rõ một trƣờng hợp cụ thể, tác giả đã
tìm hiểu nhân vật Trƣơng Chi trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy
Thiệp. Qua đó, Bùi Thanh Truyền nhận thấy, mặc dù mƣợn mơ típ nhân vật
truyện cổ tích nhƣng Nguyễn Huy Thiệp lại xây dựng nhân vật theo góc nhìn
của nhà văn hiện đại. Bởi vậy “nếu bi kịch của Trƣơng Chi “bốn ngàn năm
trƣớc” là bi kịch tình yêu xuất phát từ sự mâu thuẫn giữa tài năng thiên phú và

nhân diện xấu xí thì bi kịch của chàng Trƣơng bốn ngàn năm sau chủ yếu là
xung đột giữa hoàn cảnh xã hội và thân phận con sâu cái kiến của kiếp ngƣời”
[81; 46]. Tiếp tục đến bài viết Song đề truyền thống – hiện đại trong điểm nhìn
nghệ thuật của truyện giả cổ tích và truyện cũ viết lại thời đổi mới, Bùi Thanh
Truyền đã nghiên cứu thi pháp hai kiểu truyện dựa trên cổ tích: truyện giả cổ tích
và truyện cũ viết lại từ góc độ điểm nhìn. Tác giả đã minh chứng bằng truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Từ đó, nhà nghiên cứu một lần nữa khẳng định dấu ấn
đậm nét của truyện cổ dân gian trong tác phẩm của Nguyễ Huy Thiệp.


9

Thêm vào đó, phải nhắc tới bài Đối thoại với văn học dân gian và bản
lĩnh của người viết của Lê Đình Kỵ cũng chỉ ra sự sáng tạo dựa trên nền tảng
kế thừa nguồn mạch truyện cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, đặc
biệt từ khía cạnh tạo dựng nhân vật. Khi tìm hiểu truyện Trương Chi, tác giả
đánh giá nhân vật chính “khơng cịn là một Trƣơng Chi cam chịu, âm thầm
nhận lấy số phận của mình” [36; 30]. Và “Dù là Trƣơng Chi truyền thống hay
Trƣơng Chi “hiện đại” thì đó cũng đều là lời nhắn gởi, là tiếng kêu khắc khoải
sao cho nghệ thuật, cho tiếng hát và tình u khơng bị cách lìa, mà đƣợc hòa
giải, hòa điệu vào nhau” [36; 31].
Qua khảo sát thực tế lịch sử nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng dựa
trên cảm nhận trực quan trong các nghiên cứu từ thập niên 50 của thế kỉ XX
đến nay đã bƣớc đầu có thành tựu trong việc nhìn nhận sự ảnh hƣởng của văn
học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng tới văn học viết. Một số
nghiên cứu cụ thể đã tiếp cận dấu ấn của truyện cổ tích tới truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp nhƣng mới chỉ dừng lại ở những khái quát, nhận định
chung. Các công trình nghiên cứu chƣa đi sâu khai thác dấu ấn cổ tích trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp một cách cụ thể. Vì vậy, trên cơ sở có tiếp thu
những gợi dẫn của các nhà nghiên cứu trƣớc đó, chúng tơi nghiên cứu vấn đề

Tiếp biến mơ típ cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp với mong
muốn tìm hiểu cách thức kế thừa, biến đổi những môtip của truyện cổ tích để
tạo ra đặc trƣng mới cho thể loại truyện ngắn hiện đại. Từ đó, giúp độc giả có
cái nhìn sâu sắc về phong cách nghệ thuật truyện ngắn độc đáo của Nguyễn
Huy Thiệp.
3. Mục tiêu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài khảo sát nhận diện, phân tích mơ típ truyện cổ tích trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp, cách xử lí, tiếp biến các mơ típ. Từ đó chỉ ra sự vận


10

động của thể loại (từ truyện cổ tích tới truyện ngắn hiện đại) trong sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Những tiếp biến mơ típ truyện cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát 44 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trong tập
Nguyễn Huy Thiệp truyện ngắn của Nhà xuất bản văn học xuất bản năm 2003
và các tuyển tập truyện ngắn do Nhà xuất bản Trẻ phát hành: Tình yêu, tội ác
và trừng phạt (2013); Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt (2013), Những ngọn
gió Hua Tát (2017).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê phân loại
Khảo sát, thống kê, phân loại các dạng thức mơ típ trong những tác phẩm
mang dấu ấn cổ tích của Nguyễn Huy Thiệp.
4.2. Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Phạm vi khảo sát của luận văn là truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Do đó, khi

triển khai đề tài, phƣơng pháp này giúp cho sự phân tích bám sát những đặc trƣng
của loại hình tự sự, đồng thời quan tâm đến đặc điểm riêng của thể loại truyện
ngắn trong việc thể hiện tiếp biến môtip trong truyện.

4.3. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ môtip truyện cổ tích cần có
một cái nhìn hệ thống tồn diện về thi pháp cổ tích và thi pháp truyện ngắn
hiện đại. Bởi cái nhìn hệ thống sẽ giúp chúng tơi lí giải sự tiếp biến, hiện đại
thể loại một cách toàn diện.


11

4.4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Những biểu hiện của thi pháp tác phẩm, tác giả, lịch sử văn học… là căn
cứ để xác thực những biểu hiện cụ thể của sự tiếp nhận, biến đổi trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp nhìn từ mơ típ truyện cổ dân gian.
4.5. Phương pháp so sánh
Trong luận văn, phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để chỉ ra những tƣơng
đồng và dị biệt của mơ típ cổ tích và mơ típ trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp.
4.6. Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phƣơng pháp nghiên cứu sử dụng kết hợp những ngành văn hóa học, dân
tộc học để giải mã nguồn gốc mơ típ trong cổ tích. Từ đó, tạo cơ sở có cái
nhìn tồn diện về sự chuyển hóa, tiếp biến những mơ típ ấy trong truyện ngắn
hiện đại của Nguyễn Huy Thiệp.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn đem lại một cái nhìn hệ thống về sự tiếp biến mơ típ cổ tích trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Từ đó, mở ra một hƣớng tiếp cận mới về sáng
tác của Nguyễn Huy Thiệp.

Luận văn góp phần xác lập một cách tiếp cận mới mẻ đối với tác phẩm văn
xuôi tự sự hiện đại Việt Nam.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Vấn đề mơ típ trong truyện cổ tích và dấu ấn cổ tích trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Chƣơng 2: Nhân vật – tiếp biến từ môtip cổ tích đến truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp.
Chƣơng 3: Khơng gian nghệ thuật – biến đổi từ mơtip cổ tích đến truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp.


12

CHƢƠNG 1
VẤN ĐỀ MƠ TÍP TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
VÀ DẤU ẤN CỔ TÍCH TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP
1.1. Vấn đề mơ típ trong truyện cổ tích
1.1.1. Khái niệm truyện cổ tích
Tiếp cận khái niệm truyện cổ tích đã trở thành mối quan tâm lớn của các
nhà nghiên cứu folklore. Ngay từ thế kỉ XIX, trƣờng phái Ấn – Âu mà đại
biểu là anh em nhà Grimm đã đƣa ra khái niệm truyện cổ tích: “Truyện cổ
tích là những truyện đƣợc xây dựng nên bằng trí tƣởng tƣợng nghệ thuật, đặc
biệt là những điều tƣởng tƣợng về thế giới thần kì” [33; 5]. Đó là những câu
chuyện ít có sự liên hệ đến đời sống trong thực tế nhƣng lại làm thỏa mãn độc
giả thuộc mọi tầng lớp xã hội dù cho họ tin hay không tin vào những điều
đƣợc nghe kể. Đến thế kỉ XX, nhiều cơng trình nghiên cứu về truyện cổ tích
của các nhà folklore Nga đã xuất hiện và nhanh chóng nổi tiếng. V.Propp là
nhà nghiên cứu văn học dân gian điển hình với cơng trình Hình thái học của

truyện cổ tích thần kì. Ơng đã khẳng định: “Truyện cổ tích là những truyện kể
truyền miệng, lƣu hành trong nhân dân, có mục đích giải trí ngƣời nghe, nội
dung kể lại những sự kiện khác thƣờng (những sự kiện tƣởng tƣợng có tính
chất thần kì hoặc thế sự) và mang những nét đặc trƣng về hình thức cấu tạo và
phong cách thể hiện” [56; 20].
Ở Việt Nam, theo sự nghiên cứu của Chu Xuân Diên trong chuyên luận
Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học, thuật ngữ “truyện cổ tích” xuất
hiện vào khoảng thế kỉ XIX trong cuốn Ngọc Hoa cổ tích truyện in tại Hà Nội
năm 1987. Từ đầu thế kỉ XX trở đi, thuật ngữ này đƣợc dùng phổ biến. Chu
Xuân Diên cho rằng, ban đầu khái niệm truyện cổ tích đƣợc hiểu theo nghĩa
rộng chỉ các loại truyện dân gian nói chung, do đó khơng có sự phân biệt với


13

các khái niệm “truyện đời xƣa”, “truyện cổ”, “truyện cổ dân gian”, Nhƣng
trong những năm gần đây, các nhà folklore ngày càng có xu hƣớng cố gắng
phân biệt “truyện cổ tích” với truyện dân gian nói chung và với các loại
truyện dân gian khác nhau nói riêng nhƣ thần thoại, truyền thuyết. Đồng thời
các nhà nghiên cứu coi nguồn gốc ra đời của truyện cổ tích nhƣ một căn cứ để
nhận thức truyện cổ tích. Hồng Tiến Tựu đã khẳng định: “Truyện cổ tích là
một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn liền với q trình tan
rã của chế độ cơng xã ngun thủy, hình thành của gia đình phụ quyền và
phân hóa giai cấp trong xã hội” [90; 61]. Cổ tích tập trung vào những vấn đề cơ
bản có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, nhất là những xung đột mang tính
chất riêng tƣ giữa ngƣời với ngƣời trong phạm vi gia đình và xã hội.
Khái niệm truyện cổ tích cịn đƣợc giới nghiên cứu tiếp nhận từ đặc trƣng
về nghệ thuật. Phạm Thu Yến đã đƣa ra quan niệm: “Truyện cổ tích là những
truyện có yếu tố hoang đƣờng kì ảo, nó ra đời sớm nhƣng đặc biệt nở rộ trong
xã hội có sự phân hóa giàu nghèo, xấu tốt” [97; 50]. Từ đó, truyện phản ánh

kinh nghiệm sống, quan điểm đạo đức, lí tƣởng và ƣớc mơ của ngƣời xƣa về
một cuộc sống hạnh phúc, một xã hội công bằng dân chủ. Tác giả Vũ Anh
Tuấn cũng có cách tiếp cận tƣơng tự nhƣ thế: “Truyện cổ tích là sáng tác dân
gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kì ảo để thể hiện
cái nhìn hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức
cũng nhƣ về công lý xã hội và ƣớc mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân
dân lao động” [86; 101].
Nhƣ vậy, các khái niệm đƣợc các nhà nghiên cứu đƣa ra có sự khác nhau
về cách diễn đạt nhƣng tựu chung lại đều khẳng định, truyện cổ tích là loại
hình tự sự dân gian, đƣợc nảy sinh từ xã hội nguyên thủy nhƣng phát triển
trong xã hội phân chia giai cấp; đƣợc xây dựng thơng qua sự hƣ cấu nghệ
thuật thần kì, phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời, thể hiện
những ƣớc mơ của nhân dân lao động về một cuộc sống tốt đẹp hơn.


14

1.1.2. Đặc trưng của truyện cổ tích
Văn học dân gian đều lấy đối tƣợng phản ánh là hiện thực, nhƣng mỗi thể
loại hƣớng vào hiện thực theo cách lựa chọn riêng. Thần thoại và truyện
thuyết chú ý đến mảng hiện thực rộng lớn, những đề tài cao cả. Ngƣợc lại,
truyện cổ tích xuất hiện sau, khi xã hội có phân chia giai cấp nên quan tâm
đến những quan hệ con ngƣời trong sinh hoạt đời thƣờng, những bon chen đố
kị rất cụ thể trong gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khác với hiện thực ngoài đời,
các yếu tố thực tế trong cổ tích ln đan xen với yếu tố kì ảo, tạo ra một “thế
giới cổ tích”. Những yếu tố của thực tế khi đi vào truyện cổ tích đã đƣợc trí
tƣởng tƣợng dân gian nhào nặn lại, hƣ cấu, sắp xếp lại theo một trật tự khác,
nguyên tắc khác với thế giới thực tại. Trong thế giới ấy, con ngƣời vừa bình
thƣờng, vừa lạ lùng, các sự kiện vừa quen thuộc, vừa phi lí khơng thể lí giải
bằng tƣ duy thơng thƣờng. Tất cả những gì phi lí nhất, không thể tồn tại trong

cuộc sống hiện thực đều có thể đƣợc dễ dàng chấp nhận trong thế giới riêng của
cổ tích. Cũng từ đó nó chiếu rọi một thứ ánh sáng đặc biệt vào cuộc đời tăm tối
đầy khổ đau của con ngƣời, mở ra một cánh cửa về một tƣơng lai tƣơi sáng.
Cốt truyện cổ tích đƣợc tạo nên bởi những mơ típ quen thuộc. Truyện cổ
tích thƣờng có cốt truyện ngắn gọn, cơng thức trần thuật đơn giản, gọn nhẹ.
Đặc điểm cấu tạo này xuất phát từ đặc trƣng truyền miệng và tập thể sáng tạo
của văn học dân gian chi phối. Truyện khơng có nhiều tình tiết, khơng có
nhiều kiểu kết cấu tạo sự uyển chuyển, hấp dẫn, đa dạng. Cổ tích thƣờng có
kiểu kết cấu cốt truyện một trục thẳng, nhân vật chính hành động liên tiếp, các
nhân vật khác và sự kiện bị chi phối bởi hành động của nhân vật đó. Nhân vật
cổ tích thƣờng sống hồn nhiên, tự nhiên cảm tính đến thụ động, khơng có tác
động vào hồn cảnh, khơng đấu tranh vƣơn lên. Nhân vật đƣợc miêu tả với
tâm tính hồn nhiên, đơn giản, ít thấy ở họ sự đấu tranh nội tâm hay ý thức đổi
thay. Chính vì thế ta khơng thấy nhân vật có diễn biến tâm lí. Điều đó liên


15

quan đến thi pháp xây dựng nhân vật: nhân vật truyện cổ tích chỉ là những
biểu tƣợng về đạo đức, lối sống, tính cách đã đƣợc định sẵn và cứ giữ nguyên
thế đến hết truyện.
Nhân vật cổ tích hoạt động trong một không gian và thời gian đặc trƣng.
Không gian và thời gian nghệ thuật trong cổ tích vừa hiện thực vừa kì ảo, đan
cài, hịa quyện tạo thành một khơng khí riêng, độc đáo và hấp dẫn. Khơng thời gian ấy góp phần phản ánh ƣớc mơ bay bổng, lãng mạn của ngƣời xƣa.
Do đặc trƣng truyền miệng và tập thể nên đời sống của các tác phẩm
folklore rất dài và có khả năng biến đổi. Ở mỗi thời đại, do những nhu cầu
mới mà mỗi tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau có sự biến đổi, đƣợc phủ
lên bề mặt cũ lớp lịch sử mới, gần gũi và phù hợp hơn với nhu cầu của nhân
dân. Truyện cổ tích cũng nhƣ vậy, nhiều tác phẩm đã vay mƣợn những mơ típ
thần thoại, kết nạp vào cốt truyện mới khiến ý nghĩa cũ bị mờ đi, thay vào đó

là sự phản ánh chủ đề mới. Mỗi truyện cổ tích lƣu truyền đến ngày nay đều
phải trải qua một thời kì lịch sử dài và sự sàng lọc nghiêm ngặt của q trình
truyền miệng. Do đó, những chi tiết đƣợc lƣu giữ lại đến ngày nay đều có ý
nghĩa nào đó chứ khơng phải ngẫu nhiên, phi lí. Bởi vậy, việc khám phá truyện
cổ tích là một q trình hiểu và hiểu lại khơng có điểm dừng cuối cùng.
1.1.3. Mơ típ trong truyện cổ tích
Mơ típ là một trong những thuật ngữ folklore đƣợc sử dụng nhiều nhất
hiện nay trong lĩnh vực nghiên cứu về thể loại tự sự dân gian. Nhà Folklore
học ngƣời Nga ở thế kỷ XIX A.N Veselovsky cho rằng: “những công thức trả
lời cho các vấn đề mà giới tự nhiên đặt ra cho con ngƣời từ thuở nguyên sơ,
khắp mọi nơi hoặc là những ấn tƣợng về hiện thực đƣợc đúc kết nổi bật hoặc
tỏ ra quan trọng và đƣợc lặp đi lặp lại”[50; 141]. Ông xác định cần phải dựa
vào một thành tố bền vững đƣợc lặp lại nhiều lần trong các nội dung truyện kể
thì mới có thể giải thích đƣợc ý nghĩa của nội dung và gọi những thành tố


16

đƣợc lặp lại ấy là mơ típ. Veselovsky khẳng định mơ típ là yếu tố cố định,
ln có trƣớc cốt truyện, nằm trong cốt truyện và tạo nên cốt truyện bằng
cách kết hợp với nhiều mơ típ khác, nghĩa là xét về phƣơng diện hình thái học
thì mơ típ là một trong những mắt xích của cốt truyện.
Đến Standard dictionary of Folklore của S.Thompson: “Trong folklore,
mơ típ là thuật ngữ chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một kết quả của folklore có
thể phân tích ra đƣợc. Trong nghệ thuật dân gian có mơ típ của hình phác hoạ,
là những hình mẫu thƣờng lặp lại hoặc kết hợp với những hình mẫu khác theo
một kiểu cách riêng biệt nào đó. Trong âm nhạc và bài hát dân gian cũng có
những khn nhạc giống nhau thƣờng trở lại ln. Lĩnh vực mà mơtip đƣợc
nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian nhƣ
các loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad...”[100; 26].

Đầu thế kỷ XX, nhà Folklore học ngƣời Nga V.Ia.Propp đã đƣa ra kết quả
nghiên cứu về mặt cấu trúc của truyện cổ tích. Dựa trên sự khảo sát 100
truyện cổ tích Nga, ơng đã đi đến kết luận: “Trong những thí dụ đã dẫn trên
đây là có những hằng số và biến số. Những tên gọi thay đổi và cùng với các
tên gọi là những thuộc tính của những nhân vật hành động, những hành động
của họ không thay đổi, hay chức năng của họ khơng thay đổi. Do đó ta kết
luận rằng, truyện cổ tích thƣờng gắn những hành động nhƣ nhau cho những
nhân vật khác nhau. Điều này cho phép ta có thể nghiên cứu truyện cổ tích dự
theo những chức năng của những nhân vật hoạt động”[56; 40]. Từ đây, chúng
tơi hiểu, mơ típ là hằng số, tức là đại lƣợng cố định, bất biến, còn nội dung
truyện cổ tích (gồm tên gọi, đề tài, chủ đề, chủng loại nhân vật, hành động
nhân vật...) là biến số, có thể thay đổi theo từng tác phẩm riêng lẻ. Propp tiếp
tục chỉ ra: “Nhân vật truyện cổ tích dù có đa dạng đến đâu đi chăng nữa cũng
thƣờng làm nhƣ nhau. Biện pháp thực hiện chức năng có thể thay đổi, nó là
một biến số. Những chức năng với tính cách chức năng là một đại lƣợng bất
biến” [56; 41]. Tức là thế giới nhân vật trong một hệ thống mơ típ truyện cổ


17

tích có thể rất đa dạng, phong phú về chủng loại nhƣng lại thƣờng hành động
theo các chức năng giống nhau. Các chức năng đó đƣợc xem là mơ típ. Mơ típ
chi phối mạnh mẽ tới hành động nhân vật và cốt truyện.
Ở Việt Nam, theo định nghĩa trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, mơ
típ là “từ Hán Việt là mẫu đề (do ngƣời Trung Quốc phiên âm chữ motif của
tiếng Pháp) có thể chuyển thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong tiếng
Việt, nhằm chỉ những nhân tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã đƣợc hình
thành ổn định, bền vững và đƣợc sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học
nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian”[21; 197]. Từ đó có thể
khẳng định mơ típ là yếu tố khơng thể phân tách, mang tính ổn định và xuất

hiện lặp đi lặp lại trong tác phẩm văn học.
Theo Nguyễn Tấn Đắc, “trong ngôn ngữ thơng thƣờng, mơ típ chỉ những
nét khác biệt hoặc những nét nổi bật. Từ mơ típ thƣờng đƣ ợc sử dụng trong
văn học nghệ thuật, âm nhạc, thuật ngữ tạo hình và văn hoa trang trí” [14;
18]. Nhƣ vậy, có thể hiểu mơ típ trong ngơn ngữ đời thƣờng và mơ típ trong
nghệ thuật có sự khác nhau. Nếu mơ típ trong đời thƣờng chỉ là những nét
khác biệt thì trong văn hoc, nghệ thuật, mơ típ là đơn vị cấu thành hình tƣợng,
chứa đựng nhiều tầng nội dung, ý nghĩa, tƣ tƣởng khác nhau. Đi sâu hơn vào
mô típ truyện kể dân gian, tác giả cho rằng: “Thơng thƣờng, ngƣời ta xem mơ
típ là phần nhỏ nào đó khơng thể chia tách, có ít nhiều khác lạ và đƣợc sử
dụng lặp đi lặp lại. Đồng thời, mơ típ đƣợc hiểu là những phần tử vừa mang
tính đặc trƣng, vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian...” [14; 18].
Nhƣ vậy, có thể thấy khái niệm về mơ típ đƣợc các nghiên cứu đƣa ra
theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau, nhƣng đều khẳng định: mơ típ là những
khuôn, dạng, mẫu hoặc kiểu hành động, chức năng của nhân vật. Nó có tính
bền vững, lặp đi lặp lại qua nhiều tác phẩm, không chỉ để tạo ấn tƣợng nghệ
thuật mà còn thể hiện tƣ duy nghệ thuật, thế giới quan, nhân sinh quan của
ngƣời sáng tạo nghệ thuật. Từ đó, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi


18

đƣa ra khái niệm riêng về mơ típ trong truyện cổ tích nhƣ sau: “Mơ típ là
những tình tiết, hành động, chức năng có tính đặc trƣng, quy luật phổ biến
đƣợc lặp đi lặp lại trong các tác phẩm truyện cổ tích nhằm phản ánh đời sống,
xã hội và thể hiện tƣ duy nghệ thuật, nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả
dân gian. Mơ típ đóng vai trị quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm, mang
tính bền vững nhƣng cũng luôn vận động, biến đổi. Các mô típ trong một tác
phẩm ln có mối quan hệ chặt chẽ với nhau”.
1.2. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và những dấu ấn cổ tích

1.2.1. Vài nét về Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn đƣơng đại Việt Nam, nổi tiếng trong địa
hạt kịch, truyện ngắn và tiểu thuyết. Xuất hiện trên văn đàn Việt Nam đúng
vào lúc Đảng và nhà nƣớc chủ trƣơng cởi trói cho văn học nghệ thuật, ơng có
điều kiện để thể nghiệm một lối đi riêng cùng với những cách tân hiện đại
trong mỗi trang viết của mình. Với tƣ duy độc đáo, mới lạ, sáng tác của nhà
văn này nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của giới nghiên cứu và những
ngƣời yêu thích văn chƣơng. Lối viết mới của Nguyễn Huy Thiệp đã thực sự
tạo ra một cú hích, tạo ra một cách đọc mới, khiến ngƣời đọc không thể tiếp
nhận tác phẩm theo lối cũ đƣợc nữa. Độc giả phải tƣ duy về những vấn đề ẩn
sâu bên dƣới “tảng băng trơi” (Hemingway) để tìm ra các lớp nghĩa của văn
bản. Với hơn 40 truyện ngắn, 3 tiểu thuyết, gần 10 vở kịch cùng với nhiều bài
phê bình văn học … Nguyễn Huy Thiệp quả đã đóng góp nhiều cho văn học
Việt Nam. Song, thể loại làm nên tên tuổi và mang lại cho ông một phong
cách nghệ thuật độc đáo chính là truyện ngắn.
1.2.2. Dấu ấn cổ tích trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Đa số sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều đƣợc bao phủ bởi
những màn sƣơng mù kì ảo. Nhờ sử dụng thi pháp cổ tích, nhà văn đã chuyển
tải thành công tới bạn đọc những vấn đề bức thiết, ngổn ngang của xã hội hiện


19

đại. Mặc dù chỉ xuất hiện len lỏi trong từng tác phẩm nhƣ một chất liệu, một yếu
tố trong văn bản nhƣng qua sự chi phối của thi pháp cổ tích trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp chúng ta phần nào thấy đƣợc khuynh hƣớng tiếp cận cổ tích
của các nhà văn đƣơng đại Việt Nam. Từ đó, ta lý giải đƣợc vì sao văn học hiện
đại khơng “chối bỏ” cổ tích dân gian xa xƣa mà vẫn “kết nối”, “hịa điệu” với cổ
tích theo cách riêng của mình.
Khảo sát 44 truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ta có thể thấy dấu ấn cổ

tích xuất hiện khá nhiều (35/44 truyện) trong cốt truyện, kết cấu, nhân vật,
không gian, thời gian… Nhà văn thƣờng sử dụng kiểu cốt truyện dân gian
truyền thống. Ông lƣợc bỏ bớt các yếu tố thần linh, ma thuật, phù phép khiến
cho câu chuyện thật hơn, gần gũi hơn, trở thành một tác phẩm đa nghĩa, đa âm
với điểm nhìn mới của con ngƣời hiện đại. Viết lại cổ tích, phản cổ tích hay
giả cổ tích là cụm từ dùng để gọi tên kiểu truyện ngắn có cốt truyện cổ tích
nhƣng lại soi chiếu bởi tinh thần hiện đại, bởi kiểu tƣ duy của triết học và mĩ
học đƣơng đại. Nguyễn Huy Thiệp đã kế thừa nguồn mạch truyền thống, phát
triển và tạo nên những cách tân mới lạ, hấp dẫn. Chính ơng đã làm một cuộc
bứt phá lớn, làm thay đổi diện mạo, góp phần khơng nhỏ cho kĩ thuật tự sự
của văn học Việt Nam đƣơng đại.
Lối viết đậm chất cổ tích thể cịn hiện qua cách kết cấu cốt truyện đơn
giản, theo trật tự thời gian tuyến tính. Theo đó, các sự kiện đƣợc phân bố, sắp
xếp với nhau theo một trật tự nhất định: sự việc nào xảy ra trƣớc kể trƣớc, sự
việc nào xảy ra sau kể sau. Các sự kiện nối tiếp nhau, vận động theo quy luật
nhân quả. Không chỉ lựa chọn cách thức mở đầu đơn giản, ngắn gọn, trong
chùm truyện, bóng dáng cổ tích cịn hiện lên qua những kiểu kết thúc có hậu.
Cách kết thúc ấy có trong các truyện Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ
quên, Nàng Sinh…Những truyện ngắn này mở ra với một sự kiện bất bình
thƣờng hoặc con ngƣời có số phận bất hạnh (nạn hạn hán, nạn sâu dịch phá
hoại mùa màng, cơ gái mồ cơi xấu xí…) nhƣng sau cùng đều chung cái kết có


×