BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÀ KHÁNH LINH
BIỂU TƯỢNG TRONG
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ
CON VOI BIẾN MẤT CỦA HARUKI MURAKAMI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Phú Thọ, năm 2021
BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
UBND TỈNH PHÚ THỌ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
HÀ KHÁNH LINH
BIỂU TƯỢNG TRONG
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ VÀ
CON VOI BIẾN MẤT CỦA HARUKI MURAKAMI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 8220120
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Thị Ngọc Thúy
2. GS.TS. Lê Huy Bắc
Phú Thọ, năm 2021
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Biểu tượng trong “Cánh đồng bất tận” của
Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của Haruki Murakami là kết quả nghiên
cứu của cá nhân tôi. Các số liệu và tài liệu đƣợc trích dẫn trong luận văn là
trung thực. Kết quả nghiên cứu này khơng trùng với bất cứ cơng trình nào đã
đƣợc cơng bố trƣớc đó.
Tơi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Phú Thọ, ngày
tháng
năm 2021
Tác giả luận văn
Hà Khánh Linh
ii
LỜI CẢM ƠN
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Ngọc Thúy và GS.TS.
Lê Huy Bắc, những ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tơi trong suốt q
trình thực hiện và hồn thành luận văn của mình.
Tơi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Khoa học xã hội và
Văn hóa Du lịch trƣờng Đại học Hùng Vƣơng, các thầy cơ và cán bộ phịng Tƣ liệu
Thƣ viện trƣờng Đại học Hùng Vƣơng đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tơi
trong q trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng tơi xin bày tỏ lịng biết ơn dành cho gia đình đã ln đồng hành,
động viên và là điểm tựa cho tơi trong q trình học tập cũng nhƣ hồn thành luận
văn này.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày
tháng
năm 2021
Tác giả luận văn
Hà Khánh Linh
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ...................................................................... 1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ................................................................................ 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 12
4. Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................................... 12
5. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 12
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ...................................................................................... 12
7. Cấu trúc của luận văn ............................................................................................ 13
Chương 1: BIỂU TƢỢNG THIÊN NHIÊN ............................................................ 14
1.1. Cánh đồng ......................................................................................................... 14
1.2. Khu rừng ........................................................................................................... 25
1.3. Những điểm tƣơng đồng và khác biệt ở biểu tƣợng thiên nhiên trong Cánh đồng
bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và Con voi biến mất của Haruki Murakami ............. 32
Chương 2: BIỂU TƢỢNG CON NGƢỜI ............................................................... 36
2.1. Nhân vật Vũ, Nƣơng, Điền ............................................................................... 36
2.1.1 Nhân vật Vũ .................................................................................................... 36
2.1.2. Nhân vật Nƣơng ............................................................................................. 43
2.2. Nhân vật tôi và ngƣời quản voi ......................................................................... 53
2.2.1. Nhân vật tôi .................................................................................................... 53
2.2.2. Nhân vật ngƣời quản voi ................................................................................ 59
2.3. Những điểm tƣơng đồng và khác biệt ở biểu tƣợng con ngƣời trong Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và Con voi biến mất của Haruki Murakami ......................... 63
Chương 3: BIỂU TƢỢNG LOÀI VẬT ................................................................... 67
3.1. Đàn vịt ............................................................................................................... 67
3.2. Con voi .............................................................................................................. 77
iv
3.3. Những điểm tƣơng đồng và khác biệt ở biểu tƣợng loài vật trong Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và Con voi biến mất của Haruki Murakami ......................... 88
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 93
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1.1. Biểu tƣợng là một trong những yếu tố làm nên sắc diện văn hóa của một
dân tộc. Tồn tại cùng lịch sử phát triển văn hóa của con ngƣời, biểu tƣợng làm
phong phú các hiểu biết thẩm mĩ của con ngƣời và cao hơn nữa là “khắc sâu trong
hoạt động tiến hóa tồn vẹn của con ngƣời” L.A.White định nghĩa văn hóa nhƣ là
truyền thống ngoại thân xác, trong đó các biểu tƣợng đóng vai trị chủ đạo. White
coi hành vi biểu tƣợng là một trong những đặc điểm chủ yếu của văn hóa. Ơng cũng
là ngƣời chỉ ra những đặc trƣng của văn hóa bằng liên tƣởng dịng chảy văn hóa với
sự thay đổi, lớn lên, phát triển, tƣơng hợp với các quy luật vốn có. Nghiên cứu mỗi
nền văn hóa cần coi trọng việc nghiên cứu biểu tƣợng bởi biểu tƣợng là “đơn vị cơ
bản” của văn hóa và văn hóa là một tập hợp hệ thống các biểu tƣợng. Nói đến văn
hóa của một dân tộc ta không thể không quan tâm đến các sáng tác văn học của dân
tộc đó. Và khi tìm hiểu một tác phẩm văn học thì việc khám phá ý nghĩa của các
biểu tƣợng là một việc quan trọng. Vì hành trình tìm kiếm và nghiên cứu biểu tƣợng
trong tác phẩm văn học cũng là hành trình khám phá con đƣờng đến với bản sắc văn
hóa dân tộc và cũng là hành trình tìm kiếm những giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Nó giúp
ta cảm nhận rõ hơn những thông điệp nhà văn gửi gắm, giúp thâm nhập vào cái thế
giới tinh thần ngầm ẩn bên trong cùng những lớp trầm tích văn hóa của cộng đồng.
1.2. Văn học đƣơng đại đƣợc xem là văn học của những biểu tƣợng. Trong hệ
phát triển đa dạng của văn xuôi đƣơng đại ở Việt Nam và Nhật Bản, Nguyễn Ngọc
Tƣ và Murakami Haruki nổi lên nhƣ những hiện tƣợng văn học độc đáo.
Nguyễn Ngọc Tƣ là một nhà văn trẻ chỉ mới xuất hiện trên văn đàn khoảng hai
thập niên nhƣng đã trở thành một vì sao lạ của văn học đƣơng đại Việt Nam. Nhà
văn Chu Lai đã nhiệt thành khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tƣ là một cây viết đặc biệt
của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của Việt Nam”. Với
một sức sáng tạo thiên phú, dồi dào và bền bỉ, Nguyễn Ngọc Tƣ đã cho ra mắt một
khối lƣợng tác phẩm lớn, giành đƣợc nhiều giải thƣởng văn học có uy tín cả ở Việt
Nam và nƣớc ngồi, tạo đƣợc sức lơi cuốn, hấp dẫn cùng sự yêu mến, kì vọng của
2
độc giả. Chính vì vậy mà Nguyễn Ngọc Tƣ và các sáng tác của chị đã trở thành tâm
điểm thu hút rất nhiều cây bút nghiên cứu, phê bình tìm hiểu, khám phá. Nhiều cơng
trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu phong cách nghệ thuật, các đặc điểm nội
dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ. Một vài cơng trình trong
số đó đã bắt đầu chú ý đến thế giới biểu tƣợng trong văn xuôi của nhà văn này
nhƣng hoặc quá bao quát hoặc còn rải rác, tản mạn. Chính vì vậy tác giả đã để tâm
nghiên cứu sâu hơn biểu tƣợng trong một truyện ngắn đặc sắc nhất (tính đến thời
điểm hiện tại) của Nguyễn Ngọc Tƣ, đó là Cánh đồng bất tận.
Có thể xem Haruki Murakami là nhà văn trung tâm của văn học đƣơng đại
Nhật Bản, là ứng cử viên sáng giá cho giải thƣởng Nobel văn học trong nhiều năm.
Là tiểu thuyết gia xuất sắc, ngƣời kể chuyện bậc thầy của văn học thế giới,
Murakami đã tạo ra một thứ văn chƣơng có tính chất tổng hợp, xóa nhịa mọi ranh
giới. Sáng tác của Murakami là sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại, phƣơng
Đơng và phƣơng Tây, văn hóa đại chúng và bác học, văn chƣơng thuần túy và văn
chƣơng giải trí… Sự đa dạng, phong phú của nghệ thuật tự sự đƣơng đại đã giúp
Murakami chinh phục hàng triệu độc giả ở những nền văn hóa khác nhau. Chính vì
vậy, sáng tác của Murakami đã trở thành tâm điểm thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu,
phê bình văn học. Nói đến sức hấp dẫn đặc biệt từ các sáng tác của Murakami ta
không thể không nhắc tới nghệ thuật sử dụng biểu tƣợng. Phƣơng tiện nghệ thuật
hiệu quả này đã giúp nhà văn chuyển tải những thông điệp giàu ý nghĩa đến độc giả.
Khám phá hệ thống biểu tƣợng trong sáng tác của Murakami là giải mã thế giới đa
nghĩa, siêu thực, giàu tính ẩn dụ của nhân loại và góp phần hiểu thêm về nghệ thuật
tự sự bậc thầy của Murakami – tác giả đƣơng đại nổi tiếng của Nhật Bản và thế
giới. Đã có một số cơng trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu khám phá về biểu
tƣợng trong sáng tác của Murakami nhƣng chủ yếu là trong tiểu thuyết – mảng sáng
tác nổi bật nhất của ông. Có lẽ đến nay, trong phạm vi tài liệu chúng tơi thu thập
đƣợc, chƣa có cơng trình riêng lẻ nào nghiên cứu về biểu tƣợng trong truyện ngắn
của Murakami. Thiết nghĩ đó là một khoảng trống mà nếu ta khơng tìm cách lấp đầy
thì thực sự là một thiếu sót. Chính vì vậy, tác giả bƣớc đầu mạnh dạn nghiên cứu về
biểu tƣợng trong một truyện ngắn đặc sắc của Murakami: Con voi biến mất.
3
Có thể nói sáng tác văn học là một địa hạt vơ tận cho ta tìm hiểu, khai phá.
Và dù đã có rất nhiều bài viết hay cơng trình nghiên cứu trƣớc đó ta vẫn tìm thấy
những khoảng trống đầy mời gọi. Trƣờng hợp biểu tƣợng trong truyện ngắn Cánh
đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và truyện ngắn Con voi biến mất của
Murakami là một ví dụ.
1.3.Tiếp cận và khám phá truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc
Tƣ và Con voi biến mất của Haruki Murakami, bản thân ngƣời viết cảm thấy thật sự
bị cuốn hút. Tuy mang những nét riêng của mỗi nền văn học và rất nhiều khác biệt
nhƣng cả Nguyễn Ngọc Tƣ và Haruki Murakami đều gặp gỡ nhau ở việc dụng công
xây dựng những biểu tƣợng nhƣ một thủ pháp và hơn thế nhƣ một kiểu tƣ duy nghệ
thuật trong sáng tác của mình.
1.4. Xuất phát từ những lí do trên chúng tơi lựa chọn đề tài: Biểu tượng trong
“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của Haruki
Murakami. Việc tìm hiểu, nghiên cứu biểu tƣợng trong truyện ngắn Cánh đồng bất
tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami
giúp khám phá những tầng nghĩa hàm ẩn sau biểu tƣợng và mối liên hệ giữa chúng,
từ đó nhận đƣợc những thơng điệp nhà văn gửi gắm và làm sâu sắc thêm giá trị của
tác phẩm. Đồng thời việc nghiên cứu biểu tƣợng trong hai tác phẩm của hai tác giả
thuộc hai nền văn học khác nhau để cho thấy cách xây dựng biểu tƣợng, cách mã
hóa và khả năng giải mã thơng qua việc đọc của độc giả. Đó là một cơng việc cần
thiết và có ý nghĩa trong bối cảnh tồn cầu hóa với sự giao lƣu và giao thoa văn hóa
mạnh mẽ nhƣ hiện nay, để từ đó luận văn bƣớc đầu hƣớng tới chỉ ra sự tƣơng đồng
và khác biệt của hai nền văn học và rộng hơn là hai nền văn hóa.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Khái lược về khái niệm biểu tượng
2.1.1. Biểu tượng
Từ xa xƣa biểu tƣợng đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống
tinh thần của nhân loại. Biểu tƣợng cũng cổ xƣa nhƣ ý thức của con ngƣời. Nó là
kết quả của quá trình con ngƣời muốn “đồng nhất hóa thế giới”, sử dụng các yếu tố
tự nhiên để thể hiện những quan niệm trí óc. Nhƣng việc nhận thức về biểu tƣợng
4
lại đƣợc thực hiện muộn hơn rất nhiều, đây là kết quả của sự phát triển văn hóa.
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu tƣợng.
Theo nghĩa gốc từ thời cổ Hi Lạp, biểu tƣợng (Symbolum) để chỉ dấu hiệu, sự
vật dùng để nhận biết. Khi chia tay, ngƣời ta đập vỡ một vật thành hai mảnh, mỗi
ngƣời cầm một mảnh để sau này làm dấu hiệu nhận ra nhau. Trong biểu tƣợng do
đó có dấu vết của việc lắp ghép lại các phần đối lập đúng nhƣ J. Chevalier đã nói:
“Tự bản chất của biểu tƣợng, nó phá vỡ các khn khổ định sẵn và nó tập hợp các
thái cực lại trong cùng một ý niệm”. Theo nghĩa này, biểu tƣợng là cái nhìn thấy
đƣợc mang một quy ƣớc, kí hiệu dẫn ta đến cái khơng nhìn thấy đƣợc.
Biểu tƣợng trong tiếng Hán: “biểu” là biểu hiện, phô bày ra một điều gì đó cho
mọi ngƣời biết; “tƣợng” là hình ảnh, hình tƣợng phơ bày một ý tƣởng, nội dung nào
đó, “dùng hình này để chỉ nghĩa nọ”. “Nghĩa nọ” đơi khi khác rất xa với nghĩa trực
tiếp ban đầu (nghĩa đen).
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier) thì “Biểu tƣợng cơ
bản khác với dấu hiệu ở chỗ: dấu hiệu là một quy ƣớc tùy tiện trong đó cái biểu đạt
và cái đƣợc biểu đạt (khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu
tƣợng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái đƣợc biểu đạt theo nghĩa
một lực năng động tổ chức”.
Một biểu tƣợng ln ẩn chứa trong nó nhiều lớp nghĩa, hay nói nhƣ Tzvetan
Todorov “chỉ một cái biểu đạt giúp ta nhận thức ra nhiều cái đƣợc biểu đạt, hoặc
đơn giản hơn… cái đƣợc biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt… sự ứ tràn của nội dung
ra ngồi hình thức biểu đạt của nó” [8; 27].
Cũng nhấn mạnh đến khả năng biểu đạt phong phú, sâu sắc của biểu tƣợng, Từ
điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Theo nghĩa hẹp, biểu tƣợng là một phƣơng thức
chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tƣợng nghệ thuật đặc biệt có khả năng
truyền cảm lớn, vừa khái quát đƣợc bản chất của một hiện tƣợng nào đấy, vừa thể
hiện một quan niệm, một tƣ tƣởng, một triết lí sâu xa về con ngƣời và cuộc đời”
[1;24]. Chúng tôi rất đồng tình với cách hiểu này.
2.1.2. Biểu tượng nghệ thuật
Nghệ thuật phản ánh thế giới thơng qua các hình tƣợng. Hình tƣợng nghệ thuật
5
khơng chỉ là vật mang ý nghĩa mà cịn có tính thẩm mĩ cao với khả năng tác động
vào tƣ tƣởng, tình cảm (tinh thần) con ngƣời. Biểu tƣợng là một loại hình tƣợng
nghệ thuật đặc biệt, hay có thể nói là một biến thể của hình tƣợng nghệ thuật. Hình
tƣợng là sự “chụp ảnh”, “tái tạo” hiện thực, biểu tƣợng là sự ngƣng đọng của hiện
thực. Các biểu tƣợng là hạt nhân tinh thần khiến cho các tác phẩm ƣu tú có chiều
sâu và độ ngân vang. Về phƣơng diện mĩ học, biểu tƣợng nghệ thuật là một trong
các phạm trù quan trọng mà mỗi hệ thống lí thuyết mĩ học cần lí giải. Mục tiêu của
biểu tƣợng là đƣa dẫn ngƣời đọc đến một hiện thực khác không hiện diện trực tiếp
trong văn bản. Hiện thực khác này phần nhiều lại là những quan niệm tổng quát,
những quy luật “vĩnh cửu”, những ẩn ức sâu kín của cộng đồng. Biểu tƣợng là thành
phần ngôn ngữ nghệ thuật quan trọng của tất cả các loại hình nghệ thuật: văn học,
hội họa, điêu khắc, kiến trúc, điện ảnh…
2.1.3. Biểu tượng trong tác phẩm văn học
Ở mọi thời đại và khuynh hƣớng văn học đều có các biểu tƣợng và chính điều
đó đã làm cho tác phẩm có chiều sâu, tăng dung tích hàm nghĩa cho hệ thống hình
tƣợng, gắn kết các bình diện khác nhau của văn bản. Nhƣ một hình tƣợng nghệ
thuật có chiều sâu, biểu tƣợng cho thấy sự giàu có thẩm mĩ của tác phẩm và tài nghệ
cao cƣờng của nhà văn.
Trong số các biểu tƣợng nghệ thuật, biểu tƣợng trong tác phẩm văn học là một
trƣờng hợp đặc biệt. Nó cũng là hình ảnh, hình tƣợng nghệ thuật nhƣ biểu tƣợng
trong các nghệ thuật khác nhƣng nó đƣợc tạo nên khơng phải bằng các vật liệu tự
nhiên mà bởi ngôn ngữ của con ngƣời mà ngôn ngữ thì ln đa nghĩa và dễ vận
dụng uyển chuyển. Điều đó khiến cho biểu tƣợng văn học có cấu trúc phức tạp hơn,
nội dung phong phú hơn và vì thế trƣờng diễn giải rộng hơn. Biểu tƣợng tồn tại
trong tác phẩm văn học nhƣ một công cụ kiến tạo văn bản nghệ thuật. Điều quan
trọng nhất ở biểu tƣợng là sự đa nghĩa và có “cái gì đó cổ xƣa”, làm cho tác phẩm
văn học liên kết chặt chẽ với văn hóa của một cộng đồng xã hội, một dân tộc mà
“văn hóa là tổng thể của những biểu tƣợng đƣợc cộng đồng chấp nhận” (C. LesviStrauss).
2.2. Các công trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
6
2.2.1. Những nghiên cứu chung
Nguyễn Ngọc Tƣ là một hiện tƣợng nổi bật của văn học đƣơng đại Việt Nam.
Các sáng tác của chị với những giá trị phong phú và sâu sắc đã trở thành tâm điểm
thu hút rất nhiều cây bút nghiên cứu, phê bình tìm hiểu, khám phá. Đã có rất nhiều
cơng trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ.
Nhà phê bình Trần Hữu Dũng có bài viết: Nguyễn Ngọc Tư – đặc sản miền
Nam. Bài viết đã chỉ ra cái độc đáo của Nguyễn Ngọc Tƣ chính là nồng độ phƣơng
ngữ miền Nam và đặc biệt là việc sử dụng đắc địa kho phƣơng ngữ ấy trong những
câu chuyện thật miền Nam. Chính điều đó đã tạo cho Nguyễn Ngọc Tƣ một chỗ
đứng riêng, khu biệt – đặc sản miền Nam!
Trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn xóm rẫy, tác giả Nguyễn Thanh đã
khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tƣ là một nhà văn có chân tài trong nền văn chƣơng
hiện đại Việt Nam. Tác phẩm của nhà văn mang tính hiện thực sâu sắc vì đã phản
ánh đƣợc chân dung đích thực với tâm tƣ, nguyện vọng và tình cảm của lớp ngƣời
lao động nghèo khó ở đồng bằng sơng Cửu Long, bằng một phong cách nghệ thuật
tiểu biểu cho lối viết chân chất mà cô đọng của những ngƣời cầm bút ở phƣơng
Nam” [65;4].
Nhà phê bình Huỳnh Cơng Tín trong bài viết Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ
Nam Bộ đã chỉ ra nét đặc sắc riêng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ là chất Nam
Bộ, từ không gian nghệ thuật, kiểu nhân vật đến ngôn ngữ: “Đặc biệt vùng đất và
con ngƣời Nam Bộ trong sáng tác của chị đƣợc dựng lại bằng chính chất liệu của nó
là ngơn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [69;6].
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ chỉ sau một thời gian ngắn xuất bản đã nhận
đƣợc nhiều giải thƣởng văn học có uy tín và đƣợc nhiều nhà văn lớp trƣớc đánh giá
cao. Trong lời tựa tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt, nhà văn Nguyễn Quang Sáng
đã nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngơn ngữ đời thƣờng, Nguyễn
Ngọc Tƣ đã tạo nên một khơng khí rất tự nhiên về màu sắc, hƣơng vị của mảnh đất
cuối cùng của Tổ quốc – mũi Cà Mau, của những con ngƣời tứ xứ, về mũi đất của
rừng, của sông nƣớc, của biển cả mà cha ông ta đã dày công khai phá” [74;5].
Tác giả Bùi Công Thuấn trong bài viết: Nguyễn Ngọc Tư và hành trình đã đi
7
đã mang đến một cái nhìn tổng quan về hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ từ
những sáng tác buổi đầu đến những tập truyện: Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy và nhận
thấy cái tình ngƣời sâu thẳm với những biểu hiện thật phong phú qua cảm nhận của
Nguyễn Ngọc Tƣ.
Nguyễn Trọng Bình là một trong số những nhà phê bình dành sự quan tâm đặc
biệt cho Nguyễn Ngọc Tƣ. Tác giả đã có rất nhiều bài viết bàn về truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tƣ nhƣ: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương
diện quan niệm nghệ thuật về con người; Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Đặc trưng ngơn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư; Những dạng tình huống thường găp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Giọng
điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
nhìn từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình trở về… Các bài viết này
đã cho thấy cái nhìn tồn diện về phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ với
những nét riêng, độc đáo.
Nhà phê bình Phạm Thái Lê trong bài viết: Hình tượng con người cô đơn
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đã nhận thấy: “Cô đơn luôn là nỗi đau, là bi
kịch lớn nhất của con ngƣời. Nhƣng đọc Nguyễn Ngọc Tƣ chúng ta cảm nhận rất rõ
nỗi cô đơn mà không thấy sự bi quan, tuyệt vọng. Nhân vật của chị tự ý thức về sự
cơ đơn. Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống. Và từ trong nỗi
đau ấy họ vƣơn lên làm ngƣời. Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn Ngọc Tƣ là
động lực của cái Đẹp, cái Thiện” [47;4].
Tác giả Lê Huy Bắc trong cuốn Văn học hậu hiện đại đã tiếp cận và khám phá
truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ với góc nhìn của chủ nghĩa
hậu hiện đại. Bài viết: Tính dục (sexuality) trong “Cánh đồng bất tận” đã chỉ ra
“tính dục chính là “nhân vật” quan trọng bậc nhất của Cánh đồng bất tận, là nền
tảng tƣ duy nghệ thuật của Ngọc Tƣ” [6;296].
Bên cạnh đó cịn rất nhiều bài viết bàn về các phƣơng diện nội dung và nghệ
thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ nhƣ: Cánh đồng bất tận – nhìn từ mơ
hình tự sự và ngơn ngữ nghệ thuật của Đồn Ánh Dƣơng; Dấu ấn hậu hiện đại
trong “Cánh đồng bất tận” của Hoàng Đăng Khoa; Một thế giới nghệ thuật riêng
8
của Nguyễn Khắc Phê; Nỗi nhớ qua “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Quang Sáng;
Nỗi đau trong “Cánh đồng bất tận” của Thảo Vy; Khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tư của Trần Thị Thu Hảo…
Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ còn là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều khóa
luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ. Có thể kể tên một số cơng trình nghiên cứu nhƣ:
Thế giới nghệ thuật truyện Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Kiều Oanh (luận văn
thạc sĩ, năm 2006); Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện Nguyễn Ngọc
Tư của Phạm Thị Thái Lê (luận văn thạc sĩ, năm 2007); Nghệ thuật tự sự trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Bùi Thị Nga (luận văn thạc sĩ, năm 2008); Đặc
điểm sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Phƣơng (luận văn thạc sĩ, năm
2012); Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa (luận văn thạc sĩ, năm
2017)…
Rất nhiều bài viết và cơng trình nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ
là minh chứng cho thấy sự thật Nguyễn Ngọc Tƣ là một hiện tƣợng tiêu biểu của
văn học Việt Nam đƣơng đại. Vì vậy muốn tìm hiểu, nắm bắt về văn học Việt Nam
đƣơng đại ta không thể bỏ qua Nguyễn Ngọc Tƣ.
2.2.2. Những nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc độ
biểu tượng
Đã có một số cơng trình nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, khám phá sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tƣ dƣới góc độ biểu tƣợng.
Tác giả Lê Thị Thùy Vinh có bài viết: Biểu tượng cánh đồng trong “Cánh
đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư. Bài viết đã tập trung khai thác biểu tƣợng cánh
đồng trong Cánh đồng bất tận nhằm giải mã những thông điệp thẩm mĩ, những ý tứ
sâu xa mà Nguyễn Ngọc Tƣ gửi gắm, từ đó thấy đƣợc vai trò của nhà văn trong việc
điều chỉnh, tái tạo, bổ sung những ý nghĩa mới cho hình tƣợng nghệ thuật.
Luận văn thạc sĩ: Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, năm
2013 của Nguyễn Thị Ngọc Lan đã tiếp cận, nghiên cứu văn xuôi của Nguyễn Ngọc
Tƣ từ góc độ biểu tƣợng để tìm ra những giá trị tiềm ẩn, khuất lấp sau từng biểu
tƣợng cũng nhƣ mối quan hệ giữa chúng, quan niệm của nhà văn và những thông
điệp nhà văn gửi gắm.
9
Trong bài viết: Tư duy biểu tượng trong văn xuôi nữ, tác giả Lê Thị Hƣờng đã
đề cập đến tính chất “nhị nguyên của biểu tƣợng lửa” trong Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tƣ.
Trong bài viết: Môi trường và nhân tính: tự sự của Nguyễn Ngọc Tư trong
“Cánh đồng bất tận” tác giả Đoàn Ánh Dƣơng đã nhận thấy Cánh đồng bất tận là
một câu chuyện biểu tƣợng. Bài viết đã chỉ ra biểu tƣợng cánh đồng và nhân vật
Điền giữ vai trò là thành tố chủ đạo.
Trong bài viết: Tính dục (sexuality) trong “Cánh đồng bất tận”, tác giả Lê
Huy Bắc đã nhận định: “Cánh đồng bất tận hấp dẫn ngƣời đọc bởi cách sử dụng các
chi tiết biểu tƣợng dày đặc” [6;299].
Các bài viết, các cơng trình nghiên cứu trên ít, nhiều có liên quan đến đề tài.
Chúng tơi coi những cơng trình nghiên cứu đi trƣớc là những gợi dẫn quý báu trong
quá trình thực hiện luận văn này. Theo hiểu biết giới hạn của chúng tơi cho đến nay
chƣa có cơng trình nào nghiên cứu toàn diện, đầy đủ về biểu tƣợng trong truyện
ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ. Đó là lí do thứ nhất chúng tôi lựa
chọn thực hiện đề tài này.
2.3. Các cơng trình nghiên cứu về sáng tác của Haruki Murakami
2.3.1. Những nghiên cứu về truyện ngắn Haruki Murakami
Haruki Murakami là một hiện tƣợng độc đáo của văn học Nhật Bản và là một
nhà văn tầm cỡ quốc tế. Tác phẩm của Murakami đã đƣợc dịch và phát hành ở rất
nhiều quốc gia trên thế giới với số lƣợng xuất bản đạt mức kỉ lục. Tuy nhiên vì
nhiều lí do mà sáng tác của ông mới xuất hiện ở Việt Nam đƣợc khoảng hơn chục
năm. Mặc dù vậy cái tên Murakami đã nhanh chóng trở thành tâm điểm thu hút sự
chú ý của độc giả. Đa số độc giả Việt Nam biết đến Murakami là một tiểu thuyết gia
xuất sắc của văn học đƣơng đại Nhật Bản với những tác phẩm nổi tiếng nhƣ: Rừng
Nauy, Biên niên kí chim vặn dây cót, Người tình Sputnik, Kafka bên bờ biển… Đã
có rất nhiều bài viết, cơng trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Murakami nhƣ: Con
người Nhật Bản cô đơn trong một số tiểu thuyết của Murakami Haruki của Hoàng
Thị Hiền Lê; Kiểu nhân vật chấn thương trong tiểu thuyết của Murakami Haruki
của Đặng Phƣơng Thảo; Yếu tố tình dục trong tiểu thuyết của Murakami (luận văn
10
thạc sĩ, năm 2010); Kết cấu phân mảnh trong tiểu thuyết Murakami của Tống Thị
Thu Thảo (luận văn thạc sĩ, năm 2011); Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của
Murakami của Nguyễn Bích Nhã Trúc (luận văn thạc sĩ, năm 2012); Nghệ thuật kết
cấu trong tiểu thuyết Murakami của Lê Thị Thanh (luận văn thạc sĩ, năm 2012);
Kiểu nhân vật đi tìm bản ngã trong tiểu thuyết của Murakami của Nguyễn Thị Huê
Vân (luận văn thạc sĩ, năm 2012); Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu
thuyết của Murakami của Châu Hồng Thảo (khóa luận tốt nghiệp, năm 2016)…
Song bên cạnh gia tài tiểu thuyết đáng ngƣỡng mộ, Murakami còn có một số
lƣợng đáng kể truyện ngắn. Tuy nhiên truyện ngắn của Murakami mới đƣợc dịch và
xuất bản ở Việt Nam trong thời gian gần đây và số lƣợng xuất bản khơng nhiều nên
ít có điều kiện đến với cơng chúng độc giả. Truyện ngắn của Murakami đƣợc các
nhà nghiên cứu phê bình trên thế giới đánh giá rất cao nhƣng ở Việt Nam chƣa có
nhiều cơng trình nghiên cứu về thể loại này.
Cơng trình nghiên cứu bao qt và toàn diện nhất về cuộc đời và sự nghiệp
của Haruki Murakami là của tác giả Đào Thị Thu Hằng trong cuốn Nhà văn Nhật
Bản thế kỉ XX. Ở phần viết về Haruki Murakami, tác giả đã khái lƣợc về hành trình
sáng tác của Murakami và chỉ rõ sức hấp dẫn từ những sáng tác của Murakami
chính là “một văn phong kể chuyện bậc thầy, một bản sắc văn hóa tồn cầu hóa,
một cốt truyện hấp dẫn cả về sự kiện tình tiết lẫn dụng ý nghệ thuật” [33;213].
Tác giả Hồng Long trong cuốn: Nghiên cứu và phê bình truyện ngắn
Murakami Haruki đã có bài viết về trƣờng văn hóa Nhật Bản trong tác phẩm của
Murakami và giới thiệu 20 truyện ngắn của Murakami.
Báo cáo: Thực và ảo trong truyện ngắn của Murakami Haruki trong Hội nghị
sinh viên nghiên cứu khoa học lần thứ 6 tại Đại Học Đà Nẵng của Trần Thị Yến
Minh đã đề cập đến một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn của Murakami là sự kết
hợp giữa hai yếu tố: hiện thực và huyền ảo.
Tác giả Hà Văn Lƣỡng trong bài viết: Hình tượng người trần thuật trong
truyện ngắn của Murakami Haruki – nhìn từ lí thuyết tự sự học và bài viết: Điểm
nhìn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn của Murakami Haruki – từ góc
nhìn tự sự học đã khảo sát và tìm hiểu hình tƣợng ngƣời trần thuật, điểm nhìn và
11
giọng điệu trần thuật trong các truyện ngắn của Murakami, từ đó khẳng định tài
năng nghệ thuật đặc sắc của nhà văn.
Nhìn chung các bài viết và cơng trình nghiên cứu về truyện ngắn của
Murakami Haruki chƣa có nhiều và chỉ chủ yếu dừng lại ở những khai mở, gợi dẫn
bao quát, gần nhƣ chƣa có một bài viết nào tập trung nghiên cứu cụ thể một truyện
ngắn của Murakami. Đây là một lí do thứ hai chúng tơi lựa chọn đề tài này.
2.3.2. Nghiên cứu biểu tượng trong sáng tác Haruki Murakami
Tác giả cuốn Nhà văn Nhật Bản thế kỉ XX – Đào Thị Thu Hằng đã chỉ ra một
đặc điểm quan trọng làm nên sức hấp dẫn kì lạ từ tác phẩm của Haruki Murakami là
“chất trinh thám, ẩn dụ, biểu tƣợng”. Tuy nhiên cho đến nay các bài viết, cơng trình
nghiên cứu về biểu tƣợng trong sáng tác của Murakami khá hiếm hoi và chủ yếu
hƣớng vào tiểu thuyết – thể loại nổi bật nhất trong văn nghiệp của Murakami.
Tác giả Nguyễn Anh Dân trong cơng trình nghiên cứu: Hệ thống biểu tượng
trong “Biên niên ký chim vặn dây cót” (luận văn thạc sĩ, năm 2008) đã tìm hiểu,
khám phá các hình ảnh, nhân vật mang tính biểu tƣợng của tác phẩm và chỉ ra rằng:
“Hệ thống biểu tƣợng của Biên niên ký chim vặn dây cót đa dạng và phức tạp, nó
trải dài trên các bình diện không gian, thời gian, nhân vật đến cấu trúc, kết cấu…
Chúng đã tạo nên một thế giới biểu tƣợng nhiều màu sắc kết hợp trong những cấu
trúc truyện kể độc đáo đã góp phần chuyển tải những thơng điệp sâu sắc của
Murakami Haruki đến với ngƣời đọc” [12;67].
Tác giả Trần Lam Vy cũng hƣớng sự quan tâm đặc biệt đến tính biểu tƣợng
trong tác phẩm của Murakami trong cơng trình nghiên cứu: Biểu tượng trong tác
phẩm “Kafka bên bờ biển” của Murakami (luận văn thạc sĩ, năm 2013). Tác giả đã
tập trung tìm hiểu, khám phá biểu tƣợng “chiếc bóng”, biểu tƣợng “giấc mơ” và
biểu tƣợng “ngầm” trong tác phẩm và khẳng định: “Murakami là một nhà văn đặc
biệt thích sử dụng các biểu tƣợng và ẩn dụ, ngƣời đọc không thể hiểu sâu những tác
phẩm của Murakami nếu không mang một tâm thế sẵn sàng giải mã biểu tƣợng bởi
những ẩn dụ siêu hình đƣợc ơng sử dụng dày đặc” [77;51].
Tác giả Phan Thị Huyền Trang trong công trình nghiên cứu: Biểu tượng trong
tiểu thuyết của Murakami đã khảo sát, thống kê và khám phá ba biểu tƣợng: cái giếng
12
cạn, cái bóng và nƣớc trong tiểu thuyết của Murakami. Gần đây nhất là bài viết: Biểu
tượng cái chết trong tiểu thuyết của Murakami Haruki của Lê Thị Diễm Hằng.
Nhìn chung các bài viết, cơng trình nghiên cứu về biểu tƣợng trong sáng tác của
Murakami là khá ít ỏi và theo hiểu biết giới hạn của chúng tơi thì đến nay chƣa có cơng
trình nghiên cứu nào về biểu tƣợng trong truyện ngắn của Murakami.
Nhƣ vậy nhìn lại các bài viết, các cơng trình nghiên cứu về biểu tƣợng trong
truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ và truyện ngắn của Murakami ta nhận thấy cho
đến thời điểm hiện tại chƣa có cơng trình nào tập trung nghiên cứu, khám phá hệ
thống biểu tƣợng trong một truyện ngắn cụ thể của hai tác giả này và trong tƣơng
quan đối sánh thì càng khơng có. Đó chính là lí do chúng tơi lựa chọn đề tài: Biểu
tượng trong “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư và “Con voi biến mất” của
Haruki Murakami.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu, nghiên cứu biểu tƣợng trong truyện ngắn Cánh đồng Bất tận
của Nguyễn Ngọc Tƣ và truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami để thấy
đƣợc ý nghĩa của các biểu tƣợng; cách xây dựng biểu tƣợng, cách mã hóa để gửi gắm
thơng điệp; cũng nhƣ sự tƣơng đồng và khác biệt trong thế giới biểu tƣợng của hai
nhà văn, từ đó có thêm một cách tiếp cận tác phẩm văn học dựa vào mã văn hóa.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Biểu tƣợng trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và
truyện ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami.
5. Phạm vi nghiên cứu
Truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ, in trong tập truyện
ngắn Cánh đồng bất tận, NXB Trẻ, 2019 và truyện ngắn Con voi biến mất của
Haruki Murakami, in trong tập truyện ngắn Đom đóm, NXB Đà Nẵng, 2006.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp tiếp cận là Kí hiệu học.
Về phương pháp kí hiệu học: Xuất phát từ đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
là hệ thống các biểu tƣợng trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và truyện
ngắn Con voi biến mất của Haruki Murakami. Biểu tƣợng nghệ thuật là một dạng kí
13
hiệu đặc biệt trong các tác phẩm văn học để chuyển tải tƣ tƣởng, quan niệm, thông
điệp của nhà văn. Phƣơng pháp kí hiệu học giúp ngƣời viết nhận ra đƣợc “cái biểu
đạt” (biểu tƣợng) và “cái đƣợc biểu đạt” (ý nghĩa biểu tƣợng). Bởi vậy, đây là một
phƣơng pháp chủ đạo, xuyên suốt trong việc nghiên cứu đề tài này.
6.1. Phương pháp thống kê - phân loại
Luận văn sử dụng phƣơng pháp thống kê – phân loại để khảo sát, thống kê,
phân loại các dạng thức biểu tƣợng trong hai truyện ngắn: Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tƣ và Con voi biến mất của Haruki Murakami.
6. 2. Phương pháp loại hình
Mỗi tác phẩm văn học đều thuộc một loại hình nhất định. Loại hình quy định,
chi phối cách nhà văn tổ chức tác phẩm. Vì thế, phƣơng pháp loại hình là một
phƣơng pháp khơng thể thiếu khi nghiên cứu một tác phẩm văn học. Khi nghiên cứu
đề tài này, ngƣời viết sử dụng phƣơng pháp loại hình để thấy đƣợc sự tƣơng đồng
trong cách sử dụng và ý nghĩa của các biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tƣ và Haruki Murakami.
6.3. Phương pháp so sánh
Mục đích cuối cùng của luận văn là chỉ ra điểm tƣơng đồng và khác biệt về hệ
thống biểu tƣợng trong hai truyện ngắn: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ và
Con voi biến mất của Haruki Murakami để từ đó bƣớc đầu so sánh hai nền văn học,
hai nền văn hóa Việt Nam và Nhật Bản. Vì vậy luận văn rất cần phải sử dụng
phƣơng pháp so sánh.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu bổ trợ: Phƣơng pháp
tiểu sử và các thao tác khoa học phân tích – tổng hợp trong quá trình thực hiện đề
tài này.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Thƣ mục tham khảo, luận văn gồm ba chƣơng:
- Chƣơng 1: Biểu tƣợng thiên nhiên
- Chƣơng 2: Biểu tƣợng con ngƣời
- Chƣơng 3: Biểu tƣợng loài vật
14
Chương 1: BIỂU TƢỢNG THIÊN NHIÊN
Thiên nhiên xuất hiện trong văn học không chỉ là một sự vật mà nhiều khi
đƣợc gửi gắm, kí thác vào đó một ý nghĩa, một giá trị hay nâng lên thành một biểu
tƣợng. Thiên nhiên trong văn học cũng đƣợc coi là một biểu tƣợng. Đó là một
gƣơng mặt khơng có tên, khơng xuất hiện cụ thể hay tập trung nhƣng không mấy
khi vắng bóng trong tác phẩm. Ta từng biết đến “gƣơng mặt” thiên nhiên trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du. Đó là một dạng nhân vật đặc biệt để nhà văn kí thác
những tâm tƣ, tình cảm, những nỗi niềm của mình. Bởi “Cảnh nào cảnh chẳng đeo
sầu/ Ngƣời buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thiên nhiên xuất hiện trong văn học
trung đại do gắn với đặc trƣng tính phi ngã, tính ƣớc lệ, tƣợng trƣng nên có thể phần
nào ngƣời đọc hiểu đƣợc: thiên nhiên là nơi con ngƣời gửi gắm tâm trạng. Còn với
các tác phẩm văn học hiện đại thì sao? Thiên nhiên cũng là chốn để con ngƣời nhìn
sâu vào đó để cởi tỏa những chƣớng ngại về tâm lí, kí thác tâm trạng, bộc lộ những
ẩn ức. Những khi ấy, thiên nhiên đã trở thành một biểu tƣợng chứ khơng chỉ cịn là
một sự vật tĩnh tại, giản đơn, thuần khiết.
1.1. Cánh đồng
Cánh đồng là một sự vật, một cảnh thiên nhiên mà khi nhắc tới, ngƣời ta liên
tƣởng ngay tới một không gian rộng lớn, rợn ngợp, mênh mơng. Khơng gian càng
mênh mơng thì con ngƣời lại càng cảm thấy nhỏ bé, cô liêu. Trong văn học phƣơng
Tây cánh đồng cũng từng xuất hiện trong nhiều tác phẩm văn học nhƣ Đồi gió hú,
Cuốn theo chiều gió,… Trong tâm thức và văn hóa của ngƣời phƣơng Đông, cánh
đồng cũng hàm chứa nhiều ý nghĩa biểu tƣợng. Bởi phƣơng Đông là cái nôi sản sinh
ra nền văn minh lúa nƣớc nên cánh đồng từ lâu vốn đã trở thành không gian mang
đầy giá trị biểu tƣợng. Trong ca dao dân ca, ngƣời đọc bắt gặp khơng ít hình ảnh
cánh đồng. Cánh đồng là khơng gian sinh hoạt văn hóa làng q, là nơi ngƣời lao
động bình dân cất lên câu hát, là nơi cô gái nhớ thƣơng ngƣời u, là nơi đơi lứa hị
hẹn, là nơi ngƣời nông dân đổ mồ hôi, sôi nƣớc mắt để làm ra lúa gạo. Trong văn
học hiện đại, cánh đồng vẫn tiếp nối mạch nguồn của những ý nghĩa ấy. Cánh đồng
vẫn là không gian gắn với làng quê, với nền văn minh lúa nƣớc. Khi cuộc sống chƣa
15
bị đơ thị hóa thì cánh đồng vẫn cịn xuất hiện nhiều và đa dạng, đi vào trong văn
học và dễ chắp cánh hơn trong quá trình đồng sáng tạo nơi ngƣời đọc. Nhƣng đến
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tƣ thì hình ảnh cánh đồng lại đƣợc mở ra
nhiều trƣờng nghĩa mới. Cánh đồng xuất hiện với nhiều tên gọi, gắn với nhiều danh
xƣng độc, lạ, chứa chất đầy ẩn ức của nhân vật.
Tiếp cận với truyện ngắn Cánh đồng bất tận, dễ nhận thấy cánh đồng là biểu
tƣợng trong truyện. Cánh đồng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ không xuất
hiện tập trung mà nằm rải rác từ đầu tới cuối tác phẩm. Mỗi lần xuất hiện, cánh
đồng đều gắn với một nhận thức của nhân vật tơi. Hình ảnh đầu tiên về cánh đồng
xuất hiện đầy ấn tƣợng trong cảm nhận của nhân vật cô bé Nƣơng: “Con kinh nhỏ
nằm vắt qua một cánh đồng rộng. Khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung
hãn dƣờng nhƣ cũng gom hết nắng đổ xuống nơi nầy. Những cây lúa chết non trên
đồng, thân lúa đã khô cong nhƣ tàn nhang chƣa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn”
[73;163]. Vừa xuất hiện cánh đồng đã mang theo dự cảm về sự khô cằn, dữ dội và
khắc nghiệt. Cánh đồng là nơi mà gia đình đứa trẻ chăn vịt tên Nƣơng và Điền
quyết định neo đậu lại. Sau khi ngƣời mẹ bỏ nhà đi theo ngƣời đàn ông buôn vải,
ngƣời cha của những đứa trẻ quyết định tự tay đốt toàn bộ cơ nghiệp, từ bỏ căn nhà
và sống đời du mục. Một phần vì nơi ấy lƣu giữ dấu vết của kí ức về ngƣời vợ. Một
phần vì việc rời đi sẽ khơng cịn để lại lời đàm tiếu nào từ những ngƣời hàng xóm
nhiều chuyện. Để rồi, khi ngƣời cha đặt chân tới đâu, khi đƣợc hỏi câu: “Mẹ của
đứa trẻ đâu?” Thì ngƣời cha đều không do dự mà trả lời “Chết rồi!” và nhận đƣợc
sự cảm thông: “Tội hôn?”. Mảnh vƣờn, ngôi nhà, con trâu, bến nƣớc vốn gắn với
thuộc tính tĩnh, cố định, là nơi neo đậu và đem đến sự an toàn an yên cho tâm hồn.
Nhƣng ngƣợc lại trong tác phẩm này, đó là điểm khởi đầu khiến con ngƣời hồi
nghi về khái niệm hạnh phúc, sự gắn bó, thủy chung hay bền chặt ở đời. Vì thế, việc
lƣu lạc hết từ cánh đồng này đến cánh đồng khác trở thành một cuộc chạy trốn, một
lựa chọn của cha con ngƣời chăn vịt. Không cố định, bất ổn, xơ xác, tiêu điều. Tha
hƣơng nay đây mai đó nhƣ chính sự mơng lung vơ định trong lịng ngƣời. Trở lại
với hình ảnh cánh đồng xuất hiện trong cảm nhận của cô bé Nƣơng, ngƣời đọc có
thể nhận thức đƣợc ngay một cái gì đó tàn khốc, tàn lụi mà khơng cần hiểu đƣợc bối
16
cảnh vì sao cha con họ lại lƣu lạc hết từ cánh đồng này sang cánh đồng khác.
Cánh đồng trong cánh đồng bất tận trƣớc hết mang đặc trƣng của miền sơng
nƣớc, mênh mơng, khơ cằn, nghèo khó. “Mùa đến sớm. Vì vậy mà nắng rất dài.
Mới rồi, chúng tơi dừng chân ở một xóm nhỏ bên bờ sơng lớn mênh mang. Mỉa
mai, ngƣời ở đây lại khơng có nƣớc để dùng. Ngƣời họ đầy ghẻ chốc, những đứa trẻ
gãi đến bật máu. Họ đi mua nƣớc ngọt bằng xuồng chèo, nín thở để nƣớc khỏi sánh
ra ngồi vì đƣờng xa, nƣớc mắc. Buổi chiều, đi làm mƣớn về, họ tụt xuống ao tắm
táp thứ nƣớc chua lét vì phèn, rồi xối lại đúng hai gàu. Nƣớc vo cơm dùng để rửa
rau, rửa rau xong dành rửa cá. Con nít ba tuổi đã biết quý nƣớc, mắc lắm cũng ráng
chạy ra vƣờn đái vô chậu ớt chậu hành” [73;169]. Nƣớc khan hiếm và đắt giá nhƣ
một thứ mặt hàng sa sỉ. Đây là đặc trƣng riêng của ngƣời dân quanh năm bôn ba
lênh đênh miền sông nƣớc. Nét đặc trƣng này đƣợc đƣa vào văn bản vừa cho thấy
sự am hiểu của Nguyễn Ngọc Tƣ vừa cho thấy điểm độc đáo của hình tƣợng nghệ
thuật cánh đồng cũng nhƣ tồn văn bản. Và đặc biệt hơn: “Ở đó, có ngƣời con trai
bảo, “Ƣớc làm sao trƣớc lúc má tui chết, bà đƣợc tắm một bữa đã đời”. Câu nói nầy
làm tôi thƣơng anh ta quá chừng. Hôm tôi đi, anh tần ngần đứng bên bè, hồi nhỏ
“Khơng biết em có muốn ở lại với… má tui” [73;170]. Nếu nhƣ cái nghèo cái đói là
ám ảnh cả đời của ngƣời dân miền sơng nƣớc Nam Bộ thì thiếu nƣớc ngọt là niềm
ám ảnh mỗi ngày, mỗi mùa của ngƣời. Và những thiếu thốn ấy cũng phần nào hình
thành nên tính cách của con ngƣời nơi đây: tiết kiệm, biết trân quý mọi thứ và chịu
thƣơng chịu khó. Nhƣng cũng chính sự thiếu thốn nƣớc ngọt ấy, tuy gây ảnh hƣởng
đến mùa màng, sản xuất nông nghiệp nhƣng lại trở thành chốn vui chơi lí tƣởng cho
những đứa trẻ: “Những cánh đồng chúng tôi đi qua, lúa chết khô khi mới trổ bơng.
Ngƣời ta khơng thể trồng đậu, trồng dƣa vì thiếu nƣớc. Bầy con nít giỡn nhoi trên
những con kinh khơ trơ lịng” [73;171].
Thuộc tính nƣớc đầy vơi trên cánh đồng tự yếu tính cũng hàm chứa một giá trị
biểu tƣợng. Nƣớc vốn tƣợng trƣng cho sự tràn đầy. Mặt nước váng phèn, con kinh
khơ trơ trọi thay cho thuộc tính đầy ắp nƣớc trên một cánh đồng cho thấy sự khuyết
thiếu, giống nhƣ những đứa trẻ kia, lớn lên trên miền sông nƣớc, thiếu thốn đủ bề,
đặc biệt là khuyết đi vai trò của ngƣời mẹ trong khái niệm mang tên gia đình. Nhƣ
17
thế, cánh đồng và những dịng kinh khơ cạn cũng đem đến một giá trị biểu tƣợng,
đó là sự khuyết thiếu.
Từ sự khuyết thiếu của sự vật thiên nhiên qua hình tƣợng cánh đồng, ngƣời
đọc cịn thấy đƣợc sự khuyết thiếu đủ đƣờng trong đời sống con ngƣời và trong tuổi
thơ của những đứa trẻ: “Cha đẩy chúng tôi trƣợt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên.
Mỗi lần rời khỏi một nơi nào đó, thật khó để phân biệt, chúng tôi bỏ đi hay đang
chạy trốn. Chúng tôi đánh mất cái quyền đƣợc đƣa tiễn, đƣợc xao xuyến nhìn những
cái vẫy tay, đƣợc nhận vài món quà quê nhƣ buồng chuối già hƣơng hay bó rau ngót
cắt trong vƣờn, cùng lời dặn dò quyến luyến, “Đi mạnh giỏi nghen” [73;197]. Thì ra
những đứa trẻ nhƣ Nƣơng, Điền vì sớm va đập với hiện thực chát chúa của đời sống
du mục mà trở nên nhạy cảm. Chúng cũng có tâm hồn trẻ thơ, ngây thơ nghĩ rằng
mình sẽ chết vì bị rắn cắn. Chúng ngây thơ chơi đùa với nhau mà khơng bận lịng vì
sự nghèo đói bủa vây. Chúng ngây thơ quan sát những ngƣời thợ gặt dùng toàn bộ
số tiền xóa đói để đi thỏa mãn nhu cầu tình dục. Chúng quan sát nhƣng khơng phán
xét. Đó là đặc trƣng của cái nhìn trẻ thơ trong văn học. Cũng nhờ cái nhìn trẻ thơ ấy
mà hiện thực cuộc sống đƣợc phơi bày trần trụi và có sức ám ảnh cao. Nƣơng về cơ
bản không phải là không biết buồn mà em chấp nhận và sống chung với nỗi buồn
với tâm thế bình thản nhất. Cũng nhƣ cơ Mị của Tơ Hồi: Sống lâu trong cái khổ,
Mị đã quen khổ rồi, khơng cịn kêu ca hay ca thán gì nữa. Ở đây ngƣời đọc có thể
thấy có một sự hơ ứng giữa biểu tƣợng cánh đồng và biểu tƣợng ngƣời mẹ. Ngƣời
mẹ là nguồn sống, nuôi dƣỡng, ôm ấp những đứa trẻ. Đứa trẻ có lớn lên thơng
minh, khỏe mạnh, sống hạnh phúc là nhờ dòng sữa và sự chăm bẵm của ngƣời mẹ.
Cịn cánh đồng có nguồn sống là đất mẹ. Đất đai khô cằn, cái đồng dù mênh mơng
vẫn hoang hoải, khơ héo, thậm chí cịn thao thiết thay đổi vị nƣớc. Cũng nhƣ những
đứa trẻ dân du mục kia, mẹ chúng bỏ đi, chúng tự lớn lên nhƣ cây cỏ trên cánh
đồng. Cánh đồng với chúng là bạn. Chúng cũng có tâm hồn giống nhƣ cánh đồng
kia: héo úa, tổn thƣơng, rỉ máu. Hay nói cách khác, cánh đồng có tâm hồn đồng
điệu với tâm hồn những đứa trẻ.
Hơn nữa, cánh đồng cịn là khơng gian riêng của gia đình Nƣơng, hoang hoải,
lƣu lạc, cơ liêu. Nó đã vạch nên một bức tƣờng ranh giới giữa thế giới trong này và
18
ngồi kia, giữa khơng và có, giữa giàu và nghèo, giữa chúng tơi và bọn họ, giữa
bình thƣờng và khác thƣờng, giữa buồn và vui. Cánh đồng khi ấy không xuất hiện
và khơng hẳn là ngun nhân chính khiến Nƣơng có so sánh nhƣ vậy nhƣng thực
chất cũng là khơng gian suy tƣ cho cô bé đa sầu đa cảm này: “Họ có nhà để về,
chúng tơi thì khơng. Họ sống giữa chịm xóm đơng đúc, chúng tơi thì khơng. Họ
ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tơi thì khơng. Nằm chèo queo, co rúm, chen
chúc nhau trên sạp ghe, chúng tơi đánh mất thói quen chiêm bao. Điều nầy làm tơi
và Điền buồn biết bao nhiêu, vì cách duy nhất để đƣợc nhìn lại hình bóng má cũng
tan rồi. Mà, nếu nhƣ những cơn chiêm bao quay trở lại, chúng tơi khơng biết chắc là
hình ảnh ấy của má có xuất hiện hay khơng” [73;185]. Những đứa trẻ thèm đƣợc
sống giữa chịm xóm đơng ngƣời, thèm đƣợc gia nhập xã hội lồi ngƣời chứ khơng
phải là thu lu một xó với những con vịt. Trẻ con, có đứa nào mà khơng thích đƣợc
nơ đùa với chúng bạn, khơng thích đƣợc đến trƣờng để học con chữ. Vậy mà Nƣơng
và Điền lại khơng có tuổi thơ bình thƣờng nhƣ vậy. Hai đứa trẻ lớn lên trong sự cô
đơn, trơ trọi, mênh mơng. Mẹ bỏ đi, cha vì hận ngƣời mẹ mà trở thành ngƣời trầm
lặng, cục súc. Những đứa trẻ khơng dám mơ và thực chất là khơng có nổi giấc mơ
bởi giấc ngủ trên xuồng khác với giấc ngủ êm ái trên đất liền. Những đứa trẻ ấy thật
tội nghiệp. Khơng những thế, chúng cịn qn ln cả gƣơng mặt mẹ, kí ức và nhân
dạng về mẹ chỉ cịn là cái bóng mờ nhịe giống nhƣ đƣợc nhìn qua lăng kính lịa
nhịa của đơi mắt ngấn lệ. Và khơng đâu khác, chính cánh đồng cơ đơn hoang hoải
đã giúp những đứa trẻ nhận ra điều ấy. Cánh đồng ôm ấp chúng vào lòng, vỗ về,
dạy cho những đứa trẻ kĩ năng sống; đồng thời cũng nghiêm khắc dạy dỗ, khiến
chúng nhìn đời và trải đời với những sự thực trần trụi nhói đau. Thế rồi, những đứa
trẻ cũng tìm cách phản kháng nhƣng càng phản kháng càng chứng tỏ sự bất lực và
vô phƣơng hƣớng: “Chị em tôi hết sức cố gắng để giận dữ, chán chƣờng của mình
khơng bùng cháy. Chúng tôi cho vịt ăn thật xa trên đồng, vạ vật ở đó từ sáng tới
chiều. Gió hoang liêu khơng làm lịng hai đứa nguội lại. May ra gió chỉ thổi khơ
nƣớc mắt lúc nào cũng ri rỉ trên mặt em tôi” [73;197]. Điền chảy nƣớc mắt không
ngừng đƣợc từ ngày chứng kiến cảnh mẹ nó qua kẽ hở của bồ thóc. Nó khơng khóc,
nỗi buồn ấy đã khơng cịn đau nữa mà trở thành vết chai, nhƣng nƣớc mắt thì cứ thế
19
rỉ ra. Cánh đồng khi ấy lại thổi những cơn gió để làm khơ đi những giọt nƣớc mắt
khơng cảm xúc của Điền cũng nhƣ Nƣơng. Gió đồng nội cũng là một biến thể khác
của biểu tƣợng cánh đồng, thể hiện sự vỗ về, an ủi của thiên nhiên cho những đứa
trẻ đáng thƣơng.
Và cánh đồng khơng chỉ có một mà là thật nhiều những cánh đồng. Mỗi nơi
mà cha con ngƣời chăn vịt đi qua, đặt chân tới đều lƣu giữ lại những mảnh kí ức.
Mỗi cánh đồng lại chất chứa một câu chuyện mà qua lăng kính của cô bé Nƣơng ta
thấy đƣợc rất rõ nét, ấn tƣợng: “Cánh đồng khơng có tên. Nhƣng với tơi và Điền,
chẳng có nơi nào là vơ danh, chúng tơi nhắc, chúng tơi gọi tên bằng những kỉ niệm
mà chúng tơi có trên mỗi cánh đồng. Chỗ chị em tôi trồng cây, chỗ Điền bị rắn cắn,
chỗ tơi có kỳ kinh nguyệt đầu tiên… Và mai nầy, khi tôi dạt đến một nơi nào khác,
nhắc đến cánh đồng nầy với cái tên của chị, chắc chúng tôi sẽ xốn xang” [73;167];
thế rồi: “Chúng tôi ở trên cánh đồng vắng ngắt” [73;168]. Và “Những cánh đồng
chúng tôi đi qua, lúa chết khô khi mới trổ bông. Ngƣời ta không thể trồng đậu, trồng
dƣa vì thiếu nƣớc. Bầy con nít giỡn nhoi trên những con kinh khơ trơ lịng”
[73;171]. Cánh đồng trở thành một mảnh ghép của tuổi thơ những đứa trẻ. Là trẻ
con, đứa bé nào mà chẳng từng trồng cây, nghịch ngợm, chơi đùa. Nhƣng nếu nhƣ
những đứa trẻ thị thành nghịch ngợm trong không gian thành phố, đƣợc sự kèm cặp
dạy dỗ thì chúng chắc hẳn sẽ khơng có đƣợc trải nghiệm đầy hoang dã và vấp ngã
thì tự đứng dậy nhƣ những đứa trẻ miền sơng nƣớc này. Nếu nói chúng bị bỏ bê, bị
thất học làm cho láo lếu hay lêu lổng thì khơng đúng. Đứa trẻ nào cũng ẩn chứa một
tâm hồn thơ ngây, non dại và ngoan ngoãn. Hai chị em Nƣơng và Điền cũng vậy,
chúng là những đứa trẻ cảm tƣởng nhƣ những cây cỏ mọc hoang trên cánh đồng. Tự
nƣơng níu bấu víu lấy nhau mà lớn lên. Điều gì chúng khơng biết, chúng sẽ thử.
Vấp ngã, chúng sẽ tự đứng dậy. Điều gì khơng lí giải đƣợc, chúng sẽ gửi một dấu
hỏi lớn vào những cánh đồng – nơi chúng từng đặt chân tới, và thƣờng thì sẽ chẳng
bao giờ có câu trả lời. Nhƣng có thể khẳng định, cánh đồng đã dạy cho Nƣơng và
Điền nhiều điều. Cánh đồng khơng cịn là một không gian lành mà đã trở thành một
môi trƣờng rèn luyện để những đứa trẻ học đƣợc những vấp ngã và đứng dậy từ vấp
ngã. Cánh đồng không chỉ là cuộc sống mƣu sinh mà còn là tấm gƣơng soi cho