i
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh. Các tài liệu, những kết luận, nhận
định là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và chưa được cơng bố trong bất cứ cơng
trình nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Hương
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành luận văn này, tơi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ vô cùng
quý báu của các tập thể và cá nhân.
Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới T.S Phạm Tuấn Anh, người đã
tận tâm hướng dẫn tơi trong q trình học tập, nghiên cứu và triển khai đề tài
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương,
phịng đào tạo, các thầy giáo, cơ giáo trong trường, các thầy giáo, cô giáo
trong khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn đã cho tôi vốn kiến thức và tạo mọi
điều kiện thuận lợi trong suốt khóa học tại trườngvà q trình nghiên cứu
hồn thành luận văn này.
Tơi xin trân trọng cảm ơn Trường THPT Phù Ninh, nơi tôi công tác,
cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ để tơi có thể hồn thành nhiệm vụ
cơng tác, học tập và nghiên cứu.
Xin biết ơn gia đình, những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ để
tôi có điều kiện hồn thành luận văn này.
Phú Thọ, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Thanh Hương
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .................................................................................3
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .........................................................................10
5. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................11
CHƢƠNG 1. VỊ TRÍ CỦA CÁI BI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN
MINH CHÂU SAU 1975 .........................................................................................12
1.1. Khái niệm cái bi và bi kịch xã hội .....................................................................12
1.1.1 Khái niệm cái bi ...............................................................................................12
1.1.2. Bi kịch xã hội ..................................................................................................16
1.2. Quan điểm đổi mới của Nguyễn Minh Châu sau 1975 trong bối cảnh lịch sử xã
hội mới ......................................................................................................................18
1.3. Vai trò của cái bi trong sự thay đổi hệ thống thẩm mĩ của Nguyễn Minh Châu
sau 1975.....................................................................................................................24
CHƢƠNG 2. XUNG ĐỘT BI KỊCH XÃ HỘI TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 ......................................................................33
2.1. Khái niệm xung đột bi kịch ................................................................................33
2.2. Các dạng xung đột biểu hiện mâu thuẫn xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu sau 1975 ...........................................................................................................35
2.3 Các kiểu cốt truyện tiêu biểu thể hiện bi kịch xã hội trong truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sau 1975 ....................................................................................46
CHƢƠNG 3. NHÂN VẬT BI KỊCH XÃ HỘI TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975 ......................................................................59
3.1. Khái niệm nhân vật bi kịch ................................................................................59
3.2. Quan niệm bi kịch "sắm vai" và thế giới nhân vật bi kịch xã hội trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ...........................................................................61
3.2.1. Nhân vật bi kịch mưu sinh ..............................................................................62
3.2.2. Nhân vật bi kịch hạnh phúc tình yêu ...............................................................67
3.2.3. Nhân vật bi kịch bị tha hóa nhân phẩm ...........................................................70
KẾT LUẬN ...............................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................80
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền văn học Việt Nam từ sau năm1975 đã có những bước chuyển mình
quan trọng. Giai đoạn này khơng chỉ đánh dấu sự phát triển của các lĩnh vực
nghệ thuật khác như: sân khấu, hội họa, âm nhạc, điện ảnh,… mà nó cịn tạo
nên phong trào phát triển rầm rộ của thơ và văn xuôi . “Thế hệ hậu chiến”
bước đầu dù vẫn đang loay hoay tìm hướng đi mới, nhưng cũng đã định hình
sẵn trong bản thân họ sự thúc giục cần phải đổi mới chính mình, bằng cách
tiếp cận những mảng đề tài mới cũng như học hỏi các trào lưu sáng tác
phương Tây. Những người cầm bút từ thời kì chiến tranh đều nhận thức rất rõ
rằng nếu họ không thay đổi cách viết, cách nhìn họ sẽ khơng có độc giả vì thế
buộc họ phải tự đổi mới cách viết và đề tài hướng đến. Sự đổi mới ở vào thời
điểm này cũng tạo nên sự phức tạp và tạo ra nhiều thách thức về nhiều mặt
đối với các nhà văn thời bấy giờ. Vì vậy, có thể nói thể loại truyện ngắn trong
văn học sau năm 1975 đã và đang là đối tượng nghiên cứu đầy phức tạp,
thách thức những người làm công tác nghiên cứu văn học nói chung và
nghiên cứu những giá trị thẩm mĩ của văn học nói riêng.
Nguyễn Minh Châu là một cây bút đáng chú ý, tiêu biểu cho thế hệ tác
giả thời chiến và hậu chiến. Ông đã phần nào đánh dấu được phong cách sáng
tác riêng của mình trong địa hạt văn xi chiến tranh và buổi đầu thời kì đổi
mới. Tính đến năm 2003, Nguyễn Minh Châu đã cho ra đời khoảng 20 tác
phẩm thuộc nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết…Dù số
lượng tác phẩm không quá đồ sộ nhưng các sáng tác của ông đều đạt chất
lượng cao cả về nội dung đặc sắc và nghệ thuật tiêu biểu. Nhà nghiên cứu Tôn
Phương Lan đã nhận định trong Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
như sau “Thật ra quãng thời gian cầm bút và lượng đầu sách ấy khơng thể nói
là nhiều. Điều đáng nói ở đây là với trí tuệ và trái tim mẫn cảm, Nguyễn Minh
2
Châu đã làm việc, suy nghĩ nghiêm túc nên mỗi tác phẩm của ông ngay từ khi
mới ra đời đều được bạn đọc cũng như giới phê bình đón nhận nồng nhiệt vì
nó thực sự có ích cho cách mạng, cho cuộc sống”. Nguyễn Minh châu đã tạo
cho mình những sáng tạo, cách tân riêng, đặc biệt trong sáng tác truyện ngắn.
Chẳng phải đơn giản mà nhà văn Nguyễn Khải lại dành cho Nguyễn Minh
Châu những lời đánh giá trân trọng rằng ơng là nhà văn có sự kế tục một cách
xuất sắc những cây bút bậc thầy đi trước trong nền văn xi Việt nam hiện
đại. Nguyễn Khải cịn khẳng định rằng ông là người "mở đường" tinh anh và
tìa năng trong văn học bấy giờ.[32;108] Chính vì vậy với đề tài nghiên cứu
“Bi kịch xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” chúng tơi
mong muốn đóng góp một phần vào những tư liệu nghiên cứu trong việc tìm
hiểu truyện ngắn của các thế hệ nhà văn trong thời kì đổi mới – những người
đã định hướng, mở đường cho thế hệ trẻ sau này, mà trong đó tác giả Nguyễn
Minh Châu nổi bật hơn hẳn về bút lực và sức viết bền bỉ.
Nguyễn Minh Châu qua 40 năm sáng tác bền bỉ đã chứng tỏ khả năng
sáng tạo dồi dào của mình trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên văn đàn. Sự
nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu nói chung, các sáng tác ở thể loại
truyện ngắn của ơng từ sau năm 1975 nói riêng đã được rất nhiều nhà nghiên
cứu tên tuổi đi sâu khám phá, bàn luận. Tuy nhiên cho đến nay, chưa thấy có
một cơng trình nào chun biệt nghiên cứu và nhận diện đặc trưng thẩm mĩ
của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nhất là ở góc độ cái bi mà cụ thể là
những bi kịch xã hội được phản ánh trong các sáng tác của Nguyễn Minh
Châu sau 1975. Hơn nữa tiếp cận văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 trên phương
diện thẩm mĩ nhất là trong sự chuyển đổi hệ thống thẩm mĩ và tiếp nhận thẩm
mĩ hiện đại cũng là một trong những con đường chưa có nhiều dấu chân qua.
Từ những lí do trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài Bi kịch
xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 là có tính cấp thiết cả
3
về lí luận và thực tiễn. Chọn nghiên cứu đề tài này chúng tơi mong muốn sẽ
góp thêm một góc nhìn mới, định hướng một cách tiếp cận từ phương diện
thẩm mĩ đối với các tác phẩm truyện ngắn mà nhà văn Nguyễn Minh Châu
sáng tác sau năm 1975.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Minh Châu
và các tác phẩm truyện ngắn của ông sau 1975
Suốt một đời cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã cho ra đời nhiều tác
phẩm hấp dẫn, có giá trị thu hút độc giả trong và ngồi nước. Vì thế, số lượng
các bài viết, bài nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và phong cách sáng tác
của ông rất phong phú.
Hơn 40 năm cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã cho ra đời các tác phẩm
chất lượng đủ để ghi lại những dấu ấn, tình cảm khó phai trong cảm xúc
người tiếp nhận, đặc biệt là giới phê bình văn học. Trong phạm vi nghiên cứu
này, nhiều bài viết không chỉ tái hiện lại chặng đường phát triển sự nghiệp
của Nguyễn Minh Châu mà còn nghiên cứu sâu sắc một số đặc điểm nghệ
thuật trong phong cách sáng tác của nhà văn này.
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong Nguyễn Minh Châu - con
người và tác phẩm đã nhận xét: bởi quan niệm tâm điểm của văn học và đời
sống đều là con người, đời sống và văn học là những vòng tròn đồng tâm
xoay quanh quan điểm ấy nên tác phẩm của Nguyễn Minh Châu luôn quan
tâm đào sâu, khám phá, miêu tả và thể hiện con người trong đời sống xã hội.
Hành trình sáng tác của nhà văn cũng là hành trình khám phá con người.
[36;147]. Thực vậy, trong sự nghiệp cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu
luôn viết về số phận con người và đã xây dựng được nhiều hình tượng nhân
vật bi kịch đặc sắc dựa trên các phạm trù khu biệt của giá trị thẩm mĩ.
Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm đến độc giả những chiêm nghiệm, suy
4
nghĩ chân thành về nghề viết văn, về cuộc đời và con người trong dịng văn
học thời chiến q trình thay đổi diện mạo văn học sau 1975. Vào thời gian
văn học Việt Nam phát triển đỉnh cao sau hậu chiến, Nguyễn Minh Châu là
nhà văn nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu từ phía độc giả
và giới phê bình chun mơn. Tháng 6 năm 1985, tuần báo Văn nghệ tổ chức
cuộc hội thảo Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh
Châu với sự tham gia của nhiều nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học, những
người làm công tác biên tập. Trong hội thảo này, đã có nhiều nhận định về
Nguyễn Minh Châu được ghi nhận như sau: "Nguyễn Minh Châu là một trong
những nhà văn duy trì sự tìm tịi, góp phần làm cho văn học khơng nhạt, giúp
cho văn học có cái để bàn"(Lê Lựu), “nhà văn có sức quyến rũ người đọc
tham dự và yêu cầu cuộc sống” (Tơ Hồi); Cịn nhà nghiên cứu phong Lê lại
cho rằng Nguyễn Minh Châu là người có giọng điệu riêng, sự đa thanh, lắm
giọng của cuộc đời đã đi vào tác phẩm của ơng một cách tự nhiên…Từ đó,
một số đặc điểm về quan điểm nghệ thuật cũng như phạm trù giọng điệu tác
giả cũng phần nào được gợi tả trong các bài viết thuộc hội thảo trên. Nhà văn
Nguyễn Minh Châu đã đi sâu và khám phá về con người, về cách nhìn con
người trong và sau chiến tranh, như lời phát biểu của nhà văn Xuân Trường
trong hội thảo: “Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu những năm gần đây là một
hiện tượng, là một khuynh hướng tìm tịi trong nghệ thuật của chúng ta…
Nguyễn Minh Châu muốn soi rọi vào từng con người… Tôi nghĩ, chỉ riêng ý
định ấy, tinh thần trách nhiệm ấy, chúng ta đã phải trân trọng”.
Ngoài ra, hàng loạt các truyện ngắn, truyện dài và tiểu thuyết của ơng
được mổ xẻ, phân tích trong một số luận văn hoặc khóa luận như: Lời văn
nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu (luận án tiến sĩ của Phạm
Thị Thanh Nga, Học viện Hàn lâm Khoa học – xã hội, năm 2012), Thế giới
nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ( Nguyễn Thị Phương Thảo, luận
5
văn thạc sĩ, trường Đại học KHXH&NV, 2008), Truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu từ hướng tiếp cận thi pháp tác giả (Nguyễn Thị Kim Tiến, luận văn
thạc sĩ, trường ĐHKHXH&NV, 1999), Nguyễn Minh Châu, nhà văn đi tiên
phong trong thời kì đổi mới (Nguyễn Văn Vui, luận văn thạc sĩ, trường
ĐHKHXH&NV, 1999),…Điểm nổi bật trong các bài viết này là các nhà
nghiên cứu đều nêu ra những nhận xét, đánh giá chân thực, đúng đắn về văn
xuôi Nguyễn Minh Châu, mở ra những gợi ý hết sức quý báu cho những
người tiếp tục nghiên cứu về nhà văn này. Các luận văn đã đi sâu nghiên cứu,
tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người và sự đổi mới cách nhìn về con
người trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975, đồng thời còn khai
thác các yếu thuộc giá trị nghệ thuật như điểm nhìn, giọng điệu, các thủ pháp
xây dựng hệ thống nhân vật và sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng.
Đối với các bài viết, cơng trình phân tích các tác phẩm truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu theo một số lĩnh vực và đề tài cụ thể, các nhà nghiên cứu
đều phân tích rõ ràng các luận điểm hết sức nghiêm túc và khách quan. Hàng
loạt các truyện ngắn sau mà Nguyễn Minh Châu sáng tác thời kì sau 1975 đã
được mổ xẻ, phân tích trong một số bài viết như: Ngôn ngữ kể chuyện trong
truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu (Luận văn Thạc sĩ, Đỗ
Thị Hiên , Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội, 2007);
Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ (tác giả Lê Thị Sao Chi,
Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại Học Vinh, 2014), Nghệ thuật phân tích tâm lý
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 (Luận văn Thạc sĩ, Bùi Thị
Mai, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội, 2014), Hành
động trần thuật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
Chu Lai, Lê Lựu (Luận văn Tiến sĩ, Cao Xuân Hải, Trường Đại Học Vinh,
2010),… Đây là những đề tài mang tính thiết thực và đã chỉ ra được những
6
đặc điểm trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đồng thời chỉ ra được sự vận
động của nó trong nền văn xi Việt Nam đương đại.
Bên cạnh những cơng trình nghiên cứu học thuật như trên cịn có hàng
loạt những bài viết riêng lẻ về các truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau
1975 đăng trên các ấn phẩm báo chí như: Đọc "Người đàn bà trên chuyến tàu
tốc hành" (Huỳnh Như Phương, Báo Văn nghệ, số 3 năm 1984); Sáng tác
truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu (Lại Nguyên Ân, Tạp chí Văn
học, số 3 năm 1987); Bến quê, một phong cách nghệ thuật có chiều sâu (Trần
Đình Sử , Báo Văn nghệ, số 8 năm 1987); Nguyễn Minh Châu những năm 80
và sự đổi mới cách nhìn về con người (Nguyễn Văn Hạnh , Tạp chí Văn học,
số 3 năm 1993); ….
Trong các luận văn, đề tài nghiên cứu và bài viết trên, một lần nữa cách
viết mộc mạc, dung dị lại pha trộn tính triết lí sâu đậm của Nguyễn Minh
Châu đã được khẳng định chất riêng và cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu đưa vào khám phá, phân tích cụ thể. Đồng thời, các luận điểm khái quát
trong văn chương của Nguyễn Minh Châu tựu chung lại được phân tích trên
các bình diện về phong cách viết. Phải kể đến các bài viết của Huỳnh Như
Phương hay Trần Đình Sử, họ là những người đã soi rọi vào trang sách của
Nguyễn Minh Châu và rút tỉa ra được những điều đặc trưng nhất, khái quát
nhất trong các sáng tác của ông, đặc biệt là địa hạt truyện ngắn sau 1975. Nếu
các bài viết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp văn chương Nguyễn Minh
Châu đã trình bày và lý giải lí do Nguyễn Minh Châu lựa chọn dành tình cảm
yêu thương nhất định cho đối tượng các nhân vật bi kịch, thì đến với các bài
viết phân tích khái quát các tác phẩm truyện ngắn của ơng, nhiều nhà phân
tích khai thác đào sâu hơn ở các đặc điểm khác trong phong cách sáng tác của
Nguyễn Minh Châu như chất triết lí nhân sinh và các mảng đề tài mang tính
chung nhất như tình người, lịng nhân đạo, tính nhân ái,…
7
Luận văn về Bi kịch xã hội trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau
1975 cũng dựa trên các kết quả quý báu của các bài nghiên cứu này để kế
thừa và phát huy đi sâu phân tích giá trị thẩm mĩ trong các sáng tác truyện
ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu. Tuy nhiên, việc kế thừa này cũng
mang tính chất chọn lọc và chúng tôi sẽ đưa ra các luận điểm mới hơn để
phân tích những bình diện khác trong các sáng tác truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu dưới góc độ phân tích giá trị thẩm mĩ.
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu giá trị bi kịch trong tác phẩm
của Nguyễn Minh Châu
Nói riêng về khái niệm “cái bi” trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
có thể thấy khơng nhiều cơng trình nghiên cứu, hay bài viết đề cấp đến luận
đề này. Chúng tơi chưa tìm thấy một cơng trình chuyên biệt nào nghiên cứu
tập chung, chuyên sâu về đề tài “Bi kịch xã hội trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975”. Các luận văn và cơng trình có kể đến đề tài này chiếm
số lượng khá ít. Có thể kể tên một số đề tài như: Nhân vật bi kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 (Luận văn tốt nghiệp đại học, Trương Thị
Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, 2013), Cảm hứng về cái bi trong truyện
ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 (Cơng trình nghiên cứu khoa học Đại
học Duy Tân, Chủ nhiệm đề tài: Th.S Hoàng Thị Hường, Đại học Duy Tân,
2013)
Trong luận văn Nhân vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu,
tác giả Trương Thị Anh đã tổng hợp một số ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu
khác khi phân tích tính bi kịch các sáng tác của nhà văn này. Có thể thấy các
ý kiến là những đánh giá đơn lẻ về một tác phẩm hay một vài tác phẩm hoặc
thiên về các tác phẩm trước 1975 của Nguyễn Minh châu chứ chưa có những
đánh giá tồn diện hoặc sâu sắc về bi kịch xã hội trong truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
8
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu mang tính giới thuyết về giá trị
bi kịch trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đều có chung điểm nhìn
khai thác về phong cách sáng tác đậm đặc triết lý nhân sinh của ơng thơng qua
lăng kính về cuộc đời và xã hội. Các bài viết đều góp phần lý giải vì sao ngôn
ngữ văn chương của Nguyễn Minh Châu lại mang màu sắc bi kịch như vậy.
Đó khơng chỉ thể hiện tiếng lòng khát khao, mà còn chưa đựng những giá trị,
tư tưởng nhân văn sâu sắc về nỗi đau chiến tranh và thân phận người phụ nữ
hiện đại. Các bài viết này cũng tập trung khai thác nỗi đau chiến tranh và sự
mất mát của chính tác giả trong thời gian hoạt động tại chiến trường, để củng
cố thêm lí do cho việc Nguyễn Minh Châu thường chọn chiến tranh là đề tài
hay lý do dẫn đến bi kịch trong hầu hết các tác phẩm truyện ngắn.
Trong đề tài luận văn này, chúng tôi cũng sẽ tiếp thu một cách nghiêm
túc những đánh giá, nhận định, thành quả nghiên cứu của những người đi
trước về giá trị bi kịch mà tác giả đã thể hiện, đồng thời cũng sẽ giới thiệu và
phân tích thêm các vấn đề mới dựa trên điểm nhìn thẩm mĩ học.
Để thể hiện được những đóng góp mới của luận văn này, đề tài sẽ được
triển khai theo các hướng sau: Khảo sát các sáng tác thuộc thể loại truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sáng tác sau năm 1975 dựa trên các quan điểm giá
trị thẩm mĩ. Từ đó chúng tơi sẽ nghiên cứu sâu hơn về vị trí của cái bi và
xung đột bi kịch, đặc biệt là bi kịch xã hội trong truyện ngắn của nhà văn
Nguyễn Minh Châu sau 1975, đồng thời cũng nhân rộng phạm vi nghiên cứu,
nhằm phân tích sâu rộng hơn quan niệm bi kịch "sắm vai" và được thể hiện
trong hệ thống các loại nhân vật bi kịch trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
sau 1975 cụ thể như: nhân vật bi kịch mưu sinh, nhân vật bi kịch hạnh phúc
tình yêu, nhân vật bi kịch bị tha hóa nhân phẩm. Từ nền tảng các cơng trình
nghiên cứu trên, chúng tơi mong muốn đề tài “Bi kịch xã hội trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” sẽ góp phần bổ sung thêm những góc
9
nhìn đa chiều trong việc đánh giá, nhận xét tài năng của Nguyễn Minh Châu một cây bút chủ lực của văn học thời kì nhiều biến động sau khi chiến tranh
kết thúc.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu của đề tài
Thông qua việc khảo sát các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Minh
Châu sau 1975, đặc biệt chú trọng khảo sát các tác phẩm xuất hiện những
xung đột, mâu thuẫn khơng thể hịa giải được trong đời sống xã hội để làm
sáng rõ những vấn đề lí thuyết xung quanh vấn đề cái bi - một trong những
giá trị thẩm mĩ quan trọng của văn học, nghệ thuật.
Trên cơ sở đó chúng tơi sẽ đi sâu vào khảo sát tần xuất, nhận diện, phân
tích, phân loại các bi kịch xã hội qua những xung đột bi kịch, qua các nhân
vật bi kịch trong các tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 để làm sáng rõ
nhận định cái bi là phạm trù chủ âm trong hệ thống giá trị thẩm mĩ của truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
Đồng thời, từ việc nghiên cứu “Bi kịch xã hội trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975”, chúng tôi cũng thực hiện so sánh tư tưởng nhà
văn trước và sau năm 1975, cũng như đối chiếu so sánh với các tác giả cùng
địa hạt văn chương để đưa ra cái nhìn khách quan nhất về sự đổi mới và
những đóng góp của cây bút này trên phương diện thẩm mĩ.
10
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975,
xác định các khái niệm công cụ: cái bi, xung đột bi kịch, bi kịch xã hội, nhân
vật bi kịch.
-Trình bày các luận điểm về bi kịch xã hội trong truyện ngắn của
Nguyễn Minh Châu sau 1975.
- Khảo sát, nhận diện và phân loại các kiểu dạng nhân vật bi kịch xoay
quanh mô tuýp "sắm vai? trong thế giới nhân vật xuất hiện trong sáng tác
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ những cơ sở lí luận về phạm
trù thẩm mĩ: cái bi, đi sâu khám phá một dạng của bi kịch số phận trong
truyện ngắn nguyễn Minh Châu sau 1975 - cụ thể là bi kịch xã hội.
Giá trị thẩm mĩ của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 khơng
chỉ có cái bi mà cịn có những sắc điệu thẩm mĩ khác hết sức đa dạng như: cái
đẹp, cái hài, cái cao cả, cái cảm thương, cái phi lí.... Song, như tên đề tài đã
thể hiện, ở đây chúng tôi tự giới hạn chỉ đi sâu nghiên cứu bi kịch xã hội
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu đề tài "Bi kịch xã hội trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” dựa trên đối tượng khảo sát là các tác
phẩm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 trong Tuyển tập truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu (NXB Văn học Hà Nội, 2009).
11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài chúng tôi đào sâu nghiên cứu về vấn đề “Bi kịch xã hội trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975” dựa trên việc phân tích các xung
đột bi kịch, các nhân vật bi kịch mà nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo dựng
trong các tác phẩm truyện ngắn. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cơ bản như: phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu… ngồi ra
luận văn cịn vận dụng một số phương pháp như:
- Phương pháp phân tích thẩm mĩ: giúp chúng tôi phân biệt giá trị thẩm
mĩ với giá trị nghệ thuật của tác phẩm văn chương.
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Từ góc nhìn thi pháp học với
nhứng hiểu biết về tác giả, tác phẩm, lịch sử văn học chính là những cơ sở để
tìm hiểu những biểu hiện thẩm mĩ của cái bi thông qua những bi kịch xã hội
được Nguyễn Minh Châu tạo dựng trong sáng tác của mình.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu bi kịch xã hội trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cần đặt nó trong hệ thống thẩm mĩ đa dạng
của văn xuôi Việt Nam sau 1975. Phương pháp này sẽ giúp chúng tơi làm rõ
và lí giải được cái bi vận động như thế nào trong chính hệ thống sáng tác của
Nguyễn Minh Châu và trong văn học trước và sau 1975.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo nội dung
của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
- Chương 1 (Từ trang 12 đến trang 32): Vị trí của cái bi trong truyện ngắn
của Nguyễn Minh Châu sau 1975;
- Chương 2 (Từ trang 33 đến trang 58): Xung đột bi kịch xã hội trong
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975;
- Chương 3 (Từ trang 59 đến trang 76): Nhân vật bi kịch trong truyện ngắn
của Nguyễn Minh Châu sau 1975.
12
CHƢƠNG 1
VỊ TRÍ CỦA CÁI BI TRONG TRUYỆN NGẮN
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU SAU 1975
1.1. Khái niệm cái bi và bi kịch xã hội
1.1.1 Khái niệm cái bi
Khi phân tích cái bi trên phương diện mĩ học, chúng tôi nhận thấy thuật
ngữ bi kịch được nhìn nhận từ hai khía cạnh chính. Thứ nhất, bi kịch là sự
thất bại tạm thời của cái đẹp, cái cao cả. Bên trong bi kịch vẫn hàm chứa ý
nghĩa cao cả của cái tốt, cái mới hay sự tiến bộ. Điều này có thể nhìn thấy ở
khắp các mặt trong xã hội. Khi chạm đến bi kịch, chúng ta cảm nhận được nỗi
đau nhưng khi cái bi đi qua, điều cịn lại chính là chân – thiện – mĩ. Thứ hai,
bi kịch phản ánh một loại hình chuyên viết cho sân khấu và các loại hình nghệ
thuật phản ánh các chủ đề, mâu thuẫn, các tình huống đấu tranh giữa cái đẹp
và cái xấu, cái thiện với cái ác, cái cao cả với cái thấp hèn. Nhưng trong bối
cảnh các tình huống kịch này, cái đẹp hay cái tốt lại gặp nguy hiểm và rơi vào
thất bại.
Cái bi với tư cách là một giá trị thẩm mĩ gắn liền với sự đau thương,
mất mát. Tuy nhiên, bi kịch lại là tiền đề gầy dựng sự kiêu hãnh và giá trị
nhân văn. Nói cách khác, khi cái tốt bị điều xấu bao vây, đè nén, bản chất
thẩm mỹ của bi kịch trong bối cảnh sự tốt đẹp gần như bị “giết chết” không
phải là sự tổn thất, sự mất mát vĩnh viễn, bi quan mà nó lại ra tiếng kêu gọi
đấu tranh cao cả. Đó là tiếng gọi cái tốt phải vùng dậy, phải quyết liệt đứng
lên tiêu diệt các yếu tố xấu, nêu gương những hiện tượng đại diện cho cái đẹp,
cái cao cả và anh hùng.
Trong cuộc sống thơng thường có mn vàn xung đột, không phải mọi
xung đột dẫn đến mất mát đau thương đều là cái bi. Dù cho bản chất thẩm mĩ
13
của cái bi chính là những xung đột dẫn đến kết cục là những đau thương mất
mát. Khi lịch sử đặt ra những yêu cầu tất yếu mà thực tiễn cuộc sống khơng
thể thực hiện được thì sự xung đột ấy mới tạo nên sắc thái thẩm mĩ: cái bi.
Đằng sau những sự đau thương, mất mát của cái bi chính là sự nhân
văn và tinh thần khoa học cao đẹp. Vì vậy, cái khủng khiếp, cái đê tiện khơng
thể có bản chất của cái bi vì sự thất bại của chúng không gợi cảm hứng về cái
đẹp. Cái bi vừa tạo cảm giác đau thương vừa có sức mạnh thanh lọc, gột rửa
tâm hồn con người tức là sức mạnh giáo dục đạo đức – tinh thần.
Theo mĩ học Mácxít, một hiện tượng xã hội được coi là mang bản chất
của cái bi khi trước hết hiện tượng đó gắn bó hữu cơ với mục đích, lí tưởng
cuộc sống của con người, do đó nó phải có ý nghĩa đối với sự phát triển và sự
tiến bộ của con người và xã hội, sự tổn thất của nó có ảnh hưởng đến đời sống
tinh thần, đến mục tiêu và lí tưởng của nhiều người, thậm chí cả xã hội.
Chính vì vậy, hiện tượng xã hội đó mới trở thành một hiện tượng thẩm mĩ,
nó nằm trong quan hệ thẩm mĩ giữa con người và hiện thực, nó phải là cái
đẹp hoặc cái cao cả. Và hiện tượng thẩm mĩ này khi mất đi sẽ gây nên được
tình cảm thẩm mĩ trong các chủ thể xã hội như sự luyến tiếc, sự khâm phục
và tự hào.
Nhà triết học, mĩ học thời Hy Lạp cổ đại Aristốt cho rằng: “Bi kịch là
sự bắt chước các hành động nghiêm túc và cao thượng, hành động này có một
quy mơ nhất định.”[1;185]. Bi kịch thường chọn miêu tả những người tốt, có
sức mạnh, có lí tưởng, có ý chí và khát vọng … nhưng cuối cùng sẽ bế tắc,
thất bại và thậm chí cịn bị tiêu diệt. Nhưng điều quan trọng là khối cảm
thẩm mĩ mà cái bi mang lại cho người thưởng thức không phải là cảm xúc
tiêu cực, bi quan mà nó lại chuyển hóa thành những tình cảm thẩm mĩ cao
thượng, tích cực đó là cái đẹp, cái cao cả…nó làm trong sạch hóa thế giới tâm
hồn con người [1;189]
14
Freud với lí luận về mặc cảm Oedipus lại định nghĩa bi kịch theo một
cách khác. Lập luận của ông có phần riêng khác khi ơng cho rằng văn minh là
cái bên ngoài, cái vỏ che đậy tâm địa dã man của con người, đó là tâm địa
chất chứa những dục vọng mà mãnh liệt nhất là tính dục.Trong thực tế pháp
luật và đạo đức luôn mâu thuẫn với dục vọng, mâu thuẫn ấy có thể dồn ép dục
vọng thành mặc cảm, sự dồn nén ấy tích tụ lâu dần có thể khiến con người ta
sinh bệnh thần kinh hay thể hiện bởi một lối sống thác loạn.Điều đáng sợ theo
Freud là có lúc ý thức khơng thể kiểm sốt được dục vọng để nó vượt thốt ra
ngồi. Ơng gọi đó là mặc cảm Oedipus. Mỗi người đều có mặc cảm Oedipus.
Từ đó mà nảy sinh bi kịch. Vậy theo Freud, bi kịch lại có nguồn gốc từ sự
mặc cảm tính dục mà phát tiết trở thành việc đấu tranh mâu thuẫn trong bản
ngã để kìm hãm cái tơi đầy dục vọng trước những cám dỗ và sự đối lập giữa
cái thiện – cái ác.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học : "Cái bi là một phạm trù mĩ học phản
ánh một hiện tượng có tính quy luật của thực tế đời sống xã hội, thường diễn
ra trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa cái thiện và cái ác, cái mới và
cái cũ, cái tiến bộ với cái phản động... "[18;33]. Các nhân vật chính diện trong
những cuộc đấu tranh đó có khi phải trả giá một cách tự nguyện cho sự bất tử
về mặt tinh thần bằng những mất mát, đớn đau và thậm chí bằng chính mạng
sống. Những xúc cảm thẩm mĩ mà cái bi đem đến khơng đơn thuần chỉ là nỗi
đau, sự xót thương dù nó đi liền với nỗi đau và cái chết, có khi nó chứ đựng
cả niềm hân hoan lẫn nỗi lo sợ, cả cái cao cả lẫn cái cảm thương, cả cái đẹp
lẫn cái hài… đó làmột cảm xúc thẩm mĩ phức hợp. Nỗi đau và cái chết bản
thân nó chưa phải là cái bi. "Nỗi đau vài cái chết chỉ trở thành cái bi khi
hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người."[18;33].
Theo đó, cái bi chính là những xung đột mà được tạo nên bởi hành động tự do
của nhân vật trong việc thực hiện cái tất yếu mà nó tự thấy trước là không
15
tránh khỏi bị giẫy chết như những nhân vật trong bi kịch anh hùng, hay không
thấy trước như trong bi kịch về sự lầm lạc.
Nhìn chung, các quan điểm về cái bi đều đi đến thống nhất: Cái bi - là
một phạm trù được nảy sinh từ sự mâu thuẫn, xung đột, đấu tranh gay gắt
giữa cái tốt đẹp và cái xấu xa, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn... và phần
thất bại lại thuộc về cái tốt đẹp, cao thượng, tiến bộ. Nhưng chính từ sự thất
bại này lại đem đến cho nhận thức của người đọc những rung động thẩm mĩ
tốt đẹp, những khoái cảm thẩm mĩ có khả năng thanh lọc tâm hồn và mang
giá trị nhân văn sâu sắc.
Một hiện tượng xã hội được xem là mang bản chất của cái bi khi nó
thỏa mãn các điều kiện: hiện tượng đó gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con
người và xã hội, sự tổn thất của nó có ảnh hưởng đến nhiều người; đó phải là
một hiện tượng thẩm mĩ nằm trong quan hệ thẩm mĩ của con người và hiện
thực. Nó phải là cái đẹp hoặc cái cao cả, hoặc có những yếu tố của cái đẹp và
cái cao cả mà khi mất đi đã gây nên được tình cảm thẩm mĩ như: sự cảm mến,
luyến tiếc, thương nhớ, sự khâm phục, tự hào, ngưỡng mộ...
Từ việc khảo cứu những khái niệm về cái bi như trên có thể thấy những
biểu hiện của cái bi trong các trường hợp sau:
Thứ nhất: Cái bi biểu hiện cho một tâm trạng bế tắc khơng có lối thốt
của xã hội do mâu thuẫn khơng khắc phục nổi giữa khát vọng tốt đẹp của con
người và nhu cầu phát triển hợp quy luật của lịch sử khách quan, mà nhu cầu
này chưa đủ điều kiện để thực hiện.
Thứ hai: Cái bi mang tính cục bộ, xã hội không hề bế tắc, cá nhân
không hề bế tắc, nhưng cái ngẫu nhiên đã rơi vào một thời đoạn nào đó của xã
hội, của cá nhân, đẩy cá nhân ấy vào bi kịch.
Thứ ba: Bi kịch của cái cũ - giai cấp lỗi thời biết mình là cũ, là khơng
hợp thời, muốn vượt lên cái mới, nhưng cái cũ trong đó cịn cố níu lại. Qua
16
quá trình đấu tranh gay gắt, căng thẳng khát vọng đến với cái mới vẫn khơng
được thực hiện. Đó có thể gọi là bi kịch của sự bất lực.
Thứ tư: bi kịch của sự thiếu sáng suốt, đó là bi kịch của sự thiếu hiểu
biết, mù quáng dù có tài năng, lịng tốt nhưng có khi lí trí khơng tỉnh táo
hoặc bị lừa gạt, nhìn nhận cuộc đời chưa thấu đáo, thiếu toàn diện nên rơi
vào bi kịch.
1.1.2. Bi kịch xã hội
Trong đề tài nghiên cứu Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam
sau 1975, Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh đã nghiên cứu và chỉ rõ sự "tương tác thẩm
mĩ" và "chuyển hóa thẩm mĩ" là những cơ chế vận động chủ yếu của các cấp
độ đa dạng thẩm mĩ trong hầu khắp các sáng tác văn xuôi từ sau 1975. Trong
cơng trình nghiên cứu này, Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh đã xác lập một cơ sở lí
thuyết mới, mở ra một hướng đi mới trong nghiên cứu những phẩm chất thẩm
mĩ của văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới. Trong bối cảnh thời hậu chiến, cái
bi là một phạm trù chủ đạo, một phẩm chất thẩm mĩ mới của văn học góp
phần xác lập vị thế mới của văn xi trong dịng chảy văn học dân tộc. [3;97].
Và như vậy, việc nhận diện, đánh giá những biểu hiện và vị thế cũng như giá
trị của nó trong một hệ thống thẩm mĩ đã có nhiều thay đổi so với những thời
kì chúng ta sẽ chủ động hơn trong việc cải thiện quan niệm đối với những giá
trị nghệ thuật chân chính. Trong sứ mạng đổi văn xi nói riêng và văn học
của thời đại nói chung cái bi có một vai trị đặc biệt quan trọng. Chẳng những
vậy,"trong liên hệ máu thịt với cuộc đời, cái bi trong văn xi thời đổi mới tự
nó đem lại nhận thức về giới hạn thẩm mĩ cần vượt qua và lên tiếng cật vấn về
tầm vóc của văn học." [3;98] Từ đó có thể khám phá sự chuyển hóa đa dạng
và những phẩm chất thẩm mĩ mới của những tác phẩm văn học trong thời kì
đổi mới từ phạm trù cái bi. Như thế chúng ta sẽ có cơ hội nhận thức về trách
nhiệm của văn học với cuộc đời cũng như cho phép ta có quyền kì vọng vào
17
những tác phẩm lớn với sứ mệnh cao cả của nó đáp ứng địi hỏi, nhu cầu ngày
càng cao và trình độ thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ ngày càng biến đổi và phát
triển không ngừng.
Khả năng khám phá con người của văn xuôi Việt Nam hiện đại đã được
mở rộng cùng với kiểu nhân vật tính cách - bi kịch. Ở một mức độ nào đó,
nhân vật trong các tác phẩm thể hiện cái bi, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều thể
hiện bản ngã của mình bằng sự tự do của ý thức. Vì thế, bi kịch trong văn
xi Việt Nam chủ yếu là bi kịch số phận, số phận con người trong những
xung đột giữa khát vọng và thực trạng, mâu thuẫn giữa cái muốn hướng đến
và cái kìm hãm, giữa nhân bản và cái phi nhân bản … trở thành mối quan tâm
trước hết của những người cầm bút đang chuyển từ cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc sang cuộc đấu tranh giành quyền sống cho con người, vì con người
sau 1975. Dựa vào tính chất của xung đột, Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh trong cơng
trình nghiên cứu nói trên đã phân loại bi kịch số phận thành các dạng: Bi kịch
xã hội và bi kịch bản thể.
Bi kịch xã hội là một kiểu dạng của bi kịch số phận. Số phận cá nhâncái phần đời tư nhiều đau khổ của con người thường gắn với cảm hứng thế sự.
"Bi kịch xã hội thường đi liền với môtip "sắm vai"[3;116]. "Trong bối cảnh
đời sống xã hội sau chiến tranh, bi kịch sắm vai thể hiện mối bất hòa, phần
nào là sự cự tuyệt, của cuộc sống hòa bình với những nhân cách đã được định
hình bởi chiến tranh và những vai sống, những nghịch cảnh mà chiến tranh đã
nghiệt ngã sắp đặt".[3;116]. "Tình yêu, hạnh phúc, niềm tin, đạo lí...đó là
những giá trị thường bị đem ra mà xé nát, mà đập vỡ trong những bi kịch xã
hội" [3;117]. "Bi kịch xã hội còn được thể hiện ở kiểu nhà văn như là cái chết
của sáng tạo, của tài năng, nhân cách." [3;118] Có thể thấy nhà văn với tư
chất nghệ sĩ là những người rất nhạy cảm với thế sự đồng thời họ cũng là
những người thấm thía hơn ai hết nỗi đau thân phận của mình, "cái thân phận
18
thuộc về sáng tạo cái đẹp mà ln có nguy cơ đánh mất mình, xóa đi cá tính
của mình" [3; 118], bi kịch đánh mất mình, khơng cịn được là chính mình
của những nhà văn có tài và có tâm, bi kịch do xung đột giữa tự do sáng tạo
nghệ thuật và những thiết chế xã hội tạo nên...
Đây là những cơ sở lí luận mang tính chất định hướng cho chúng tơi
trong q trình nghiên cứu đề tài Bi kịch xã hội trong truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu sau 1975.
1.2. Quan điểm đổi mới của Nguyễn Minh Châu sau 1975 trong bối
cảnh lịch sử xã hội mới
Sự thay đổi của đất nước sau 1975 về bối cảnh lịch sử - xã hội cũng đã
ảnh hưởng ít nhiều đến văn đàn văn học – nghệ thuật. Bởi văn học phải xuất
phát từ hiện thực cuộc sống và phải tái hiện hiện thực cuộc sống. Vì thế, quan
điểm và ý thức hệ của các nhà văn cũng vận động, chuyển biến để theo kịp
với bối cảnh lịch sử xã hội mới.
Sau khi hịa bình được lặp lại, Đại hội tồn quốc lần thứ VI của Đảng
Cộng sản Việt Nam (1986) đã chỉ ra đường lối: “Có chủ nghĩa xã hội, Tổ
quốc ta mới có kinh tế hiện đại do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc
lập tự do và ngày càng phát triển phồn vinh”. Đại hội cũng đề ra phương
hướng, nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch nhà nước 5 năm (1986 - 1990):
trong đó nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật làm nền
tảng quan trọng của chủ nghĩa xã hội, cả nước sẽ hình thành cơ cấu kinh tế
đổi mới mà chủ yếu là là cơ cấu công - nơng nghiệp, từ đó tạo tiền đề cải
thiện, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần cho mọi tầng lớp nhân
dân. Trên thực tế, một mặt, do nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến
tranh tàn phá liên miên, cộng thêm chính sách cấm vận của Mĩ; mặt khác, do
những hạn chế trong chủ trương cải tạo, xây dựng kinh tế cho nên nhìn chung
thời kì này mọi mặt của đời sống chưa thốt khỏi tình trạng khủng hoảng. Đời
19
sống văn hố - văn học cũng khơng nằm ngồi thực tiễn đó.
Văn học trước 1975 thường đề cao cảm hứng anh hùng ca. Bởi đó cũng
chính là cảm xúc chung của cả dân tộc thời ấy. Mà cũng phải thừa nhận rằng
nếu khơng có niềm tin mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng thì dân tộc ta
khó có đủ sức mạnh để đi qua những thử thách của cuộc chiến với bao gian
khổ, khó khăn. Thử thách ấy của lịch sử đòi hỏi một sức mạnh tinh thần to lớn
và văn học đã làm tròn sứ mệnh của nó khi góp phần khơi dậy và cổ vũ tinh
thần ấy. Tất nhiên, trong hoàn cảnh chiến tranh như vậy, người nghệ sĩ phải
chịu những hạn chế nhất định trong sáng tạo nghệ thuật. Với mục tiêu động
viên, cổ vũ, ca ngợi, miêu tả hiện thực trong sự vận động và xu thế phát triển
cách mạng của nó nên nhà văn sẽ không tránh được lối viết “tô hồng”, không
tránh được cách mô tả một chiều một cách chủ quan những hiện thực khách
quan của đời sống.
Sau 1975, tình hình xã hội của đất nước cũng có nhiều thay đổi. Những
người lính trở về từ chiến tranh cũng tham gia vào guồng quay xây dựng đất
nước thời kì đổi mới. Văn học cũng nhanh chóng bắt nhịp với cuộc sống.
Cuộc sống sau chiến tranh khơng ít những bộn bề, phức tạp, chất chưa những
sóng ngầm, những gió xốy ở bên trong nó. Bối cảnh lịch sử - xã hội giai
đoạn này đã buộc các tác giả thay đổi đề tài văn chương. Và khai thác cuộc
sống và những nỗi đau sau chiến tranh là một địa hạt mà nhiều nhà văn tìm
đến , đặc biệt là Nguyễn Minh Châu. Cảm hứng về thân phận con người trong
và sau chiến tranh bước đầu được các tác giả quan tâm thể hiện như Đêm
miền Đơng của Hồng Lại Giang, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của
Nguyễn Minh Châu.... Mỗi nhà văn có quan điểm khác nhau nên dù có viết về
cùng đề tài thì vẫn có sự khác biệt trong từng tác phẩm. Điều này phụ thuộc
vào kinh nghiệm, vốn sống và cá tính sáng tạo của nhà văn. Đồng thời, là
những người lính từ trở về từ chiến trường, hơn ai hết những nhà văn đồng
20
thời là những chiến sĩ bằng những trải nghiệm của mình mà thấu hiểu, trân
trọng sự cống hiến, hi sinh và nghĩa tình của nhân dân với người lính, với
cuộc cách mạng. Và như một lẽ tất yếu , như là trách nhiệm, là thơi thúc tự
thân, là những món nợ mà người nghệ sĩ tự nguyện trả cho bằng được. Đó
cũng là những đề tài mà Nguyễn Minh Châu và nhiều người viết văn lúc bấy
giờ luôn trăn trở.
Sau 1975, Các nhà văn có những quan điểm khá đa dạng, phức tạp và
đôi khi trái ngược nhau khi dành sự quan tâm cho đề tài chiến tranh. Hầu hết
các sáng tác vẫn thể hiện quan điểm coi trọng mục đích phản ánh cuộc kháng
chiến gian khổ nhưng vĩ đại của một dân tộc anh hùng với những con người
anh hùng, vẫn đề cao tính chất chính nghĩa và khẳng định phẩm giá dân tộc
cũng như niềm tự hào về tổ quốc thiêng liêng. Nhưng sau 1975, người cầm
bút quan tâm và đặt yêu cầu “chân thực” lên hàng đầu cho mỗi đứa con tinh
thần. Chiến tranh đâu chỉ có chiến thắng và vinh quang, đó chỉ là hiện thực
được lí tưởng hóa vì nhiệm vụ của văn học thời chiến, chiến tranh còn là
những mất mát, tổn thất, hi sinh, cịn là những khó khăn, gian khổ, những thử
thách đầy khắc nghiệt đối với từng cá nhân và với cả dân tộc. Với quan điểm
như thế, văn học không chỉ có cái hùng, cái cao cả, cái đẹp mà cịn có cả cái
bi, cái cảm thương bởi những mất mát, gian khổ và hi sinh…
Nếu như so sánh với các nhà văn khác cùng viết về đề tài chiến tranh
và hậu chiến tranh, có thể nói điểm khác biệt và sáng tạo trong cảm hứng sáng
tác của Nguyễn Minh Châu về đời sống thời hậu chiến bắt nguồn từ những
ngày ơng trực tiếp tham gia kháng chiến. Nó được gọi là địa hạt văn chương
riêng gắn liền với kinh nghiệm và vốn sống ơng có được từ những ngày loạn
lạc bom đạn. Cái nhìn trải đời đã tạo nên một Nguyễn Minh Châu khơng hề
hoa mĩ, cầu kì mà vô cùng giản dị. Cách viết của ông không ồn ào, không dữ
dội mà lại lặng lẽ đi sâu khám phá những mảng nhỏ của đời sống chiến tranh
21
và hậu chiến để thấy tạo nên những hình tượng nhân vật anh hùng, dũng cảm,
phi thường nhưng cũng rất bình dị, đời thường như bao người bình thường
khác. Cách chiếm lĩnh đề tài chiến tranh này chính là ở vốn sống và những
trải nghiệm phong phú của Nguyễn Minh Châu. Cuộc chiến tranh đã đi qua
hàng chục năm nhưng đã kịp để lại trong lịng ơng những vết thương khó phai
mờ. Ơng gán cho mỗi câu chuyện ơng từng nghe kể hay chứng kiến một hoàn
cảnh sống, một cái tên để mà chậm rãi kể lại câu chuyện đời mình qua các
nhân vật. Như vậy, các tác phẩm của ông không tập trung vào việc xây dựng
những anh hùng của thời đại, những gì cao siêu mà ơng chỉ viết về hiện thực
chiến tranh từ những khoảng khắc chính ông đã tai nghe mắt thấy, đã đau xót
mà bật ra câu chữ. Một số tác phẩm truyện ngắn sau 1975 đề cập đến đề tài
hậu chiến tranh: nỗi đau và mất mát, được kể đến trong tuyển tập truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu sau 1975 như Hạng, Bức tranh, Bên đường chiến
tranh,… Trong các truyện ngắn này, dáng dấp chiến tranh dù đã được miêu tả
từ một góc nhìn mới mẻ, có độ lùi về thời gian nhất định nhưng vẫn ẩn hiện
bên trong các giá trị nhân sinh khác mà tác giả muốn thể hiện.
Sau bom đạn chiến tranh, đất nước chuyển mình sang thời kì hịa bình
với những nhiệm vụ đầy thách thức trước mắt. Từ năm1975 trở đi có thể xem
đây là giai đoạn chuyển tiếp, là quãng thời gian mà những lính quay trở về từ
chiến trận nay bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Trong văn học,
đây là chặng đường “khởi động” của hành trình đổi mới, cho dù nhìn bề
ngồi, nền văn học đã và đang vận động theo quy luật, tư duy theo lối cũ. Một
số nhà văn, nhà thơ vẫn chưa dứt mình khỏi cái bóng q khứ mà vẫn tiếp tục
hướng ngịi bút của mình vào đề tài chiến tranh, tư duy ít đổi mới. Tuy nhiên,
vẫn hiện diện các cây bút tiên phong, đi đầu làm nền tảng cho bước chuyển
mình lớn lao của văn học dân tộc: khai thác đề tài hiện sinh thông qua bi kịch
con người. Họ có thể lồng ghép bên trong đó nỗi đau chiến tranh còn ở lại
22
hoặc rẽ ngoặt hướng khác mà tập trung thể hiện nỗi đau, bi kịch, niềm trăn trở
của con người trong thời hậu chiến. Phải kể đến những người đi tiên phong,
những tên tuổi mở đường trong văn học giai đoạn này là Nguyễn Minh Châu,
Lê lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn… với những đóng
góp chủ yếu ở lĩnh vực văn xuôi. Các tác phẩm như tập truyện ngắn Bến quê
của Nguyễn Minh Châu, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng và Thời xa vắng của Lê Lựu đã để lại những dấu ấn riêng, tạo ra những
tiếng vang lớn khơng chỉ ngay tức thì mà còn mãi mãi về sau.
Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu càng về sau lại càng chịu ảnh
hưởng của tư tưởng và quan niệm bứt phá khỏi dư chấn chiến tranh mà đi sâu,
đi sát vào các giá trị mang tính hiện thực, tức phản ánh cuộc sống đời thường
của con người với những nét chấm phá đầy sâu sắc. Ví dụ như hình tượng
nhân vật Nhĩ trong truyện ngắn Bến quê. Câu chuyện kể về nhân vật bị bại liệt
phải chiến đấu với bệnh tật trên chiếc giường ọp ẹp nhìn ra bãi bồi sơng
Hồng. Suốt cả cuộc đời bơn ba, tưởng như khơng cịn xó xỉnh nào mà Nhĩ
chưa đặt chân tới vậy mà nay Nhĩ không còn khả năng đi lại được nữa, anh
khao khát và mong muốn được đặt chân một lần lên bãi bồi bên kia sơng
nhưng với anh lúc này đó là điều không thể. Ngay cả việc ngồi dậy, ra khỏi
phiến nệm nằm với anh cũng khó khăn thậm chí phải thu hết tàn lực mới lết ra
được. Cái ước vọng đơn giản ấy được gửi nhờ vào đưa con trai nhưng rồi vì
sự trùng trình của nó mà có thể mãi mãi anh khơng cịn có cơ hội thực hiện.
Nội dung truyện "Bến q" rất bình dị nhưng nó lại mang chứa triết lí sâu
sắc. Những chiêm nghiệm về cuộc đời từ đây đã đem đến cho người đọc
thông điệp đầy nhân văn, thức tỉnh mỗi chúng ta, khơi dậy trong chúng ta tình
yêu cuộc sống và trân trọng ngay từ những điều bình dị thân thuộc xung
quanh mình.
Tuy nhiên, từ sau năm 1986, sự đổi mới trong văn học, đặc biệt là trong