TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA: KHOA HỌC XÃ HỘI & VĂN HỐ DU LỊCH
-----------------------
DƢƠNG THANH HUYỀN
CẢM QUAN TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Đại học Sƣ phạm Ngữ Văn
1
Phú Thọ, 2021
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA: KHOA HỌC XÃ HỘI & VĂN HỐ DU LỊCH
-----------------------
DƢƠNG THANH HUYỀN
CẢM QUAN TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Đại học Sƣ phạm Ngữ văn
Giảng viên hƣớng dẫn: ThS. Đặng Lê Tuyết Trinh
Phú Thọ, 2021
2
LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm đạo đức trong học thuật. Tôi
cam kết nghiên cứu này là do tôi thực hiện đảm bảo trung thực, không vi phạm
yêu cầu về đạo đức trong học thuật.
Tác giả
Dƣơng Thanh Huyền
Nhận xét của GVHD
3
Lời cảm ơn
Khố luận Cảm quan tơn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp là nội dung em chọn làm để nghiên cứu và làm khoá luận tốt nghiệp
sau 4 năm theo học chƣơng trình đại học, chuyên ngành Đại học Sƣ phạm Ngữ
Văn tại Trƣờng Đại học Hùng Vƣơng.
Để có đƣợc khố luận nhƣ ngày hơm nay, ngƣời thực hiện xin chân thành
cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất ThS. Đặng Lê Tuyết Trinh – Giảng
viên bộ môn Ngữ văn, Khoa Khoa học Xã hội & Văn hoá Du lịch, Trƣờng Đại
học Hùng Vƣơng ln quan tâm, khích lệ, tận tình, chu đáo hƣớng dẫn và giúp
đỡ em hồn thành khố luận.
Trong q trình làm cũng nhƣ hồn thành khố luận khó có thể tránh khỏi
những sai sót đồng thời do năng lực bản thân cịn nhiều hạn chế nên có những
thiếu sót. Em mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của các thầy (cô) trong
bộ môn và những ngƣời quan tâm đến khố luận để có thể tiếp tục hồn thiện
một cách tốt nhất.
Xin trân trọng cảm ơn!
Phú Thọ, ngày tháng năm 2021
Ngƣời thực hiện
Dƣơng Thanh Huyền
4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 8
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 8
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .............................................................................. 9
2.1. Nghiên cứu tôn giáo trên thế giới ............................................................. 9
2.2. Nghiên cứu về tơn giáo, tín ngưỡng trong văn học ở Việt Nam ........... 11
2.3. Nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp ................................................................................................................ 13
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 15
3.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 15
3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 15
4. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 16
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................................. 16
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu ......................................................................... 17
6.1. Về phương diện lí luận ............................................................................ 17
6.2. Phương diện thực tiễn ............................................................................. 17
7. Cấu trúc khóa luận......................................................................................... 17
NỘI DUNG......................................................................................................... 18
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG ......................................... 18
1.1. Vấn đề tín ngƣỡng và tơn giáo trong đời sống ...................................... 18
1.1.2. Khái niệm tơn giáo, tín ngưỡng ........................................................... 18
1.1.2. Một số tín ngưỡng, tơn giáo chính ở Việt Nam ................................... 20
1.1.3. Vai trị của tơn giáo, tín ngưỡng trong lịch sử người Việt và cuộc sống
đương đại ......................................................................................................... 22
1.2. Vấn đề tơn giáo và tín ngƣỡng trong văn học ......................................... 23
1.3. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong dòng chảy văn học đương đại... 29
Tiểu kết chƣơng 1 .............................................................................................. 36
Chƣơng 2: CẢM QUAN TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP TỪ PHƢƠNG DIỆN
NỘI DUNG......................................................................................................... 37
2.1 Cảm quan tôn giáo và tín ngƣỡng thể hiện qua cái nhìn cuộc sống và
con ngƣời ............................................................................................................ 37
2.1.1 Đường đời gắn liền với đường đạo ....................................................... 37
5
2.1.2. Tơn giáo, tín ngưỡng cứu rỗi con người đồng thời thể hiện những giá
trị tốt đẹp của người Việt ................................................................................ 43
2.2. Cảm quan tơn giáo, tín ngƣỡng và tinh thần giải thiêng........................ 51
2.2.1. Tinh thần giải thiêng ............................................................................ 51
2.2.2. Cảm quan tôn giáo và tinh thần giải thiêng trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp ........................................................................................................ 53
Tiểu kết chƣơng 2 .............................................................................................. 61
Chƣơng 3. CẢM QUAN TƠN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP TỪ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ
THUẬT ............................................................................................................... 62
3.1. Biểu tƣợng tơn giáo, tín ngƣỡng đặc sắc .................................................. 62
3.2. Yếu tố kì ảo và mơ típ quen thuộc ............................................................ 64
3.3. Ngơn ngữ mang màu sắc tơn giáo và tín ngƣỡng .................................... 69
3.4. Giọng điệu trần thuật................................................................................. 74
3.4.1. Giọng điệu triết lí tơn giáo .................................................................... 75
3.4.2. Giọng giễu nhại khi nói về tinh thần giải thiêng ................................ 77
Tiểu kết chƣơng 3:............................................................................................. 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 81
6
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
Dịch nghĩa
Nhà xuất bản
Phó giáo sƣ
Giáo sƣ
Thạc sĩ
Chữ viết tắt
NXB
PGS
GS
ThS.
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Các nền văn hóa trên thế giới ln tồn tại và phát triển đều nhờ vào
những hình thái văn hóa mang bản sắc dân tộc đặc biệt là tín ngƣỡng, tơn giáo,
phong tục tập qn... Tơn giáo, tín ngƣỡng tồn tại song song với con ngƣời, là
bộ phận không thể thiếu, khơng thể tách rời với văn hóa tinh thần mà con ngƣời
sáng tạo ra. Những giá trị văn hóa tinh thần đó đƣợc lƣu giữ, truyền tụng bằng
nhiều hình thức khác nhau, trong đó có văn học. Ngay cả trong xã hội đƣơng đại
thì mối quan tâm lớn của con ngƣời vẫn là việc giữ gìn những nét độc đáo trong
bản sắc văn hóa tín ngƣỡng, tơn giáo của dân tộc mình. Nhiều thế hệ nhà văn,
nhà thơ đi suốt chiều dài lịch sử của đất nƣớc cũng đã không ngừng khai thác
những giá trị văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình. Văn học thời kỳ đổi mới
nói chung và truyện ngắn nói riêng, tƣởng chừng bị cuốn đi với thời đại của số
hóa... Song, những nhà văn vẫn ln tìm tịi, khai thác các giá trị văn hóa dân
tộc, đặc biệt là tín ngƣỡng, tơn giáo.
1.2. Sau 1975, văn học vận động theo hƣớng dân chủ hóa, truyện ngắn
Việt Nam đã có những bƣớc phát triển đáng kể. Các nhà văn chuyển dần từ tƣ
duy sử thi sang tƣ duy tiểu thuyết. Họ khơng hƣớng ngịi bút của mình vào
những đề tài mang tính chất sử thi nữa mà các nhà văn đã dùng ngịi bút của
mình phản ánh cuộc sống với cái nhìn đa đoan, đa chiều. Trong giai đoạn văn
học này, nhiều tác giả đã khẳng định đƣợc tên tuổi trong lĩnh vực truyện ngắn
đƣơng đại, đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp. Ông đƣợc xem là một hiện tƣợng văn
học độc đáo. Từ rất lâu, các tác phẩm của nhà văn sáng tác đã trở thành trung
tâm của sự bàn thảo, tranh luận. Dù các ý kiến có tranh luận, khen hay chê,
nhƣng khó ai có thể phủ nhận khả năng sáng tác, tài năng của ông. Chảy trôi
cùng thời gian, những cảm xúc mãnh liệt mà ơng gửi vào trong những trang văn
của mình luôn đƣợc ngƣời đọc ngẫm kĩ lƣỡng về những sự thật ẩn khuất sau ánh
sáng, những bài học về cuộc sống đƣơng đại.
1.3. Có thể nhận thấy, hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiếp chứa
đựng những đạo lí sống, triết lí sống nhuốm màu sắc tín ngƣỡng, tơn giáo dân
8
gian. Khơng nằm ngồi vịng chảy của văn học sau 1975, cảm quan tơn giáo và
tín ngƣỡng cũng đƣợc nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khéo léo đƣa vào trong
những sáng tác văn chƣơng của mình. Dƣờng nhƣ những tơn giáo, tín ngƣỡng
dân gian đã thẩm thấu vào những trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Những
niềm tin, quan niệm ấy đã không chết cứng theo thời gian mà luôn tiềm tang, rồi
sống dậy, sinh động thơng qua những hình tƣợng nghệ thuật đặc sắc.
1.4. Trong quá trình nghiên cứu về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, tác giả
khóa luận nhận thấy dù có khá nhiều cơng trình nghiên cứu, bài viết, sáng kiến
nghiên cứu về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nhƣng đa phần các ý kiến đó
chỉ tập trung đánh giá khẳng định những đóng góp của ơng trên phƣơng diện nội
dung tƣ tƣởng, nghệ thuật đƣợc biểu hiện trong tác phẩm hoặc mổ xẻ các vấn đề
liên quan đến nội dung hiện thực, nhân vật và khả năng sáng tạo nghệ thuật văn
chƣơng của ông. Theo chúng tôi, một trong những đặc điểm tạo nên nét riêng,
nét hấp dẫn, lôi cuốn cho văn Nguyễn Huy Thiệp là ông đã đề cập đến vấn đề
tơn giáo và tín ngƣỡng dân gian. Qua tìm hiểu bƣớc đầu, tơi nhận thấy đặc điểm
sáng tác này của Nguyễn Huy Thiệp mới chỉ đƣợc một số bài viết đề cập đến
song đó chỉ là trong những hiện tƣợng nghiên cứu đơn lẻ, chƣa thành một hệ
thống trọn vẹn.
Cũng chính những lí do trên đã thơi thúc tác giả chọn đề tài: “Cảm quan
tôn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Nghiên cứu tôn giáo trên thế giới
Trên thế giới có khoảng 10.000 tơn giáo, nhƣng khoảng 84% dân số thế
giới theo một trong năm nhóm tơn giáo lớn, đó là Kito giáo, Hồi giáo, Ấn độ
giáo, Phật giáo, hoặc các dạng tôn giáo dân gian. Các nhân khẩu học không liên
kết tôn giáo bao gồm những ngƣời không xác định với bất kỳ tôn giáo cụ thể
nào, vô thần và agnostics. Trong khi số lƣợng những ngƣời không có tơn giáo cụ
thể càng ngày càng tăng trên tồn cầu, nhiều ngƣời trong số những ngƣời không
theo tôn giáo cụ thề nào vẫn có nhiều tin tơn giáo khác nhau.
9
Trong xã hội săn bắn, hái lƣợm, phổ biến là thuyết vật linh, cho rằng vật
thể trong thế giới tự nhiên đƣợc phú cho nhận thức và tác động đến đời sống con
ngƣời. Biển cả, núi cao, gió và thậm chí cả cây cối,… cũng có thể đƣợc coi là
những thế lực có tính chất thần thánh sinh ra và chi phối đời sống con ngƣời. Xã
hội săn bắn, hái lƣợm có tổ chức chƣa phức tạp nên đời sống tơn giáo chủ yếu
tồn tại trong gia đình. Địa vị pháp sƣ (shaman) có thể đƣợc trao cho một ngƣời
nhƣ là lãnh tụ tôn giáo nhƣng hoạt động này không phải chiếm tồn bộ thời gian
của ngƣời đó. Sang đến giai đoạn xã hội trồng trọt và chăn nuôi, niềm tin thần
thánh là nguyên nhân hình thành thế giới dần dần đƣợc phát triển. Một hệ thống
văn hóa đạo đức đƣợc ủng hộ bằng việc công nhận thần thánh đồng thời tơn giáo
vƣợt qua khỏi phạm vi gia đình và thƣờng gắn chặt với chính trị, lãnh tụ xã hội
thƣờng đƣợc xem là vua và tăng lữ nhƣ các Pharaoh Ai Cập. Trƣớc cách mạng
công nghiệp, tôn giáo đã rất phát triển và là thể chế xã hội vô cùng quan trọng ở
khắp các lục địa. Đây cũng là lúc các tơn giáo có nhiều xung đột với nhau. Từ
khi cách mạng công nghiệp nổ ra, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã khiến
cho ảnh hƣởng của tôn giáo khơng cịn mạnh mẽ nhƣ trƣớc, tơn giáo dần bị tách
rời khỏi nhà nƣớc. Trong đời sống xã hội, khoa học cũng dần thay thế cho tôn
giáo, chẳng hạn một ngƣời khi gặp bệnh tật tìm đến bác sĩ nhiều hơn tu sỹ. Tuy
vậy, thậm chí ngay cả cho đến nay, nhiều phong trào tôn giáo mới vẫn tiếp tục
phát triển.
Tôn giáo và tin ngƣỡng là vấn đề mà trên thế giới hiện nay đã và đang
đƣợc các nhà văn tập trung thể hiện trong mỗi sáng tác của mình. Cùng một tơn
giáo nhƣng khi du nhập vào mỗi một quốc gia sẽ có cách tiếp thu và truyền đạt
khác nhau, vì vậy ảnh hƣởng của tơn giáo và tín ngƣỡng vào các sáng tác văn
học khác nhau. Cùng với đó, mỗi nhà văn cũng có những cách nhìn nhận, soi
vào các hƣớng của một tôn giáo khác nhau. Mỗi một tôn giáo khi du nhập vào
các quốc gia đều có một chỗ đứng trong nên văn hóa, chi phối và ảnh hƣởng đến
đời sống của mỗi một cá nhân, gia đình trong dân tộc đó, tạo nên một diện mạo
mới cho văn hóa dân tộc. Vì vậy, trong kho tàng văn học từ đó cũng đƣợc phong
10
phú, hội tụ của nhiều thể loại văn học với cách soi chiếu tơn giáo, tín ngƣỡng
khác nhau.
Nghiên cứu về tôn giáo trên thế giới hiện nay đã và đang có rất nhiều
cơng trình nghiên cứu. Từng quốc gia, từng dân tộc có những nền văn hố cùng
với đó là bản chất tôn giáo đƣợc sáng tạo để phù hợp với lối sống của nhân dân.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu ln soi xét kĩ những gì tiêu biểu nhất, những gì cịn
ẩn chứa trong góc khuất để nghiên cứu đến hiện nay. Trên thế giơi hiện nay có
rất nhiều cuốn sách viết về tôn giáo trên thế giới nhƣ: Lược sử tôn giáo của
Richard Holloway, Tôn giáo – Khái lược những tư tưởng lớn của Religions, Sự
sống bất tử của God and the Afterlife, Phập giáo có là tơn giáo không của Alan
W. Watts, Những thay đổi trong văn hố và tơn giáo của Đơng Nam Á của Niels
Mulder...
Nhƣ vậy, trên thế giới đã có rất nhiều cuốn sách viết về tôn giáo. Những
đặc trƣng của tôn giáo từng khu vực, những nét đặc sắc, riêng biệt của cùng một
tơn giáo nhƣng nơi này có mà nơi khác thì khơng, đó một phần là do con ngƣời
cách điệu và cách thức du nhập vào các nƣớc. Các tôn giáo cũng có những nét
chung với nhau, trong cùng một dân tộc các tơn giáo sống hài hồ, khơng cạnh
tranh nhau.
2.2. Nghiên cứu về tơn giáo, tín ngưỡng trong văn học ở Việt Nam
Nền văn học Việt Nam sớm đƣợc hình thành, phát triển nở rộ dựa trên
nền tảng của bối cảnh lịch sử cũng nhƣ nền tảng văn hóa của nƣớc nhà. Mỗi tác
phẩm đều chứa đựng đặc trƣng văn hóa rõ nét bởi Việt Nam cịn là một quốc gia
đa tơn giáo, đa dân tộc nên văn hóa cũng vơ cùng phong phú và đa dạng. Chính
điều đó đã ảnh hƣởng đến sự lựa chọn các đề tài sáng tác của văn học.
Thời trung đại, ở các nƣớc phƣơng Đơng nói chung và Việt Nam nói
riêng đã chịu ảnh hƣởng sâu đậm của Nho giáo, Phật giáo và tƣ tƣởng Lão
Trang. Vấn đề này, trƣớc đây đã có nhiều nhà nghiên cứu triết học, văn học đề
cập đến. Nhìn chung, trong các cơng trình, nhất là trong các bộ văn học sử, các
tác giả chỉ bàn nguồn gốc của vấn đề nhƣ tƣ tƣởng Nho, Phật, Lão – Trang là gì?
Và đề cập ảnh hƣởng của hệ tƣ tƣởng này đối với đời sống tƣ tƣởng tình cảm,
11
đời sống xã hội, chứ chƣa trình bày có tính thuyết ảnh hƣởng của chúng đối với
văn học. Gần đây vấn đề này, ít nhiều đã đƣợc các chuyên gia phƣơng pháp luận
của GS Đặng Thanh Lê, GS Nguyễn Đình Chú, PGS Trần Đình Hƣợu. Trong
các bài viết Trước tác kinh điển Nho giáo với văn học Việt Nam và Một số vấn
đề phân tích ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với văn học Việt Nam nửa
cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Từ tƣ tƣởng nhân nghĩa, bác ái đầy tình yêu
thƣơng con ngƣời đa dẫn đến khuynh hƣớng cảm hƣớng về chí nam nhi và cảm
hƣớng khác.
Theo quan niệm truyền thống “uống nƣớc nhớ nguồn”, tín ngƣỡng tơn
giáo Việt Nam thần thánh hóa những vị vua, những ngƣời anh hùng có cơng với
làng, nƣớc, coi họ là những vị thần để tôn vinh, thờ cúng. Hay nói cách khác,
ngƣời Việt Nam thần hố những ngƣời phi phàm những ngƣời có cơng với làng,
xóm để thờ tùng, ngoài ra mở một ngày hội để rƣớc hoặc để tƣởng nhớ đến cơng
lao của vị thần đó. Bởi vậy trong tâm thức của ngƣời Việt, tổ tiên, thành hồng
làng, những ngƣời có cơng với làng, nƣớc có một vị trí rất thiêng liêng và quan
trọng trong đời sống tâm linh, tín ngƣỡng của họ.
Bàn về mối quan hệ qua lại giữa tôn giáo và văn học, giáo trình Lý luận
văn học tập 1, đã khẳng định: “Chủ nghĩa nhân văn tôn giáo cũng là một nguồn
cảm hứng của văn nghệ, đồng cảm với con ngƣời nhân đạo trong văn chƣơng”
[3; 54].
Trên thực tế, tôn giáo và văn học là hai bộ phận không thể tách rời nhau,
mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo là mối quan hệ đã đƣợc kiểm nghiệm qua
thời gian. Từ lâu, tôn giáo đã trở thành một nguồn mạch, nguồn khơi dậy những
cảm hứng cho văn học, góp phần tạo nên nhiều sáng tác, kỳ tích cho văn học
nghệ thuật. Trong văn học thế giới, chúng ta từng có những tác phẩm văn học
nổi tiếng lấy hình tƣợng tơn giáo làm đối tƣợng khám phá nhƣ Những người
khốn khổ, Nhà thờ Đức bà của Vích to Huy Gơ, Tiếng chim hót trong bụi mận
gai của Colleen McCulloug, Đoạn đầu đài của Aimatov, Lũ người quỷ ám của
Đôxtoiepxki, Nghệ nhân và Margarita của Mikhail Bulgacop, Tây du kí của
Ngơ Thừa Ân và gần đây là Mật mã Da Vinci, Thiên thần và ác quỷ của Dan
12
Brown. Các nền văn học lớn nhƣ Trung Quốc, Nga, Ấn Độ… đều mang nặng
dấu ấn tôn giáo. Trong văn học Việt Nam, ở văn học Trung đại, văn học các đời
Lý, Trần, đều gắn liền với cảm quan Phật giáo. Đến văn học hiện đại và đƣơng
đại, hình ảnh, tƣ tƣởng tơn giáo tiếp tục có mặt trong các tác phẩm văn học có
tiếng vang nhƣ Hồn bướm mơ tiên của Khái Hƣng, Tắt lửa lịng của Nguyễn
Cơng Hoan, Nhân sứ, Bụt mệt của Hòa Vang, Đường Tăng của Trƣơng Quốc
Dũng, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân
Khánh, Cõi người rung chuông tận thế, Đức Phật, nàng Savitri và tôi của Hồ
Anh Thái, Cơ hội của chúa, Khải huyền muộn, Của rơi của Nguyễn Việt
Hà, Gióng của Nguyễn Minh Hà, tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phƣơng và nhiều
truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp… Chính vì vậy đã có nhiều cơng trình
nghiên cứu về vấn đề tơn giáo, tín ngƣỡng trong văn học nhƣ Tín ngưỡng và giải
mã tín ngưỡng trong văn học dân gian người Việt của PGS.TS Nguyễn Thị Bích
Hà; Tín ngưỡng dân gian trong một số tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 của tác giả
Phan Thúy Hằng; Tín ngưỡng dân gian và diễn trình trở lại của yếu tố huyền
thoại trong văn xuôi việt nam đương đại của TS. Trần Viết Thiện…
2.3. Nghiên cứu về tơn giáo, tín ngưỡng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một nhà văn nở muộn trên văn đàn Việt Nam (năm
1987). Nhƣng sau hơn hai mƣơi năm xuất hiện trên văn đàn, nhà văn Nguyễn
Huy Thiệp đã khiến thế giới dƣ luận trong và ngồi nƣớc tốn khơng biết bao
nhiêu giấy mực, ngƣời khen, ngƣời chê, ngƣời say đắm, kẻ hững hờ... Nhiều thế
hệ đã đọc, suy ngẫm cùng truyện ngắn của nhà văn này. Chỉ tính riêng trong giới
phê bình văn học, khơng kể đến những bài báo liên quan đến ơng, có lẽ Nguyễn
Huy Thiệp là hiện tƣợng gây tranh cãi nhiều nhất trong suốt hai mƣơi năm qua.
Nhà phê bình Phạm Xn Ngun cịn chủ sự cả tập Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp,
với rất nhiều ý kiến phê bình của nhiều tên tuổi uy tín nhƣ Hồng Ngọc Hiến,
Đỗ Đức Hiểu, Greg Lockhart, Lại Nguyên Ân… hay những nhà văn, nhà thơ
đứng đối chiều nhƣ Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh... [17].
Nhƣ vậy có rất nhiều bài viết nghiên cứu về vấn đề tơn giáo Việt Nam,
cũng có nhiều ngƣời biết và ấn tƣợng về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Song
13
để nghiên cứu một cách có hệ thống các sáng tác của nhà văn cũng nhƣ khái
quát toàn diện sự vận động của truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới nhìn từ
hai hiện tƣợng văn học trên thì cịn rất hiếm. Rải rác các bài phát biểu và nghiên
cứu trên báo, tạp chí và một số ít sách nghiên cứu phân tích một khía cạnh nào
đó của sự vận động truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới những thiết nghĩ
chừng đó là chƣa đủ khẳng định sức sống, sự phát triển của một thể loại văn học
quan trọng nhƣ vậy.
Nguyễn Huy Thiệp đƣợc xem là một hiện tƣợng văn học đặc biệt trong
tiến trình đổi mới văn học sau 1986. Sáng tác của ông là một đỉnh điểm của văn
học thời kỳ đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp đƣợc đánh giá cao ngay từ tập truyện
đầu tay Những ngọn gió Hua Tát (viết năm 1986, gồm 10 truyện đƣợc viết dƣới
hình thức giả cổ tích). Khi tác phẩm thứ hai Tướng về hưu đƣợc đăng trên báo
Văn nghệ số 20/ 06/ 1987, làn sóng dƣ luận trở nên xơn xao, nhƣ một cơn lốc
tác động mạnh mẽ đến những độc giả quan tâm. Lúc này, tài năng văn chƣơng
của ông đƣợc mọi ngƣời công nhận, ông chính thức bƣớc vào nền văn học hiện
thực Việt Nam. Đa số đều công nhận, đây là sản phẩm của một tài năng độc đáo.
Ngƣời khen thì cũng khen hết lời, mà ngƣời chê thì cũng khơng tiếc chữ. Đại đa
số ý kiến cho rằng: văn của Nguyễn Huy Thiệp đã đi gần đến cảm quan văn học
hậu hiện đại. Các yếu tố huyền thoại trong sáng tác của ông nhƣ một phƣơng
thức phản ánh hiện thực, và con ngƣời đƣơng đại. Đặc biệt hơn là ông khai thác
yếu tố tôn giáo và tín ngƣỡng đƣợc ơng tiếp thu và bộc lộ trực tiếp qua ngịi bút
khéo léo của ơng. Khơng thể phủ nhận, trƣớc Nguyễn Huy Thiệp, cũng có rất
nhiều nhà văn hiện đại đƣa tơn giáo và tín ngƣỡng vào văn chƣơng, nhƣng phải
đợi đến khi ông tung ra những tác phẩm mang âm hƣởng tơn giáo giáo, tín
ngƣỡng mới thật sự đậm đặc, rõ rệt. Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp, Châu Minh
Hùng phát biểu: “Nguyễn Huy Thiệp tạo ra nhiều tiếng nói của nhiều quan
điểm, tƣ tƣởng khác nhau bên ngồi mơi trƣờng xã hội để tạo ra cuộc đối thoại
không khoan nhƣợng giữa các nhân vật.” Nếu nhƣ “Văn chƣơng là cuộc thám
hiểm sức mạnh của ngôn ngữ” (Todorov) [26] thì Nguyễn Huy Thiệp là một nhà
thám hiểm đang đi vào tìm kiếm và khám phá sức mạnh của ngôn từ. Sự mới lạ
14
trong lối diễn đạt, lẫn trong hình tƣợng nghệ thuật là một trong số những nguyên
nhân tạo nên hiện tƣợng Nguyễn Huy Thiệp. Từ những tác phẩm của Nguyễn
Huy Thiệp, tác giả bài viết đã nêu lên chân dung của nhà văn hiện đại Việt Nam
những năm sau đổi mới. Dù lên tiếng chỉ trích gay gắt nhƣng khơng ai không
thừa nhận tài năng văn chƣơng của cây bút truyện ngắn này. Nói nhƣ Nguyễn
Hải Hà và Nguyễn Thị Bình: “Hiện tƣợng Nguyễn Huy Thiệp là sản phẩm tất
yếu của sự gặp gỡ giữa tài năng với khát vọng dân chủ và đổi mới mà sự vận
động ý thức xã hội cũng nhƣ văn học sau 1975 đem lại” [29].
Nguyễn Huy Thiệp là cái tên đã thu hút rất nhiều cơng trình nghiên cứu
nhƣ: luận văn của Lê Thị Nguyệt (2010), Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong
tryện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, luận văn của Phạm Thị Thuỳ Trang (2004),
Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, hay đề tài Đặc trưng
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của ThS. Hoàng Kim Oanh…. [23] [24] [25].
Tất cả các cơng trình nghiên cứu trên đã khai thác một phần khía cạnh nào đó
trong thế giới truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Nhƣng vấn đề cảm quan tơn giáo
và tín ngƣỡng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chƣa có cơng trình nghiên
cứu nào khai thác một cách triệt để.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Xoay xung quanh truyện ngắn của một nhà văn thì có rất nhiều phƣơng
diện để bàn luận. Khóa luận chỉ đi vào nghiên cứu một phƣơng diện thuộc nội
dung của tác phẩm văn học trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Từ việc chọn
cảm quan tơn giáo, tín ngƣỡng làm đối tƣợng nghiên cứu, ngƣời viết hƣớng đến
xác định các yếu tố tơn giáo, tín ngƣỡng làm nên đặc trƣng trong truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Huy Thiệp viết theo nhiều thể loại: kịch, tiểu thuyết, tiểu luận phê
bình, truyện ngắn. Tuy nhiên, lĩnh vực làm nên tên tuổi của ông là ở truyện
ngắn. Ở đề tài này, ngƣời viết chỉ đi vào nghiên cứu ở thể loại truyện ngắn chứa
yếu tố tôn giáo, tin ngƣỡng trong tập truyện Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của
15
NXB Hội nhà văn. Trong cuốn này tập hợp 37 truyện ngắn tiêu biểu, làm nên
tên tuổi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của ngƣời nghiên cứu khi thực hiện khóa luận này là làm sáng
tỏ ba khía cạnh cơ bản sau:
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận về vấn đề tín ngƣỡng, tơn giáo trong văn
học.
- Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ phƣơng diện nội dung
cảm quan tơn giáo, tín ngƣỡng.
- Nghiên cứu đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khi
truyền tải nội dung cảm quan tơn giáo, tín ngƣỡng.
Chúng tôi nhận thấy nghiên cứu từ cảm quan tôn giáo, tín ngƣỡng để hiểu
một cách sâu sắc về văn hóa dân tộc, đời sống con ngƣời trong xã hội sau cách
mạng trong toàn bộ sáng tác của nhà văn là một hƣớng nghiên cứu văn học có
cơ sở khoa học. Đồng thời, qua việc nghiên cứu cảm quan tôn giáo và tín
ngƣỡng, ngƣời viết khẳng định những đóng góp và vị thế của nhà văn Nguyễn
Huy Thiệp trong sự phát triển của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam đƣơng đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, ngƣời viết đã sử dụng một số phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Bài viết có sự vận dụng tổng
hợp phƣơng pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhƣ ngôn ngữ học;
phong cách học, thi pháp học,…
5.2. Phương pháp hệ thống: Phƣơng pháp này giúp ngƣời nghiên cứu tạo
lập cấu trúc bài viết hoàn chỉnh, đồng thời đặt đối tƣơng nghiên cứu trong hệ
thống để thấy đƣợc tính tồn diện.
5.3. Phương pháp loại hình: Cố gắng phân loại lời văn trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp theo một số hệ tiêu chí.
5.4. Ngồi ra, khóa luận cũng sử dụng các thao tác thống kê, so sánh
văn học… để từ đó rút ra những kết luận có cơ sở khoa học, sát hợp với sáng tác
16
của Nguyễn Huy Thiệp trong sự đối chiếu với các cây bút truyện ngắn tiêu biểu
khác.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
6.1. Về phương diện lí luận
Nghiên cứu “Cảm quan tơn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp” nhằm góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu những đặc trƣng
cơ bản của văn học Việt Nam hiện đại mà Nguyễn Huy Thiệp là một đại diện.
Từ đó, bài viết mở ra một phƣơng pháp mới trong việc tiếp nhận tơn giáo và tín
ngƣỡng của nền văn học đƣơng đại.
6.2. Phương diện thực tiễn
Nghiên cứu đề tài Cảm quan tơn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp giúp cho việc tìm hiểu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
có một cơ sở khoa học. Việc nghiên cứu sẽ thấy đƣợc những đóng góp của nhà
văn cho sự nghiệp văn học dân tộc. Đồng thời, nó cũng có một ý nghĩa thực tiễn
cho ngƣời đọc và nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
có 3 chƣơng.
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung
Chương 2: Cảm quan tơn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp từ phương
diện nội dung.
Chương 3: Cảm quan tơn giáo và tín ngưỡng trong truyện ngắn của
Nguyễn Huy Thiệp từ phương diện nghệ thuật.
17
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG
1.1. Vấn đề tín ngƣỡng và tơn giáo trong đời sống
1.1.2. Khái niệm tơn giáo, tín ngưỡng
Việt Nam là một đất nƣớc đa tơn giáo, tín ngƣỡng. Ngƣời dân Việt Nam
có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngƣỡng từ lâu đời. Các dân tộc trong
cộng động các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngƣỡng riêng gắn liền với đời
sống kinh tế và tâm linh của mình.
Tơn giáo bao gồm hệ thống hồn chỉnh các quan niệm, ý thức tín ngƣỡng,
thể hiện tập trung ở lịng tin, tình cảm tơn giáo, hành vi và hoạt động tơn giáo.
Tơn giáo là hình thức tín ngƣỡng có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và giáo hội, đƣợc
tổ chức chặt chẽ. Tôn giáo là niềm tin vào các lực lƣợng siêu nhiên, vơ hình,
mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại
một cách hƣ ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ ở thế giới bên
kia. Niềm tin đó đƣợc biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào những thời kỳ lịch
sử, hoàn cảnh địa lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo,
đƣợc vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng
cộng đồng. Ngồi ra, tơn giáo có thể định nghĩa là một hệ thống các văn hóa, tín
ngƣỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động đƣợc chỉ định cụ thể, các
quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các địa điểm
linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại
với các yếu tố siêu nhiên, siêu nhiên hoặc tâm linh. Tuy nhiên, hiện tại chƣa có
sự đồng thuận học thuật về những gì chính xác cấu thành một tôn giáo. Các tôn
giáo khác nhau có thể có hoặc khơng chứa nhiều yếu tố khác nhau, gồm các yếu
tố thần thánh, những điều thiêng liêng, tín ngƣỡng, một thế lực hoặc nhiều thế
lực siêu nhiên.
Tín ngƣỡng là niềm tin của con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua những lễ
nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về
18
tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. (Khoản 1 và 5 Điều 2 Luật Tín ngƣỡng, tơn
giáo năm 2016).
Các hoạt động tơn giáo có thể bao gồm các nghi lễ, bài giảng, lễ kỉ niệm
hay biểu hiện sự tôn kính (các vị thần, thánh, phật), tế tự, lễ hội, nhập hồn, lễ
nhập đạo, dịch vụ tang lễ, dịch vụ hôn nhân, thiền, cầu nguyện, âm nhạc, nghệ
thuật, múa, dịch vụ cơng cộng, hoặc các khía cạnh khác nhau của văn hóa con
ngƣời. Các tơn giáo có lịch sử và các kinh sách thiêng liêng, có thể đƣợc bảo tồn
trong các thánh thƣ, các biểu tƣợng và thánh địa, nhằm mục đích chủ yếu là tạo
ra ý nghĩa cho cuộc sống. Tơn giáo có thể chứa những câu chuyện tƣợng trƣng,
đôi khi đƣợc những ngƣời tin theo cho là đúng, có mục đích phụ là giải thích
nguồn gốc của sự sống, vũ trụ và những thứ khác. Theo truyền thống, đức tin,
cùng với lý trí, đã đƣợc coi là một nguồn gốc của các niềm tin tôn giáo.
Trong đời sống hàng ngày, tơn giáo và tín ngƣỡng là cơ sở, là nguồn gốc
để các phong tục dựa vào và con ngƣời sáng tạo ra những lễ giáo đạo đức. Nhƣ
cầu nguyên, thờ phục, họp mặt thƣờng lệ những ngƣời khác đồng tơn giáo.
Những tín đồ của một tơn giáo thƣờng họp mặt để làm lễ, đọc hay tụng kinh, cầu
nguyện, thờ phụng và giúp đỡ tinh thần lẫn nhau. Tuy nhiên, cầu nguyện và ngồi
thiền một mình cũng thƣờng đƣợc xem là quan trọng, cũng nhƣ sống theo tín
ngƣỡng ngồi đời hay với những ngƣời khơng theo đạo đó.
Hiện tại, có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tơn giáo và tín
ngƣỡng. Theo quan điểm truyền thống, ngƣời ta có ý thức phân biệt tơn giáo và
tín ngƣỡng, thƣờng coi tín ngƣỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo.
Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tơn giáo và tín ngƣỡng và đều gọi
chung là tơn giáo, tuy có phân biệt tơn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn
giáo địa phƣơng, tôn giáo thế giới (phổ quát).
Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngƣỡng thể hiện ở một số điểm nhƣ:
Tơn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển... đƣợc truyền thụ qua giảng dạy và học
tập ở các tu viện, thánh đƣờng, học viện... có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo
hội, hội đồn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng nhƣ nhà thờ, chùa, thánh đƣờng...,
nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con ngƣời.
19
Cịn tín ngƣỡng thì chƣa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần
tích, truyền thuyết. Tín ngƣỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn
hóa dân gian. Trong tín ngƣỡng có sự hịa nhập giữa thế giới thần linh và con
ngƣời, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chƣa thành quy ƣớc chặt chẽ...
1.1.2. Một số tín ngưỡng, tơn giáo chính ở Việt Nam
Về tín ngưỡng, đây là sản phẩm văn hóa do con ngƣời quan hệ với tự
nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành. Tín ngƣỡng Việt Nam chủ yếu
dựa trên lòng biết ơn và ngƣỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền
nhân. Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục
tập quán và nghi lễ thờ cúng tự nhiên, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu và nghi lễ phồn
thực...
Tín ngƣỡng dân gian với quan niệm cho rằng bất cứ vật gì cũng có linh
hồn, nên ngƣời xƣa đã thờ rất nhiều thần linh, đặc biệt là những sự vật có liên
quan đến nơng nghiệp nhƣ trời, trăng, đất, sông, núi,… để đƣợc phù hộ. Đối với
các dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc có hình thái tín ngƣỡng riêng mình. Tuy nhiên,
đặc trƣng nhất là hình thái tín ngƣỡng nguyên thủy và tín ngƣỡng dân gian ngày
nay cịn lƣu giữ đƣợc trong các nhóm dân tộc nhƣ nhóm Tày – thái, nhóm
Hmong – Dao, nhóm Hoa – Sán Dìu – Ngái; nhóm Chăm – Ê đê – Gia Rai;
nhóm Mơn – Khơ me.
Cịn tín ngƣỡng dân gian của ngƣời Việt khá phong phú, nó là tâm thức
tơn sùng các lực lƣợng siêu nhiên nhƣ:
- Tôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nƣớc, mƣa, gió, sấm, chớp…),
các loại cây trồng (bầu bí, lúa, ngơ, đậu…), vật ni (trâu, bị, lợn…)
- Tơn sùng vật tổ (vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tơn sùng tổ tiên (quốc tổ,
thành hồng, tổ tiên, ông bà)
- Tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao
- Tơn sùng Mẫu: các nữ thần, tứ mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ
(thƣợng ngàn), thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana
20
- Tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phƣơng, ngƣời có cơng lớn
với dân với nƣớc: Thánh Gióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Bà
Trƣng, Lý Ông Trọng…
Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục
tập quán và nghi lễ thờ cúng rất quen thuộc đối với ngƣời Việt khắp nơi trong cả
nƣớc.
Về tơn giáo, ở Việt Nam hiện có 06 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo,
Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hoà Hảo.
Phật giáo: Đạo Phật đƣợc truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công
nguyên. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, Phật giáo Việt Nam có bƣớc phát triển mới
cùng với nền độc lập của dân tộc. Tín đồ Phật giáo Nam Tơng chủ yếu là đồng
bào Khơ-me, tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long nên gọi là Phật giáo Nam
Tông Khơ-me. Phật giáo hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 11 triệu tín đồ,
trên 17.000 cơ sở thờ tự, gần 47.000 chức sắc, 04 Học viện Phật giáo, 09 lớp
Cao đẳng Phật học, 31 trƣờng Trung cấp...
Công giáo: Nhiều nhà nghiên cứu sử học Công giáo lấy năm 1533 là
thời mốc đánh dấu việc truyền đạo Công giáo vào Việt Nam. Từ năm 1533 đến
năm 1614, chủ yếu là các giáo sĩ dịng Phan-xi-cơ thuộc Bồ Đào Nha và dịng
Đa minh thuộc Tây Ban Nha đi theo những thuyền buôn vào Việt Nam. Hiện
nay, Cơng giáo có khoảng 6,5 triệu tín đồ; 42 Giám mục, khoảng 4.000 linh
mục, hơn 100 dòng tu, tu hội, tu đồn với hơn 17.000 tu sỹ; có 26 giáo phận, 07
Đại Chủng viện.
Tin Lành: Đạo Tin lành có mặt tại Việt Nam muộn hơn so với các tơn
giáo du nhập từ bên ngồi, vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, do tổ
chức Liên hiệp Phúc âm Truyền giáo (The Christian and Missionary AllianceCMA) truyền vào. Năm 1911 đƣợc xem là thời mốc xác nhận việc truyền đạo
Tin lành vào Việt Nam. Hiện đạo Tin Lành có khoảng 1,5 triệu tín đồ thuộc 10
tổ chức, hệ phái; khoảng 3.000 chức sắc; gần 400 cơ sở thờ tự; 01 Viện Thánh
kinh thần học và 01 trƣờng Kinh thánh.
21
Đạo Hồi: Ở Việt Nam, tín đồ đạo Hồi chủ yếu là ngƣời Chăm. Hiện nay
Đạo Hồi ở Việt Nam có khoảng trên 80.000 tín đồ, 89 cơ sở thờ tự, 1.062 chức
sắc, chức việc, 07 tổ chức Hồi giáo đƣợc Nhà nƣớc công nhận.
Đạo Cao Đài: Là một tôn giáo bản địa. Giữa tháng 11/1926 (ngày 15/10
năm Bính Dần). Hiện nay, đạo Cao Đài có khoảng 2,5 triệu tín đồ thuộc 10 hệ
phái, 01 pháp môn tu hành, trên 10.000 chức sắc, hơn 1.200 cơ sở thờ tự hoạt
động ở 37 tỉnh, thành phố.
Phật giáo Hòa Hảo: Là một tôn giáo bản địa do ông Huỳnh Phú Sổ làm
lễ khai đạo vào ngày 18/5 năm Kỷ Mão (ngày 4/7/1939) tại làng Hòa Hảo, tỉnh
An Giang. Hiện nay Phật giáo Hịa Hảo có khoảng 1,3 triệu tín đồ, trong đó có
2.528 chức việc, 94 chùa ở 20 tỉnh, thành phố.
Các tôn giáo khác ở Việt Nam gồm Tịnh độ Cƣ sĩ Phật hội Việt Nam,
Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Bửu Sơn Kỳ Hƣơng, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,
Minh Sƣ đạo, Minh Lý đạo, Bàlamôn với tổng số gần 1.3 triệu tín đồ; ngồi ra,
cịn có khoảng 20 tổ chức Cao đài độc lập, khoảng 40 nhóm, hệ phái Tin lành…
1.1.3. Vai trị của tơn giáo, tín ngưỡng trong lịch sử người Việt và cuộc sống
đương đại
Với chức năng là trung tâm văn hóa, tơn giáo, tâm linh của làng xã, sự
hiện diện của các linh thần và nơi thờ tự, các tơn giáo truyền thống đóng vai trị
là hạt nhân kiến tạo nên những di sản văn hóa cho dân tộc Việt Nam. Nghiên
cứu về lịch sử văn hóa ở Việt Nam đã chỉ ra và chứng minh bằng rất nhiều dẫn
chứng về dân tộc Việt Nam có thể mất nƣớc nhƣng chƣa bao giờ mất làng. Làng
cịn thì dân tộc, quốc gia vẫn cịn. Văn hóa làng đã trở thành hằng số văn hóa,
thành then chốt cho mọi thể chế cai trị, khi nắm đƣợc làng là nắm đƣợc dân và
có dân là cịn thể chế và nhà nƣớc… Văn hóa làng với hằng số cây đa, bến nƣớc,
sân đình. Cây đa là nơi tỏa bóng mát cho ngƣời dân mỗi khi làm lụng vất vả khó
nhọc nghỉ ngơi, nhƣng ở đó cũng có thần phù độ; sân đình là nơi diễn ra tất cả
những hoạt động của cộng đồng làng, là nơi vui chơi, nơi tất cả mọi thành viên
đều đƣợc bình đẳng trƣớc thần, là nơi cả cộng đồng thực hành những điều tốt
đẹp nhất để hƣớng về thần, mong đƣợc thần phù trợ. Quan trọng hơn cơ sở tôn
22
giáo ấy lại là nơi thể hiện hết thảy tài năng, tƣ duy và mơ ƣớc của con ngƣời.
Những nghệ thuật tinh xảo, khéo léo của ngƣời Việt Nam xƣa về hội họa, về
kiến trúc và điêu khắc ngày nay vẫn đƣợc tiếp nối thể hiện tại đình/ đền/ chùa.
Những di sản kiến trúc ấy vẫn khẳng định giá trị vững bền thách thức với thời
gian và là những công trình kiến trúc, nghệ thuật hết sức giá trị. Nhƣ vậy, các cơ
sở tín ngƣỡng tơn giáo hiện nay khơng chỉ là cơ sở tơn giáo đơn thuần mà cịn là
nơi thăng hoa của nghệ thuật, của cái đẹp của những ƣớc mơ và tƣ duy tự do bay
bổng, thậm chí ở đó cịn là cả một nền minh triết dân gian.
Tín ngƣỡng mang tính dân tộc, dân gian. Tín ngƣỡng có tổ chức khơng
chặt chẽ nhƣ tơn giáo. Khi nói đến tín ngƣỡng ngƣời ta thƣờng nói đến tín
ngƣỡng của một dân tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung cịn tơn
giáo thì thƣờng là khơng mang tính dân gian. Tín ngƣỡng khơng có một hệ
thống điều hành và tổ chức nhƣ tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời
rạc. Tín ngƣỡng nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tơn giáo.
Các giáo lý tơn giáo đều chứa đựng một số giá trị đạo đức nhân bản rất
hữu ích cho việc xây dựng nền đạo đức mới và nhân cách con ngƣời Việt Nam
hiện nay. Giá trị lớn nhất của đạo đức tôn giáo là góp phần duy trì đạo đức xã
hội, hồn thiện nhân cách cá nhân, hƣớng con ngƣời đến Chân – Thiện – Mỹ. Vì
vậy, trong thời đại ngày nay, việc mỗi con ngƣời nói chung và mỗi nhà văn nói
riêng tìm cho mình một nẻo đi riêng, kiếm tìm và giải mã đời sống văn hóa, tâm
linh ngƣời Việt qua tín ngƣỡng, tôn giáo bản địa là một hƣớng đi tất yếu.
1.2. Vấn đề tơn giáo và tín ngƣỡng trong văn học
Trong đời sống văn học, thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối
thế kỷ XIX) nhƣng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu.
Truyện ngắn đối mặt với những bao thăng trầm trong tiến trình phát triển văn
học và của lịch sử nhân loại. Ngày nay, khi thời gian giành cho việc đọc và
thƣởng thức văn học quá ít, càng làm cho con ngƣời ta tìm đến truyện ngắn
nhiều hơn. Có thể nói, xã hội càng hiện đại, truyện ngắn càng cố gắng vƣợt lên
tỏ ra sự ƣu việt của mình trong sự khám phá đời sống thực tại. Các vấn đề trong
đời sống của con ngƣời và xã hội khơng bao giờ có thể lọt ra khỏi ngoài các
23
trang truyện ngắn đƣợc các tác giả nhìn nhận và khám phá một cách rõ nét.
Trong đó có các buổi lễ hội, các hình thức tồn tại của các tơn giáo, tín ngƣỡng.
Q trình phát triển và những ảnh hƣởng sâu sắc của tơn giáo, tín ngƣỡng
đối với đời sống nhân loại, đặc biệt nhất là lĩnh vực nghệ thuật. Trong nghệ
thuật, tơn giáo và tín ngƣỡng mang lại cho thi nhân một nguồn cảm hứng mới,
thổi vào trong ngôn từ những nguồn sống mới. Khi tôn giáo du nhập vào nƣớc ta
đƣợc nhân dân đón nhận và có những ảnh hƣởng nhất định trong đời sống của
con ngƣời. Các thi nhân nhìn từ đời sống rồi từ đó tơn giáo đi vào thơ ca nói
riêng cũng nhƣ vào văn học nghệ thuật nói chung một cách tự nhiên, phong phú,
đó chính là nguồn cảm hứng, nguồn sống bất tận để các văn nghệ sĩ hƣớng tới.
Một nền văn học chân chính là nền văn học hƣớng con ngƣời ta đến với sự trải
nghiệm mọi cảm xúc trong đời sống, văn học làm giàu thêm đời sống tâm hồn
của con ngƣời. Tôn giáo cũng mở ra cho con ngƣời một thế giới khác, một thế
giới không đời thực mà là một thế giới của đời sống tâm linh, tâm cảm, hƣớng
con ngƣời đến với những giá trị siêu tại, siêu nhiên. Khi tôn giáo đến với văn
học Việt Nam đã trải qua sự sàng lọc kĩ lƣỡng làm sao cho phù hợp với những
giá trị văn hoá của dân tộc tạo nên một sắc thái riêng, khác biệt với thứ tơn giáo
chính thống lúc ban đầu. Nhƣng mặt khác, tơn giáo ảnh hƣởng lên tâm hồn của
các nghệ sĩ cũng không thuần nhất. Nên trong tâm tƣởng ngƣời nghệ sĩ đã có sự
pha trộn của các nền tơn giáo khác nhau. Vì vậy, sự cộng hƣởng trong văn học
đƣợc tạo nên từ sự giao thoa của nhiều hình thức tơn giáo khác nhau, văn học
không phải chỉ thể hiện một loại tôn giáo nhất định mà mỗi tôn giáo đƣợc thể
hiện trong mỗi thời kì văn học đậm nhạt khác nhau.
Trong các thể loại văn học dân gian, hầu nhƣ thể loại nào cũng có dấu
vết của tín ngƣỡng dân gian. Bộ phận văn học dân gian, tín ngƣỡng và tôn giáo
hiện lên rất đặc sắc, mang đậm nét nhất. Tín ngƣỡng dân gian trong văn học dân
gian có thể vừa là nơi để ẩn chứa, dấu kín các tín ngƣỡng dân gian vừa là nơi thể
hiện sự khác biệt đến đối lập với tín ngƣỡng dân gian đó. Những quan niệm sẽ
chết dần chết mịn nếu nhƣ nó khơng đƣợc thổi vào đó linh hồn, khơng đƣợc làm
cho sống dậy, sinh động thơng qua những hình tƣợng nghệ thuật kết tinh giữa
24
niềm tin đó với trí tƣởng tƣợng bay bổng khơng giới hạn của con ngƣời. Tục
ngữ tổng kết kinh nghiệm trong q trình thực hành tín ngƣỡng “Cha chết gậy
tre, mẹ chết gậy vông”, Ca dao ghi lịch thực hành “Dù ai bn đâu bán đâu,
mồng chín tháng tám chọi trâu thì về”, “dù ai đi ngƣợc về xi, nhớ ngày giỗ Tổ
mồng mƣời tháng ba”... Vì vậy, đã có rất nhiều nghiên cứu theo hƣớng khai thác
mối quan hệ này. Nếu khơng có tín ngƣỡng tơn sùng lửa, khơng có hình ảnh cái
bếp sơ khởi đƣợc kê bằng 3 hòn đá, và nếu xã hội Việt cổ chƣa từng trải qua
thời kỳ tạp hôn một vợ nhiều chồng chắc khơng có truyện Sự tích trầu cau với
cuộc tình éo le của ba con ngƣời trung hậu, khi chết đi đƣợc hóa thân thành bếp
lửa để mang lại sự đầm ấm cho mỗi gia đình. Dân ca nghi lễ cúng ma dân tộc
Mông, Truyền thuyết Thiều Hoa và lễ hội phết Hiền Quan, Truyền thuyết Hùng
Vƣơng và tín ngƣỡng phồn thực ở Phú Thọ... đều nói lên một cách sinh động
mối quan hệ giữa tín ngƣỡng với văn học dân gian.
Trong tín ngƣỡng dân gian của ngƣời Việt Nam có sự đề cao, suy tơn nữ
tính và ngƣời mẹ. Tín ngƣỡng đó bắt nguồn từ chế độ nguyên thuỷ, trong xã hội
đó với những thị tộc mà ngƣời đứng đầu là phụ nữ, phụ nữ là ngƣời chia thức
ăn, là ngƣời sinh sản và cũng là ngƣời nuôi lớn cộng đồng trong cả nghĩa đen và
nghĩa bóng cũng đều là nữ. Từ tín ngƣỡng đó, các vị thần đƣợc trí tƣởng tƣợng
sáng tạo dƣới ánh sáng của siêu nhiên bất diệt cũng phần lớn là nữ. Từ đó mà
hình thành hệ thống tín ngƣỡng thờ Mẫu, ngƣời Việt Nam gọi các nữ thần tự
nhiên là Mẫu – mẹ với niềm tơn kính và tin tƣởng rằng các Mẫu sẽ che chở cho
những đứa con mình khỏi mọi tai hoạ do thiên nhiên gây ra. Tam toà thánh mẫu,
Tứ phủ thánh linh là những tên gọi quen thuộc ngƣời Việt dùng để gọi các nữ
thần tự nhiên nhƣ: Mẫu Thiên phủ (Cửu thiên huyền nữ), Mẫu Nhạc phủ (nữ
thần rừng), Mẫu Thoải phủ (nữ thần nƣớc), Mẫu Địa phủ (nữ thần đất). Rồi từ
các nữ thần tự nhiên, niềm tín ngƣỡng ấy lan toả đến các nữ thần nông nghiệp
nhƣ Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Nành, Mẹ Lúa,... với niềm tin tƣởng rằng nữ tính chính
là đặc tính tối ƣu đối với mùa màng và sự sinh sản của cây cối, chỉ dƣới sức
mạnh của các nữ thần cai quản thì cây cối mới tốt tƣơi, mùa màng bội thu. Rồi
từ các bà mẹ nông nghiệp, niềm tin, sự hi vọng ấy lại lan toả đến các bà mẹ lịch
25