i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HĨA DU LỊCH
--------------------------------
LƯU THỊ THƯ
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TRUYỆN CỔ TÍCH
DÂN TỘC SÁN DÌU TỪ GĨC ĐỘ THI PHÁP HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Ngữ văn
Phú Thọ, năm 2019
ii
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ VĂN HĨA DU LỊCH
--------------------------
LƯU THỊ THƯ
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU TRUYỆN CỔ TÍCH
DÂN TỘC SÁN DÌU TỪ GĨC ĐỘ THI PHÁP HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Ngữ văn
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đặng Lê Tuyết Trinh
Phú Thọ, năm 2019
iii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... i
1. Tính cấp thiết đề tài ....................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 5
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................. 5
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 5
4. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 6
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 6
7. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 6
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 7
9. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 8
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ..................................... 8
1.1. Một số vấn đề về thi pháp và thi pháp học ................................................ 8
1.1.1. Thuật ngữ thi pháp, thi pháp học .......................................................... 11
1.1.2. Thi pháp văn học dân gian .................................................................... 12
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp ................................................... 13
1.2. Khái quát về truyện cổ tích ...................................................................... 15
1.2.1. Khái niệm truyện cổ tích ....................................................................... 16
1.2.2. Phân loại truyện cổ tích ......................................................................... 17
1.3. Truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu ................................................................ 18
1.3.1. Khái quát về dân tộc Sán Dìu................................................................ 18
1.3.2. Khảo sát truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu ............................................... 20
1.3.3. Đặc điểm chung về thi pháp truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu ................ 22
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 24
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TRUYỆN CỔ TÍCH THẦN KỲ
DÂN TỘC SÁN DÌU ..................................................................................... 26
2.1. Thi pháp kết cấu ....................................................................................... 26
iv
2.1.1. Kết cấu truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam .............................................. 26
2.1.2. Kết cấu truyện cổ tích thần kỳ Sán Dìu ................................................ 27
2.2. Thi pháp nhân vật ..................................................................................... 30
2.2.1. Hệ thống nhân vật truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam ............................ 30
2.2.2. Hệ thống nhân vật truyện cổ tích thần kỳ Sán Dìu ............................... 31
2.3. Thi pháp lựa chọn và xây dựng xung đột................................................. 34
2.3.1. Xung đột trong truyện cổ tích thần kỳ Việt Nam.................................. 34
2.3.2. Xung đột trong truyện cổ tích thần kỳ Sán Dìu .................................... 35
2.4. Khơng gian và thời gian nghệ thuật ......................................................... 37
2.4.1. Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kỳ Việt
Nam ................................................................................................................. 37
2.4.2. Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích thần kỳ Sán
Dìu ................................................................................................................... 38
Tiểu kết chƣơng 2............................................................................................ 40
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT
DÂN TỘC SÁN DÌU ..................................................................................... 41
3.1. Thi pháp kết cấu ....................................................................................... 41
3.1.1. Kết cấu truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam ........................................... 41
3.1.2. Kết cấu truyện cổ tích sinh hoạt Sán Dìu .............................................. 43
3.2. Thi pháp nhân vật ..................................................................................... 47
3.2.1. Nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam ............................... 47
3.2.2. Nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Sán Dìu .................................. 48
3.3. Thi pháp lựa chọn và xây dựng xung đột................................................. 51
3.3.1. Xung đột trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam ............................... 51
3.3.2. Xung đột trong truyện cổ tích sinh hoạt Sán Dìu ................................. 51
3.4. Không gian và thời gian nghệ thuật ......................................................... 52
Tiểu kết chƣơng 3............................................................................................ 54
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 58
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
1.1. Việt Nam là một đất nƣớc có 54 anh em dân tộc. Trải qua bao
nhiêu thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó, đồn kết đấu tranh
chống kẻ thù xâm lƣợc, bảo vệ bờ cõi, giành độc lập tự do và xây dựng đất
nƣớc. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa
dạng của văn hóa Việt Nam. Bản sắc văn hóa của các dân tộc đƣợc thể hiện rõ
trong các hoạt động kinh tế, văn hóa vật thể và phi vật thể của cộng đồng tộc
ngƣời. Một trong những đặc trƣng chung tạo nên phẩm chất con ngƣời và văn
hóa Việt Nam là lịng u nƣớc, đức tính cần cù, chịu thƣơng, chịu khó, sáng
tạo trong lao động sản xuất, gắn bó, hịa đồng với thiên nhiên, cộng đồng làng
xóm và đức tính nhân hậu, vị tha của mỗi con ngƣời. Cùng với sự phát triển
của đa số là dân tộc Kinh trên đất nƣớc thì bên cạnh đó các dân tộc thiểu số
Việt Nam cũng đã có những đóng góp lớn lao cho đất nƣớc kể từ khi dựng
nƣớc, giữ nƣớc cho đến những nền văn hóa đặc sắc muôn màu, muôn vẻ. Tất
cả những bản sắc văn hóa ấy, những đức tính tốt đẹp ấy đều đƣợc kết tinh lại
trong nền văn học dân tộc thiểu số. Trƣớc khi thống nhất nền văn hóa tồn
dân thì văn học dân gian các dân tộc thiểu số là diện mạo chính xác nhất để
tìm hiểu về đời sống, con ngƣời, truyền thống các dân tộc đó. Truyện cổ tích
là một trong những sáng tác văn học dân gian đem lại những giá trị, sắc thái
riêng biệt. Giá trị của truyện cổ tích dân tộc thiểu số trong đời sống cộng đồng
là một vấn đề khoa học cần phải đƣợc nghiên cứu, khai thác và lƣu giữ, bảo
tồn. Thông qua những câu chuyện cổ tích ấy, chúng ta có thể thấy rõ hơn mối
quan hệ tổng thể văn học dân gian giữa các dân tộc Việt Nam.
1.2. Bên cạnh các dân tộc thiểu số có nền văn học đặc sắc nhƣ: Thái,
Tày, Nùng, Dao, Ê Đê,… thì dân tộc Sán Dìu cũng là một trong những dân
tộc có nền văn học phong phú nhƣng lại chƣa đƣợc công khai và bảo lƣu.
Cộng đồng dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam chủ yếu sinh sống ở miền trung du
một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Tìm hiểu về nền văn hóa dân tộc Sán Dìu thì
2
chúng ta thấy có rất nhiều bài viết tìm hiểu về nguồn gốc, văn hóa, lễ hội, bản
sắc khác nhau. Các bài viết đã cung cấp cho độc giả những kiến thức chung
về đặc sắc văn hóa, phong tục tập qn của ngƣời Sán Dìu. Tuy nhiên hiện
nay chƣa có bất kỳ một cơng trình nào nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ về truyện
cổ tích dân tộc Sán Dìu. Thực hiện đề tài nghiên cứu về thi pháp truyện cổ
tích dân tộc Sán Dìu, tác giả mong rằng sẽ góp một phần giới thiệu, giữ gìn,
bảo tồn và phát huy một giá trị văn học điển hình của dân tộc Sán Dìu; đồng
thời, cung cấp một nguồn tƣ liệu về văn học dân gian để giúp giáo viên Ngữ
văn ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam nơi có con em dân tộc Sán Dìu sinh sống có
thể thực hiện tiết dạy Ngữ văn địa phƣơng một cách thuận lợi hơn.
1.3. Bản thân tác giả đƣợc sinh ra và lớn trong một thôn nhỏ thuộc xã
Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; lại có cơ hội đƣợc nhà nƣớc
tạo điều kiện cho học tập ở trƣờng THCS&THPT dân tộc nội trú tỉnh Vĩnh
Phúc. Ở đây, tác giả khóa luận đã đƣợc trao đổi, học tập với các bạn cùng dân
tộc trong địa bàn tỉnh và góp phần tạo nên nền móng truyện cổ tích dân tộc
trong tơi. Cùng với hiện thực xót xa là nền văn học dân tộc đang dần bị mai
một đi, các em nhỏ vẫn mang dịng máu dân tộc nhƣng lại khơng hề biết đến
những câu chuyện cổ tích lý thú, hấp dẫn, mang đầy tính triết lý nhân sinh của
ơng cha để lại. Hơn nữa bản thân đang học tập tại trƣờng Đại học Hùng
Vƣơng tỉnh Phú Thọ, là một sinh viên năm 4 sắp hồn thành chƣơng trình học
tập bƣớc chân ra trƣờng với tƣ cách là một giáo viên giảng dạy bộ mơn Văn
học. Với nguyện vọng trở về q hƣơng góp phần làm giàu đẹp cho nền giáo
dục quê hƣơng nơi những con em dân tộc Sán Dìu đang ngày ngày học tập,
tiếp bƣớc cha anh là nguồn động lực để tơi hồn thành khóa luận này.
Trên cơ sở lý do và nhận thức nhƣ vậy, Tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
Bước đầu tìm hiểu truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu nhìn từ góc độ thi pháp
học làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn góp một phần
nhỏ sức mình vào việc giới thiệu một nét văn hóa q hƣơng mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử các dân tộc Việt Nam tuy cùng tựu
chung một nhà, cùng là anh em song mỗi một dân tộc đều có những nét văn
hóa đặc trƣng riêng tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Chúng ta thƣờng hay
nhắc đến các giá trị văn hóa văn học nhƣ sử thi Tây Nguyên, truyện thơ dân
tộc Thái, truyện cổ tích dân tộc Mƣờng,… Thế nhƣng đa số chúng ta lại chƣa
từng nghe hay biết đến truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu. Nghiên cứu về truyện
cổ tích dân tộc Sán Dìu nhằm việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam đồng thời còn giúp chúng ta hiểu biết hơn về
ngƣời Sán Dìu từ đó có thể giao lƣu, học hỏi, giúp đỡ con em dân tộc thiểu số
phát triển hơn. Từ xƣa đến nay tuy chƣa thực sự có những cơng trình nghiên
cứu chun sâu về truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu nhƣng với tinh thần duy trì,
bảo tồn nền văn hóa Việt Nam cùng với sự quan tâm của cộng đồng thì cũng
có một số tác giả đề cập đến và một số cơng trình nghiên cứu về văn hóa dân
dân tộc Sán Dìu phát triển, cụ thể nhƣ sau:
Đầu tiên phải kể tới cơng trình nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Văn Ái
- “Vài nét về hệ thống ngữ âm tiếng Sán Dìu” đăng trên cuốn Tìm hiểu ngơn
ngữ các dân tộc năm 1972. Tƣ liệu của bài viết là 1000 từ đƣợc điều tra tại xã
Vĩnh Thực, huyện Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ
giới thiệu một cách ngắn gọn cùng với một số ví dụ chứ chƣa có những mơ tả
và lý giải một cách chi tiết về kết quả nghiên cứu ấy.
Thứ hai phải kể đến cơng trình Người Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả
Ma Khánh Bằng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội ấn hành năm 1983.
Đây có thể coi là cuốn sách đặt nền móng cho các cơng trình nghiên cứu về
dân tộc Sán Dìu ở Việt Nam. Dựa vào những thơng tin nghiên cứu của mình,
tác giả đã bƣớc đầu giới thiệu khái quát về văn hóa vật chất, tinh thần của
ngƣời Sán Dìu ở Việt Nam. Từ đó để ngƣời đọc có một cái nhìn tổng thể về
con ngƣời dân tộc Sán Dìu.
Tiếp đến cuốn Các hình thái tín ngưỡng tơn giáo ở Việt Nam của tác
giả Nguyễn Đăng Duy đƣợc Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm
4
2001 đã trình bày khá đầy đủ về tín ngƣỡng, tơn giáo, nguồn gốc, nội dung
của các hình thái dân gian đặc trƣng ở một số vùng miền, một số dân tộc ít
ngƣời, trình bày nguồn gốc và những giáo lý cơ bản của các loại hình tơn giáo
trong đời sống hiện nay.
Cuốn sách Lễ hội các dân tộc Hoa, Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả
Diệp Trung Bình do Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội ấn hành năm 2002 cũng là
một cơng trình khoa học tìm hiểu khá là toàn diện về các lễ hội của ngƣời Sán
Dìu nhƣ: lễ Thao Khốn, lễ Cấp Sắc, lễ Kỳ Yên,…
Gần đây với sự phát triển của xã hội, vấn đề bảo tồn, lƣu giữ các nền
văn hóa của các dân tộc thiểu số ngày càng đƣợc chú trọng thì cũng đã xuất
hiện rất nhiều các cơng trình nghiên cứu khác nhau về nền văn hóa dân gian
dân tộc Sán Dìu.
Năm 2005, kỷ yếu hội thảo Ngữ học trẻ, bài viết “Hệ thống âm đầu
tiếng Sán Dìu ở Việt Nam”, Hội ngôn ngữ học Việt Nam, nhà xuất bản Đại
học Sƣ Phạm đã ra mắt hội thảo với những nghiên cứu đầu tiên về chữ viết cụ
thể là hệ thống âm đầu qua chữ viết của ngƣời Sán Dìu.
Cùng năm 2005, trong bài viết Lễ cấp sắc của người Sán Dìu ở Thái
Nguyên của nhà nghiên cứu Vũ Diệu Trung do Nxb Khoa học Xã hội ấn hành
đã bƣớc đầu tìm hiểu về lễ cấp sắc của ngƣời Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái
Ngun với góc nhìn văn hóa.
Ngơn ngữ của ngƣời Sán Dìu gần nhƣ là vấn đề nổi cộm hơn khi đƣợc
nghiên cứu qua bài viết Từ mượn Việt trong tiếng Sán Dìu, Hội thảo khoa học
tồn quốc tháng 11 năm 2009, Viện ngôn ngữ học.
Năm 2012, tác giả Diệp Thanh Bình trong cuốn Dân ca các dân tộc
Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Cao Lan, Lơ Lơ đƣợc Nxb Văn hóa Dân tộc ấn hành
đã đề cập đến sinh hoạt dân ca (Soọng Cô) của dân tộc Sán Dìu song chỉ
mang tính chất giới thiệu những bài dân ca Sán Dìu mà khơng đi sâu tìm
hiểu đặc trƣng về nội dung và nghệ thuật.
Nhìn chung, các cơng trình trên do mục đích nghiên cứu khác nhau
5
đã tìm hiểu về văn hóa của ngƣời Sán Dìu ở nhiều góc độ: lễ hội, ẩm thực,
tơn giáo… Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian dân
tộc Sán Dìu chƣa đƣợc các tác giả quan tâm và tìm hiểu nhiều.
Gần đây nhất năm 2016 trong luận văn thạc sĩ ngơn ngữ và văn hóa
Việt Nam thì tác giả Trần Thị Thanh Tân với tên luận văn Văn học dân
gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên đã có những nghiên cứu cụ thể về lối
hát soọng cơ, về truyện cổ tích cũng nhƣ câu đố trong nền văn học dân gian
của ngƣời Sán Dìu. Tuy nhiên luận văn có phạm vi nghiên cứu khá rộng và
mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu một số nội dung cơ bản của truyện cổ tích
dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên.
Nhƣ vậy, nghiên cứu về thi pháp truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu cịn
rất hạn chế và mới chỉ đƣợc đề cập ở mức khái quát chung. Chủ yếu là các
cơng trình nghiên cứu về văn hóa, lễ hội, chữ viết, ngơn ngữ ngƣời Sán
Dìu. Tuy nhiên các cơng trình sẽ là tiền đề để bƣớc đầu tìm hiểu về thi
pháp truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu. Góp phần làm phong phú cho nền
văn hóa văn học dân tộc Việt Nam nói chung và nền văn học dân tộc Sán
Dìu nói riêng.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thi pháp truyện cổ tích dân tộc
Sán Dìu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tƣ liệu phục vụ cho cơng tác nghiên cứu: truyện cổ tích dân tộc
Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hƣớng đến mục tiêu sau:
- Khảo sát, điền dã, sƣu tầm, văn bản hóa về truyện cổ tích dân tộc Sán
Dìu ở Vĩnh Phúc.
6
- Nghiên cứu các tác phẩm truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu ở Vĩnh Phúc
từ lý thuyết thi pháp học. Trong điều kiện cho phép, chúng tơi có liên hệ so
sánh giữa truyện cổ tích Sán Dìu với truyện cổ tích của ngƣời Việt, từ đó thấy
đƣợc nét độc đáo, riêng biệt của đối tƣợng nghiên cứu.
- Một trong những mục tiêu quan trọng mà luận văn muốn hƣớng tới là
dùng kết quả sƣu tầm, nghiên cứu để ứng dụng vào việc giảng dạy nội dung
Ngữ văn địa phƣơng ở các đơn vị trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn đồng
bào dân tộc Sán Dìu sinh sống.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, tôi hƣớng đến các nhiệm vụ:
- Thứ nhất, tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về thi pháp, thi pháp
học và truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu.
- Thứ hai, từ việc khảo sát, thống kê và văn bản hóa các truyện cổ tích
dân tộc Sán Dìu trên địa bàn sinh sống của ngƣời Sán Dìu, tác giả đi sâu
nghiên cứu về đặc điểm thi pháp học truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích
sinh hoạt dân tộc Sán Dìu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt những yêu cầu mà đề tài đặt ra, tôi tiến hành nghiên
cứu dựa trên sự vận dụng, kết hợp những phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phƣơng pháp điền dã (sử dụng để thu thập tài liệu) bao gồm: quan sát, phỏng
vấn, ghi chép; Phƣơng pháp hỏi ngƣời có kinh nghiệm; Phƣơng pháp thống
kê, phân tích và tổng hợp; Phƣơng pháp tiếp cận tác phẩm từ lý thuyết thi
pháp học; Phƣơng pháp so sánh… trong quá trình giải quyết các vấn đề đặt ra
của nội dung khóa luận.
7. Đóng góp của khóa luận
Từ việc sƣu tầm một số lƣợng các câu truyện cổ tích của dân tộc Sán
Dìu, khóa luận nhằm giới thiệu về nội dung của truyện cổ tích dân tộc Sán
Dìu từ đó đi sâu vào thi pháp trong truyện cổ tích góp phần tạo nên diện mạo
7
chung của nền văn học dân gian Việt Nam. Ngoài ra cùng với thực tại là nền
văn học dân gian dân tộc Sán Dìu đang ngày bị quên lãng thì khóa luận cũng
chính là nơi giữ gìn văn hóa dân gian của ngƣời Sán Dìu nói chung và của nền
văn học Việt Nam nói riêng.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Khóa luận góp phần tìm hiểu về văn học các dân
tộc thiểu số nói chung và dân tộc Sán Dìu nói riêng để từ đó phục vụ cho việc
nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ là tài liệu góp
phần nhỏ trong việc nghiên cứu, giảng dạy ngữ văn địa phƣơng cho các
trƣờng học có học sinh, sinh viên là con em dân tộc thiểu số Sán Dìu.
9. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
khóa luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chƣơng 2: Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích thần kỳ dân tộc Sán Dìu
Chƣơng 3: Đặc điểm thi pháp truyện cổ tích sinh hoạt dân tộc Sán Dìu
8
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Một số vấn đề về thi pháp và thi pháp học
Thi pháp và thi pháp học là một lĩnh vực nghiên cứu có ảnh hƣởng lớn
trong ngành nghiên cứu văn học thế kỷ XX. Công việc nghiên cứu, lý luận,
phê bình văn học theo tinh thần thi pháp học là xu hƣớng chung trên phạm vi
toàn thế giới.
Thi pháp học ở Nga xuất hiện rải rác từ cuối thế kỷ XIX và thực sự
bùng phát từ đầu thế kỉ XX với chủ nghĩa hình thức Nga, sau đó nó bị trấn áp
để nhƣờng chỗ cho nghiên cứu xã hội học mác- xít. Chỉ từ những năm 50 trở
đi, theo Kozhinoc, mới có thể nói tới “một thời kỳ mới của sự phát triển thi
pháp học”. Năm 1929, M.Bakhtin cho xuất bản cuốn “Mấy vấn đề sáng tác
Dostoievki”. Cuốn sách ra đời đƣợc nhiều ngƣời đánh giá rất cao, coi đây là
một cái mốc quan trọng trong việc nghiên cứu về Dostoievki. Sau những
tranh luận xung quanh về nguyên tắc đối thoại giữa Bakhtin và giới nghiên
cứu văn học Nga thì khi tái bản vào năm 1963, cuốn “Mấy vấn đề sáng tác
Dostoievki” của Bakhtin mang cái tên mới “Mấy vấn đề thi pháp Dostoievk”.
Những năm 70, 80 thi pháp học lịch sử đƣợc đề xƣớng rầm rộ. Năm
1976, trong cách “sáng tạo nghệ thuật”, “hiện thực”, “con ngƣời”, rồi tiếp
theo năm 1983 Khrapchenco tổng kết “thi pháp học lịch sử” nhƣ là khuynh
hƣớng nổi bật của nghiên cứu văn học Liên Xô từ năm 1959 cho đến lúc ấy
với nhiều tên tuổi lừng danh.
Về đối tƣợng cụ thể, việc nghiên cứu thi pháp sau này khơng chỉ bó hẹp
trong khu vực mà nó thành cơng ngay từ đầu và có thể cố thủ rất lâu là văn
học dân gian (với các cơng trình Propp và tiếp theo là Meletinski), mà đã mở
rộng sang các khu vực khác từ văn học cổ đến các tác giả thuộc văn học hiện
đại. Về quan niệm thi pháp nghiên cứu cái “ngữ pháp của sự sáng tạo” ở mọi
9
cấp độ cấu trúc văn học, từ sự vận dụng các phƣơng tiện miêu tả, sự vận dụng
thể loại, cho đến sự hình thành các hiện tƣợng văn học nhƣ một chỉnh thể nói
chung.
Từ sau 1960 thi pháp học Liên Xô phát triển đa dạng: thi pháp học cấu
trúc của Lotman, thi pháp học văn hóa của Bakhtin, thi pháp học lịch sử. Thi
pháp học lịch sử không chỉ nghiên cứu sự tiến hóa của hình thức mà cịn
nghiên cứu sự phát triển của khái niệm về văn học. Chẳng hạn bộ sách Lý
luận văn học dưới cái nhìn lịch sử ba tập của Viện Văn học thế giới mang tên
Gorki đầu những năm 60. Bộ này hiện nay đang đƣợc biên soạn lại và đã ra
mắt bạn đọc. Năm 1983, Khrapchenco, ngƣời cổ vũ và tổng kết thi pháp học
lịch sử Liên Xô nhận định: “Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hóa của
các phƣơng thức, phƣơng tiện chiếm lĩnh thế giới bằng hình tƣợng nghệ thuật,
chức năng xã hội, thẩm mĩ của chúng, số phận lịch sử của các khám phá nghệ
thuật.” D.X.Likhachev trong sách “Con ngƣời trong văn học Nga cổ” miêu tả
các hình thức và phong cách miêu tả con ngƣời, các phƣơng tiện miêu tả nghệ
thuật nhƣ không gian, thời gian nghệ thuật, các hình thức khái qt nghệ
thuật, các cơng thức, nghi thức, biểu tƣợng… trong văn học Nga cổ. Thi pháp
học lịch sử nghiên cứu thi pháp huyền thoại, thi pháp sử thi Nga cũng nghiên
cứu các thi pháp trào lƣu nhƣ Thi pháp chủ nghĩa lãng mạn, Thi pháp chủ
nghĩa hiện thực…
Ở Việt Nam, từ những năm 30 cho đến trƣớc Cách mạng tháng Tám
1945, thi pháp chỉ đƣợc nhắc tới lẻ tẻ trong một số cơng trình phê bình văn
học mà chƣa phải là một phƣơng pháp luận của một trào lƣu, một xu hƣớng
thẩm mỹ. Từ năm 1945 đến 1975, nói chung các nhà lý luận và sáng tác văn
học cách mạng dƣờng nhƣ chỉ quan tâm nội dung phản ánh hiện thực mà ít
chú ý đến phƣơng diện thi pháp, mặc dù đơi lúc có quan tâm đến phong cách,
bút pháp sáng tác của nhà văn. Với quan niệm phản ánh hiện thực đƣợc hiểu
nhiều khi thô thiển, giản đơn và phƣơng pháp hiện thực chủ nghĩa không cho
phép ngƣời ta đi sâu vào các vấn đề thi pháp bởi nếu đi sâu vào các vấn đề thi
10
pháp sẽ bị gán tội “Chủ nghĩa hình thức” hoặc “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Ở
miền Nam trong vùng kiểm sốt của chính quyền cũ, tuy có điều kiện giới thiệu
về lý thuyết cấu trúc xong chƣa nêu vấn đề nghiên cứu thi pháp văn học. Đã có
một số cơng trình lý luận, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các giáo sƣ bậc
đại học nhƣng còn tản mạn, phân tán và về cơ bản, thi pháp học vẫn chỉ đƣợc
quan niện nhƣ là phép tắc làm thơ, kiến thức về thi ca. Việc nghiên cứu, phê
bình văn học về cơ bản vẫn theo truyền thống cũ.
Đầu những năm 1980 một số nhà nghiên cứu văn học nhƣ Phạm Vĩnh
Cƣ, Duy Lập, Vƣơng Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân… đã giới thiệu thi pháp học
Liên Xô vào Việt Nam, dịch một số cơng trình của Bakhtin, Khrapchenco…
trong đó có phần về thi pháp học. Đồng thời, chuyên đề thi pháp học đƣợc
Trần Đình Sử mở tại Đại học Sƣ Phạm Hà Nội, một số cuộc hội thảo chuyên
đề về thi pháp học đã đƣợc tổ chức tại Hà Nội… Từ đó nhu cầu tìm hiểu thi
pháp học trở nên sơi động trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học, nhiều
ngƣời xem đó là cách để tạo nên sự đổi mới trong nghiên cứu, phê bình văn
học. Bên cạnh đó, việc giới thiệu các lý thuyết, trƣờng phái nghiên cứu của
phƣơng Tây cũng đƣợc thực hiện, từ khi có sự “cởi trói”, “mở cửa” và nhất là
phong trào “đổi mới” từ năm 1986. Đến cuối những năm 1990, thi pháp học
đã đƣợc giáo sƣ Trần Đình Sử viết thành giáo trình đầu tiên ở bậc Đại học,
cao đẳng.
Trong khơng khí đó, nhiều cơng trình vận dụng thi pháp học vào
nghiên cứu, phê bình văn học lần lƣợt xuất hiện, tạo thành phong trào chiếm
ƣu thế, một khuynh hƣớng nghiên cứu, phê bình “thời thƣợng”. Trong số
những ngƣời đi tiên phong đáng chú ý là các tác giả chuyên ngành ngôn ngữ
học nhƣ Phan Ngọc (với các cơng trình nghiên cứu về Truyện Kiều và về thơ
Đƣờng, thơ song thất lục bát, cách đọc văn học theo ngôn ngữ học), Nguyễn
Phan Cảnh với cuốn Ngơn ngữ thơ, vừa có tính lý thuyết vừa có tính phổ cập,
đề cập nhiều vấn đề của thơ. Đây là cơng trình đầu tiên ở Việt Nam viết về
đặc trƣng thi pháp của ngôn ngữ thơ theo quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc
11
thuộc trƣờng phái R.Jakobson, Nguyễn Tài Cấn với hai công trình: Tìm hiểu
kỹ xảo hồi văn liên hồn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị và Ảnh
hưởng Hán văn Lý Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn. Đó là
các nhà ngơn ngữ học cịn các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi vào thi
pháp học khá đông đảo và cũng đạt đƣợc những kết quả bƣớc đầu rất đáng
chú ý: Hồng Trinh, Bùi Cơng Hùng, Nguyễn Kim Đính, Đỗ Đức Hiểu…
Nhìn tổng thể, ta có thể thấy thi pháp học ở Việt Nam có nguồn gốc từ
thi pháp học hiện đại trên thế giới. Có khuynh hƣớng phong cách học ngơn
ngữ, có khuynh hƣớng kí hiệu học, có khuynh hƣớng phân tâm học, có
khuynh hƣớng thi pháp học xã hội, có khuynh hƣớng thi pháp học lịch sử, văn
hóa. Thi pháp học đã đem lại những phạm trù mới, những đề tài mới và trên
hết là cách nhìn mới cho nghiên cứu – phê bình văn học, mở rộng các cánh
cửa tiếp cận văn bản – tác phẩm văn học bởi thi pháp học là lĩnh vực nghiên
cứu có nhiều bộ phận, trƣờng phái, nhiều quan điểm và phƣơng pháp khác
nhau. Rõ ràng là thi pháp học có ảnh hƣởng rất lớn trong ngành nghiên cứu
văn học hiện nay, nó càng ngày càng mang nội dung lớn hơn, rất đa dạng về
quan niệm, phƣơng pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng chƣa
từng thấy trong lịch sử.
1.1.1. Thuật ngữ thi pháp, thi pháp học
Thi pháp và thi pháp học là thuật ngữ của Phƣơng Tây, bắt nguồn từ
truyền thống Hy Lạp. Sau này chuyển sang các thứ tiếng phƣơng Tây nhƣ
tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga,…Ngƣời Trung Quốc và ngƣời Việt Nam
lúc đầu dịch theo tiếng La Tinh thành “bàn về nghệ thuật thơ ca” hoặc “nghệ
thuật thơ ca”. Sau mới có ngƣời dịch thành “thi học”.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “thi pháp” và “thi pháp học”, ở
đây chúng tôi nêu ra định nghĩa mà thấy là hợp lý và đầy đủ nhất của Tiến sĩ
Ngữ văn Cao Thị Hồng, ngƣời tiếp thu và kế thừa quan điểm, tƣ tƣởng của
giáo sƣ Trần Đình Sử:
12
Theo đó “thi pháp” là tổ hợp những đặc tính thẩm mỹ - nghệ thuật và
phong cách của một hiện tƣợng văn học, là cấu trúc bên trong, là hệ thống đặc
trƣng của các thành tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng. Thi pháp còn là
hệ thống nguyên tắc sáng tạo của một tác giả, một trƣờng phái, hay cả một
thời đại văn học.
Việc nghiên cứu thi pháp gọi là thi pháp học. Thi pháp học là môn
chuyên nghiên cứu các hệ thống nghệ thuật cụ thể, là một khoa học ứng dụng
trong nghiên cứu văn học. Thi pháp học là cách thức phân tích tác phẩm bám
vào văn bản chính, khơng chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản
nhƣ: tiểu sử, nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện
thực, tác dụng xã hội… Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức
tác phẩm nhƣ: hình tƣợng nhân vật, khơng gian, thời gian, kết cấu, cốt truyện,
điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải đƣợc suy ra từ
hình thức, đó là “hình thức mang tính nội dung”.
1.1.2. Thi pháp văn học dân gian
Văn học dân gian tồn tại trong đời sống thực tế không phải nhƣ một cái
gì đơn nhất, nhất dạng mà dƣới hình thức thể loại. Khơng phải dƣới hình thức
những tác phẩm chung chung, “trung tính” về mặt thể loại, mà dƣới hình thức
những tác phẩm thuộc một thể loại xác định, đó là những câu tục ngữ, những
bài hát ru, những truyện cổ tích… Bản chất chung của văn học dân gian cũng
nhƣ những đặc trƣng cơ bản của nó đều mang những biểu hiện, cụ thể khác
nhau theo thể loại. Mỗi thể loại văn học dân gian có cách phản ánh thực tại và
thái độ đối với thực tế riêng, mà một số nhà khoa học gọi là phƣơng pháp lịch
sử đặc thù của nó.
Nghiên cứu những đặc điểm thi pháp của các thể loại sẽ giúp tìm hiểu
vấn đề phƣơng pháp nghệ thuật của văn học dân gian. Một vấn đề hiện đang
còn bỏ ngỏ ngay cả ở những giáo trình văn học dân gian đại học nƣớc ta. Việc
tìm hiểu vấn đề phƣơng pháp nghệ thuật của toàn bộ văn học dân gian cũng
13
có thể giúp khai thác sâu hơn giá trị thẩm mỹ của đối tƣợng này, một giá trị
có phần ít đƣợc chú ý hơn so với giá trị nhận thức và giá trị giáo dục của nó.
Từ những thi pháp trong văn học dân gian, ta cũng có thể so sánh và
nhận thấy những quan hệ của văn học dân gian và văn học viết. Các tác giả
văn học Trung đại và Hiện đại sau này đã vận dụng hết sức độc đáo và thành
công các câu ca dao, tục ngữ của văn học dân gian.
Nói tóm lại khi tìm hiểu, nghiên cứu về thi pháp văn học dân gian thì sẽ
giúp cho chúng ta có cái nhìn tồn diện về các phƣơng pháp sáng tác trong
văn học dân gian để từ đó chúng ta thấm nhuần tƣ tƣởng, đạo lý của các sáng
tác văn học dân gian.
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp
Sự xuất hiện của thi pháp học ở Việt Nam từ những năm 80 đã đem lại
rất nhiều ý nghĩa cho nền văn học nƣớc nhà. Đầu tiên đó là khả năng phản
ánh đời sống của một hình tƣợng rất phong phú và đa dạng. Thi pháp học cho
thấy sự vận động và phát triển của tƣ duy nghệ thuật. Nâng cao khả năng cảm
thụ cho ngƣời tiếp nhận. Chúng ta đã biết bản chất của văn học là phản ánh
đời sống bằng hình tƣợng, chính vì vậy mà hình tƣợng nghệ thuật là linh hồn
của tác phẩm văn học nghệ thuật. Nghệ thuật khẳng định vẻ đẹp tâm hồn con
ngƣời, do đó nghiên cứu tác phẩm văn học là nghiên cứu thế giới tinh thần do
con ngƣời sáng tạo ra và đó cũng chính là hình thức tồn tại của tác phẩm nghệ
thuật. Cho nên khi nghiên cứu tác phẩm văn học dƣới góc độ thi pháp sẽ giúp
chúng ta tránh đƣợc và hạn chế đƣợc việc chia tách tác phẩm theo cấu trúc
văn bản để nghiên cứu mà phải nhìn một cách vừa cụ thể vừa tổng quát về
hình tƣợng nghệ thuật ở từng mảng của nó nhƣ quan niệm nghệ thuật về con
ngƣời, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, màu sắc nghệ thuật, hình
tƣợng tác giả trong tác phẩm,… Chẳng hạn khi tìm hiểu con ngƣời trong văn
học Việt Nam hiện đại ta sẽ thấy mỗi tác giả có cách quan niệm riêng về con
ngƣời trong tác phẩm của mình. Con ngƣời trong tác phẩm của Ngơ Tất Tố có
hai dạng con ngƣời là con ngƣời oan trái (nhƣng rất đẹp) và con ngƣời tạo ra
14
oan trái. Con ngƣời trong tác phẩm Nam Cao là con ngƣời bán dần sự sống để
duy trì sự sống vì vậy mà con ngƣời trong tác phẩm của Nam Cao ln có ý
thức về tâm trạng. Và nó sẽ khác hồn tồn với con ngƣời vũ trụ, con ngƣời
chí khí, con ngƣời tỏ lịng,… trong văn học trung đại. Nhƣ ai cũng biết Kiều
bị bán vào lầu xanh chịu bao tủi nhục ê chề. Nhƣng khi Từ Hải xuất hiện cứu
nàng thì cái “lầu xanh” ấy lập tức biến thành “lầu hồng”. Vì màu hồng có cảm
giác đem lại sự hạnh phúc ấm áp cho con ngƣời và ngƣời con gái kia vẫn là
một con ngƣời danh giá trong tâm khảm tác giả. Ngƣợc lại màu trắng sẽ biểu
hiện đầy đủ sự tang tóc thê lƣơng, lạnh lẽo và cả sự trong trắng của linh hồn
trinh nữ.
Sáng nay vô số lá vàng rơi
Người gái trinh kia đã chết rồi
Có một chiếc xe màu trắng đục
Hai con ngựa trắng xếp hàng đôi
Đem đi một chiếc quan tài trắng
Và những bông hoa trắng lạnh người
Theo bước những người khăn áo trắng
Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.
(Viếng hồn trinh nữ - Nguyễn Bính)
Bên cạnh những vấn đề trên, dƣới góc nhìn thi pháp ta cịn có cách nhìn
chi tiết hơn ở các khía cạnh nhƣ cốt truyện, tình tiết truyện, kết cấu, thi pháp
thể loại, thi pháp ngôn ngữ trong tác phẩm văn học một cách hoàn thiện hơn.
Vấn đề thi pháp học là một vấn đề lớn không phải chỉ trong vài bài viết mà
nói hết đƣợc. Nhƣng ngày nay, có thể nói đây là một trong những món ăn tinh
thần thời thƣợng. Nó rất cần thiết trong việc nghiên cứu cũng nhƣ giảng dạy
văn học trong nhà trƣờng. Nó giúp chúng ta khám phá một cách chính xác các
cấu trúc hình thức mang tính nội dung của tác phẩm văn học, phục vụ cho
việc tìm hiểu nội dung tác phẩm một cách đích thực, hồn tồn khơng có sự
gán ghép hoặc cảm nhận thiếu cơ sở. Bên cạnh đó nó cịn giúp chúng ta hiểu
15
đủ, hiểu đúng các tác phẩm văn chƣơng trong quá trình phát triển tƣ duy nghệ
thuật, đánh giá đúng tƣ duy nghệ thuật của mỗi tác phẩm văn chƣơng và hình
tƣợng tác giả.
1.2. Khái qt về truyện cổ tích
Truyện cổ tích là một thể loại văn học đƣợc tự sự dân gian sáng tác có
xu thế hƣ cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lƣu và cổ
tích lồi vật. Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các các nhân vật dân gian
hƣ cấu nhƣ tiên, yêu tinh, thần tiên, quỷ, ngƣời lùn, ngƣời khổng lồ, ngƣời cá
hay thần giữ của và thƣờng là có phép thuật hay bùa mê. Truyện cổ tích khác
biệt cơ bản với các loại truyện khác ở phƣơng diện ngƣời kể chuyện kể lại nó
và ngƣời nghe thì tiếp nhận trƣớc hết nhƣ một sự hƣ cấu thẩm mỹ, một trị
chơi của trí tƣởng tƣợng.
Bên cạnh yếu tố hƣ cấu, tƣởng tƣợng nhƣ một đặc điểm chủ yếu của
thể loại, truyện cổ tích vẫn bộc lộ sự liên hệ với đời sống hiện thực, thông qua
những đặc điểm về nội dung, ngơn ngữ, tính chất của cốt truyện, mơ típ, hình
tƣợng nghệ thuật… Nhiều truyện cổ tích xuất xứ từ xa xƣa phản ánh đƣợc các
quan hệ xã hội nguyên thủy và các biểu tƣợng, tín ngƣỡng vật tổ, tín ngƣỡng
vạn vật hữu linh. Trong khi đó, các truyện cổ tích hình thành giai đoạn muộn
hơn, nhƣ thời phong kiến, thƣờng có những hình tƣợng vua, hồng hậu, hồng
tử, cơng chúa. Sang thời tƣ bản chủ nghĩa, truyện cổ tích thƣờng chú ý hơn
đến thƣơng nhân, tiền bạc và các quan hệ xã hội liên quan đến.
Những nhà nghiên cứu và sƣu tầm văn học dân gian từ thế kỷ XIX ở
Đức, thuộc trƣờng phái thần thoại học nhƣ: Schelling, anh em nhà Schlegel,
anh em nhà Grimm xem truyện cổ tích là “những mảnh vỡ của thần thoại cổ”.
Các nhà nghiên cứu so sánh chú ý đến sự trùng hợp các sơ đồ cốt truyện và
mơ típ riêng lẻ trong truyện cổ tích của các dân tộc khác nhau.
Bên cạnh đó những ngƣời theo trƣờng phái nhân loại học (hay cịn gọi
là tiến hóa luận) ở Anh nửa sau thế kỷ XIX, nhƣ E. Tylor, A.Lang, J.Frazer
xây dựng lý thuyết về cơ sở thế sự và tâm lý của cái mà họ gọi là “các cốt
16
truyện tự sinh của truyện cổ tích”, nhấn mạnh rằng truyện cổ tích trùng hợp
đồng thời với sự tồn tại của hoang dã. Theo trƣờng phái thần tƣợng học mà
đại biểu là Gaston Paris, Angelo de Gubarnatic, trong cổ tích có sự lan truyền
của thần bí cổ đại, thần thoại về mặt trời, thần thoại về bình minh. Trƣờng
phái văn họa với các đại biểu nhƣ Benfey, Consquin lại đi tìm nguồn gốc cổ
tích dân gian ở Ấn Độ. Bên cạnh đó, trƣờng phái nghi thức chủ nghĩa gồm
nhiều các nhà bác học Anh cho rằng cổ tích là những nghi thức cổ truyền còn
tồn tại dấu vết đến ngày nay.
1.2.1. Khái niệm truyện cổ tích
Truyện cổ tích là loại truyện xuất hiện từ rất xƣa, chủ yếu do các tầng
lớp bình dân sáng tác, trong đó óc tƣởng tƣợng (bao gồm cả huyễn tƣởng)
chiếm phần quan trọng.
Có thể có yếu tố hoang đƣờng, kỳ diệu hoặc không, truyện cổ tích trình
bày – với một phong cách thƣờng kết hợp hiện thực với lãng mạn – cuộc sống
với những con ngƣời trong những tƣơng quan của xã hội có giai cấp (quan hệ
địa chủ với nông dân, quan lại với nhân dân, quan hệ gia đình, quan hệ thầy
trị,…). Khái qt hiện thực xã hội, truyện cổ tích trình bày con ngƣời với tƣ
cách “Tổng hòa những quan hệ xã hội”. Nhƣng yếu tố lãng mạn phản ánh
nguyện vọng, ƣớc mơ của nhân dân – là ở chỗ tác giả khơng chỉ trình bày cái
hiện có mà cịn trình bày cái chƣa có và cái có thể có. Chính do sự kết hợp hai
yếu tố đó trong việc phản ánh hiện thực mà dáng dấp thƣờng thấy của truyện
cổ tích là sự trình bày cuộc sống trong trạng thái động của nó, phù hợp với
quy luật phát triển nội tại của nó, và phù hợp với nguyện vọng và yêu cầu của
nhân dân về cuộc sống đó.
Đối với một thể loại sáng tác dân gian vô cùng phong phú về số lƣợng,
đa dạng phức tạp về nội dung và có một lịch sử phát triển lâu dài nhƣ truyện
cổ tích thì việc nhận thức khơng hề đơn giản. Trên thế giới, định nghĩa về
truyện cổ tích của anh em Grimm đã đƣợc phổ biến rộng rãi ở châu Âu đầu
thế kỷ XX có thể tóm tắt nhƣ sau:“Truyện cổ tích là những truyện được xây
17
dựng nên bằng trí tưởng tượng nghệ thuật, đặc biệt là những điều tưởng
tượng về thế giới thần kỳ, những câu chuyện khơng có quan hệ với những
điều kiện của đời sống thực và làm thỏa mãn người nghe thuộc mọi tầng lớp
xã hội ngay cả dù cho họ tin hay khơng tin vào những điều được nghe kể”
[15].
Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu đã định nghĩa:
“Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn
liền với q trình tan rã của chế độ cơng xã ngun thủy, hình thành của gia
đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội, nó hướng vào những vấn
đề cơ bản những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc
biệt là những xung đột mang tính chất riêng tư giữa người với người trong
phạm vi gia đình và xã hội. Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêngcó
thể gọi là tưởng tượng và hư cấu cổ tích” [13,121]. Từ đó kết hợp với các thủ
pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và mơ ƣớc của nhân dân
đáp ứng nhu cầu hiện thực, thẩm mĩ giáo dục và giải trí của nhân dân trong
thời kỳ những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nƣớc ta
chủ yếu là xã hội phong kiến).
Ngồi ra cịn nhiều nhà nghiên cứu đã đƣa ra những định nghĩa khác
nhau về truyện cổ tích nhƣ Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân
Diên,… Tuy nhiên trong phạm vi của đề tài chúng tơi chọn định nghĩa của
Hồng Tiến Hựu làm cơ sở lý luận cho việc khảo sát thể loại cổ tích của mình
trong khóa luận.
1.2.2. Phân loại truyện cổ tích
Căn cứ vào nhân vật chính và tính chất sự việc đƣợc kể lại, có thể chia
truyện cổ tích ra làm ba loại sau:
Truyện cổ tích lồi vật, thƣờng là truyện ngụ ngôn, những con vật nuôi
trong nhà, khi miêu tả đặc điểm các con vật thƣờng nói đến nguồn gốc các
đặc điểm đó: Trâu và ngựa, chó ba cẳng,… Nhóm hoang dã là hệ thống
18
truyện về con vật thông minh, dùng mẹo lừa để thắng các con vật mạnh hơn
nó: Cóc kiện trời, Sự tích con Sam, Sự tích con dã tràng,…
Truyện cổ tích thần kỳ kể lại những sự việc xảy ra trong đời sống gia
đình và xã hội của con ngƣời. Đó có thể là mâu thuẫn giữa các thành viên
trong gia đình phụ quyền, vấn đề tình u hơn nhân, những quan hệ xã hội
nhƣ Tấm Cám, Ăn khế trả vàng, sự tích Trầu Cau,… Nhóm truyện về các
nhân vật tài giỏi, dũng sĩ, nhân vật chính lập chiến cơng, diệt cái ác, bảo vệ
cái thiện, mƣu cầu hạnh phúc cho con ngƣời (Thạch Sanh, người thợ săn và
mụ Chằng). Nhóm truyện về các nhân vật bất hạnh về mặt xã hội, họ bị ngƣợc
đãi, bị thiệt thòi về quyền lợi, về mặt tính cách, họ trọn vẹn về đạo đức nhƣng
thƣờng chịu đựng trừ nhân vật xấu xí mà có tài (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Cây tre
trăm đốt).
Truyện cổ tích thế sự (sinh hoạt) kể lại những sự kiện ly kỳ, những sự
kiện này đi ra từ thế giới trần tục. Yếu tố thần kỳ, nếu có thì khơng có vai trị
quan trọng đối với sự phát triển câu chuyện nhƣ trong cổ tích thần kỳ. Nhóm
truyện có đề tài nói về nhân vật bất hạnh (Trương Chi, Sự tích chim hít cơ,…)
nhóm có nội dung phê phán những thói xấu (Đứa con trời đánh, gái ngoan
dạy chồng,…), nhóm truyện về ngƣời thơng minh (Cậu bé thơng minh, Nói
dối như Cuội,…), nhóm truyện kể về ngƣời ngốc nghếch (Chàng ngốc đi kiện,
Nàng bị tót,…).
1.3. Truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu
1.3.1. Khái quát về dân tộc Sán Dìu
Là một trong số 54 dân tộc tại Việt Nam, ngƣời Sán Dìu cũng đƣợc
quan tâm và tìm hiểu rất nhiều. Ngƣời Sán Dìu cịn có các tên gọi khác là Sán
Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ.
Ngƣời Sán Dìu sinh sống ở miền trung du của một số tỉnh miền Bắc
Việt Nam, với dân số 146.821 ngƣời (2009). Dân tộc Sán Dìu đƣợc tạo lập từ
thời nhà Minh tại Quảng Đơng – Trung Quốc, sau đó dần dần di chuyển
19
xuống Việt Nam. Họ nói tiếng Quảng Đơng và sử dụng chữ Hán, thuộc nhóm
ngơn ngữ Hoa tuy nhiên ngƣời Sán Dìu phân loại là ngƣời Hoa.
Dân tộc Sán Dìu chủ yếu sống ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dƣơng. Một số di cƣ
vào Tây Nguyên lập nghiệp, thành các làng hay sống rải rác tại các tỉnh thành
khác. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, ngƣời Sán Dìu ở Việt
Nam có dân số 146.821 ngƣời, có mặt tại 56 trên 63 tỉnh, thành phố. Ngƣời
Sán Dìu cƣ trú tại các tỉnh: Thái Nguyên (44.131 ngƣời, chiếm 30,1% tổng số
ngƣời Sán Dìu ở Việt Nam), Vĩnh Phúc (36.821 ngƣời, chiếm 25,1% tổng số
ngƣời Sán Dìu tại Việt Nam), Bắc Giang (27.283 ngƣời), Quảng Ninh (17.946
ngƣời), Tuyên Quang (12.565 ngƣời), Hải Dƣơng (1.872 ngƣời), Đồng Nai
(850 ngƣời), Hà Nội (832 ngƣời), Lâm Đồng (662 ngƣời), Đắk Nông (617
ngƣời)…
Ngƣời Sán Dìu thƣờng sinh sống ở thành từng chịm xóm nhỏ, ở nhà
đất. Nhà của dân tộc Sán Dìu khơng có những đặc trƣng riêng, có lẽ vậy mà
ngƣời Sán Dìu đã tiếp thu mẫu của nhà ngƣời Kinh khá dễ dàng. Trang phục
của ngƣời Sán Dìu đã và đang đổi thay gần giống trang phục ngƣời Kinh. Phụ
nữ Sán Dìu có tập qn ăn trầu và thƣờng mang theo mình chiếc túi vải đựng
trầu hình múi bƣởi có thêu nhiều hoa văn sặc sỡ và kèm theo là con dao bổ
cau có bao bằng gỗ đƣợc chạm khắc trang trí đẹp. Trong nhà, ngƣời chồng là
chủ gia đình, con theo họ cha, con trai đƣợc thừa hƣởng gia tài. Cha mẹ quyết
định việc cƣới gả cho con. Con trai con gái phải đƣợc xem số, số tuổi trƣớc
khi nên duyên vợ chồng.
Về kinh tế, ngƣời Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nƣớc, có phần nƣơng,
soi, bãi. Thêm vào đó cịn có chăn ni, khai thác lâm sản, đánh bắt ni thả
cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát… Từ lâu đời, ngƣời Sán Dìu đã tạo ra chiếc xe
quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phƣơng tiện vận chuyển.
Hình thức gánh trên vai hầu nhƣ chỉ dùng cho việc đi chợ.
Văn hóa thơ ca dân gian của ngƣời Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca
20
trong sinh hoạt hát đối nam nữa (Soong cô) rất phổ biến. Truyện kể - chủ yếu
là truyện thơ và truyện cổ tích khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thƣờng xuất
hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la cũng để phục
vụ nghi lễ tơn giáo. Nhiều trị chơi dân tộc đƣợc u thích là: đi cà kheo, đánh
khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.
Hiện nay với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì dân tộc Sán Dìu đã
tiếp thu ngày càng tiến bộ nền văn hóa dân tộc Kinh vào đời sống vật chất và
tinh thần. Tuy nhiên những nền văn hóa đặc sắc nhƣ hát soong cơ, truyện thơ,
câu đố, truyện cổ tích… vẫn đƣợc duy trì và lƣu giữ trong đời sống thƣờng
ngày của ngƣời Sán Dìu.
1.3.2. Khảo sát truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu
Cho đến hiện tại thì chƣa có văn bản nào ghi chép đầu đủ truyện cổ tích
dân tộc Sán Dìu. Cũng đã có một vài trang báo hay cơng trình nghiên cứu
khoa học có đề cập tới truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu. Vậy nên việc khảo sát
truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu vẫn cịn gặp rất nhiều khó khăn, thử thách. Từ
quá trình thu thập các câu chuyện kể đến q trình dịch sang tiếng Việt đều
địi hỏi sự tỉ mỉ, chính xác. Các câu chuyện đƣợc ghi âm lại rồi sau đó tơi sẽ
tiến hành dịch sang tiếng Việt, trong q trình dịch có một số từ ngữ ít dùng
hoặc tồn tại từ thời xƣa khiến tơi phải trực tiếp gặp các già làng để hỏi lại. Có
rất nhiều những mẩu chuyện bị thất lạc, bị quên địi hỏi phải thu thập từ rất
nhiều ngƣời để có đƣợc câu chuyện hồn chỉnh. Bƣớc đầu cịn rất nhiều khó
khăn nhƣng tơi cũng đã rất cố gắng để góp phần bảo tồn nền văn hóa dân gian
của dân tộc mình.
1.3.2.1. Hiện trạng truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu
Truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu cho đến hiện tại vẫn chƣa có bản in ấn
nào để lƣu giữ và phát hành. Các câu chuyện vẫn tồn tại theo phƣơng thức
truyền miệng, ông bà, cha mẹ kể lại cho con cháu nghe để dăn dạy con cháu
dân tộc mình phải ăn ở có hiếu, có đạo đức. Đối với tƣ liệu làm khóa luận
chúng tơi đã phải trực tiếp đến từng địa bàn cƣ trú của dân tộc Sán Dìu để thu
21
thập tài liệu, kết hợp cả bản ghi âm và video để làm tƣ liệu cho khóa luận. Để
thực hiện khóa luận tơi đã tiến hành sƣu tầm, thu thập và văn bản hóa đƣợc 20
truyện cổ tích Sán Dìu (Phụ lục 1 và 2).
Dựa theo phân loại truyện cổ tích của ngƣời Việt thì truyện cổ tích dân
tộc Sán Dìu cũng đƣợc phân chia thành ba loại truyện: truyện cổ tích thần kỳ,
truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích về lồi vật. Tuy nhiên số lƣợng
truyện cổ tích thần kỳ và sinh hoạt lại chiếm số lƣợng nhiều hơn cả. Trong số
20 truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu mà chúng tơi tiến hành nghiên cứu, sƣu tầm
và khảo sát thì có tới 7 câu chuyện cổ tích thần kỳ (chiếm 35%), truyện cổ
tích sinh hoạt có số lƣợng nhiều nhất với 11 truyện (chiếm 55%), số lƣợng
truyện cổ tích về lồi vật có số lƣợng ít nhất là 2 truyện (chiếm 10%).
1.3.2.2. Nhận xét sơ bộ về truyện cổ tích dân tộc Sán Dìu
Sở dĩ chúng ta thấy rằng trong 20 câu chuyện cổ tích dân tộc Sán Dìu
thì truyện cổ tích sinh hoạt chiếm số lƣợng nhiều nhất trong truyện cổ tích dân
tộc Sán Dìu bởi vì đó là những câu chuyện đúc rút kinh nghiệm sống của
ngƣời Sán Dìu, mang tính chất phê phán hay ca ngợi những hành động của
con ngƣời. Thêm vào đó chính là những câu chuyện cổ tích sinh hoạt thƣờng
gắn liền với đời sống sinh hoạt của ngƣời đồng bào, phù hợp với mọi lứa tuổi
và đem lại tiếng cƣời hài hƣớc sau những buổi lao động mệt mỏi của ngƣời
Sán Dìu. Hiện nay nội dung các câu chuyện cổ tích sinh hoạt vẫn đƣợc lƣu
truyền, đƣợc ơng bà, cha mẹ kể cho con, cháu mình nghe vào những ngày lao
động thƣờng ngày. Tiếp theo là truyện cổ tích thần kỳ, những câu chuyện này
thƣờng đƣợc kể cho trẻ em nghe. Nội dung của những câu chuyện đều là ca
ngợi những đức tính thật thà, tốt bụng của con ngƣời khi chiến thắng cái ác,
chiến thắng thế lực thù địch. Để từ đó sẽ hình thành đức tính chăm chỉ, siêng
năng, thật thà của con em mình ngay từ khi mới lọt lịng. Cịn những câu
chuyện cổ tích về lồi vật thì chủ yếu là lý giải nguồn gốc hình thành các lồi
động vật gắn bó với nơi sinh sống của ngƣời Sán Dìu. Ví dụ nhƣ lý giải tiếng
hót của những con chim gắn liền với khung cảnh rừng núi nơi ngƣời Sán Dìu