Tải bản đầy đủ (.pdf) (103 trang)

Biểu tượng trong truyện ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (916.14 KB, 103 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

ĐINH CÔNG THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
VÀ YASUNARI KAWABATA

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Phú Thọ, tháng 12 năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

UBND TỈNH PHÚ THỌ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

ĐINH CÔNG THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

BIỂU TƯỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO
VÀ YASUNARI KAWABATA


Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8 22 01 20

Người hướng dẫn: 1.TS. Vũ Minh Đức
2.GS.TS. Lê Huy Bắc

Phú Thọ, tháng 12 năm 2020


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nam
Cao và Yasunari Kawabata” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tơi. Các số liệu nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực
và đƣợc đúc rút trong quá trình tơi tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu khoa học
và tác phẩm của hai nhà văn. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã đƣợc thực
hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định. Luận văn hồn
tồn đảm bảo tính khách quan, trung thực và khoa học.

Học viên

Đinh Công Thiện


ii
LỜI CẢM ƠN

Đƣợc sự phân công của quý thầy cô khoa Ngữ văn, trƣờng Đại học Hùng

Vƣơng, sau gần sáu tháng thực hiện, tơi đã hồn thành luận văn thạc sĩ với đề
tài “Biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata”.
Để thực hiện đƣợc quá trình nghiên cứu và hồn thiện luận văn này, lời đầu
tiên tơi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS.Vũ Minh Đức và
GS.TS. Lê Huy Bắc đã trực tiếp chỉ bảo và hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện. Mặc dù bận rộn với cơng việc nghiên cứu và giảng dạy ở khoa
nhƣng thầy đã rất tận tình chỉ bảo, định hƣớng cho tơi để tơi hồn thành tốt
luận văn này. Ngồi ra tơi cũng xin chân thành cảm ơn thầy cô khoa Ngữ văn,
trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn
để tơi hồn thiện một cách tốt nhất có thể.
Nhân dịp này, tơi cũng xin cảm ơn tập thể các nhà giáo đang công tác tại
trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời
gian tôi nghiên cứu luận văn này. Tuy nhiên vì kiến thức chun mơn cịn hạn
chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu nên nội
dung của luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tơi rất mong nhận đƣợc
sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để luận văn này đƣợc hồn thiện hơn.
Cuối cùng, tơi xin cảm ơn gia đình, những ngƣời thân, bạn bè đã luôn
bên tôi, động viên tơi hồn thành luận văn này.
Trân trọng cảm ơn!
Học viên

Đinh Công Thiện


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.1. Lý do chọn đề tài ....................................................................................... 1
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................... 3
1.2.1. Biểu tƣợng và nghiên cứu về biểu tƣợng trong văn học so sánh.........................3
1.2.2. Những nghiên cứu về biểu tƣợng trong truyện ngắn Nam Cao ..........................5
1.2.3. Những nghiên cứu về biểu tƣợng trong truyện ngắn Yasunari Kawabata .........6
1.2.4. Nghiên cứu về biểu tƣợng trong truyện ngắn Nam Cao và Yasunari Kawabata8
1.3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 9
1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 9
1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 9
1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................... 10
1.6.1. Phƣơng pháp kí hiệu học .......................................................................................10
1.6.2. Phƣơng pháp thống kê ...........................................................................................10
1.6.3. Phƣơng pháp loại hình ...........................................................................................10
1.6.4. Phƣơng pháp so sánh .............................................................................................10
1.6.5. Phƣơng pháp phân tích tác phẩm theo đặc trƣng thể loại ..................................11
1.7. Kết cấu của luận văn ............................................................................... 11
Chƣơng 1. BIỂU TƢỢNG “CON ĐƢỜNG” ................................................ 12
1.1. Con đƣờng trong truyện ngắn Nam Cao ................................................. 15
1.1.1. Con đƣờng – biểu tƣợng cho không gian nông thôn trƣớc cách mạng ........16
1.1.2. Con đƣờng – biểu tƣợng cho q trình tha hóa ...................................................19
1.2. Con đƣờng trong truyện ngắn Yasunari Kawabata ................................. 24
1.2.1. Con đƣờng – biểu tƣợng cho cuộc đời.................................................................25
1.2.2. Con đƣờng – biểu tƣợng cho hành trình tìm kiếm tình yêu ...............................31


iv
1.3. Những tƣơng đồng và khác biệt từ biểu tƣợng con đƣờng trong truyện
ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata .................................................... 36
1.3.1. Nét tƣơng đồng .......................................................................................................36

1.3.2. Điểm khác biệt........................................................................................................37
1.3.3. Nguyên nhân...........................................................................................................38
Chƣơng 2. BIỂU TƢỢNG “DỊNG SƠNG” ................................................. 43
2.1. Biểu tƣợng dịng sơng trong truyện ngắn Nam Cao ............................... 44
2.1.1. Dịng sông – biểu tƣợng cho vẻ đẹp làng quê Việt Nam ...................................44
2.1.2. Dịng sơng - biểu tƣợng cho những đau khổ của cuộc đời ................................48
2.2. Biểu tƣợng dịng sơng trong truyện ngắn của Yasunari Kawabata ........ 51
2.2.1. Dịng sơng – biểu tƣợng cho cái đẹp của thiên nhiên, con ngƣời Nhật Bản ....52
2.2.2. Dịng sơng – biểu tƣợng cho số phận con ngƣời trong cuộc đời.......................54
2.3. Những tƣơng đồng và khác biệt từ biểu tƣợng dịng sơng trong truyện
ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata .................................................... 57
2.3.1. Nét tƣơng đồng .......................................................................................................57
2.3.2. Điểm khác biệt........................................................................................................58
2.4. Nguyên nhân ..............................................................................................................59
Chƣơng 3. BIỂU TƢỢNG “CON NGƢỜI” .................................................. 62
3.1. Biểu tƣợng con ngƣời trong truyện ngắn Nam Cao ................................ 63
3.1.1. Con ngƣời tha hóa – biểu tƣợng cho sự xuống cấp của xã hội..........................65
3.1.2. Con ngƣời khơng tha hóa – biểu tƣợng cho niềm tin, hi vọng ..........................70
3.2. Biểu tƣợng con ngƣời trong truyện ngắn của Yasunari Kawabata ......... 73
3.2.1. Con ngƣời – biểu tƣợng cho ngƣời lữ khách đi tìm cái đẹp...............................74
3.2.2. Con ngƣời - biểu tƣợng cho cái đẹp .....................................................................77
3.3. Những tƣơng đồng và khác biệt từ biểu tƣợng con ngƣời trong truyện
ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata .................................................... 85
3.3.1. Điểm tƣơng đồng ...................................................................................................85
3.3.2. Điểm khác biệt........................................................................................................85


v
3.3.3. Nguyên nhân...........................................................................................................86
KẾT LUẬN .................................................................................................... 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 93


1

MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.1.1. Tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của nhà văn, là một chỉnh thể
thống nhất giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, trong đó hình tƣợng nghệ
thuật chính là “tế bào” làm nên sự sống còn của mỗi tác phẩm. Thế giới hình
tƣợng trong mỗi tác phẩm vơ cùng phong phú và giàu ý nghĩa. Và để tác phẩm
ấy đạt đến độ “chân-thiện-mĩ” thì tất yếu, các hình tƣợng nghệ thuật kia phải trở
thành những biểu tƣợng. Từ hình tƣợng đến biểu tƣợng là quá trình nhà văn thổi
hồn vào chúng, chắp cho chúng đơi cánh của tƣ tƣởng, tình cảm; khiến chúng
khơng cịn “đơn thuần” nhƣ chúng vốn tồn tại trong cuộc sống mà bay bổng, cao
vời. Biểu tƣợng trở thành một một phần không thể thiếu trong mỗi tác phẩm
nghệ thuật chân chính. Nghiên cứu một tác phẩm văn học, suy cho cùng là việc
tìm hiểu hệ thống các biểu tƣợng, để rồi từ đó phác họa ra đƣợc bức tranh xã hội,
nhận ra đƣợc thông điệp, thấu hiểu đƣợc tƣ tƣởng mà nhà văn gửi gắm trong đó.
Khơng chỉ vậy, những biểu tƣợng văn học cịn có mối liên hệ mật thiếu với nền
văn hóa, văn học của từng quốc gia, khu vực. Vì thế, trong những năm gần đây,
nghiên cứu văn học thông qua hệ thống biểu tƣợng là một xu thế tất yếu.
1.1.2. Trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Nam Cao đƣợc coi là một cái tên
không thể không nhắc đến. Bạn đọc và các nhà phê bình thƣờng dành những mĩ
từ để khẳng định vị trí của ơng trên văn đàn nhƣ: “nhà văn hiện thực xuất sắc”
(Hà Minh Đức), “ngƣời kết thúc vẻ vang trào lƣu văn học hiện thực” (Phong
Lê),… Nếu Nguyễn Công Hoan đƣợc mệnh danh là “bậc thầy về truyện ngắn
châm biếm”, Nguyễn Tuân đƣợc mệnh danh là “bậc thầy của tùy bút” thì Nam
Cao cũng là một “bậc thầy về truyện ngắn hiện thực”. Bằng tất cả vốn sống, vốn
kiến thức về cuộc đời, dùng cặp mắt tinh nhạy của một ngƣời từng trải để đặt

mình vào nhân vật, hóa thân vào từng mảnh đời, sống cuộc đời của họ. Vì thế,
các nhân vật của Nam Cao nhƣ đi từ cuộc đời vào trong những trang viết. Đọc
các tác phẩm của Nam Cao, ngƣời đọc đƣợc trải qua vô vàn những cung bậc cảm
xúc, đi từ ngỡ ngàng đến xúc động, từ nụ cƣời đến những giọt nƣớc mắt, từ sự
phẫn nộ đến cảm giác đau đớn nhƣ bóp nghẹt vào tim. Đó khơng chỉ là tài năng


2
của một ngòi bút tuyệt vời mà còn là cái tâm cao cả của một ngƣời nghệ sĩ luôn
đau đáu với đời. Ơng khơng chỉ đem đến cho nền văn học nƣớc nhà những quan
niệm mới mẻ về con ngƣời, cuộc đời; những cái nhìn mang tính phát hiện về thế
giới tâm lý con ngƣời mà còn cả những cách tân độc đáo, sáng tạo về nghệ thuật.
Nam Cao đã đƣa văn học sang một ngã rẽ mới, một bƣớc ngoặt quan trọng trong
lịch sử văn xuôi Việt Nam hiện đại. Với một vị trí then chốt trong nền văn học
Việt Nam hiện đại, Nam Cao cùng các tác phẩm của ông trở thành một đề tài
quen thuộc, một mảnh đất màu mỡ cho giới nghiên cứu, phê bình văn học. Các
đề tài thƣờng xoay quanh thế giới nhân vật trong tác phẩm của Nam Cao, bút
pháp tự sự, phong cách nghệ thuật cùng một vài đề tài tiêu biểu trong sự nghiệp
của ơng. Những điều đó thực sự đã làm nên tên tuổi và chất riêng mang tên Nam
Cao. Tuy nhiên, sức hấp dẫn của văn chƣơng Nam Cao khơng dừng lại ở đó.
Mỗi trang văn của ơng ln đem đến cho ngƣời đọc cảm giác chân thật nhƣ đƣợc
chứng kiến ngƣời thật, việc thật của cuộc đời. Nhƣng sau khi gấp lại mỗi trang
văn ấy, ngƣời đọc lại không ngừng suy ngẫm. Từ những câu chuyện hàng ngày
của cuộc đời, từ những con đƣờng, dịng sơng, ngơi nhà, mảnh vƣờn,… Nam
Cao đã tạo thành một thế giới biểu tƣợng đầy ẩn ý, khiến ngƣời đọc phải băn
khoăn, trăn trở. Giải mã biểu tƣợng trong truyện ngắn Nam Cao là một cách thức
tiếp cận thế giới nghệ thuật phong phú của nhà văn này.
1.1.3. Nhật Bản – xứ sở hoa anh đào, đất nƣớc của những con ngƣời giàu ý
chí, nghị lực và tính kỷ luật cao, nơi có nền văn học độc đáo vào hàng bậc nhất
trên thế giới. Nhắc đến văn học Nhật Bản, độc giả không chỉ nhớ đến lối thơ

Hai-cƣ, nhớ đến thơ Waka mà còn nhớ đến hàng loạt tên tuổi nổi tiếng, trong số
đó khơng thể khơng kể đến Yasunari Kawabata. Ơng là nhà văn Nhật Bản đầu
tiên, là ngƣời châu Á thứ ba đạt giải Nobel Văn học danh giá. Qua thời gian, các
sáng tác của ông vẫn luôn đem lại hấp lực mạnh mẽ đối với nhiều nhà phƣơng
Đông học trên khắp các châu lục, có sức lơi cuốn rộng rãi độc giả trên thế giới.
Với những ai say mê nền văn học Nhật Bản nói riêng và bạn đọc yêu văn
chƣơng nói chung khơng thể bỏ qua các tác phẩm của Kawabata. Những tiểu
thuyết nổi tiếng của ông nhƣ: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Đẹp
và buồn,… trở thành những cuốn sách đƣợc bạn đọc săn lùng nhiều nhất. Bởi


3
vậy, giới nghiên cứu cũng tập trung vào các tiểu thuyết này của Kawabata. Tuy
nhiên, sự nghiệp của ông không chỉ có thể, Kawabata cịn mảng truyện ngắn vơ
cùng độc đáo. Với lối viết truyện ngắn riêng biệt, đặc biệt là Những truyện trong
lịng bàn tay của ơng đã tạo thành một trào lƣu sáng tác, mang đến một cách viết
truyện mới lạ: cô đọng, hàm súc, ngắn gọn nhƣng giá trị nội dung, tƣ tƣởng thì
khơng thua kém bất cứ một tác phẩm truyện dài hay tiểu thuyết nào. Đọc các
truyện ngắn của Yasunari Kawabata, ngƣời đọc cảm nhận đƣợc sự tinh tế của
tâm hồn Nhật Bản, nét văn hóa Nhật in dấu trong từng hình ảnh, biểu tƣợng nghệ
thuật. Chính những biểu tƣợng ấy trở thành một viên nam châm thu hút ngƣời
đọc, khiến ngƣời đọc phải tò mò, khám phá về chúng. Thế giới biểu tƣợng trong
truyện ngắn của Kawabata là một vấn đề mà ngƣời viết đặc biệt quan tâm, chú ý.
Nhƣ vậy, truyện ngắn của Nam Cao và Kawabata vẫn còn bỏ ngỏ ở một số
phạm vi. Đặc biệt là nghiên cứu dƣới cái nhìn so sánh. Đây thực sự là một thiếu
sót trong việc nghiên cứu về hai nhà văn này. Hơn nữa, văn học Việt Nam và
văn học Nhật Bản đều nằm chung trong khu vực châu Á, có nhiều điểm gần gũi
với nhau. Nhận thấy đƣợc những đóng góp to lớn, vị trí trong nền văn học cũng
nhƣ sự tƣơng đồng trong hệ thống biểu tƣợng giữa hai nhà văn lớn: Nam Cao và
Yasunari Kawabata, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Biểu tượng trong truyện

ngắn Nam Cao và Yasunari Kawabata. Với đề tài này, luận văn hƣớng tới việc
nghiên cứu biểu tƣợng trong sự so sánh giữa hai tác giả mà rộng hơn là so sánh
giữa hai nền văn học. Để từ đó, ngƣời viết giúp làm rõ những nét tƣơng đồng
cũng nhƣ những điểm khác biệt trong hai nền văn hóa Việt Nam – Nhật Bản.

1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Biểu tượng và nghiên cứu về biểu tượng trong văn học so sánh
Nghiên cứu biểu tƣợng là một khoa học liên ngành phổ biến trên thế giới
với nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau. Bộ môn khoa học nghiên cứu này đã đƣợc
du nhập vào Việt Nam từ hơn 100 năm qua theo hƣớng tiếp cận hàn lâm của
phƣơng Tây. Tuy du nhập vào từ lâu nhƣng cho đến thời điểm hiện nay, các
nghiên cứu trên bình diện văn bản học đã đạt đƣợc khá nhiều thành tựu, trong
khi nghiên cứu biểu tƣợng thì dƣờng nhƣ vẫn cịn q ít ỏi cả về số lƣợng và


4
chất lƣợng. Đây vẫn đang là một miền đất còn xa lạ, hoang sơ, ít đƣợc đào xới
với số lƣợng các cơng trình nghiên cứu chỉ đếm đƣợc trên đầu ngón tay. Thậm
chí trong số những nghiên cứu ít ỏi đó, chƣa một cơng trình nào thực sự “đặt nền
móng” cho một bộ mơn khoa học có tên gọi nghiên cứu biểu tƣợng. Cơng trình
nghiên cứu biểu tƣợng đáng kể nhất là Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp
cận lý thuyết của Đinh Hồng Hải (NXB Thế giới, Hà Nội, 2014). Cuốn sách đã
đem đến một cái nhìn mang tầm bao quát, toàn diện về hƣớng nghiên cứu biểu
tƣợng trong bối cảnh nền văn học đƣơng đại.Tiếp nối công trình đó, nhiều luận
văn, luận án nghiên cứu về thế giới biểu tƣợng trong các sáng tác của các nhà
văn ra đời nhƣ: Biểu tượng con đường trong truyện ngắn Lỗ Tấn (năm 2013), Hệ
thống biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (năm 2017),…
Văn học so sánh là một hƣớng nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam từ cuối
những năm 80 của thế kỉ XX. Các nhà nghiên cứu, phê bình ln sử dụng
phƣơng pháp này nhƣ là một con đƣờng tiên quyết để đi vào khám phá tác phẩm.

Chỉ có đặt lên bàn cân so sánh tác phẩm này với tác phẩm kia, nhà văn này với
nhà văn kia và rộng hơn là nền văn học này với nền văn học kia thì mới có thể
đánh giá đƣợc giá trị của từng bên. Nhờ so sánh mà giới phê bình đã có những
nhận định xác đáng, thuyết phục về giá trị của tác phẩm cũng nhƣ tài năng và sự
cống hiến của từng tác giả đối với nền văn học. Cũng nhờ so sánh mà bạn đọc
thấy đƣợc sự tƣơng đồng, điểm gặp gỡ giữa các nền văn hóa, văn học giữa các
quốc gia trong từng khu vực. Từ đó thấy đƣợc sự ảnh hƣởng qua lại, sự chi phối
của những quốc gia đƣợc coi là cái nôi văn hóa trên thế giới. Việc nghiên cứu về
biểu tƣợng trong văn học so sánh bƣớc đầu ghi nhận một số cơng trình có giá trị
nhƣ: hệ thống truyện cổ viết về Hòn vọng phu trong văn học dân gian Việt Nam,
Hàn Quốc, và các nƣớc khác ở châu Á nhƣ Nhật, Trung Quốc trong Hình tượng
Hịn vọng phu trong truyện cổ Việt Nam và Hàn Quốc của Đinh Thị Khang, Kiểu
truyện Vọng phu ở châu Á và Việt Nam của Nguyễn Việt Hùng, so sánh biểu
tƣợng Mặt trời lặn và mọc trong Thần thoại Mặt Trời của Việt Nam, Trung Quốc
và Nhật Bản của Trần Lê Bảo,…
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chƣa thể khảo sát hết các cơng trình


5
nghiên cứu trong lĩnh vực này, tuy nhiên, vẫn có thể thấy, việc nghiên cứu biểu
tƣợng cũng nhƣ so sánh biểu tƣợng văn học đã đƣợc quan tâm ở nhiều khía cạnh.
Đó chính là những thành tựu mà thế hệ sau đƣợc kế thừa.

1.2.2. Những nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn Nam Cao
Truyện ngắn Nam Cao là một mảnh đất màu mỡ cho các nhà nghiên cứu,
phê bình tìm đến. Đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn của ông
nhƣ: cuốn sách Nam Cao tác phẩm và lời bình của NXB Văn học 2011 đã tổng
hợp những bài bình luận hay, đặc sắc về các tác phẩm của Nam Cao. Cuốn sách
Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn do Nguyễn Đăng Mạnh
nghiên cứu, tổng hợp với nhiều bài viết giá trị, trong đó phải kể đến 3 bài viết

xuất sắc về Nam Cao: Nhớ Nam Cao và những bài học của ông; Cái đói và
miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao; Đọc lại truyện ngắn Đôi mắt của Nam
Cao. Tác giả Hà Minh Đức trong cuốn Tuyển tập Nam Cao cũng có những lời
nhận định xác đáng về nhân vật trong truyện của Nam Cao nhƣ sau: “nhiều nhân
vật trong Nam Cao đã bị cuộc đời làm biến chất. Cuộc sống của họ là những
tiếng kêu cho tình trạng cấp cứu của xã hội…Nhân vật của Nam Cao có ý thức
chống lại mọi trạng thái tha hóa, làm sai lạc bản chất của mình, phải biết giữ lại
nhân cách, một nhân cách tốt nhất giữa cảnh sống tầm thƣờng nhỏ nhặt”[43,22].
Chính nhận định này là cơ sở để ngƣời viết tìm hiểu biểu tƣợng con ngƣời trong
truyện ngắn Nam Cao.
Bên cạnh những cuốn sách của các nhà nghiên cứu phê bình văn học, còn
nhiều luận văn, luận án đi sâu nghiên cứu về Nam Cao. Tiêu biểu nhƣ: luận án
Thi pháp truyện ngắn Nam Cao của tác giả Nguyễn Hoa Bằng, luận văn Con
người tha hóa trong truyện ngắn của Nam Cao trước 1945, Nghệ thuật tự sự
trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Ngoại hình
nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao,… Cùng nhiều công trình khác nữa.
Nhƣ vậy, qua việc tìm hiểu các cơng trình nghiên cứu về Nam Cao đã có ở
trên, ngƣời viết nhận thấy các nhà nghiên cứu đã có đóng góp đáng kể trong việc
khảo sát, tìm hiểu, đánh giá các tác phẩm của Nam Cao trong suốt nhiều thập kỷ
qua. Mỗi cuốn sách, mỗi luận văn, mỗi bài viết là một thành quả to lớn cung cấp


6
cho ngƣời đọc những kiến thức bổ ích về Nam Cao và sáng tác của ông. Đây là
nền tảng để ngƣời viết căn cứ vào đó nghiền ngẫm, phát hiện thêm những điều
còn đang bỏ ngỏ trong cách tiếp cận truyện ngắn của Nam Cao.

1.2.3. Những nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn Yasunari
Kawabata
Cái tên Yasunari Kawabata gắn liền với danh xƣng tiểu thuyết gia nhiều

hơn là truyện ngắn.Vì thế, các cơng trình nghiên cứu phần nhiều đều ƣu ái hơn
đến thể loại này. Nhiều luận văn nhƣ: Biểu tượng trong bộ ba tác phẩm Xứ tuyết,
Ngàn cánh hạc, Cố đô của Yasunari Kawabata của Phạm Thị Khánh Liêm, Thế
giới biểu tượng trong tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của Yasunari Kawabata luận
văn tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Cẩm Nhƣờng, Một số biểu tượng trong tiểu
thuyết Cố đô của Yasunari Kawabata – luận văn tốt nghiệp của Nguyễn Thanh
Vũ, bài tiểu luận Bộ ba biểu tượng tuyết – gương – kimono trong tác phẩm xứ
tuyết của Yasunari Kawabata của trƣờng Đại học sƣ phạm TP Hồ Chí Minh năm
2017,…
Đáng chú ý, tác giả Hà Văn Lƣỡng (Đại học khoa học Huế) trong bài viết
tạp chí số 5 năm 2007 với nhan đề Đặc điểm truyện ngắn của Yasunari
Kawabata – nhìn từ góc độ thi pháp học đã khẳng định: “Truyện ngắn của ơng là
những mảng màu thạch bích mà mỗi lần đọc ta phát hiện thêm những vẻ đẹp của
nó”[32]. Quả đúng nhƣ vậy, vẻ đẹp của những mảng màu thạch bích trong
truyện ngắn của Kawabata phải càng đọc kĩ, càng nghiền ngẫm thì mới phát hiện
ra đƣợc. Ý nghĩa ẩn sâu của mỗi truyện ngắn ấy hẳn phải đƣợc tạo nên từ hệ
thống các biểu tƣợng nghệ thuật. Chính việc xây dựng các biểu tƣợng đã giúp
cho truyện ngắn của Kawabata lấp lánh nhiều tầng nghĩa, thu hút ngƣời đọc
khám phá, phát hiện vẻ đẹp ẩn sâu bên trong nó.
Có thể khẳng định rằng: có nhiều cơng trình nghiên cứu chung về cuộc đời
và sáng tác của Kawabata. Trong phạm vi thu thập đƣợc ở Việt Nam, tơi xin kể
đến một vài cơng trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ sau: Bài viết Kawabata - người
cứu rỗi cái đẹp in trên tạp chí Văn năm 1991 của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu.
Tác giả Đào Thị Thu Hằng với nhiều bài viết chất lƣợng nhƣ: Yasunari giữa


7
dịng chảy Đơng –Tây (đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 7, năm 2005);
chuyên luận Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata, bài viết Truyện ngắn
trong lòng bàn tay – cái nhìn thẩm mỹ trong suốt,…

Năm 2003, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Kawabata, một hội thảo
Khoa học mang tên ông đƣợc tổ chức tại Hà Nội. Tại hội thảo, nhiều tác giả say
mê văn học Nhật Bản và các tác phẩm của Kawabata đã có những bài viết giá trị,
đáng kể nhƣ: tác giả Hoàng Long với tham luận Đặc điểm thi pháp truyện trong
lòng bàn tay của Yasunari Kawabata, bài viết Chưởng chi tiểu thuyết của Y.
Kawabata–Thể loại tự sự độc đáo của tác giả Nguyễn Thị Mai Liên sau đƣợc
tuyển chọn và in trong cuốn Tự sự học (Phần 2), Trần Đình Sử chủ biên, Nxb
Đại học sƣ phạm (2008).
Năm 2010, Hội thảo quốc tế Q trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản và
các nƣớc khu vực văn hóa chữ Hán trong đó có Việt Nam đƣợc tổ chức tại
trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh
đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu phê bình với nhiều bài tham luận giá trị. Tại hội
thảo, các tác giả đã so sánh, đối chiếu và chỉ ra sự tƣơng đồng cũng nhƣ tầm ảnh
hƣởng của nền văn học châu Á đến các quốc gia trong khu vực. Có thể kể đến
các bài tham luận tạo đƣợc sự đồng tình, ủng hộ của hội thảo nhƣ: Kawabata
trong tiến trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản của tác giả Trần Thị Tố Loan,
Một số ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây hiện đại trong sáng tác của
Yasunari Kawabata của tác giả Hà Văn Lƣỡng. Bài viết Đặc điểm truyện ngắn
trong lòng bàn tay của thầy Lƣu Đức Trung in trong nội san Haiku Việt (năm
2010)…
Qua những mảng tài liệu trên, chúng tôi nhận thấy các bài viết đều đánh giá
cao truyện ngắn của Kawabata, đặc biệt đến những Truyện trong lòng bàn tay.
Tuy vậy, ngƣời viết nhìn thấy đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các tác giả đến
nghệ thuật viết truyện của Kawabata chứ chƣa đề cập nhiều đến các biểu tƣợng.
Trên cơ sở tiếp thu thành quả của những ngƣời đi trƣớc, chúng tôi mạnh dạn
nghiên cứu những biểu tƣợng trong truyện ngắn của Yasunari Kawabata với
mong muốn góp phần làm đầy đủ, phong phú hơn vào kho tƣ liệu nghiên cứu về


8

ngƣời lữ khách mn đời đi tìm cái Đẹp Kawabata.

1.2.4. Nghiên cứu về biểu tượng trong truyện ngắn Nam Cao và Yasunari
Kawabata
Theo sự tìm hiểu hạn chế của ngƣời viết, việc nghiên cứu về biểu tƣợng
trong truyện ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata đến nay chƣa có bất cứ
cơng trình nghiên cứu nào. Khi đối sánh văn học Việt Nam và văn học Nhật Bản,
cụ thể ở trƣờng hợp của nhà văn Nam Cao thì đến thời điểm hiện nay mới chỉ có
cơng trình So sánh nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Nam Cao (Việt Nam) và
Ruinoxke Akutagawa (Nhật Bản). Bởi lẽ, Nam Cao và Ruinoxke Akutagawa đều
là những nhà văn hiện thực, vì thế bút pháp nghệ thuật của 2 nhà văn này có
nhiều điểm tƣơng đồng, gặp gỡ. Thế nhƣng với Nam Cao và Yasunari Kawabata
thì hoàn toàn trái ngƣợc về xu hƣớng thẩm mĩ. Trong khi Nam Cao chủ trƣơng
đi theo dòng văn học hiện thực phê phán, dùng văn chƣơng để lên án, tố cáo xã
hội, cảm thông với số phận của con ngƣời thì Kawabata lại thiên hƣớng theo
dịng văn học duy mĩ, dùng tác phẩm của mình để bộc bạch quan niệm về cái
Đẹp, hành trình đi tìm cái Đẹp của nhà văn. Vì thế, sự gặp gỡ của 2 nhà văn này
sẽ nằm ở thế giới biểu tƣợng nghệ thuật và giá trị tƣ tƣởng, nhân văn sâu sắc.
Nhƣ vậy, qua những trình bày của tơi ở trên về tình hình nghiên cứu biểu
tƣợng, so sánh biểu tƣợng cũng nhƣ nghiên cứu các biểu tƣợng trong truyện
ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata, tôi xin đƣa ra một số nhận định sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu về biểu tƣợng đang trở thành một vấn đề nổi bật
nghiên cứu của văn học.Tuy nhiên, việc nghiên cứu biểu tƣợng trong tƣơng quan
so sánh giữa hai tác giả của văn học hiện đại còn hạn chế, chƣa có nhiều.
Thứ hai, việc nghiên cứu biểu tƣợng trong truyện ngắn của hai tác giả Nam
Cao và Yasunari Kawabata cũng chƣa đƣợc giới phê bình quan tâm nhiều. Cho
đến thời điểm hiện nay, chƣa có một cơng trình nghiên cứu chun sâu, cơng
phu nào về biểu tƣợng trong truyện ngắn của hai nhà văn này.
Thứ ba, mảng truyện ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata là một
phần vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của hai nhà văn. Thế nhƣng

khi nghiên cứu, các tác giả lại chủ yếu chú ý đến những tác phẩm thuộc thể loại


9
tiểu thuyết. Do vậy, việc thiên vị thể loại này dễ khiến ngƣời đọc có cái nhìn
chƣa tồn diện về hai nhà văn.
Thứ tƣ, việc in ấn, xuất bản các truyện ngắn của Yasunari Kawabata đến
nay vẫn còn hạn chế. Tuyển tập truyện ngắn và Truyện trong lòng bàn tay của
Yasunari Kawabata chƣa đƣợc phổ biến, các sách in từ trƣớc đó khá lâu mà chƣa
tái bản. Trong khi đó, tiểu thuyết của Yasunari Kawabata đƣợc in ấn, xuất bản
rất nhiều trên thị trƣờng. Điều này vơ tình khiến cho các truyện ngắn của
Yasunari Kawabata ít có điều kiện tiếp xúc với độc giả.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu vấn đề nhƣ trên, trong điều kiện tƣ liệu
và khả năng cho phép, tôi nghiên cứu luận văn này với mục tiêu là tìm hiểu về
những biểu tƣợng trong truyện ngắn Nam Cao và Yasunari Kawabata, từ đó so
sánh, lý giải điểm tƣơng đồng, sự khác biệt trong cách xây dựng biểu tƣợng của
hai nhà văn.
Luận văn này của tôi cũng tạo tiền đề cho các nghiên cứu so sánh sau này
giữa văn học Việt Nam và văn học Nhật Bản.

1.4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những biểu tƣợng tiêu biểu, có sự
tƣơng đồng, gần gũi trong truyện ngắn Nam Cao và Yasunari Kawabata.
 Phạm vi nghiên cứu và khảo sát của luận văn là:
+ Cuốn Tuyển tập Nam Cao (NXB Văn học – năm 2002)
+ Cuốn Yasunari Kawabata – tuyển tập tác phẩm (NXB Lao động – năm
2005)


1.5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu trên, ngƣời viết cần làm những nhiệm vụ sau:
 Thống kê, phân loại các biểu tƣợng và những biến thể của các biểu
tƣợng (con đƣờng, dịng sơng, con ngƣời) trong truyện ngắn của Nam Cao và
Yasunari Kawabata.
 Tìm hiểu ý nghĩa của từng biểu tƣợng đƣợc 2 nhà văn xây dựng.


10
 So sánh, lý giải sự tƣơng đồng, khác biệt trong cách sử dụng biểu tƣợng
của hai nhà văn.

1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.6.1. Phương pháp kí hiệu học
Xuất phát từ đối tƣợng nghiên cứu trực tiếp của luận văn là hệ thống các
biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nam Cao và Yasunari Kawabata. Chúng tơi sử
dụng phƣơng pháp kí hiệu học nhằm truy tìm cái biểu đạt (hình thức biểu tƣợng)
và cái được biểu đạt (ý nghĩa biểu tƣợng) từ hệ thống biểu tƣợng trong tác phẩm
của hai tác giả. Bởi vậy, đây là một phƣơng pháp chủ đạo, hữu hiệu trong việc
nghiên cứu đề tài luận văn này.

1.6.2. Phương pháp thống kê
Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu, khảo sát của luận văn là các tác phẩm
thuộc thể loại truyện ngắn của hai nhà văn Nam Cao và Yasunari Kawabata. Đây
là hai nhà văn lớn, có sự nghiệp sáng tác đồ sộ, phong phú, số lƣợng tác phẩm
không hề nhỏ. Vì thế, trong quá trình nghiên cứu, ngƣời viết cần sử dụng
phƣơng pháp thống kê để chỉ rõ, phân loại các tác phẩm có cùng đề tài, biểu
tƣợng. Từ những số liệu cụ thể, chính xác đó, ngƣời viết sẽ có cơ sở, căn cứ để
đánh giá, phân tích ý nghĩa biểu tƣợng và lý giải sự tƣơng đồng, khác biệt giữa
hai nhà văn Nam Cao và Yasunari Kawabata.


1.6.3. Phương pháp loại hình
Phƣơng pháp loại hình học xem văn học nhƣ là một hiện tƣợng thế giới, là
những cộng đồng loại hình của từng giai đoạn lịch sử văn học. Vì thế, đây là cơ
sở để nghiên cứu những tác phẩm, tác giả văn học thuộc cùng một cộng đồng
loại hình trong giai đoạn văn học nhất định. Khi nghiên cứu đề tài này, ngƣời
viết để sử dụng phƣơng pháp loại hình để thấy đƣợc sự tƣơng đồng trong cách
miêu tả và ý nghĩa của các biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nam Cao và
Yasunari Kawabata.

1.6.4. Phương pháp so sánh
Mục đích cuối cùng của luận văn là chỉ ra điểm tƣơng đồng và khác biệt


11
trong hệ thống biểu tƣợng của Nam Cao và Yasunari Kawabata. Muốn đạt đƣợc
mục đích đó, tất yếu luận văn phải sử dụng phƣơng pháp so sánh. Với phƣơng
pháp này, ngƣời viết tập trung đi tìm những phƣơng diện, tiêu chí để so sánh
(cách miêu tả, cách dùng từ, đặt câu, ý nghĩa của từng biểu tƣợng). Bằng phƣơng
pháp so sánh, ngƣời viết đã thấy đƣợc những điểm giống nhau và khác nhau giữa
hai nhà văn. Từ đó mà so sánh hai nền văn hóa, văn học Việt Nam và Nhật Bản.

1.6.5. Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Mỗi thể loại văn học có một đặc trƣng riêng, những đặc điểm về thể loại chi
phối đề tài, chủ đề, tƣ tƣởng, cảm hứng nghệ thuật cũng nhƣ kết cấu, ngơn ngữ
của từng nhà văn. Vì thế, khi nghiên cứu đề tài này, ngƣời viết đã vận dụng
phƣơng pháp phân tích tác phẩm theo đặc trƣng thể loại để tìm hiểu các yếu tố
cốt lõi của thể loại truyện ngắn nhƣ: cốt truyện, nhân vật, sự việc, chi tiết, tình
huống truyện,… Những yếu tố này góp phần giúp ngƣời viết phát hiện ra nét
riêng của mỗi nhà văn trong việc xây dựng hệ thống biểu tƣợng.

Ngoài những phƣơng pháp cơ bản trên, luận văn của tơi cịn sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu bổ trợ nhƣ: phƣơng pháp tiểu sử, phƣơng pháp liên
ngành,…

1.7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thƣ mục tài liệu tham khảo, luận văn bao
gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Biểu tƣợng con đƣờng
Chƣơng 2: Biểu tƣợng dịng sơng
Chƣơng 3: Biểu tƣợng con ngƣời


12
Chương 1
BIỂU TƢỢNG “CON ĐƢỜNG”

Biểu tƣợng là một khái niệm khơng cịn xa lạ với giới nghiên cứu văn học
nói chung và bạn đọc yêu văn chƣơng nói riêng. Với mỗi tác phẩm, biểu tƣợng
là sự nâng cấp của hình tƣợng nghệ thuật, là hạt nhân quan trọng tạo nên tầm tƣ
tƣởng của mỗi thiên truyện. Với nền văn hóa dân tộc, biểu tƣợng là gƣơng mặt
tinh thần, là tấm gƣơng mà thơng qua đó ngƣời đọc thấu hiểu đƣợc nét đẹp văn
hóa của từng dân tộc. Biểu tƣợng đặc trƣng cho nền văn minh, tôn giáo của mỗi
quốc gia, dân tộc trên thế giới. Tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn “150 từ điển
thuật ngữ văn học” đã định nghĩa: Trong nghĩa rộng, biểu tƣợng thể hiện “đặc
trƣng phản ánh cuộc sống bằng hình tƣợng văn học nghệ thuật”. Theo nghĩa hẹp,
biểu tƣợng là “một phƣơng thức chuyển mã của lời nói đặt bên cạnh ẩn dụ, hốn
dụ hoặc là một loại hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng truyền cảm lớn,
vừa khái quát đƣợc bản chất của một hiện tƣợng nào đấy, vừa thể hiện một quan
niệm, một tƣ tƣởng hay một triết lý sâu xa về con ngƣời và cuộc đời”[1,45]. Nhƣ
vậy, giá trị của biểu tƣợng vơ cùng lớn lao, đằng sau những hình tƣợng nghệ

thuật kia là hàng lớp giá trị tiềm ẩn ở bề sau, bề sâu, bề xa. Bởi thế, khi nghiên
cứu biểu tƣợng trong văn học là chúng ta đang từng lớp bóc tách các tầng nghĩa
của văn bản để từ đó khám phá những giá trị cội nguồn văn hóa của dân tộc, tìm
đến những giá trị đích thực mà tác phẩm đem lại.
Văn học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh gƣơng mặt của xã hội
thơng qua hệ thống hình tƣợng nghệ thuật đƣợc xây dựng từ chất liệu đăch biệt:
ngôn từ. Mang đặc trƣng của văn học nghệ thuật, biểu tƣợng trong tác phẩm bắt
nguồn từ đời sống nhƣng không phải là sự sao chép ngun xi, máy móc hình
ảnh của hiện thực mà là một sự phản ánh đầy năng động sáng tạo, đầy tính chủ
quan. Hiện thực mà văn học phản ánh khơng cịn là một hiện thực khách quan
mà là hiện thực thấm đẫm chủ quan của nghệ sĩ. Nhƣ vậy, tính biểu tƣợng là một
đặc trƣng mang tính bản chất của hình tƣợng nghệ thuật làm cho hình tƣợng vừa
quen lại vừa lạ, vừa khách quan lại vừa chủ quan. Mỗi một nhà văn lại sử dụng


13
những hình ảnh biểu tƣợng theo cách riêng mang ý đồ nghệ thuật riêng của
mình. Nó cụ thể hóa những ấn tƣợng của nhà văn về cuộc sống. Hình ảnh biểu
tƣợng trong văn học ngay từ khi mới xuất hiện đã mang tính ƣớc lệ sâu sắc tạo
nên một thế giới mang tính biểu tƣợng cao độ cho nên mỗi biểu tƣợng đƣợc chọn
không chỉ đơn thuần mang một mẫu gốc nữa mà nó sẽ sản sinh ra các biến thể
loại hình. Bằng ngơn từ nghệ thuật, biểu tƣợng khơng cịn giống nhƣ điểm xuất
phát ngun khởi của nó nữa mà mang một tấm áo mới đƣợc thêu dệt từ chất
liệu quen thuộc nhƣng phủ lớp sơn mới với nhiều màu sắc lung linh huyền ảo
khiến ngƣời đọc bị thu hút, say mê. Vì vậy, con đƣờng giải mã biểu tƣợng trong
tác phẩm văn học sẽ không đơn giản nhƣ đi tìm hiểu những hình tƣợng nghệ
thuật khác, con đƣờng ấy sẽ phải đi từ chính ngơn từ, kết cấu, các thủ pháp... để
tìm ra cái nhìn ẩn đằng sau những hình tƣợng có nguồn gốc từ biểu tƣợng.
Sự xuất hiện biểu tƣợng trong tác phẩm văn học là một tín hiệu để ngƣời
đọc nắm bắt đƣợc ý nghĩa của tác phẩm, đi vào mạch nguồn sáng tạo của ngƣời

nghệ sĩ, Mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ mà trong đó
những hình ảnh, biểu tƣợng, tƣợng trƣng là một hệ thống tín hiệu nhỏ nằm trong
chỉnh thể lớn ấy. Với tƣ cách là một hệ thống tín hiệu thẩm mỹ, biểu tƣợng là
một mắt xích quan trọng liên kết các tầng nội dung, tƣ tƣởng của tác phẩm để tạo
nên chỉnh thể thống nhất, tồn vẹn về nội dung và hình thức nghệ thuật. Tín hiệu
nghệ thuật ấy tạo cho tác phẩm tầng sâu giá trị để vừa khám phá ngƣời đọc vừa
nhận ra đƣợc vẻ đẹp phong phú của tác phẩm, vừa thấy đƣợc tài năng nghệ thuật
của ngƣời nghệ sĩ. Có những biểu tƣợng nhỏ nhƣng lại mang tầm tƣ tƣởng lớn,
thể hiện nhân cách lớn, tài năng lớn, biểu tƣợng con đƣờng là một trong số đó.
Biểu tƣợng con đƣờng cịn xuất hiện trở đi trở lại trong nhiều nền văn học,
của nhiều tác giả khác nhau ở mọi thời đại. Đây là hình ảnh quen thuộc của đời
sống hiện thực mang ý nghĩa là lối đi, đƣờng đi dẫn bƣớc chân của con ngƣời
đến nơi mà họ mong muốn. Đi trên đƣờng, con ngƣời phát hiện ra nhiều tầng
nghĩa ẩn sâu trong nó. Thứ nhất, con đƣờng chính là cuộc hành trình để tìm đến
cái đích cuối cùng của đời ngƣời, để đến với hạnh phúc, niềm vui, chân lý,…Tất
cả những điều tốt đẹp đó sẽ nằm ở cuối con đƣờng. Đi trên con đƣờng ấy, con


14
ngƣời sẽ mang tâm thế hăm hở, phấn khởi đầy hào hứng. Thế nhƣng nếu con
đƣờng chỉ toàn trải đầy hoa hồng nhƣ vậy thì nó đã khơng phải là cuộc đời. Con
đƣờng cịn mang nét nghĩa khác, đó có thể là hành trình đơn lẻ mà ở đó con
ngƣời tự bƣớc đi trên đơi chân của chính mình, nếm trải đủ mọi cung bậc tình
cảm, cảm xúc từ vui buồn đến đắng cay, từ nụ cƣời cho đến giọt nƣớc mắt.
Đƣờng đời với đầy chơng gai, khó khăn, thử thách và cả những cám dỗ trở thành
. Bởi vậy, con ngƣời thƣờng xuất hiện cùng với con đƣờng. Con đƣờng trở thành
nhân vật song hành, làm nền không gian và trở thành biểu tƣợng trong nhiều tác
phẩm.
Biểu tƣợng con đƣờng có rất nhiều dạng thức tồn tại. Có khi là con đƣờng
hiện thực đƣợc miêu tả một cách trực diện nhƣ hình ảnh con đƣờng làng trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam. Ông miêu tả: “Tối hết cả. con
đƣờng thăm thẳm ra sông, con đƣờng qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng
sẫm đen hơn nữa”. Một con đƣờng hun hút bị bao trùm bởi màn đêm đen tối
khiến ngƣời đọc ám ảnh. Bóng tối nhƣ một con quái vật đang nuốt chửng cả
không gian. Và phải chăng con đƣờng mà Thạch Lam miêu tả kia cũng giống
nhƣ xã hội Việt Nam trƣớc cách mạng tháng Tám: vừa đen tối vừa bế tắc.
Bên cạnh đó, con đƣờng cịn đƣợc miêu tả nhƣ một ranh giới vơ hình ngăn
cách hai miền khơng gian, hai thế giới. Tiêu biểu nhƣ hình ảnh con đƣờng mịn
trong truyện ngắn Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn. Con đƣờng mịn chính là “ranh
giới tự nhiên giữa nghĩa địa những ngƣời chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay
trái và nghĩa địa những ngƣời nghèo, ở về phía tay phải. Cả hai nơi, mộ dày khít,
lớp này, lớp khác nhƣ bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ”[46,63]. Con đƣờng
mòn khơng chỉ là ranh giới tự nhiên mà cịn là ranh giới vơ hình của lịng ngƣời,
của những định kiến xã hội. Đó là sự ngăn cách giữa quần chúng và những ngƣời
làm cách mạng. Hình ảnh con đƣờng mịn là một chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh
biểu trƣng cho sự u mê trong nhận thức của ngƣời dân Trung Hoa đầu thế kỉ XX.
Đồng thời thể hiện số phận đầy bi kịch của những ngƣời chiến sĩ cách mạng
gánh trên vai sự nghiệp cao cả nhƣng luôn bị coi thƣờng, xa lánh trong cái nhìn
ấu trĩ và xa lạ của quần chúng nhân dân.


15
1.1. Con đƣờng trong truyện ngắn Nam Cao
Qua khảo sát một số truyện ngắn tiêu biểu của Nam Cao trong cuốn Tuyển
tập Nam Cao – nhà xuất bản Văn học năm 2002, ngƣời viết nhận thấy đƣợc sự
xuất hiện khá dày đặc của biểu tƣợng con đƣờng và những biến thể của nó. Cụ
thể, con đƣờng xuất hiện ở các truyện ngắn: Nghèo, Đui mù, Cái chết của con
mực, Chí Phèo, Nhỏ nhen, Con mèo, Những chuyện không muốn viết, Giăng
sáng, Địn chồng, Đơi móng giị,…
Ở các truyện ngắn mà ngƣời viết khảo sát nhƣ trên, con đƣờng có khi xuất

hiện trực tiếp, cụ thể nhƣng cũng có khi xuất hiện qua nhiều biến thể của nó.
Nhiều nhất là hình ảnh vƣờn (xuất hiện 9/10 truyện), ngõ (xuất hiện 5/10
truyện), phố (xuất hiện 4/10 truyện) cùng nhiều biến thể khác nhƣ: cổng, chợ,
sân, cửa hàng,…Chẳng hạn ở truyện ngắn Nghèo con đƣờng ở biến thể vƣờn (4
lần), ngõ (2 lần); ở truyện ngắn Cái chết của con mực, biến thể vƣờn (3 lần),
giậu (2 lần), trong truyện ngắn Chí Phèo, biểu tƣợng con đƣờng xuất hiện trực
tiếp 2 lần, biến thể ngõ (3 lần), cổng (3 lần),…
Trong tổng số hơn 20 truyện ngắn của Nam Cao trong cuốn này thì có đến
10 truyện có xuất hiện biểu tƣợng con đƣờng. Bằng con mắt chủ quan của ngƣời
viết, tôi xin đƣợc chia biểu tƣợng con đƣờng trong truyện ngắn của Nam Cao
làm hai nhóm chính: con đƣờng – biểu tƣợng cho không gian nông thôn nghèo
trƣớc Cách mạng tháng Tám và con đƣờng – biểu tƣợng cho q trình tha hóa.
Căn cứ để ngƣời viết phân loại là dựa vào hai mảng đề tài mà Nam Cao hƣớng
đến cùng những biến thể của con đƣờng xuất hiện. Viết về ngƣời nông dân, Nam
Cao thƣờng miêu tả những con đƣờng rất hiện thực, gắn bó với khung cảnh làng
quê Bắc Bộ trƣớc cách mạng tháng Tám cùng những biến thể nhƣ: ngõ, cổng,
chợ, sân, vƣờn, hè… Khi viết về ngƣời trí thức tiểu tƣ sản, Nam Cao lại dùng bút
pháp lãng mạn, bay bổng để miêu tả những con đƣờng đầy vật chất, cám dỗ làm
cho ngƣời trí thức quên đi cuộc sống hiện tại. Đó là con đƣờng, tuyến phố, cửa
hàng, cửa tiệm,…Vì thế, truyện ngắn của Nam Cao ln đặt ra 2 vấn đề làm thế
nào để thay đổi bộ mặt làng quê Việt Nam? Và làm thế nào để con ngƣời tránh
khỏi con đƣờng tha hóa?


16
1.1.1. Con đường – biểu tượng cho không gian nông thôn trước cách mạng
Cùng với cây đa, giếng nƣớc, sân đình, con đƣờng làng gợi nhắc về hình
ảnh một làng quê với nhiều phong tục tập quán cùng nếp sống, nếp suy nghĩ đặc
trƣng, không trộn lẫn. Con đƣờng trở thành khơng gian đặc trƣng mà ở đó cuộc
sống nơng thơn hiện lên chân thực, rõ nét nhất. Vì thế khi viết về đời sống ngƣời

nông dân Việt Nam ở nông thôn, biểu tƣợng con đƣờng gắn liền với các biến
thể: vƣờn, ngõ, cổng,…
Chẳng hạn nhƣ trong truyện ngắn Chí Phèo đƣợc lấy bối cảnh hiện thực từ
làng Đại Hoàng – nơi Nam Cao sinh ra và lớn lên. Chí Phèo là kiệt tác của Nam
Cao cũng nhƣ của dòng văn học hiện thực phê phán trƣớc năm 1945. Chí
Phèo đƣợc coi là bản cáo trạng đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến đã dồn
ngƣời nông dân vào bƣớc đƣờng cùng của sự bần cùng hóa, tha hóa, lƣu manh
hóa; là bài ca về khát vọng làm ngƣời lƣơng thiện, khát vọng hạnh phúc lứa
đơi. Chí Phèo thành cơng xuất sắc ở nghệ thuật xây dựng hình tƣợng điển hình, ở
những chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh nhƣ tiếng chửi của Chí, bát cháo hành của
Thị Nở, câu nói cuối cùng đầy tức tƣởi, bi phẫn của Chí…
Đọc Chí Phèo hẳn ngƣời đọc khơng thể qn đƣợc những câu văn mở đầu
đầy ám ảnh gợi ra con đƣờng làng: “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ
rƣợu xong là hắn chửi…”[34,27]. Đoạn văn đƣợc viết bằng lối trần thuật độc đáo
với sự kết hợp của ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm làm hiện lên hình ảnh
Chí Phèo trong cơn say ngất ngƣởng trên con đƣờng làng quê yên tĩnh đến đáng
sợ. Trên con đƣờng ấy chỉ có một mình Chí đang xách chai rƣợu và chửi. Con
đƣờng Chí đang đi ấy thênh thang, rộng rãi nhƣng vô cùng cô đơn. Bởi cả làng
Vũ Đại đâu có coi Chí là con ngƣời, họ coi Chí là con quỷ dữ, là giống ngợm
chứ khơng phải ngƣời. Vì thế, con đƣờng mà Chí đi hẳn đơn độc biết bao nhiêu.
Rồi khi lần đầu tiên dân làng nghe tiếng chửi bới, ăn vạ của Chí Phèo với
nhà Bá Kiến, ngƣời đọc lại thấy đƣợc sự xuất hiện của con ngõ: “Mấy cái ngõ tối
chung quanh đùn ra biết bao nhiêu là ngƣời!” [43,29]. Cái ngõ ấy chính là mái
nhà thu nhỏ của ngƣời dân nơng thơn. Ngõ tối nhƣng ẩn chứa biết bao con ngƣời
đang ngày đêm sống trong không gian tăm tối ấy. Từ cái ngõ ấy, họ sống, họ


17
giao tiếp và chứng kiến nhiều cảnh sống, số phận éo le, trớ trêu. Cùng với đó là
lối sống mang tính tập thể của làng q: sống tị mị, tụ tập.

Bên cạnh đƣờng, ngõ thì hình ảnh vƣờn, bờ sơng là những biến thể của nó
cũng tiêu biểu cho nơng thôn Việt Nam trƣớc cách mạng. Chẳng hạn nhƣ “nhà
Binh Chức gần đƣờng… hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp... lão uống rƣợu
ngay ở sân đứng lại giữa đƣờng mà gãi, ghệch chân lên mà gãi, hắn bứt rứt quá,
ngứa ngáy quá, và chợt nghĩ đến cái bờ sơng gần nhà. Bởi vì cái vƣờn của hắn ở
gần một con sông con, nƣớc lặng và trong, khắp bãi trồng tồn dâu, gió đƣa đẩy
những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn. Duy có vƣờn nhà hắn trồng
tồn chuối, ở một góc vƣờn có túp lều con” [43,29] Những hình ảnh ấy khơi gợi
khơng gian làng quê thanh bình, yên ả, đậm chất thơ mộng, đem lại cho ngƣời
đọc cảm giác bình yên, gần gũi.
Cho đến cuối tác phẩm, sau cuộc gặp gỡ định mệnh với Thị Nở làm trỗi dậy
phần Ngƣời trong Chí, làm sống lại những ƣớc mơ, khao khát về cuộc sống bình
dị, chất phác; Chí lại rơi vào trạng thái tuyệt vọng khi bị cả xã hội cự tuyệt quyền
làm ngƣời. Cuối cùng, Chí đã quyết định giải thốt khỏi bi kịch ấy trên một con
đƣờng không khác mấy ở phần đầu tác phẩm: “Trời nắng lắm, nên đƣờng vắng.
Hắn cứ đi, cứ chửi, cứ dọa giết “nó”, và cứ đi. Bây giờ đến ngõ nhà cụ Bá. Hắn
xông xông đi vào” [43,30].
Lúc này, ngƣời đọc dễ dàng hình dung ra hình ảnh Chí Phèo trên con
đƣờng vắng vẻ, cơ đơn nhƣng khơng cịn trong trạng thái say khƣớt mà dứt khốt
và quyết liệt. Con đƣờng đƣa Chí đến nhà cụ Bá cũng xuất hiện ngõ – không
gian vô cùng quen thuộc với làng quê Việt Nam lúc bấy giờ. Thế nhƣng dù là
đƣờng lớn hay ngõ nhỏ thì nó vẫn cứ cơ đơn, chật hẹp.
Nhƣ vậy, trong tồn bộ truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã nhiều lần miêu
tả con đƣờng mà Chí đi. Dù là khi say hay khi tỉnh, khi là con quỷ dữ hay đã trở
lại làm ngƣời thì Chí đều đơn độc trên con đƣờng của chính mình. Dù lớn lên
trong vịng tay chăm sóc của dân làng Vũ Đại nhƣng chính họ lại ruồng bỏ Chí,
gạt Chí ra khỏi xã hội lồi ngƣời, cự tuyệt quyền làm ngƣời của Chí bằng nhiều
định kiến hà khắc. Để rồi cuối cùng Chí phải tự kết liễu cuộc đời mình ngay trên



18
ngƣỡng cửa trở về làm ngƣời lƣơng thiện. Con đƣờng mà Nam Cao tái hiện
trong truyện ngắn vô cùng hiện thực, làm ngƣời đọc phải suy ngẫm, trăn trở về
tình ngƣời, về cách đối xử giữa ngƣời với ngƣời trong làng quê Việt Nam những
năm trƣớc cách mạng tháng Tám.
Bên cạnh Chí Phèo, một số truyện ngắn khác cũng xây dựng biểu tƣợng
con đƣờng nơi làng quê nhƣ: truyện Con mèo. Truyện kể về cuộc sống nơi làng
quê nhiều khó khăn, cái nghèo cái đói và miếng ăn khiến những nhân vật trong
truyện trở nên cáu kỉnh, bực tức với nhau. Sự xuất hiện của Con mèo càng khiến
cho mâu thuẫn gay gắt hơn. Xuyên suốt câu chuyện là không gian của ngơi nhà
trong làng, với ngồi hè, quanh vƣờn, ra ruộng về, đứng ở ngồi vƣờn,… Những
hình ảnh ấy tuy không phải là con đƣờng trực tiếp nhƣng cũng làm tốt lên một
khơng gian quen thuộc, gần gũi chốn làng quê. Từ không gian ấy, ngƣời đọc
mƣờng tƣợng đƣợc phần nào về cuộc sống nghèo đói của họ.
Khơng chỉ có Chí Phèo, truyện ngắn Một đám cưới cũng đƣợc xây dựng
trên nền không gian làng quê Việt Nam. Trong truyện, nhân vật Dần “nghèo từ
trong trứng”, thủa nhỏ đi ở, đến khi về nhà thì mẹ đã mất, một mình ngƣời bố dè
sẻn ni hai đứa em thơ. Cả nhà Dần sống lay lắt trong thời buổi thóc cao gạo
kém, đồng tiền mất giá, lại hạn hán, bão lũ làm cho mất mùa. Họ chỉ dám cố
sống để làm sao cho khỏi chết đói. Trƣớc khi lên rừng để kiếm đồng tiền bát gạo,
bố Dần đồng ý gả Dần cho nhà chồng đã đính ƣớc từ lâu. Một đám cƣới tềnh
toàng, đơn sơ diễn ra trong những ngậm ngùi, chua xót, buồn tủi. Thiên truyện
ngắn đã vẽ nên một bức tranh nông thôn xám xịt, khuôn mặt ngƣời nhàu nhĩ vì
đói, vì nỗi lo sinh kế nặng trĩu. Đọc tác phẩm, ngƣời đọc cảm động về tình cha
con ấm áp, bùi ngùi vì những kiếp sống nhọc nhằn trong xã hội cũ. Bên cạnh đó,
ngƣời đọc cũng khơng khỏi ám ảnh bởi một con đƣờng: “Cả bọn đi lủi thủi trong
sƣơng lạnh và bóng tối nhƣ một gia đình xẩm lẳng lặng dắt díu nhau đi tìm chỗ
ngủ...” [43,65]. Chỉ một câu văn thôi nhƣng cũng đủ làm tái hiện một con đƣờng
hồn chỉnh. Đó là con đƣờng dẫn Dần về nhà chồng. Thế nhƣng con đƣờng ấy
không hề tƣơi sáng, rực rỡ mà chỉ toàn “sƣơng lạnh và bóng tối”. Phải chăng nó

đang dự đốn về một tƣơng lai cũng lạnh lẽo và tăm tối nhƣ con đƣờng ấy đang


×