UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
TRẦN THỊ VĨNH
BIỂU TƯỢNG TRONG
TẤT CẢ CÁC DỊNG SƠNG ĐỀU CHẢY
CỦA NANCY CATO
.
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƠN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Huy Bắc
PHÚ THỌ, 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Biểu tượng trong Tất cả các dịng
sơng đều chảy của Nancy Cato” là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, chưa
từng được cơng bố trong bất cứ cơng trình khoa học nào khác.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về cơng trình nghiên cứu của
bản thân!
Phú Thọ ngày 20 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Thị Vĩnh
ii
LỜI CẢM ƠN
Tơi xin chân thành bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến GS.TS. Lê Huy BắcTrưởng khoa Việt Nam học (Trường Đại học sư phạm Hà Nội)- người đã trực tiếp
hướng dẫn, động viên, khích lệ tơi trong suốt quá trình thực hiện luận văn!
Xin chân thành cảm ơn các thầy, co giáo trong khoa Khoa học và Nhân
văn, Trường Đại học Hùng Vương- Việt Trì- Phú Thọ dã ln giúp đỡ tơi
trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn thành luận văn!
Tơi xin trân trọng cảm ơn Trường THPT Chuyên Hùng Vương, bạn bè,
đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện cho tơi hồn thành nhiệm vụ cơng
tác, học tập, nghiên cứu!
Việt Trì ngày 10 tháng 10 năm 2018.
Tác giả luận văn
Trần Thị Vĩnh
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu ........................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ....................................................................... 3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
6. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 9
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỂU TƢỢNG ..................... 10
1.1. Khái niệm ................................................................................................. 10
1.2. Phân biệt biểu tượng với kí hiệu, hình tượng, cổ mẫu ............................. 13
1.3. Biểu tượng nghệ thuật .............................................................................. 14
Chƣơng 2. BIỂU TƢỢNG DỊNG SƠNG TRONG TÂT CẢ CÁC DỊNG
SƠNG ĐỀU CHẢY ....................................................................................... 19
2.1. Biểu tượng “Dịng sơng” .......................................................................... 19
2.1.1. Dịng sơng và ý nghĩa biểu tượng ......................................................... 19
2.1.2. Biểu tượng “Dịng sơng” trong văn học................................................ 20
2.2. Biểu tượng “Dịng sơng” của Nancy Cato ............................................... 24
2.2.1. Những dịng sơng - biểu trưng cho sự hùng vĩ và thơ mộng trữ tình của
tự nhiên ............................................................................................................ 26
2.2.2. Những dịng sơng - Nguồn sống và nguồn chết.................................... 31
2.2.3. Những dịng sơng - biểu trưng cho cuộc sống và đời người................. 33
Chƣơng 3. BIỂU TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ TRONG TẤT CẢ CÁC
DÕNG SÔNG ĐỀU CHẢY .......................................................................... 38
3.1. Biểu tượng “Người phụ nữ” ..................................................................... 38
3.2. Biểu tượng “Người phụ nữ” trong văn học.............................................. 40
3.3. Biểu tượng “Người phụ nữ” của Nancy Cato .......................................... 46
iv
3.3.1. Người phụ nữ - Biểu tượng của “thiên tính nữ” ................................... 47
3.3.2. Người phụ nữ - Hiện thân của những bi kịch ....................................... 52
3.3.3. Người phụ nữ - Vẻ đẹp của tài hoa, nghị lực và khát vọng .................. 57
Chƣơng 4. BIỂU TƢỢNG “CON TÀU” TRONG TẤT CẢ CÁC DỊNG
SƠNG ĐỀU CHẢY ....................................................................................... 61
4.1. Biểu tượng con tàu ................................................................................... 61
4.1.1. Con tàu và ý nghĩa biểu tượng .............................................................. 61
4.1.2. Biểu tượng con tàu trong văn học ......................................................... 62
4.2. Biểu tượng “con tàu” của Nancy Cato ..................................................... 67
4.2.1. Những con tàu - phương tiện mưu sinh ................................................ 68
4.2.2. Những con tàu - khát vọng giải phóng .................................................. 70
4.2.3. Những con tàu - sự bất lực của con người ............................................ 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
THƢ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 83
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1. Văn học Australia
Australia là một trong những quốc gia phát triển trên thế giới và là đất
nước duy nhất chiếm toàn bộ một châu lục. Dân cư sinh sống ở đây đến từ
nhiều quốc gia.
Các nhà thám hiểm người Hà Lan khám phá ra lục địa này vào năm
1606, sau đó nước Anh tuyên bố chủ quyền đối với nửa phía đơng của
Australia vào năm 1770 và ban đầu tiến hành thuộc địa hóa bằng cách đày ải
tội phạm đến thuộc địa New South Wales từ ngày 26 tháng 1 năm 1788. Dần
dần trong các thập kỷ tiếp theo người châu Âu trở thành đa số so với người
bản địa. Ngày 1 tháng 1 năm 1901, khối Thịnh vượng chung Australia ra đời.
Từ khi thành lập Liên bang, Australia duy trì một hệ thống chính trị dân chủ
tự do ổn định. Liên bang gồm có sáu bang và một số lãnh thổ. Australia nằm
trong số các quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới, có nền kinh tế lớn thứ 12
thế giới. Australia có chỉ số phát triển con người cao thứ hai toàn cầu, xếp thứ
hạng cao khi so sánh với nhiều quốc gia khác trên thế giới, như chất lượng
sinh hoạt, y tế, giáo dục, tự do kinh tế, và bảo vệ các quyền tự do dân sự và
chính trị.
Văn học Australia khơng phải chỉ là văn học viết bằng tiếng Anh, ngơn
ngữ chính thức và chính thống trong cả nước. Dưới ảnh hưởng của xu hướng
toàn cầu hoá và đa văn hoá hoá hiện nay, văn học Australia thực chất là một
nền văn học đa ngôn ngữ, bao gồm tồn bộ các ngơn ngữ được sử dụng trong
nước, kể cả ngôn ngữ của các cộng đồng di dân thiểu số.
Một số người cho rằng văn học Australia q mờ nhạt. Thực tế khơng
hồn tồn như vậy. Năm 1973, Patrich White được trao Nobel Văn học và là
người Australia đầu tiên giành được giải thưởng này. Peter Carey và Thomas
2
Keneally được nhận giải Man Booker. Wiliamson, David Malouf, J. M.
Coetzee là những nhà văn nổi tiếng của Australia. Đặc biệt, Les Murray được
dánh giá là một trong những thi sĩ hàng đầu trong thế hệ của ông. Với cuốn
tiểu thuyết Dịng sơng bí mật (The Secret River), tác giả người Australia Kate
Grenville đã đoạt giải thưởng văn học do các tác giả khối thịnh vượng chung
trao tặng cho tiểu thuyết hay nhất trong khối được viết bằng tiếng Anh. Tác
phẩm của Grenville là một tiểu thuyết lịch sử nhìn lại những cạnh tranh giữa
thổ dân và những người định cư ở Australia vào thế kỷ 19. Nhà văn người
Australia Michael Robotham đã vượt qua nhiều tác giả danh tiếng để giành
được một trong những giải thưởng văn chương uy tín hàng đầu thế giới, dành
cho thể loại truyện trinh thám hình sự.
Như thế, Australia là quốc gia có nền văn học phát triển. Tuy nhiên, ở
Việt Nam, việc nghiên cứu về nền văn học này vẫn còn nhiều hạn chế nếu
khơng nói là chưa được chú ý đúng mực.
1.2. Biểu tượng: Có thể nói, chúng ta đang sống trong thế giới biểu
tượng. Khi sử dụng máy tính, hay smartphone, hay internet chúng ta thường
gặp những Icon, những biểu tượng… Chúng ta cũng hay nói với nhau; hành
động này là biểu tượng của của tình yêu, hành động kia là biểu tượng của sự
căm ghét, của nỗi hận thù… Các nhà phê bình nghệ thuật cũng thường xuyên
nhắc tới những biểu tượng, cho dù họ đang đề cập tới văn học của thời đại
nào, dân tộc nào. Có vẻ như, biểu tượng đã làm cho tác phẩm có được sức lôi
cuốn và chiều sâu tư tưởng, đến mức không thể công nhận một điều là nghệ
thuật giàu ý nghĩa biểu tượng thường có sức sống lâu bền. Khơng chỉ có mặt
trong nghệ thuật, biểu tượng còn tồn tại trong đời sống tơn giáo, trong các tập
tục văn hóa, trong chính trị…
Biểu tượng được nhìn nhận như một loại kí hiệu đặc biệt. Nghiên cứu
nghệ thuật theo kí hiệu học là một khuynh hướng khoa học hiện đại của thế
3
giới và do đó chưa thực sự phát triển ở Việt Nam. Đặc biệt, nền tảng lí thuyết
để dạy học-đọc hiểu trong nhà trường hiện nay là lí thuyết hình tượng nghệ
thuật đã bộc lộ rõ những hạn chế. Theo Trần Đình Sử: “Các hệ thống kí hiệu
đã kiến tạo nên một thế giới thông tin xung quanh con người. Khi chúng ta
biết về thế giới qua truyền thống, qua sách vở, qua văn kiện, qua truyền
thông… thực tế là chúng ta chỉ biết thông tin về thế giới qua tín hiệu. Lịch sử
cũng là sản phẩm sáng tạo của kí hiệu. Như thế, nếu khơng nắm hệ thống kí
hiệu con người chẳng những khơng hiểu văn hóa mà cũng khơng tham gia
sáng tạo văn hóa được. Như vậy, học tiếng Việt, học ngữ học, học văn học,
học văn thực chất là học sử dụng kí hiệu, giải mã kí hiệu, biết qua kí hiệu mà
nắm bắt thơng tin, sáng tạo nghĩa, chiếm lĩnh văn hóa” (2-tr 2).
Vì vậy, chúng tôi muốn bước đầu tiếp cận với khuynh hướng này với hi
vọng có thể cập nhật được, từ đó làm tốt hơn công việc nghiên cứu và giảng
dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thơng.
Tìm hiểu Tất cả các dịng sơng đều chảy từ góc độ biểu tượng sẽ giúp
chúng tôi hiểu sâu hơn về tác phẩm, về văn học và văn hóa Australia. Điều
này rất ý nghĩa trong bối cảnh tồn cầu hóa hơm nay, khi các quốc gia và các
vùng lãnh thổ đã xóa bỏ khoảng cách địa lí, giao lưu hội nhập văn hóa. Qua
đây, chúng tơi sẽ có được những gợi ý cần thiết để từ một tác phẩm cụ thể của
Nancy Cato mở rộng cái nhìn sang các tác phẩm văn học khác, hiểu sâu hơn
các biểu tượng và từ chỗ khám phá các biểu tượng mà thấy được thông điệp
cũng như lối viết riêng của từng nhà văn.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Văn học phương Tây ở Việt Nam
Văn học phương Tây (trong đó có văn học Australia) có mặt ở Việt Nam
từ rất sớm, gần như song hành cùng với công cuộc đô hộ và khai thác thuộc
địa ở Việt Nam. Cuối thể kỉ 19, tại Nam Bộ, một số cây bút như Hồ Biểu
Chánh đã phỏng dịch một số tác phẩm văn học Pháp: Chúa tàu Kim Quy
4
(Phỏng theo Bá tước Monte-Cristo của A. Dumas), Cay đắng mùi đời (phỏng
theo Khơng gia đình của H. Malot), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những
người khốn khổ của V. Hugo). Tức là từ trước Cách mạng tháng Tám giữa hai
nền văn học đã có sự tiếp xúc. Đầu thế kỉ 20, chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất của
văn học phương Tây là văn xuôi lãng mạn và phong trào Thơ mới. Nhóm Tự
lực văn đồn đã đưa những tư tưởng của văn học phương Tây vào Việt Nam.
Họ tuyên bố: “Đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương Việt
Nam”. Nhà phê bình Hồi Thanh cũng nhận xét về các thi sĩ Thơ mới, “Hàn
Mặc Tử và Chế Lan Viên đều chịu ảnh hưởng rất nặng của Baudelaire và qua
Baudelaire chịu ảnh hưởng của nhà văn Mĩ Edgar Poe, tác giả tập Chuyện lạ.
Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ
Đường, còn Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đường đến Baudelaire và đi thêm một
đoạn nữa cho gặp Thánh kinh của đạo Thiên Chúa”.
Sau kháng chiến chống Pháp, văn học Nga Xô-viết đã cung cấp cho các
cây bút Việt Nam các nguyên tắc và các thủ pháp nghệ thuật như kết cấu cốt
truyện, cách xây dựng nhân vật điển hình, cách giải quyết mâu thuẫn. Người
mẹ của Gorki, Đội cận vệ thanh niên của Fadeev, Thép đã tôi thế đấy của
Ostrovski, Đất vỡ hoang của Solokhov… được coi là những tác phẩm kinh
điển của văn học cách mạng Việt Nam.
Trong thời kì đổi mới, nhiều hiện tượng cách tân của văn học phương
Tây đã có cơ hội được thâm nhập vào văn học Việt Nam. Dấu ấn của
Dostoievki, Kafka, Proust, Camus… trong một số hiện tượng văn học Việt
Nam như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu…
Như vậy, văn học phương Tây đã in dấu ấn lên văn học Việt Nam từ khá
lâu và góp phần khơng nhỏ vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Điều đó,
đồng nghĩa với một thực tế là văn học phương Tây cũng đã được chú ý nghiên
cứu và có được những thành tựu đáng ghi nhận.
Sau 1986, nhiều hội thảo về văn học nước ngoài đã tổ chức. Song song
5
cùng với các hội thảo, là việc xuất bản các chuyên luận: Truyện ngắn hậu
hiện đại thế giới (2003) Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết
(2003), Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận (Lê Huy Bắc, 2013),…
Chính vì vậy, nhiều tinh hoa văn học phương Tây đã được giới thiệu đến
người đọc Việt Nam.
2.2. Những bài viết và cơng trình nghiên cứu về tác giả Nancy Cato ở
Việt Nam
Đến nay, theo tìm hiểu của chúng tơi, văn học Australia nói chung và tác
giả Nancy Cato chưa được chú ý và nghiên cứu đúng mức ở Việt Nam, cho
dù một số bộ phim truyền hình chuyển thể từ các tiểu thuyết của các tác giả
Australia lôi cuốn được lượng khán giả không hề nhỏ. “Tuổi trẻ Online” ngày
14/03/2006 khi giới thiệu về giải thưởng mà khối thịnh vượng chung dành
cho các tác phẩm viết bằng tiếng Anh, có đề cập tới tác giả Kate Grenvile các
cuốn tiểu thuyết “The Idea of Perfection” và “The Secret River”. Nghĩa là
ngoài một số Review phim, tất cả đều là con số khơng. Trong q trình hồn
thành luận văn, nếu phát hiện ra cơng trình nào, chúng tôi sẽ lập tức cập nhật
bổ sung.
Nancy Cato (11/03/1917 - 03/07/2000) là nữ nhà văn người Australia đã
xuất bản hơn 20 tiểu thuyết lịch sử và một khối lượng lớn thơ ca. Cato còn nổi
tiếng về các hoạt động bảo vệ môi trường. Bà sinh ra ở Glen Osmond, miền
Nam nước Australia, theo học ngành văn học Anh và Ý tại Đại học Adelaide,
tốt nghiệp năm 1939. Sau đó bà tham gia một khóa học 2 năm trại Trường
Nghệ thuật Nam Australia.
Các tác phẩm văn học của Cato bao gồm: Green Grows The Vine, Brown
Sugar và đặc biệt là "All The Rivers Run" - tiểu thuyết đã được dựng thành bộ
phim truyền hình dài tập rất nổi tiếng.
6
2.3. Nghiên cứu về kí hiệu học và biểu tượng
Trên thế giới, nghiên cứu về kí hiệu và biểu tượng đã có một q trình và
đã đạt được những thành tựu đáng kể. Những cuốn sách tiêu biểu cho hướng
nghiên cứu này là: Chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học của T. Hawkes, Truy tìm
kí hiệu của J. Culler, Kí hiệu học và diễn giải của R. Scholes, Kí hiệu chuyện
kể: một khảo sát kí hiệu học của T. A. Sebeok…
Ở Việt Nam hiện nay, ký hiệu học mới chỉ được tiếp cận ít nhiều dưới
góc nhìn của ngơn ngữ học, văn học,… mà chưa được sử dụng rộng rãi trong
các lĩnh vực văn hố nghệ thuật. Trần Đình Sử và La Khắc Hịa chính là
những người đi tiên phong trong việc đưa lí thuyết kí hiệu học vào Việt Nam.
Các cơng trình của Yu. M. Lotman (Nga),… đã đến với người Việt Nam qua
các bản dịch mà hai tác giả đã dày công chuyển ngữ. Không chỉ chuyển ngữ,
Trần Đình Sử cịn miệt mài nghiên cứu về kí hiệu học, cơng bố trên blog, trên
các tạp chí chun ngành, tiêu biểu là những bài viết như Đưa kí hiệu học vào
môn đọc văn ở trường trung học phổ thơng - Trần Đình Sử; https://
trandinhsu. wordpress. com, 02/2014. Gần đây, Trịnh Bá Đĩnh đã cơng bố
một cơng trình nghiên cứu về kí hiệu học Từ kí hiệu đến biểu tượng, mang
đến cho giới nghiên cứu và giảng dạy văn chương một cái nhìn khá tồn diện
và hệ thống về lĩnh vực tương đối mới mẻ này.
Trong khi đang triển khai những nội dung quan trọng nhất của luận văn,
chúng tơi tham khảo được cuốn Kí hiệu học văn học của Lê Huy Bắc. Tác giả
cuốn sách đã tổng hợp các lí thuyết theo cách của ơng để đưa ra cách tiếp cận
phù hợp với người đọc, đồng thời chọn lựa một số văn bản tiêu biểu để khảo
sát nhằm giải mã các hiện tượng văn chương từ cái nhìn của lí thuyết kí hiệu
học hiện đại. Đó là một cơng trình có ý nghĩa với những người làm cơng tác
nghiên cứu phê bình nhất là những nhà nghiên cứu đang đi theo xu hướng tiếp
cận văn chương từ những lí thuyết mới.
7
Điểm qua các cơng trình nghiên cứu trên, chúng tơi nhận thấy hầu như
chưa có cơng trình chun biệt ở Việt Nam nghiên cứu về Nancy Cato. Điều
này gây nên khó khăn lớn cho chúng tơi trong q trình tham khảo các hướng
nghiên cứu đi trước. Bên cạnh đó, các cơng trình chun sâu nghiên cứu về
biểu tượng ở Việt Nam xuất hiện chưa nhiều. Do vậy, những gì luận văn đạt
được gần như là nỗ lực tự thân trên hành trình khám phá tác phẩm của nữ văn
sĩ Australia đầy hấp dẫn này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài “Biểu tượng trong Tất cả các dịng sơng đều chảy
của Nancy Cato”, người viết xác định mục tiêu: nghiên cứu các biểu tượng
nổi bật ( Những dịng sơng- Người phụ nữ- Những con tàu).
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu các lớp nghĩa của biểu tượng, thấy được nét đặc sắc
trong lối viết cũng như trong nội dung tư tưởng của tác phẩm.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tiểu thuyết Tất cả các dịng sơng
đều chảy của Nancy Cato. Bản dịch tiếng Việt của Trương Võ Anh Giang và
Anh Trần, nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2012.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tơi khơng có điều kiện
khảo sát mọi phương diện của cuốn tiểu thuyết mà chỉ tập trung vào ba biểu
tượng nổi bật: Những dịng sơng, Người phụ nữ và Con tàu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài chúng tôi sử dụng đồng thời nhiều phương pháp tiếp
cận khác nhau. Những phương pháp chính được chúng tơi sử dụng là:
8
– Phương pháp khảo sát văn bản: Chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản
nhận ra tần suất xuất hiện các biểu tượng, thể hiện qua ngôn ngữ, qua chi tiết,
hoặc qua sự kiện, biến cố được nhà văn tái hiện.
– Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tơi tập trung phân tích các
biểu tượng, phát hiện ra ý nghĩa của chúng rồi khái quát, tổng hợp để thấy
được sự gặp gỡ của các cây bút khi cùng nói đến một biểu tượng. Quan trọng
hơn, nhờ đó chúng tơi có thể nhận ra sự dồn nén ý nghĩa trong một biểu
tượng. Điều này, khiến tác phẩm văn học của Nancy Cato lung linh các lớp
nghĩa, mang sức lôi cuốn không chỉ với những độc giả có tầm đón nhận cao
mà ngay cả ở những độc giả “bình dân” “dễ tính” vốn chỉ quen tiếp cận tác
phẩm qua những biến cố trong dịng cốt truyện.
– Phương pháp so sánh: Chúng tơi tiến hành khảo sát tiểu thuyết Tất cả
các dịng sơng đều chảy trong tương quan so sánh với các tác phẩm chứa
đựng những biểu tượng gần gũi, có liên quan, từ đó thấy được nét riêng trong
xây dựng biểu tượng của Nancy Cato, cũng như các lớp nghĩa khác nhau mà
biểu tượng chứa đựng, gắn liền với cảm quan riêng của người viết và những
căn cước văn hóa khác biệt.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Biểu tượng là đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học. Vì vậy, chúng tơi có vận dụng kiến thức về
Tâm lí, Văn hóa, Văn học, Triết học, Ngơn ngữ… để lí giải các lớp nghĩa của
biểu tượng trong sáng tác của Nancy Cato.
Trong q trình triển khai đề tài, chúng tơi khơng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu một cách đơn lẻ, biệt lập mà kết hợp hài hịa. Chúng tơi đặc
biệt chú trọng đến phương pháp so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp.
Đây là hai phương pháp giúp chúng tơi khai thác, triển khai đề tài một cách
hiệu quả nhất.
9
6. Cấu trúc luận văn
Để triển khai đề tài “Biểu tượng trong tiểu thuyết Tất cả các dịng sơng
đều chảy Nancy Cato”, luận văn của chúng tôi được cấu trúc như sau:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về biểu tượng
Chương 2: Biểu tượng Dịng sơng trong trong Tất cả các dịng sơng
đều chảy
Chương 3: Biểu tượng Người phụ nữ trong Tất cả các dịng sơng đều chảy
Chương 4: Biểu tượng Con tàu trong Tất cả các dịng sơng đều chảy
10
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỂU TƢỢNG
1.1. Khái niệm
Từ lâu, “biểu tượng” đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống
tinh thần của nhân loại. Nó vừa mang những đặc trưng văn hóa chung vừa
mang những màu sắc riêng của mỗi quốc gia, dân tộc. Giải mã những biểu
tượng, chúng ta sẽ làm chủ một loại ngôn ngữ đặc biệt của con người.
Có nhiều quan niệm khác nhau về biểu tượng. Cơng trình nghiên cứu của
La Khắc Hịa, Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn,… tập trung vào những nội dung
chính sau:
Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp - La
Mã cổ, có nghĩa là “dấu hiệu nhận nhau” (symbolus trong tiếng La Mã và
symbolon trong tiếng Hy Lạp), tương đương với từ “kí hiệu” (sigula). Cũng
có lí thuyết cho rằng Symbol bắt nguồn từ động từ Symbollo trong tiếng Hy
Lạp có nghĩa là “Ném vào vị trí”, “Liên kết”, “Thỏa thuận”… Trong tiếng
Hán, “biểu tượng” được cắt nghĩa theo lối chiết tự như sau: “biểu” có nghĩa là
biểu hiện, phơ bày một điều gì đó cho mọi người biết. Cịn “tượng” là hình
ảnh, hình tượng. Như vậy, biểu tượng là hình ảnh, hình tượng phơ bày một ý
tưởng, một nội dung nào đó.
Mỗi ngành khoa học với phương pháp luận riêng có những quan niệm
khác nhau về biểu tượng. Từ những hình dung ban đầu, càng về sau người
nghiên cứu càng làm dày hơn, đầy đủ hơn hệ thống lí thuyết về biểu tượng.
Tùy theo góc độ và phạm vi tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những
cách hiểu khác nhau về biểu tượng.
Trong Triết học, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã định nghĩa biểu
tượng là “hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực
11
quan sinh động. Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hồn chỉnh cịn được
lưu lại trong bộ óc con người về sự vật khi sự vật đó đó khơng cịn trực tiếp
tác động vào các giác quan” [45, 302].
Alain Gheerbrant và Jean Chevalier cho rằng: “Tự bản chất của biểu
tượng, nó phá vỡ các khn khổ định sẵn và tập hợp các thái cực lại trong
cùng một ý niệm. Nó giống như mũi tên bay mà khơng bay, đứng im mà biến
ảo, hiển nhiên mà không nắm bắt được” [13, Phần mở đầu].
Còn Freud lại quan niệm: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng
gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay những xung đột. Biểu tượng
là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi
lời nói và ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [13, Phần mở đầu].
Trong khi đó C. G. Jung lại cho rằng “Biểu tượng không phải là một
phúng dụ, cũng chẳng phải là một dấu hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một
hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất mà ta mơ hồ nghi hoặc
của tâm linh” [13, Phần mở đầu].
Ở Việt Nam, biểu tượng là lĩnh vực đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu. Từ góc độ ngơn ngữ và văn học, các nhà khoa học đã đưa ra
nhiều cách nhìn nhận về biểu tượng. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ
biên (1995) nhận định về biểu tượng với hai nghĩa chính. Nghĩa thứ nhất là
“hình ảnh tượng trưng”. Nghĩa thứ hai là “hình thức của nhận thức, cao hơn
cảm giác, cho ta hình ảnh của vật cịn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động
của sự vật vào giác quan ta chấm dứt”. Ở nghĩa thứ nhất, biểu tượng được
hiểu như là một đại diện, biểu trưng cho cái khác. Ở nghĩa thứ hai, biểu tượng
được xem như một trong những tầng bậc của nhận thức, là một giai đoạn
trong quá trình nhận thức của con người.
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Biểu tượng là một phương thức
chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng
12
truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hình tượng nào đấy vừa
thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và
cuộc đời” [23, 24].
Các nhà tâm lí học lại coi biểu tượng “là hiện tượng tâm sinh lí do có
một sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được
hình ảnh của vật kích thích trở lại trí tuệ hay cảm giác. Trong quá trình nhận
thức về thế giới, biểu tượng là hình thức cao nhất của q trình nhận thức cảm
tính của con người. Cùng với cảm giác và tri giác, biểu tượng đã tạo ra những
tiền đề cơ sở cho nhận thức lí tính. Đồng thời nó cũng góp phần giúp con
người nhận thức được những thuộc tính: bản chất, tính quy luật của sự vật,
đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc về sự vật. Bởi lẽ, biểu tượng luôn gắn liền với
những phán đốn suy lí, đặc biệt là trí tưởng tượng” [Dẫn lại, 26, 44].
Trong văn hóa, biểu tượng cơ đúc những ý nghĩa văn hóa của đời sống
cộng đồng. Cùng với một ý niệm, một tư tưởng nào đó, mỗi cộng đồng chọn
cho mình những biểu tượng khác nhau. Cách lựa chọn biểu tượng thể hiện
văn hóa của cộng đồng ấy. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng bản chất của
văn hóa là mối quan hệ giữa biểu tượng và thực tại và mỗi nền văn hóa, mỗi
khu vực văn hóa tự lựa chọn các mối quan hệ ấy. Cho nên, mỗi nền văn hóa
đều có thể xem là tập hợp các hệ thống biểu tượng, trong đó nổi bật là hệ
thống biểu tượng ngơn ngữ, hơn nhân, quan hệ kinh tế, nghệ thuật, tôn giáo.
Dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu, chúng tôi sử dụng khái niệm
biểu tượng như sau: “Biểu tượng là một khái niệm có tính trừu tượng cao.
Biểu tượng gồm có hai phần chính: những kí hiệu và nghĩa. Mối quan hệ giữa
hai phần này được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong lịch sử. Biểu
tượng gắn liền với ý thức và vơ thức, có khả năng khơi gợi cảm xúc và định
hướng hành động”.
13
1.2. Phân biệt biểu tƣợng với kí hiệu, hình tƣợng, cổ mẫu
Có nhà nghiên cứu cho rằng “Biểu tượng cũng là kí hiệu, hay nói cụ thể
hơn, là một dạng đặc biệt của kí hiệu” [20, 11]. Thực ra, một kí hiệu gồm hai
bình diện: hình thức và nội dung; cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Một biểu
tượng cũng gồm hai phần là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Nhưng biểu
tượng truyền tải nhiều ý nghĩa hơn kí hiệu và khơng được tạo ra với mục đích
chính là tìm kiếm sự phản hồi ngay lập tức của con người. Kí hiệu được sản
sinh trong ý thức và tồn tại một cách rõ ràng trong hoạt động ý thức. Trong
khi đó, nhiều mặt ý nghĩa của biểu tượng lại động chạm tới phần tiềm thức
hay vô thức của con người. Nhà kí hiệu học người Nga Iu. Lotman cho rằng:
“Biểu tượng (Symbol) là một trong những từ nhiều nghĩa nhất trong hệ thống
các khoa học về kí hiệu”. Còn J. Chevalier viết trong Từ điển biểu tượng văn
hóa thế giới: “Khơng cách gì định nghĩa cho được một biểu tượng… Nó
giống mũi tên bay mà khơng bay, đứng im mà biến ảo, hiển nhiên mà lại
không nắm bắt được”, “các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết
lộ” [13, Phần mở đầu]. Cũng vì thế mà biểu tượng chứa đựng những nội dung
bí ẩn hơn, hấp dẫn hơn kí hiệu.
Những biểu tượng xuất hiện sớm nhất được gọi là “mẫu gốc”
(anchetype), hay “cổ mẫu”. Theo Từ điển văn học cổ mẫu là “khái niệm dùng
để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh trong
tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng
nhân loại. Vô thức tập thể này là một yếu tố đặc trưng cho tất cả các vô thức
cá nhân”. Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, C. G Jung cho rằng
“mẫu gốc giống như nguyên mẫu của các tập hợp biểu tượng ăn sâu trong vô
thức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc, như những kí tích”. [13, Phần
mở đầu]. Như vậy, cổ mẫu trước hết là biểu tượng nhưng cao hơn biểu tượng
ở sức khái quát của nó. “Có thể chia cổ mẫu thành cổ mẫu sáng thế (nước,
14
lửa, đất… ), cổ mẫu loại hình (thơ, kịch, tự sự), cổ mẫu luân lí (tốt - xấu, thiện
- ác… ), cổ mẫu cảm hứng (ngợi ca, phê phán, mỉa mai… ). ” [6, 36].
Hình tƣợng (image) là hình ảnh dùng để chuyên chở ý nghĩa tinh thần
của một vật, một sinh thể, một ý niệm, theo mối quan hệ tương đồng (ẩn
ngầm hay hiển lộ) giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, nhằm đưa đến một cảm
nhận trực tiếp và khơi gợi trí tưởng tượng của người tiếp nhận. Tác phẩm văn
học là thế giới của vô số hình tượng: “là một nhân vật (Chí Phèo, Xn Tóc
Đỏ) hoặc một khái niệm trừu tượng (như phép thắng lợi tinh thần của AQ),
một hình ảnh tự nhiên (liễu, khóm cúc, cánh chim… )” [6, 35.
Biểu tƣợng (symbol) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khả
năng biểu đạt một ý nghĩa có tính bền vững và phổ qt. Những ý nghĩa ấy
bắt nguồn từ văn hóa, tơn giáo, lịch sử của các cộng đồng. “Kiều của Nguyễn
Du là biểu tượng cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Đồng
thời đó cịn là biểu tượng cho sự tài hoa bị vùi dập bởi những kẻ xấu. Chí
Phèo là biểu tượng của người nơng dân cùng quẫn trong xã hội cũ. Bộ xương
cá kiếm (trong tác phẩm của Hemingway) là biểu tượng cho cái hư vô, cho
nỗi nhọc nhằn mưu sinh của con người, cho ý chí bất khuất của người lao
động… ” [6, 35].
Trong tác phẩm văn học hình tượng bao giờ cũng chiếm số lượng lớn
nhất, sau đó là biểu tượng, và ít nhất là cổ mẫu.
1.3. Biểu tƣợng nghệ thuật
Chúng ta có thể gặp biểu tượng trong tất cả các loại hình nghệ thuật.
Biểu tượng trong văn học khác với biểu tượng trong hội họa, điêu khắc, điện
ảnh, âm nhạc… ở chỗ nó khơng được tạo nên bởi các vật liệu tự nhiên mà
được tạo bằng ngôn ngữ của con người. Những đặc trưng riêng của ngơn ngữ
khiến cho biểu tượng văn học có cấu trúc phức tạp hơn, nội dung phong phú
hơn, khả năng diễn giải rộng hơn. Chúng ta so sánh biểu tượng Trương Chi
15
trong văn học dân gian với những biểu tượng người đánh đàn, người chèo
thuyền… trong điêu khắc ở đình làng Bắc Bộ thế kỉ 17, 18 sẽ nhận ra sự phức
tạp của biểu tượng.
Biểu tượng trong văn học có thể đi vào trong những loại hình nghệ thuật
khác nhau, kết nối văn học với các loại hình nghệ thuật khác, tạo nên hiện
tượng “liên văn bản”.
Trong tác phẩm văn học, biểu tượng cũng là hình tượng nghệ thuật, được
nhà văn xây dựng theo 2 phương thức: mô tả và biểu đạt. Mơ tả là phản ánh
thế giới bên ngồi, biểu đạt là truyền đạt ấn tượng của chủ thể Hai mặt này
khơng thể tách rời nhau trong hình tượng. Khơng có hình ảnh được mơ tả thì
cảm xúc, tư tưởng khơng có nơi trú ngụ; khơng có cảm xúc, tư tưởng của tác
giả thì hình ảnh sẽ trở thành “một sự tả cảnh khơng có âm vang” (C. Jung),
thế giới hình tượng sẽ khơng tồn tại.
Khơng phải tất cả mọi hình tượng trong tác phẩm văn học đều là biểu
tượng. Nếu hình tượng thiếu sự đa nghĩa và cái cổ xưa khiến cho tác phẩm
văn học không thể kết nối với văn hóa của một cộng đồng thì hình tượng chưa
trở thành biểu tượng. Hình tượng Xn Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng là một
biểu tượng vì mang dấu vết của Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, khơng chỉ có ý
nghĩa phê phán hạng người láu cá, lưu manh, kết án xã hội nhố nhăng, đồi
bại… mà còn chứa quan niệm của tác giả về cái ngẫu nhiên chi phối thế giới.
Cái cổ xưa luôn hiện diện trong biểu tượng mang dến cho tác phẩm chiều sâu
văn hóa.
Trong tác phâm văn học, mỗi yếu tố đều có thể trở thành biểu tượng.
Một nhân vật, một biến cố, một tình tiết… đều có thể trở thành biểu tượng khi
nó mang các dấu hiệu đặc trưng như tính đa nghĩa, chiều sâu văn hóa, chứa
đựng một cảm quan trọn vẹn về thế giới. Chẳng hạn, trong “Chí Phèo” (Nam
Cao), sự kiện báo thù của Chí có thẻ xem như một biểu tượng. “Khi có áp bức
16
thì sẽ có đấu tranh, có tội ác thì sẽ có báo thù và báo thù là cách để con người
cổ đại thể hiện cơng lí, chính nghĩa và thực hiện khát vọng đổi đời, ở hiền gặp
lành, ác giả ác báo mà kẻ xấu đáng phải nhận. ” [6 171]. Cho nên, “hiểu theo
nghĩa rộng không một truyện cổ dân gian nào khơng có báo thù” [6,171]. Chí
Phèo giết chết Bá Kiến, sự kiện ấy gợi nhắc trong người đọc motif báo thù
trong văn học dân gian, văn học viết của nhiều dân tộc trên thế giới. Nó là
một dạng kí hiệu cổ mẫu, một biểu tượng trong rất nhiều biểu tượng của kiệt
tác này.
Trong một tác phẩm văn học có thể có nhiều biểu tượng. Có khi tồn bộ
tác phẩm chỉ tập trung làm sáng tỏ một biểu tượng. Trong trường hợp này,
biểu tượng chính là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Có khi biểu tượng là
sự nâng cấp của những hình ảnh chi tiết bằng cách trao cho nó những ý nghĩa
sâu sắc. Ví dụ như ánh sáng con tàu và ngọn đèn chị Tí trong Hai đứa trẻ của
Thạch Lam. Hai thứ ánh sáng trái ngược nhau: rực rỡ và leo lét; thuộc về hai
không gian khác nhau: Hà Nội và phố huyện; biểu trưng cho quá khứ hạnh
phúc và thực tại bất hạnh của con người.
Thực ra, biểu tượng cũng có nhiều loại: biểu tượng văn hóa và biểu
tượng nghệ thuật. Biểu tượng văn hóa ln được bổ sung ý nghĩa, nhưng sau
một thời gian ý nghĩa đó có thể trở nên khó hiểu với con người thời sau. Cịn
biểu tượng nghệ thuật ln tái sinh ý nghĩa cả trong sáng tác lẫn tiếp nhận.
Cái biểu đạt vẫn thế, không thay đổi nhưng cái được biểu đạt đã gia tăng về ý
nghĩa. Nếu như ý nghĩa của biểu tượng văn hóa có thể khó hiểu với người đời
sau do thời đại phát sinh nó đã lùi vào quá khứ, thì với biểu tượng nghệ thuật,
câu chuyện hoàn toàn khác. Biểu tượng nghệ thuật vừa gắn với thời đại sinh
ra nó vừa sống với một mơi trường đặc thù, khơng bao giờ mất là chính thể
tác phẩm. Thành ra biểu tượng nghệ thuật luôn sống với hàng loạt các mối
quan hệ ý nghĩa. Bên cạnh những ý nghĩa truyền thống, biểu tượng nghệ thuật
17
ln có xu hướng bổ sung them ý nghĩa mới hoặc phát sinh những biểu tượng
hoàn toàn mới. Chẳng hạn, hai hình ảnh “thuyền” và “bến” trong câu ca dao:
Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
Vốn dĩ, thuyền là biểu tượng dùng để chỉ người con trai nhưng khi đi vào
thơ Xuân Quỳnh, “thuyền” đã trở thành ẩn dụ chỉ người con gái “Nếu từ giã
thuyền rồi/ Biển chỉ cịn sóng gió” (Thuyền và biển). Điều đó có nghĩa trong
biểu tượng nghệ thuật ln có sự đan xen giữa truyền thống với cách tân
khiến cho những biểu tượng nghệ thuật vừa đánh thức những nỗi niềm xưa cũ
vừa tạo nên cảm hứng về cái mới lạ.
Giữa biểu tượng văn hóa với biểu tượng nghệ thuật thường diễn ra sự
hốn đổi vị trí. Biểu tượng văn hóa đi vào trong tác phẩm thành biểu tượng
nghệ thuật, biểu tượng nghệ thuật bước ra đời sống để trở thành biểu tượng
văn hóa. Tuy nhiên, một biểu tương văn học muốn trở thành biểu tượng văn
hóa phải được đông đảo bạn đọc của một thời đại thừa nhận và sử dụng trong
đời sống hàng ngày. Khi biểu tượng văn học trở thành biểu tượng văn hóa thì
đó là một thành cơng của người sáng tác.
Tóm lại, qua tập hợp ý kiến của những người đi trước, chúng tôi nhận
thấy đa số các yếu tố của tác phẩm đều có thể là biểu tượng. Những biểu
tượng làm nên chiều sâu và sự giàu có của nội dung tác phẩm. Vì thế nghiên
cứu tác phẩm văn học phải đặt trọng tâm vào hệ thống biểu tượng. Khi ấy, tác
phẩm văn học mới thực sự trở thành một thế giới toàn vẹn, sống động, có ý
nghĩa khơi mở tâm hồn độc giả.
Vì những đặc trưng nói trên mà con đường phân tích, diễn giải nội dung
ý nghĩa của một biểu tượng sẽ diễn ra qua các chặng: Tìm hiểu văn bản ngôn
từ, đặt biểu tượng vào trong ngữ cảnh văn bản cụ thể, trong hệ thống tác phẩm
của nhà văn, trong bối cảnh văn hóa, lịch sử cuả thời đại, của dân tộc. Tìm
18
hiểu cảm quan về thế giới mà tác phẩm nói với chúng ta: biểu tượng là nơi
gặp gỡ của nhiều yếu tố, giống như chủ âm trong âm nhạc. Giải thích đến tận
cùng ý nghĩa của biểu tượng là điều không thể nhưng với trực giác, trải
nghiệm và kinh nghiệm văn hóa chúng ta có thể cảm nhận được các lớp nghĩa
của biểu tượng.
Không phải tác phẩm nghệ thuật nào cũng có biểu tượng. Nhiều tác
phẩm chỉ có những hình ảnh đời sống mà khơng hề có biểu tượng, chúng
khơng thể tác động sâu xa đến đời sống tinh thần con người. Nhưng bên cạnh
đó, trong lịch sử nghệ thuật nhân loại có vơ vàn tác phẩm nghệ thuật mà hình
tượng đã trở thành biểu tượng.
Có thể nói, tác phẩm văn học là sự mã hóa cảm xúc và những ý tưởng
của người viết, có khả năng diễn đạt một cách cô đọng, hàm súc. Do vậy,
những tác phẩm viết theo lối biểu tượng chưa bao giờ dễ đọc, dễ tiếp cận.
19
Chƣơng 2
BIỂU TƢỢNG DỊNG SƠNG TRONG
TÂT CẢ CÁC DÕNG SƠNG ĐỀU CHẢY
2.1. Biểu tƣợng “Dịng sơng”
2.1.1. Dịng sơng và ý nghĩa biểu tượng
Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới các tác giả đã chỉ ra hàng loạt
ý nghĩa biểu tượng của dịng sơng. Mỗi dân tộc có một quan niệm riêng, song
đều gặp nhau ở chỗ xem các con sông nhất là những con sông lớn không phải
vật thể địa lí đơn thuần, mà là nơi con người gửi gắm, kí thác những suy tư,
những ước vọng, những lời răn dạy… Ở người Hi Lạp, dịng sơng được thần
thánh hóa, là con của Đại dương hay là Cha của các nữ thần. “Người ta cúng
cho con sông những lễ vật bằng cách nhận chìm dưới những ngọn sóng những
con bò và những con ngựa sống. Người ta chỉ có thể qua sơng sau khi đã tn
thủ những nghi lễ tẩy uế và cử hành cầu nguyện. Như mọi quyền năng đem lại
màu mỡ, với những quyết định huyền bí, các dịng sơng có thể nuốt chửng,
tưới nước hoặc gây lụt lội, chở thuyền đi hay nhận chìm nó” [13, 830].
Với người Ấn Độ, “dịng chảy sơng Hằng gần như thực sự là một dịng
chảy hướng trực mà ngươì ta nói là theo một con đường chập ba: chảy trên
trời, trên măt đất, chảy dưới lòng đất” [13, 830]. Nó là dịng sơng tẩy uế, giải
thốt, chảy ra từ mái tóc của thần Civa. Cũng theo các tác giả này, “Boyne,
một trong những con sơng chính của Ailen (…) được coi như hình ảnh của
một con sơng lớn vũ trụ: mọi thứ đều đến từ đó, mọi thứ đều quay về đó. Con
sơng này xuất hiện ở nhiều vùng với nhiều tên gọi khác nhau: Severn (Anh),
Jourdain (Palestine), Tibre (Italia)… Chảy xuống từ trên núi cao, quanh co
qua những thung lũng, biến mất trong những hồ và biển, dòng sông tượng
trưng cho đời người với những mong ước, những tình cảm, những ý định và
thiên hình vạn trạng những bước ngoặt của chúng” [13, 830].
20
2.1.2. Biểu tượng “Dịng sơng” trong văn học
Trong văn học, dịng sơng là một kí hiệu, một biểu tượng thường xuất
hiện và chứa đựng những ẩn ý khác nhau của mỗi tác giả. Theo Trần Đình Sử:
“Các biểu hiện phi ngôn ngữ của cơ thể người, của nét mặt, âm thanh… cũng
giống như các biểu hiện kí hiệu của của tự nhiên như mưa, gió, giơng, bão,
bình mình, hồng hơn, chồi, nụ, hoa, lá… là những hiện tượng vật chất, vốn
có của thực tại trong tự nhiên và đời sống. Tính chất cụ thể, gợi cảm và biểu
nghĩa của chúng do lặp đi lặp lại nhiều lần trong kinh nghiệm mà hình thành
và được thừa nhận như những kí hiệu giao tiếp. Nghệ thuật mơ phỏng, sử
dụng các kí hiệu tự nhiên ấy, biến chúng thành hình tượng, làm thành ngơn
ngữ biểu đạt của mình. Hình tượng nghệ thuật do đó là một văn bản dệt bằng
các kí hiệu tự nhiên theo những quy tắc nhất định” [47, 145].
Trong văn học Việt Nam, “sông” là nước, sông cung cấp nước cho sự
sống. Những dịng sơng có mặt ở mọi miền quê trên đất Việt Nam, giống như
những mạch máu trên cơ thể con người. Sông đi vào văn chương, thành biểu
tượng mang nhiều tầng nghĩa.
Có lẽ, những dịng sơng có mặt sớm nhất trong ca dao. Có khi nó gợi ý
niệm về sự mênh mơng vơ tận, có khi khơi gợi liên tưởng về đời người, lịng
người: “Sơng sâu cịn có kẻ dị / Lịng người nham hiểm ai đo cho tường.”
Trong văn học trung đại, con sông được nhắc tới nhiều nhất là sông Bạch
Đằng - ba lần giặc đến, ba lần giặc tan. Nhiều cây bút tên tuổi đã viết về Bạch
Đằng giang: Bạch Đằng giang của Nguyễn Sưởng, Bạch Đằng hải khẩu của
Nguyễn Trãi, Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu… Con sông hiện
lên với vẻ đẹp hùng vĩ, như thể tạo hóa đã sắp đặt sẵn, biến nơi đây thành
chiến địa chôn vùi dã tâm của ngoại bang cướp nước. Dịng sơng thành lịch
sử, thành điểm tựa tinh thần của người Việt, thành biểu tượng cho non sơng:
“Trăm con sơng đều muốn hóa Bạch Đằng” (Chế Lan Viên).