TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH
PHAN THỊ THU
BÚT PHÁP HẬU HIỆN ĐẠI TRONG PHỐ NHỮNG
CỬA HIỆU U TỐI CỦA PATRICK MODIANO
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: ĐHSP Ngữ văn
Phú Thọ, 2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HOÁ DU LỊCH
PHAN THỊ THU
BÚT PHÁP HẬU HIỆN ĐẠI TRONG PHỐ NHỮNG
CỬA HIỆU U TỐI CỦA PATRICK MODIANO
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: ĐHSP Ngữ văn
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. Đặng Thị Bích Hồng
Phú Thọ, 2020
i
LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm đạo đức trong học thuật. Tôi
cam kết nghiên cứu này là do tôi thực hiện đảm bảo trung thực, không vi
phạm yêu cầu về đạo đức trong học thuật.
Tác giả
Nhận xét của GVHD
ii
LỜI CẢM ƠN!
Với tấm lịng kính trọng và biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
Lãnh đạo Trường Đại Học Hùng Vương, Lãnh đạo Khoa Khoa học Xã hội và
Văn Hóa Du lịch, các thầy giáo, cơ giáo trong khoa đã giúp em trang bị kiến
thức, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
khóa luận.
Đặc biệt em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo, TS. Đặng
Thị Bích Hồng – Người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá
trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận
Trong suốt q trình thực hiện khóa luận, em nhận được sự quan tâm, sự
động viên, tạo mọi thuận lợi cả về vật chất và tinh thần của gia đình và bạn
bè.thong qua đây em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến những tấm lòng và sự
giúp đỡ q báu đó.
Trong suốt q trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận, bản thân tơi cũng
khơng tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía thầy
giáo, cơ giáo và bạn bè, đồng nghiêp để khóa luận được hồn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày
tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Phan Thị Thu
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề……………………………………………………………...2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu…………………..….…………………..2
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………..….……………………7
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………..……………………...7
6. Cấu trúc khóa luận và chú giải kí hiệu ......................................................... 8
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI VÀ TÁC
GIẢ PATRICK MODIANO .......................................................................... 9
1.1. Khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại .......................................................... 9
1.2. Khái quát về tác giả Patrick Modiano. ..................................................... 19
Chương 2: QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI VÀ HIỆN THỰC TRONG
PHỐ NHỮNG CỬA HIỆU U TỐI CỦA PATRICK MODIANO ............. 26
2.1. Quan niệm về con người .......................................................................... 26
2.1.1. Con người truy tìm bản thể ................................................................... 26
2.1.2. Con người mâu thuẫn ............................................................................ 30
2.2. Quan niệm về hiện thực ........................................................................... 32
2.2.1. Hiện thực hỗn độn của số phận cá nhân................................................ 32
2.2.2. Bức tranh hiện thực xã hội .................................................................... 34
Chương 3. CẤU TRÚC TRẦN THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI ...................... 36
TRONG PHỐ NHỮNG CỬA HIỆU U TỐI CỦA PATRICK MODIANO
......................................................................................................................... 36
3.1. Phá vỡ trật tự thời gian, không gian ......................................................... 36
3.1.1. Thời gian chồng chéo, đan xen ............................................................. 36
3.1.2. Không gian biến đổi, bất định ............................................................... 44
3.2. Cốt truyện phân mảnh, lắp ghép .............................................................. 49
3.2.1. Cốt truyện phân mảnh ........................................................................... 50
iv
3.2.2. Cốt truyện lắp ghép…………………………………………………...57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 59
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lịch sử văn học thế giới đã trải qua những trào lưu văn học gắn với
những thời đại và các đặc trưng khác nhau: từ văn học cổ Hy Lạp đến văn học
Phục Hưng, văn học Cổ Điển, văn học Ánh sáng, văn học lãng mạn và văn
học hiện thực… Trong khoảng thời gian cuối thế kỉ XX, trên thế giới, trong
giới khoa học và trong văn học có một khái niệm, tuy chưa có cách định nghĩa
thống nhất, nhưng lại được sử dụng và được bàn luận rất nhiều, đó là khái
niệm “Chủ nghĩa hậu hiện đại”.
Chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ một sự vận động tạo nên một hệ tư duy mới
để thay thế cho tư duy hiện đại đã không phù hợp trong văn học cũng như
trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng. Chủ nghĩa hậu hiện
đại phát triển mạnh mẽ từ những năm 60 của thế kỉ XX và nó là đối tượng
nghiên cứu của rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Nước Pháp vốn là một trong những trung tâm văn hóa lớn của châu
Âu, là nơi khởi nguồn cho các trường phái và trào lưu tư tưởng. Các tác phẩm
văn học Pháp là những kiệt tác thể hiện những triết lí sâu sắc. Cuối thế kỉ XX
đầu thế kỉ XXI, văn học thế giới và nền văn học Pháp chứng kiến sự xuất hiện
của một nhà văn có sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật – Patrick Modiano,
nhà văn của những hoài niệm, của sự trăn trở về định vị bản thân. Patrick
Modiano có một vị trí riêng biệt trên văn đàn Pháp. Từ năm 1981, tuần báo
Nouvelles Littéraires đã đánh giá ông là “Người tuyệt vời nhất, kỳ diệu nhất
và chắc chắn có tài nhất trong các nhà văn trẻ của nước Pháp”. Ông là một
trong những gương mặt tài năng của nước Pháp. Ngay từ khi xuất hiện, ông
được coi là hiện tượng văn học Pháp đương thời. Hiện nay ông là tác giả của
27 tiểu thuyết, 4 kịch bản phim và một số tác phẩm còn dang dở. Viện Hàn
lâm Thụy Điển đã trao giải Nobel cho Patrick Modiano bởi “Nghệ thuật của
kí ức” mà với nó ơng đã viết nên những số phận không thể thấu hiểu và lột
trần thế giới bị chiếm đóng.
Patrick Modiano là một nhà văn mới, thuộc văn phong hậu hiện đại.
2
Trong tác phẩm của ơng, có thể dễ dàng nhận thấy hai đề tài chủ đạo đó là đi
tìm bản ngã và sự bất lực trước những hỗn mang của thời đại, luôn che lấp
quá khứ. Độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình đã tìm đến Patrick
Modiano với một sự tị mị, đầy bí ẩn.
Ở Việt Nam, bạn đọc biết đến Patrick Modiano với một số tác phẩm
được dịch ra tiếng Việt như Quảng trường ngôi sao (La Place de L’Etoile),
Những đại lộ ngoại vi (Lesboulevards de), Phố những cửa hiệu u tối (Rue des
boutiques obscrures)… Tiểu thuyết Phố những cửa hiệu u tối đã mang lại cho
ông giải Goncout danh giá năm 1978. Tiểu thuyết này đã phản ánh chủ đề về
kí ức, sự quên lãng, nhận dạng và tội lỗi, toàn bộ cuốn tiểu thuyết là sự truy
vấn nhân thân, tìm về quá khứ để trả lời cho câu hỏi-tơi là ai? Đó cũng là tinh
thần của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Bút pháp
hậu hiện đại trong Phố những cửa hiệu u tối của Patrick Modiano”. Thực hiện
đề tài, chúng tôi hướng đến làm rõ những đặc sắc tiểu thuyết Patrick Modiano
trong cuốn tiểu thuyết Phố những cửa hiệu u tối nhìn từ chủ nghĩa hậu hiện
đại đồng thời đem đến cái nhìn gần gũi hơn về trào lưu văn học này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại
+ Tình hình nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại ở một vài nước trên
thế giới
Có lịch sử ra đời từ khá lâu, được biết đến ở phương Tây nửa sau thế kỉ
XX, tuy nhiên lịch sử nghiên cứu về hậu hiện đại chỉ khởi phát từ cuối những
năm 80 của thế kỉ XX. Do được bắt nguồn ở phương Tây, nên tình hình
nghiên cứu và sáng tác ở khu vực này rất phong phú và đa dạng. Có thể kể tên
các dại diện tiêu biểu là J.F.Lyotard, P.Anderson, T.Eagleton, F.Jameson,
J.Baudrillard, I.Hassan.
Năm 1879, tác giả người Pháp Jean – Francois Lyotard đã cho ra đời
cuốn sách nổi tiếng Hoàn cảnh hậu hiện đại (La condition postmoderne
rapport sur le savoir) [18]. Cuốn sách này đã nghiên cứu những chuyển biến
3
xã hội từ hiện đại sang hậu hiện đại, giúp cho người đọc hình dung rõ nét nhất
về chủ nghĩa hậu hiện đại. Đồng thời cuốn sách này đã khơi nguồn cảm hứng
nghiên cứu về hậu hiện đại cho rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và mở
đường cho sự phát triển nghiên cứu lý thuyết hậu hiện đại. Hoàn cảnh hậu
hiện đại là tri thức tổng quát nhất nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại [18].
Ở các nước châu Á như Trung Quốc và Ấn Độ, tình hình nghiên cứu về
chủ nghĩa hậu hiện đại dần trở nên phổ biến. Ở Trung Quốc, từ những năm 80
đã xuất hiện nghiên cứu văn học hậu hiện đại của Đổng Đỉnh Sơn, tới những
năm 90 là Thịnh Ninh và sau đó là Trần Hiểu Minh, Ngơ Lượng Vương Ninh,
Trác Hồng… Ở Ấn Độ, đó là những tên tuổi như Arup Ratan Ghosh,
Makarand Paranjape…Các cơng trình nghiên cứu hậu hiện đại ở Ấn Độ đã
nói lên được tính chất và diện mạo văn học hậu hiện đại ở nước này.
+ Tình hình nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam
Việt Nam là nước đang phát triển, cùng với xu thế giao lưu, hội nhập về
văn hóa, Việt Nam chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học
nói riêng và trong các lĩnh vực khác nói chung.
Ở Việt Nam, khái niệm “hậu hiện đại” lần đầu tiên được đề cập đến
trong nghiên cứu văn học là bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá
trị thẩm mỹ của Trương Đăng Dung (Tạp chí Văn học, số 11, 1995). Tác giả
đã đưa ra những nhận thức mới trong thực thực tiễn lý luận Việt Nam: “Tác
giả đã ứng dụng những tri thức lý luận phương Tây (triết học, mỹ học, văn
học…) vào quá trình diễn giải mối quan hệ giữa văn bản – người đọc và
khẳng định sự tạo nghĩa chỉ có thể có được thơng qua hoạt động tiếp nhận của
người đọc. Phần cuối bài viết, tác giả nhận định, giá trị tác phẩm nghệ thuật
của các thời đại, trong đó có tác phẩm hậu hiện đại, được tồn tại nhờ các giá
trị thẩm mỹ” [8, 41- 42]
Về lĩnh vực dịch thuật, cuốn Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại của
Richard Appignanesi-Chris Gattat do Trần Tiễn Cao Đăng dịch năm 2006 đã
khái quát những vấn đề về hậu hiện đại như phả hệ của nghệ thuật và lý
thuyết hậu hiện đại [2]. Cuốn sách này dễ hiểu hơn cuốn Hoàn cảnh hậu hiện
4
đại của Lyotard và điều đặc biệt là cuốn sách này cịn có tranh minh họa giúp
thu hút bạn đọc.
Năm 2005, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội ra mắt chuyên luận Những
tiểu thuyết của Robbe – Grillet của Bruce Morrissette (Từ Huy dịch) [21].
Chuyên luận này đi sâu vào lối viết trong tiểu thuyết của Robbe – Grillet với
đặc điểm và phong cách hậu hiện đại. Chuyên luận này phần nào cũng đã góp
phần làm sáng tỏ được phần lí thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại.
Cuốn Văn học hậu hiện đại thế giới: những vấn đề lí thuyết (Đào Tuấn
Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh sưu tầm và biên soạn). Tác
phẩm đã tập hợp những bài viết, bài dịch đề cập đến các khía cạnh lí thuyết
của chủ nghĩa hậu hiện đại, văn học hậu hiện đại [44].
Về lĩnh vực phê bình, nghiên cứu,
Năm 2003, NXB Hội Nhà văn cho ra đời cuốn sách Văn học hậu hiện
đại – lí thuyết và tiếp nhận của Lê Huy Bắc [5]. Tác phẩm được biên soạn
thành 21 chương, 7 chương diễn giải về lí thuyết, 13 chương gắn lí thuyết với
phân tích cấu trúc tác phẩm hậu hiện đại, trong đó có 8 tác phẩm trong văn
học Việt Nam, chương cuối với những suy nghĩ có tính định hướng về văn
học hậu hiện đại Việt Nam.
Năm 2011, Phương Lựu cơng bố cơng trình Lý thuyết văn học hậu hiện
đại, Nxb Đại học Sư phạm [17]. Đây là công trình lý thuyết hồn chỉnh đầu
tiên về văn học hậu hiện đại của một tác giả Việt Nam. Ông đã tổng hợp
những bài nghiên cứu trước đó về hậu hiện đại của mình và bổ sung thêm nội
dung, các trường phái của chủ nghĩa hậu hiện đại như: Giải cấu trúc, phê bình
nữ quyền, chủ nghĩa tân lịch sử. Phương Lựu đã giới thiệu hệ thống thi pháp
các trường phái như chủ đề vơ định, hình tượng mơ hồ, tình tiết chồng chéo,
ngôn từ bành trướng, chủ nghĩa giải cấu trúc và các tác giả tiêu biểu của chủ
nghĩa hậu hiện đại như Hassan, J.Lyotard, Jugren Habermas. Tác giả nhấn
mạnh chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời là một tất yếu của tiến trình lịch sử văn
học thế giới. Tác giả khái quát những vấn đề về chủ nghĩa hậu hiện đại: lịch
sử ra đời, tên gọi, các khái niệm và thuật ngữ và tác giả đã đi sâu giải quyết
một số vấn đề thuộc nội hàm khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại.
5
Cuốn Chủ nghĩa hậu hiện đại – Postmodernism của Trần Quang Thái
xuất bản 2006 đã đề cập rất chi tiết về nguồn gốc, lịch sử hình thành, phát
triển và những tư tưởng đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại trên thế
giới [6]. Năm 2006, Trần Quang Thái cho xuất bản cuốn Chủ nghĩa hậu hiện
đại – các vấn đề nhận thức luận [34]. Tác giả đã đi sâu vào các vấn đề nhận
thức luận của chủ nghĩa hậu hiện đại qua nội dung về phương pháp luận
nghiên cứu về tri thức và chân lý. Ngồi ra ơng mở rộng thêm 3 chương về
chủ nghĩa hậu hiện đại trong khoa học và đời sống. Qua đó Trần Quang Thái
đã rút ra những ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại tác động lên xã hội hậu
hiện đại.
Năm 2012, tác giả Lê Huy Bắc cho ra đời cuốn sách Văn học hậu
hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, là hệ thống lý thuyết chủ nghĩa hậu hiện
đại về khái niệm, nguồn gốc ra đời và các đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa
hậu hiện đại [5].
Giáo trình Lí luận văn học, tập 3 do Phương Lựu chủ biên cũng dành
một chương để nói về chủ nghĩa hậu hiện đại. Từ việc tìm hiểu sự ra đời của
chủ nghĩa hậu hiện đại, các tác giả tập trung làm rõ sự khác biệt của chủ nghĩa
hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện đại và một số đặc trưng văn chương hậu hiện
đại [42].
Ngồi ra chúng tơi quan tâm tới một số bài viết về chủ nghĩa hậu hiện
đại được công bố trên các tạp trí và các trang web:
Văn Ngọc: con đường dẫn đến kiến trúc hậu hiện đại
[23].
Vnexpress: Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Tuấn và văn học hậu hiện đại.
http:/vnexpress.net/vietnam/van-hoa/s004/01/3b9ceaf8/ [46].
Đào Tuấn Ảnh trong bài viết Quan niệm về thực tại và con người trong
văn học hậu hiện đại, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 8 năm 2005 đã tập
trung lí giải hai vấn đề: thực tại và con người trong tính quan niệm của văn
chương hậu hiện đại [1].
Phạm Phương Chi trong Chủ nghĩa hậu hiện đại ở Ấn Độ, Tạp chí
6
văn học, số 8, 2005 đã giới thiệu một số nét chính về văn học hậu hiện đại
Ấn Độ [7].
Như vậy, việc nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại đã thu hút được sự
quan tâm chú ý của nhiều học giả trong và ngoài nước và đến nay, chủ đề này
vẫn tiếp tục hứa hẹn nhiều khả năng khai mở cho hoạt động nghiên cứu phê
bình.
2.2. Những nghiên cứu về tác giả Patrick Modiano và tiểu thuyết
Phố những cửa hiệu u tối
Nhà văn Patrick Modiano đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà
báo, dịch giả chú ý và quan tâm tìm hiểu:
Tác giả Dương Tường đã có bài viết trên Tạp chí Sơng Hương với nhan
đề: Patrick Modiano và niềm khắc khoải với quá khứ. Ông cho rằng Patrick
Modiano là người thường tìm về q khứ, hồi niệm: “Patrick Modiano sinh
năm 1945, khi Thế Chiến II vừa kết thúc, tuy nhiên hiện thực phản ánh trong
văn học của ông lại tập trung vào thời kì nước Pháp bị Đức chiếm đóng. Biệt
tài của ơng là xóa nhịa ranh giới giữa các lớp thời gian khác nhau khiến từng
sự vật hiện ra như không thể tin được dưới ánh sáng lung linh kì ảo” [39].
Trên báo tuổi trẻ cũng có bài viết về Patrick Modiano: Nobel văn học
2014: Patrick Modiano – Nghê thuật về kí ức [38]. Đây chính là dòng chảy
chủ đạo trong văn học của Patrick Modiano
Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội (Số 286+287, năm 2005) đã có bài
viết: Quanh giải Nobel văn học Pháp của tác giả Trần Hinh [13]. Tác giả cho
rằng đa phần những tác giả nhận giải thưởng Nobel văn học Pháp là những
gương mặt khơng phải thuần Pháp mà là dịng máu lai. Patrick Modiano là
gương mặt tiêu biểu trên văn đàn Pháp cuối thế kỉ XX.
Một số tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được về yếu tố thời gian trong tác
phẩm của ông là Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm Phố những cửa hiệu u
tối- Lê Khắc Bảo Long 2010 [16] và Luận văn: Sự đối cực không gian trong
tiểu thuyết của Patrick Modiano của Nguyễn Thảo Tâm [35]. Cơng trình của
Lê Khắc Bảo Long đi sâu phân tích những chuyển biến về mặt thời gian nghệ
7
thuật trong tác phẩm. Nguyễn Thảo Tâm trong luận văn của mình đã giải
quyết và làm rõ một số vấn đề chính về khơng gian, thời gian nghệ thuật trong
kết cấu tiểu thuyết, điểm nhìn nghệ thuật, những trải nghiệm về không gian
của Modiano. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu về sự đối cực không gian trong
tác phẩm của Modiano, phân tích đối cực khơng gian và khoảng cách giữa
người với người từ những phác thảo khơng gian đó. Cuối cùng, là những
khoảnh khắc con người đối diện với chính mình qua yếu tố khơng gian,
hướng đến sự cân bằng trong mỗi nhân vật.
Trên cơ sở khảo sát kết quả nghiên cứu về tiểu thuyết của Patrick
Modiano nói chung và đặc điểm trong phong cách sáng tác của ông nói riêng,
chúng tơi đi sâu vào nghiên cứu bút pháp hậu hiện đại trong tiểu thuyết Phố
những cửa hiệu u tối của Patrick Modiano, phân tích những đặc sắc nghệ
thuật và giá trị nội dung của tác phẩm.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận khảo sát tiểu thuyết Phố những cửa hiệu u tối của Patrick
Modiano để chỉ ra những đặc trưng cơ bản của bút pháp hậu hiện đại của tác
giả trong cuốn tiểu thuyết này, từ đó góp một tiếng nói về chủ nghĩa hậu hiện
đại trong nghiên cứu văn học.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: Thống kê những câu văn, đoạn văn thể hiện đặc
trưng về nghệ thuật và nội dung của bút pháp trần thuật hậu hiện đại.
Phương pháp phân tích, chứng minh: Phân tích, chứng minh đặc điểm
bút pháp trần thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết.
Phương pháp bình giảng: Đánh giá, bình luận về bút pháp trần thuật
hậu hiện đại trong tác phẩm
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Nghiên cứu đặc trưng bút pháp hậu hiện đại của Modiano
trong tiểu thuyết “Phố những cửa hiệu u tối”.
Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết “Phố những cửa hiệu u tối” của tác
giả Patrick Modiano, Dương Tường dịch (2019), Nxb Văn học.
8
Ngồi ra trong q trình nghiên cứu, chúng tơi mở rộng liên hệ tới một
số tiểu thuyết khác.
6. Cấu trúc khóa luận và chú giải kí hiệu
6.1. Cấu trúc khóa luận
Ngồi phần mở đầu và kết luận, khóa luận của chúng tôi gồm 3
chương:
Chương 1. Khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại và tác giả Patrick
Modiano
Chương 2. Quan niệm về con người và hiện thực trong Phố những cửa
hiệu u tối của Patrick Modiano
Chương 3. Cấu trúc trần thuật hậu hiện đại trong Phố những cửa hiệu u
tối của Patrick Modiano
6.2. Chú giải kí hiệu
- Viết tắt:
Nxb: Nhà xuất bản
TCVH: Tạp chí văn học
- Kí hiệu:
[A]: số thứ tự của tài liệu trong thư mục tham khảo.
[A, B], trong đó:
A: số thứ tự của tài liệu trong thư mục tham khảo.
B: số trang trong tài liệu.
9
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
VÀ TÁC GIẢ PATRICK MODIANO
1.1. Khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại
Nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại đã nhận được sự quan tâm của
nhiều nhà phê bình, lí luận văn học. Tuy nhiên cho đến nay các nhà nghiên
cứu vẫn chưa đi đến một quan điểm thống nhất về khái niệm chủ nghĩa hậu
hiện đại.
Khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại được xem là một hệ thống lí thuyết
được xây dựng ở thời kì hậu hiện đại. Chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời khi chủ
nghĩa hiện đại đã hết vai trò và biến thành các “đại tự sự”: “Hậu hiện đại là sự
hoài nghi đối với các tiểu tự sự. Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của
các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại tiền giả định sự hồi nghi
đó. Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hóa là
sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của
thiết chế đại học phụ thuộc vào nó. Chức năng tự sự mất đi các hình thức
mang chức năng: các anh hùng lớn, các hiểm họa lớn, các chuyến hải hành
lớn và mục đích lớn. Nó tan ra thành từng mảng các yếu tố ngơn ngữ mang
tính tự sự, nhưng cũng là tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả” [6, 54]. Linda
Hutcheon đưa ra nhận định về chủ nghĩa hậu hiện đại: “Chủ nghĩa hậu hiện
đại là một hiện tượng đầy mâu thuẫn” [27].
Như vậy, việc nghiên cứu nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa hậu hiện
đại” là vấn đề rất quan trọng do khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại là khái niệm
mở nên có rất nhiều quan điểm xoay quanh vấn đề này.
Các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại
Về phương diện triết học
J. Lyotard trong cơng trình Hồn cảnh hậu hiện đại coi hậu hiện đại là
nỗ lực chống lại các “đại tự sự” của chủ nghĩa duy lí thời Khai sáng cùng các
di sản của nó. Fredric Jameson cho rằng: “Sự tha hóa của chủ thể trong chủ
nghĩa hậu hiện đại được thay thế bằng sự phân mảnh của chủ thể trong chủ
nghĩa hậu hiện đại ở trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản muộn, đó cịn là một sự
10
phân mảnh mang tính tinh thần phân liệt” [18]. Umberto Eco đã tạo nên một
cái nhìn nghiêng đối với đời sống văn học thế giới đương đại. Ông đã rất hóm
hỉnh khi nhận xét rằng: “Hậu hiện đại là sự xem xét lại một cách mỉa mai cái
điều đã được phát biểu rồi, trong một thời đại của sự ngây thơ đã đánh mất.
Tuy có đơi chút phân vân, nhưng ông cũng khẳng định rằng hậu hiện đại là
một sự thật, là một phạm trù tinh thần, hoặc tốt hơn, một Kunstwollen – một
phương thức thao tác” [18].
Theo từ điển thuật ngữ triết học Hành trình cùng triết học do Ted
Honderich chủ biên, hậu hiện đại là: “Thuật ngữ sự tương đồng gia đình được
triển theo đủ loại bối cảnh…. dành cho những sự vật dường như có liên quan,
nếu có, bằng một sự đa dạng về phong cách thơng thường. Chủ nghĩa hậu
hiện đại cùng chia sẻ một điều gì đó với sự phê phán các giá trị của thời đại
Ánh sáng và các viện dẫn về chân lý được tạo lập ra bởi các nhà tư tưởng, chủ
trương thuyết phục theo kiểu thành viên công xã tự do” [36, 822].
Về phương diện chính trị
Hassan coi chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn
(còn gọi là chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ), mang tính chất phi lý tính, phi xác
định, hỗn loạn nhưng cũng mang tính nhập cuộc. J.Lyotard xem hậu hiện đại
là sự đánh mất niềm tin vào các “đại tự sự”, là nỗ lực chống lại các “đại tự
sự” (tức các lý thuyết phổ biến). James Kurth cũng coi chủ nghĩa hậu hiện đại
trong triết học chính trị là sự bác bỏ các giá trị hiện đại chủ nghĩa duy lí thời
Ánh Sáng.
Các quan niệm hậu hiện đại về văn học
Khi xác định khái niệm hậu hiện đại, các tác giả thường hay trích dẫn
luận điểm cơ bản của J. Lyotard trong cuốn Tình huống hậu hiện đại: “Nếu
giản lược mọi thứ tới tận cùng, thì chủ nghĩa hậu hiện đại được hiểu như sự
không tin vào những siêu truyện, siêu tự sự, siêu tự sự (meta-narrative) ở đây
không nên hiểu chỉ là khái niệm hình thức hay cấu trúc văn học nghệ thuật,
mà còn là (chủ yếu là) phạm trù nhận thức” [44].
Trong cuốn Văn học hậu hiện đại lí thuyết và tiếp nhận, Lê Huy Bắc
11
dẫn lại lời giới thuyết phạm vi khái niệm hậu hiện đại của Francois Lyotard
trong cuốn Hoàn cảnh hậu hiện đại: “Theo ông, ông không xem chủ nghĩa
hậu hiện đại là kết quả, là con đẻ hay là sự phủ nhận của chủ nghã hiện đại mà
là xử lí lại một số đặc điểm của hiện đại, nhất là tham vọng của nó trong việc
đặt cơ sở cho đề án giải phóng tồn bộ nhân loại bằng khoa học và kĩ thuật”
[44, 21]. Richard Ruland và Malcom Bradbury trong công trình Từ chủ nghĩa
Thanh giáo đến chủ nghĩa hậu hiện đại, lịch sử văn học Mĩ đưa thêm dữ liệu
xác định thời hậu hiện đại “Đấy là sự kiện Trân Châu Cảng 1941 mà sau đó
đã khiến Mĩ tích cực hơn trong phong trào chống phát xít của phe Đồng minh,
mở ra một trang sử mới cho nhân loại. Các tác giả khẳng định, chủ nghĩa hiện
đại dường như đã chấm dứt mặc dù những nhà văn trụ cột của nó từ Faulkner,
Eliot đến William Carlos vẫn tiếp tục viết” [44, 419].
Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn hậu hiện đại đã đưa ra: “Năm 1985
Ihab Hasan đưa ra bảng so sánh giữa chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hiện
đại nhằm khu biệt sự khác nhau giữa hai khuynh hướng này. Bảng đối sánh
này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của hai khuynh hướng sáng tác
như ngơn ngữ, hình thức trần thuật…” [44, 422]. Trong cơng trình này Lê
Huy Bắc cũng đề cập đến quan điểm Katie Wales và Terry Eagleton về chủ
nghĩa hậu hiện đại: “Năm 1990, Katie Wales đưa mục chủ nghĩa hậu hiện đại
vào Từ điển phong cách học của mình: Khái niệm được đưa ra vào những
năm 1960 để miêu tả một khuynh hướng văn học đương thời, tiếp nối chủ
nghĩa hiện đại- khuynh hướng phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và Mĩ trong
những năm đầu thế kỉ XX cho đến những năm 1930. Giống chủ nghĩa hiện
đại, chủ nghĩa hậu hiện đại thách thức những quy ước và truyền thống văn
học, nhưng quyết liệt hơn. Trong các tiểu thuyết của những nhà văn Mỹ như
Barth, Nabokov, Pynchon…. Và những nhà văn Anh như D. M. Thomas và
Fowles, có sự cắt giảm đáng kể hiện thực, tính duy nhất và giải pháp triệt để.
Viết là sự tự ý thức cao độ, ý thức về bản thân và về độc giả của nó. Năm
1996 trong cuốn Dẫn luận lí luận văn học, Terry Eagleton xác định “Tác
phẩm nghệ thuật hậu hiện đại điển hình nhất là tùy tiện, đa trị, lai ghép, lệch
12
tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng, hệt như một mô phỏng ” [44, 423].
Một yếu tố khác để xác định văn học hậu hiện đại là việc khu biệt phạm
vi tác giả của đối tượng. Barry Lewis trong chủ nghĩa hậu hiện đại và văn
chương đã chú ý thống kê các tác giả tiêu biểu của văn học hậu hiện đại như:
“Văn chương hư cấu hậu hiện đại là một hiện tượng mang tính quốc tế, với
những đại diện quan trọng từ khắp nơi trên thế giới: Gunter Grass và Peter
Handke (Đức); Geogrges Perec và Monique Wittig (Pháp); Umberto Eco và
Italo Canvino (Italy); Algela Cater và Salman Rushdie (Anh); Walter Abish,
Kathy Acker, Paul Auster, John Barth, Donald Barthlme, Raymon Federman,
William Gass, Thomas Pynchon (Mỹ)…” [44, 237-238].
Từ những căn cứ trên, Lê Huy Bắc trong Truyện ngắn hậu hiện đại đã
đề xuất cách hiểu khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại: “Chủ nghĩa hậu hiện đại
trong văn học ra đời từ những năm 1950 và thực sự phát triển mạnh từ năm
1960 trở đi, đây là khuynh hướng tiếp nối chủ nghĩa hiện đại, gắn với sự bùng
nổ của cuộc cách mạng công nghệ thông tin, của sự phát triển kinh tế, khoa
học kĩ thuật vượt bậc, của thành tựu đô thị hóa… được thể hiện cả ở ba
phương diện thơ, kịch, văn xuôi(chủ yếu là văn xuôi hư cấu) với các đặc điểm
chính: đa trị, huyền ảo, lắp ghép, mảnh vỡ, cực hạn, độ căng: hạn chế tối đa
vai trò thống trị của người kể chuyện, không quan tâm đến cốt truyện, kịch và
văn xuôi mang nhiều đặc điểm của thơ” [44, 424].
Hoàng Ngọc Hiến nhận định: “Chủ nghĩa hậu hiện đại trước hết là một
phản ứng với chủ nghĩa hiện đại, do đó phải tìm hiểu về chủ nghĩa hiện đại thì
mới cảm nhận được chủ nghĩa hậu hiện đại” [12].
Việc đưa ra khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học sẽ liên
quan đến việc xác định thời gian ra đời của thời hậu hiện đại.
Về phương diện tư tưởng, Trần Quang Thái trong Chủ nghĩa hậu hiện
đại: “Tư tưởng hậu hiện đại được phát triển trong bối cảnh các ngành khoa
học phát triển với các phát minh vĩ đại, đi kèm với nó là các quan điểm và học
thuyết mới”. Một số học thuyết mới như Lý thuyết hỗn độn là học thuyết do
Edward Lorentz phát hiện. Bản chất của Lý thuyết hỗn độn là giải thích sự bất
13
định trong mọi sự vận động của vật chất. Tư tưởng này là tiền đề lý thuyết của
văn học hậu hiện đại. Năm 1972, nhà toán học người Pháp Rene Thome đã
trình bày Lý thuyết tai biến trong cơng trình Tính ổn định cấu trúc và ngun
hình học (Structural Stability and Morphogenesis). R.Thome đưa ra luận
thuyết về “Tồn tại tính liên tục có thể được hình thức hóa tốn học giữa các
trạng thái trong một hệ động học cho dù có những gián đoạn đáng kể giữa các
trạng thái này” [33, 16]. Nhà toán học cho rằng tai biến chỉ là một yếu tố vận
động đặc biệt. Lý thuyết phức hợp lại lý giải về tính hệ thống: “Thế giới
khơng đơn thuần được gói gọn trong một vài hệ thống”. Lý thuyết này tạo ra
vơ vàn niềm tin có thể xác lập một sự tương ứng giữa các ngôn ngữ. Điều
khiển học ra đời năm 1946 do Norbert Wiener sáng tạo, lấy cơ chế hoạt động
của não người làm đối tượng nghiên cứu, xem não người như một cơ chế xử lí
thơng tin, để rồi thực hiện mã hóa thành những kí hiệu tốn học. Hình học
Fractal là phát minh quan trọng làm thay đổi vấn đề về nhận thức tự nhiên do
nhà toán học người Pháp B. Mandelbrot khởi xướng, ơng khơng quan tâm đến
những hình học có tính mơ hình kinh điển như tam giác, đường trịn mà ơng
lấy chính những hình học tự nhiên của các vật thể thực như rặng núi, đám
mây làm đối tượng. Trên những phương diện khác, lý thuyết tương đối đã
chứng minh vê tính ngẫu nhiên, đột biến, hỗn độn là thuộc tính tất yếu của
thực tại. Đây là tiền đề nhận thức quan trọng trong lý thuyết hậu hiện đại.
Về phương diện thuật ngữ, “post” – “hậu” chỉ cái “đằng sau”, cái tiếp
theo, postmodernism – hậu hiện đại, xét về phương diện hình thức cũng như
phân kỳ chủ nghĩa hậu hiện đại là giai đoạn sau của modernism – chủ nghĩa
hiện đại. Trong phần mở đầu của cuốn Điều kiện hậu hiện đại, Lyotard nêu
định nghĩa đầu tiên về Postmoderne: “Postmoderne là thân phận của tri thức
trong những xã hội phát triển nhất, nó chỉ tình trạng văn hóa sau những biến
đổi đã ảnh hưởng đến quy định khoa học và văn học nghệ thuật từ cuối thế kỉ
XIX” [45]
Xét về phương diện chính trị, xã hội, thời hậu hiện đại hình thành trong
giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản tiêu dùng, nó chi phối tồn bộ đời
14
sống xã hội. Sự phát triển của kinh tế thị trường đã thúc đẩy tạo ra nhiều hàng
hóa mới và sự thay đổi liên tục về hình thức và chất lượng hàng hóa đã dẫn
đến sự thay đổi lối sống của con người, tạo tâm lý hưởng thụ mang tính toàn
cầu. Quan niệm của con người về cuộc sống và thực tại bị thay đổi: “thời kì
tăng trưởng, phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự phát triển của khoa học
công nghệ tạo nên tâm lý tự tin, lạc quan. Thời kì suy thối, khủng hoảng tạo
nên những hiệu ứng trái ngược, sự đánh mất niềm tin, lo âu, sợ hãi, thái độ bi
quan, đổ vỡ bao trùm xã hội” [33, 12].
Lê Huy Bắc dẫn thuyết quan điểm của Richard Ruland và Malcolm
Bradbury về sự ra đời của thời hậu hiện đại trong cơng trình Từ chủ nghĩa
thanh giáo đến chủ nghĩa hậu hiện đại, Lịch sử văn học Mĩ: “Đấy là sự kiện
Trân Châu Cảng 1941 mà sau đó đã khiến Mỹ tích cực hơn trong phong trào
chống phát xít của phe đồng minh, mở ra thời kì mới cho lịch sử nhân loại”
[5, 27].
Phương Lựu đã đưa ra quan điểm: “Sau đại chiến thế giới II, tình hình
thế giới căng thẳng: chiến tranh lạnh, đối kháng Đơng – Tây, chạy đua vũ
trang, bóng ma của vũ khí hạt nhân, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam.
Algérie, chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa quân phiệt ở nhiều nước, sự đàn áp
những nhân sĩ tiến bộ giàu tinh thần phản kháng…. Đến những năm 60, 70
phong trào phản kháng của nhân dân gần như tạm lắng xuống, hai tổ chức
công đoàn lớn ở Hoa Kỳ tuyên bố rời bỏ đấu tranh giai cấp, nhiều nhà văn
hóa cấp tiến chuyển sang phía cực hữu bảo thủ. Khơng khí hoang mang, hồi
nghi, bi quan bao trùm lên thời đại” [44, 72].
Yếu tố kinh tế, xã hội, khoa học ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống con
người đặc biệt về mặt tâm lý con người. Hoàng Ngọc Tuấn trong bài viết Từ
hiện đại đến hậu hiện đại đã nói rõ: “Hậu quả khủng khiếp của vô thức tập
thể trong đệ nhị thế chiến và ngay sau đó là cuộc chiến tranh lạnh kéo dài đa
dẫn đến một ý nghĩa chua chát: thế giới sẽ bị hủy diệt bởi chính sự tiến hóa
của nhân loại và cùng ý nghĩ này là khát vọng về sự giải phóng của tự ngã
khỏi sức mạnh của vơ thức tập thể” [44, 129]. Phương Lựu cũng khẳng định:
15
“Khoa học, kỹ thuật phát triển mang lại một năng suất sản xuất cao, xã hội
bước vào thời hậu công nghiệp với nền văn minh máy tính, bùng nổ thơng tin
quảng cáo, thế giới như bé lại, nhưng lại chất chứa tràn đầy hàng hóa tiêu
dùng và tất cả đều được thương phẩm hóa… Nó làm cho tư tưởng, tình cảm,
kết cấu tâm lí của con người có nhiều thay đổi sâu sắc” [44, 72].
Từ việc tổng hợp các bài viết về chủ nghĩa hậu hiện đại của các nhà phê
bình, nghiên cứu có uy tín, chúng tơi rút ra được những đặc trưng cơ bản sau:
Đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của chủ nghĩa hậu hiện đại
Thứ nhất: quan niệm hiện thực và con người
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới bất ổn định: chiến
tranh lạnh, đối kháng Đông- Tây, chạy đua vũ trang, chiến tranh hạt nhân,
chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh ở các nước Đơng Nam Á. Trong hồn
cảnh xã hội như vậy dẫn đến bao trùm lên toàn xã hội là khơng khí hoang
mang, hồi nghi, bi quan.
Sau chiến tranh, thế giới bước vào thời kì hậu cơng nghiệp với các thiết
bị máy móc hiện đại dần thay thế sức lao động của con người. Đặc biệt, sự
bùng nổ công nghệ thông tin đã làm thay đổi tư tưởng tình cảm, diễn biến tâm
lí con người do con người ít đối diện trực tiếp mà thưởng sử dụng các thiết bị,
máy móc để trao đổi thơng tin với nhau. Chính trong mơi trường hiện thực đó
làm con người càng hồi nghi về thế giới. Thay vì ra sức xây dựng thế giới
theo mô thức chiều sâu của chủ nghĩa hiện đại thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại
phủ nhận triệt để tất cả các mô thức chiều sâu. Đối lập với mơ hình thế giới
hài hồ mà các nghệ sĩ hiện đại cố gắng xây dựng thì các nghệ sĩ hậu hiện đại
xây dựng một mơ hình thế giới hỗn độn, phân mảnh, bất tín nhận thức.
Nếu con người trong chủ nghĩa hậu hiện đại tỏ ra ưu tư, chán chường
trước thực tại hiện tồn, kiếm tìm một thực tại “thuần khiết” và cao cả thì con
người trong chủ nghĩa hậu hiện đại càng dị thường hóa, ảo giác hóa sự tha
hóa. Con người trong chủ nghĩa hậu hiện đại thường hồi nghi về bản thân
mình, mải miết kiếm tìm nhân thân. Do hồn cảnh xã hội, chiến tranh liên
miên dẫn đến tình trạng dịng người di cư ồ ạt và sau cùng, họ không biết
16
mình là ai, khơng xác định được danh tính. Những thay đổi về mặt ý thức
cũng dẫn đến sự thay đổi quan niệm về hiện thực đời sống và con người.
Trước đó, con người được coi là trung tâm của vũ trụ, là trung tâm của sự
phản ánh thì chủ nghĩa hậu hiện đại, con người khơng cịn là trung tâm phản
ánh mà bị ngôn ngữ khống chế “Không phải tơi nói ngơn ngữ mà ngơn ngữ
nói về tơi”.
Hồng Ngọc Tuấn trong một lần phỏng vấn đã nói: “Con người hậu
hiện đại nhận thức rằng họ chỉ tồn tại trong vùng giao thoa của sự tương phản
và những giá trị tương đối. Đối với họ, thế giới không phải là một thứ hiện
thực đơn giản và đồng nhất trong nhãn quan của mỗi người. Bởi thế mỗi
người có thể cùng lúc nhìn thấy nhiều thế giới khác nhau và có thể bị chi phối
cùng lúc bởi nhiều hệ qui chiếu khác nhau. Họ thấy rằng bản thể và thế giới là
những hiện thực đa tầng và đa phương” [46]
Thứ hai: xu hướng phân mảnh
Đây là một khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Xu hướng
phân mảnh thể hiện ngay ở cốt truyện, tính cách của các nhân vật, đề tài, hình
ảnh và tình huống truyện, ngơn từ, cấu trúc câu. Lê Huy Bắc trong Truyện
ngắn hậu hiện đại đã viết “Nguyên tắc sáng tạo của kiểu truyện này là sử
dụng mơ típ đồng dạng xếp cạnh nhau để hướng đến các chủ đề khác nhau”
[44, 428-429]. Tác phẩm hậu hiện đại đặt ra nhiều câu hỏi, các câu trả lời đều
mang tính chủ quan, chính vì vậy chủ nghĩa hậu hiện đại mở ra tối đa những
con đường để người đọc tự khám phá, cảm nhận văn bản. Sự phân mảnh trong
văn chương hậu hiện đại khác với văn chương hiện đại chính ở cách tiếp cận
từng mảnh vụn của văn chương.
Các nhà văn hậu hiện đại không đi sâu khám phá nhân vật mà để tự
nhân vật bộc lộ qua những lát cắt của cuộc đời. Các tác giả tái hiện hiện thực
khơng có trung tâm, sáng tác ngẫu hứng, lắp ghép tùy tiện, không cần tuân thủ
bất cứ quy tắc nào cả.
Lyotard trong La Condition Postmoderne (Hồn cảnh hậu hiện đại) đã
phê phán các hình thức đại tự sự của chủ nghĩa hiện đại “Chủ nghĩa hậu hiện
17
đại phủ định tính chất đơ hộ và áp đặt của đại tự sự, cổ xúy những tiểu tự sự,
những lí lẽ giải thích cho những hành động nhỏ bé, những biến cố có tính chất
địa phương thay vì những khái niệm rộng có tính chất bao qt và tồn thể”
[44, 162].
Nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh khẳng định văn chương hậu hiện đại
thực tại hỗn độn, gia tăng sự hỗn độn bằng cách “giải cấu trúc mọi trung tâm
văn hóa” [1, 54]. Từ những mảnh vỡ hiện thực, nhà văn lắp ghép tạo nên một
thực tại, thực tại ở đây được nhìn một cách đa chiều, phi trung tâm.
Mỹ học theo quan điểm hậu hiện đại là sự “xóa nhòa danh giới giữa
nghệ thuật và đời sống thường ngày, phá bỏ những giai tầng văn hóa quý phái
và văn hóa đại chúng, phủ định tính chất ngun thủy của một tác phẩm nghệ
thuật và cho rằng nghệ thuật cũng chỉ là hiện tượng lặp lại, nhấn mạnh đến
phong cách trộn lẫn giữa nhân vật và sự can thiệp của chính tác giả vào tác
phẩm, tính chất kết dính nhiều mảng kết cấu khác nhau trong cùng một tác
phẩm tựa như một bức tranh tham khảo có nhiều chất liệu dị biệt” [44, 168]
Thứ ba: Tính chất liên văn bản.
Thuật ngữ liên văn bản do nhà lý luận về chủ nghĩa hậu hiện đại
J.Kristeva đưa ra năm 1967, trở thành một trong những thuật ngữ cơ bản
trong việc phân tích tác phẩm nghệ thuật hậu hiện đại.
R.Barthes đã cung cấp khái niệm liên văn bản mang tính quy phạm hóa:
“Mỗi văn bản là một liên văn bản, những văn bản khác có mặt trong nó ở các
cấp độ khác nhau dưới những hình thái ít nhiều nhận được những văn bản của
văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại xung quanh. Mỗi văn
bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng trích dẫn cũ” [44, 35]
Theo Lê Huy Bắc: “Chủ nghĩa hậu hiện đại xem văn bản được viết ra là
giao điểm của muôn vàn văn bản. Theo thời gian, đó là văn bản của quá khứ,
của thực tại và của cả tương lai. Theo khơng gian đó là văn bản của từng vùng
miền. Theo thể loại, đó là văn bản của từng vùng miền” [5, 43].
Trong văn học, liên văn bản được hiểu là “Sự tương tác giữa những
dạng khác nhau của những diễn ngôn bên trong văn bản: diễn ngôn của người
18
trần thuật về diễn ngôn của các nhân vật; diễn ngôn của một nhân vật này với
một nhân vật khác” [44, 37].
Những hình thức của liên văn bản văn học là vay mượn, sử dụng
lại đề tài cốt truyện, trích dẫn cơng khai hay kín đáo, dịch đạo văn, điển
tích, bắt chước, nhái lại, dựng thành phim. Thơng qua tính liên văn
bản, thế giới hiện ra như một văn bản khổng lồ. Để khai thác yếu tố
bề sâu trong văn bản, địi hỏi người đọc phải có sự tìm tịi, khám phá
và sáng tạo.
Thứ tư: Siêu hư cấu
Siêu hư cấu là thuật ngữ chỉ “Lối viết hư cấu, mà lối viết đó
nhằm đến vị thế của chính nó một cách tự ý thức và có hệ thống xem
như nó là một thể giả lập, để đặt ra những vấn đề về mối quan hệ giữa
hư cấu và thực tại” [11].
Siêu hư cấu trong văn học trước hết là sự phủ định lại tính hư cấu
nhờ những yếu tố “như là thật”. Siêu hư cấu đã phá vỡ tính ảo tưởng
mà hư cấu mang lại, bắt buộc người đọc phải xem xét đến tính giả lập
của nó.
Siêu hư cấu là thủ pháp nghệ thuật thường được các nhà văn hậu hiện
đại sử dụng “Qua đó nhà văn bàn về chính kĩ thuật viết và tiến trình xây dựng
tác phẩm ngay trong tác phẩm của mình. Làm thế, nhà văn đặt độc giả vào
một vị trí khách quan và tỉnh táo để thấy tác phẩm như một văn bản đúng
nghĩa: một tác phẩm nghệ thuật hư cấu như một trò chơi tự trình bày cách
chơi của nó và mời gọi độc giả tham gia vào trị chơi đó” [5, 203]
Đi cùng với thủ pháp siêu hư cấu là cảm quan đa trị gắn với quan niệm
bất tín nhận thức và trần thuật đa điểm nhìn. Với kĩ thuật này, nhà văn giúp
người đọc tiếp cận nhiều khía cạnh khác nhau của cùng một vấn đề, đơi khi
khiến người đọc hồi nghi về chính vấn đề đó “Nhà văn muốn ở ra trước mắt
độc giả một thế giới vô hạn của những khả thể cho sự diến dịch. Như thế văn
chương hậu hiện đại là một trị chơi ngơn ngữ mang tính dân chủ tối đa” [44,
120].
19
1.2. Khái quát về tác giả Patrick Modiano.
Patrick Modiano là nhà văn Pháp tiêu biểu cho bút Pháp hậu hiện đại.
Patrick Modiano chịu ảnh hưởng rất lớn từ hoàn cảnh gia đình và xã hội,
chính hồn cảnh đó đã quy định việc lựa chọn nội dung và cách thức xây
dựng các tác phẩm của ông.
Patrick Modiano – tuổi thơ bất hạnh
Patrick Modiano sinh ngày 30 tháng 7 năm 1945 ở thủ đô Paris, nước
Pháp. Bố của Patrick Modiano là Albert Modiano- người Pháp gốc Do Thái,
một kẻ lang bạt kỳ hồ, khơng nghề nghiệp, từng trốn đi lính trong chiến tranh
thế giới thứ hai. Còn mẹ của nhà văn là Louisa Colpeyn, một diễn viên người
Bỉ. Họ gặp nhau trong thời kỳ Pháp bị chiếm đóng và nhanh chóng kết hơn.
Patrick Modiano là con trai đầu lịng của họ.
Trong khi Albert Modiano bận nay đây mai đó cho những kế hoạch
bn bán vốn tồn mang lại thất bại. Cịn Louisa Colpeyn suốt ngày bận rộn
với những chuyến lưu diễn. Tuổi thơ của Patrick thiếu vắng tình cảm của cha
mẹ. Ban đầu cậu bé được ơng bà ngoại chăm sóc, nhưng sau đó liên tục bị gửi
đến các khu ký túc xá trong trường nội trú. Em trai Rudy là người duy nhất
đem lại cho Patrick Modiano cảm giác ấm áp của tình thân. Nhưng thật khơng
may Rudy đã qua đời vào năm 1957, khi mới 10 tuổi, do bệnh bạch cầu. Cái
chết của em trai đã trở thành vết thương lớn trong tâm hồn của nhà văn. Cái
chết, sự chia ly, nỗi cô đơn, hay cảm giác trống trải được Patrick Modiano
nhắc đi nhắc lại trong các tiểu thuyết ở thời kỳ đầu sáng tác như một cách
tưởng nhớ đến em trai.
Modiano lấy bằng tú tài 1962 tại Annecy sớm hơn một năm so với
thường lệ. Từ 1960 ông học mơn hình học với nhà văn Raymond Queneau
(Raymond Queneau là người bạn của mẹ ông và là tác giả của Zazie trong tàu
điện ngầm). Raymond Queneau chính là cây cầu nối giữa Patrick Modiano
với văn chương nghệ thuật. Patrick Modiano đã quyết định từ khóa học tại đại
học Lycée Henri IV ở Paris và quyết định tham gia cuộc tuyển chọn
vào Grande école.