Chủ biên:
TS. PHẠM HỒNG TÚ
TS. PHẠM VĂN KIỆM
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG THƯƠNG
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG
LỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI TRONG NỀN KINH TẾ
1.1. Khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến
lĩnh vực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối
1.1.2. Vị trí, vai trị và mối quan hệ phát triển của
lĩnh vực dịch vụ phân phối
1.1.3. Yếu tố tác động đến quá trình phát triển của
ngành dịch vụ phân phối
1.2. Năng lực và nâng cao năng lực của ngành dịch
vụ phối trong nền kinh tế
1.2.1. Tiếp cận khái niệm năng lực và nâng cao năng
lực của ngành dịch vụ phân phối
1.2.2. Phạm vi và phương thức nâng cao năng lực
ngành dịch vụ phân phối trong nền kinh tế
1.2.3. Hoạch định chiến lược và phương pháp hoạch
định chiến lược
1.3. Nội dung và các mối quan hệ chiến lược nâng
cao năng lực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế
1.3.1. Nội dung cơ bản của chiến lược nâng cao năng
lực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế
1.3.2. Mối quan hệ chiến lược phát triển ngành dịch
vụ phân phối
7
11
11
11
14
20
23
23
27
32
40
40
47
Chương II
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG NÂNG CAO
NĂNG LỰC DỊCH VỤ PHÂN PHỐI HÀNG HÓA
CỦA VIỆT NAM Ở THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
2.1. Tổng quan hiện trạng năng lực dịch vụ phân phối
thời kỳ 2001 - 2017
2.1.1. Tăng trưởng GDP ngành
2.1.2. Tình hình sử dụng các nguồn lực phát triển
2.1.3. Tình hình phát triển ngành và các phân ngành
dịch vụ phân phối
2.1.4. Tình hình tổ chức và quản lý lĩnh vực dịch vụ
phân phối
2.1.5. Đánh giá chung
2.2. Phân tích bối cảnh trong nước và tác động của
nó đến triển vọng nâng cao năng lực dịch vụ phân
phối hàng hóa
2.2.1. Phân tích mơi trường kinh tế vĩ mơ
2.2.2. Phân tích mơi trường ngành dịch vụ phân phối
2.3. Phân tích bối cảnh ngồi nước và tác động của
nó đến triển vọng nâng cao năng lực ngành dịch vụ
phân phối
2.3.1. Triển vọng tăng trưởng kinh tế, thương mại
quốc tế
2.3.2. Xu hướng tự do hóa thương mại và mở cửa thị
trường dịch vụ phân phối trên thế giới
54
54
54
56
64
82
90
98
98
109
117
117
122
2.3.3. Đánh giá tác động của bên ngoài đến triển
vọng nâng cao năng lực dịch vụ phân phối hàng hóa
của Việt Nam tại thị trường nội địa
2.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách
thức đối với nâng cao năng lực dịch vụ phân phối
hàng hóa của Việt Nam ở thị trường nội địa
2.4.1. Phân tích điểm mạnh
2.4.2. Phân tích điểm yếu
2.4.3. Phân tích cơ hội phát triển
2.4.4. Phân tích thách thức
Chương III
126
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO NĂNG LỰC NGÀNH DỊCH VỤ PHÂN
PHỐI HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM TẠI THỊ
TRƯỜNG NỘI ĐỊA GIAI ĐOẠN 2018 - 2030
147
3.1. Quan điểm, định hướng nâng cao năng lực
ngành dịch vụ phân phối của Việt Nam tại thị trường
nội địa giai đoạn 2018-2030
3.1.1. Khung khổ xây dựng quan điểm, định hướng
nâng cao năng lực ngành dịch vụ phân phối của Việt
Nam tại thị trường nội địa giai đoạn 2018-2030
3.1.2. Quan điểm và mục tiêu nâng cao năng lực dịch
vụ phân phối hàng hóa của Việt Nam tại thị trường
nội địa
3.1.3. Định hướng nâng cao năng lực ngành dịch vụ
phân phối
130
130
134
138
142
147
147
149
157
3.2. Các giải pháp, chính sách nâng cao năng lực
dịch vụ phân phối hàng hóa của Việt Nam ở thị
trường nội địa
3.2.1. Giải pháp huy động và sử dụng vốn
3.2.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
3.2.3. Giải pháp phát triển khoa học công nghệ
3.2.4. Giải pháp khác
3.3. Giải pháp tổ chức thực hiện nâng cao năng lực
dịch vụ
148
PHỤ LỤC
186
290
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
168
170
172
174
179
LỜI MỞ ĐẦU
Trong các nền kinh tế thị trường hiện đại, lĩnh vực dịch vụ
phân phối là sự kết nối sống còn giữa người sản xuất và người
tiêu dùng. Trong nền kinh tế, ngành dịch vụ phân phối chiếm một
phần đáng kể trong GDP, thường nằm trong khoảng từ 8% ở Đức,
đến 20% ở Trung Quốc. Hơn nữa, hiệu quả và tính cạnh tranh
cao trong hệ thống phân phối sẽ thúc đẩy việc cung cấp sản phẩm
ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu
dùng và có thể dẫn đến việc giảm giá mang lại lợi ích cho người
dân, đặc biệt khi chiết khấu phân phối chiếm phần đáng kể trong
giá bán của các sản phẩm cuối cùng và sự méo mó trong cơ cấu
giá cả được loại trừ.
Ở nước ta, kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy
mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là từ khi gia nhập WTO
vào ngày 07/11/2006 và có tư cách thành viên đầy đủ của WTO
kể từ ngày 11/01/2007, Nhà nước đã sửa đổi và ban hành mới
nhiều chính sách và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để
điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ phân phối. Thực tế đã cho thấy,
sau hơn 10 năm gia nhập WTO, lĩnh vực dịch vụ phân phối
của Việt Nam đã hoàn toàn “thay da đổi thịt”, phong phú, đa
dạng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cho các
nhà sản xuất, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng và trở
thành một trong những lĩnh vực tiềm năng, hấp dẫn đầu tư cả
trong và ngoài nước.
Năng lực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế cả ở phạm
vi doanh nghiệp và ngành đã gia tăng nhanh theo hướng hiện
đại hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, lĩnh
vực dịch vụ phân phối ở nước ta vẫn còn nhiều tồn tại như:
số lượng doanh nghiệp dịch vụ phân phối vẫn phổ biến có qui
mơ nhỏ, siêu nhỏ có năng lực thấp kém ở nhiều lĩnh vực hoạt
động; cấu trúc ngành đang có sự thay đổi, nhưng vẫn còn
nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế; hệ
thống quản lý hiện nay chưa đủ mạnh, nhất là ở cấp tỉnh,
huyện không tương xứng với sự phát triển của dịch vụ phân
phối; các văn bản pháp luật liên quan đến dịch vụ phân
phối chưa bao quát hết các yêu cầu quản lý; định hướng phát
triển dịch vụ phân phối chưa được hoạch định rõ ràng;…
Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, tầm nhìn đến
2030, theo mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã
được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII thông qua, nước ta
sẽ cơ bản trở thành nước cơng nghiệp theo hướng hiện đại.
Đồng thời, q trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước
ta sẽ ngày càng sâu rộng hơn. Những điều đó đang và sẽ tạo ra
sức phát triển nhanh cả từ phía cung và phía cầu hàng hóa trên
thị trường nội địa, qua đó tác động mạnh mẽ, tạo áp lực lớn về
nâng cao năng lực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế. Đồng
thời, trong xu thế hội nhập và độ mở cửa thị trường cao, áp lực
cạnh tranh trên thị trường dịch vụ phân phối trong nước ngày
càng gia tăng cũng địi hỏi các nhà phân phối trong nước nói
riêng và ngành dịch vụ phân phối nói chung phải chú trọng
nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vấn đề nâng cao năng lực dịch vụ phân phối trong bối
cảnh hiện nay đang thu hút được sự quan tâm không chỉ của
doanh nghiệp phân phối, mà còn của các cơ quan nhà nước về
lĩnh vực dịch vụ phân phối. Vấn đề nâng cao năng lực của
doanh nghiệp phân phối do sự khác biệt về qui mơ, lĩnh vực
hoạt động, sự sẵn có nguồn lực,… nên rất đa dạng và phức tạp.
Nhà xuất bản Công Thương tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn
sách “Nâng cao năng lực phân phối hàng hóa của Việt Nam
tại thị trường nội địa”. Do khn khổ có hạn, cuốn sách chủ
yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực chung của ngành dịch
vụ phân phối. Hy vọng cuốn sách cung cấp những thơng tin
hữu ích cho bạn đọc, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh,
phân phối hàng hóa trên thị trường nội địa, đặc biệt là các cấp
quản lý ngành về những cơ hội, thách thức và những giải pháp
cần thiết để nâng cao năng lực phân phối, tiêu thụ hàng hóa
trong mơi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Trong quá trình biên soạn, cuốn sách chắc chắn sẽ
khơng tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Chúng tơi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà nghiên
cứu, đồng nghiệp và độc giả để bổ sung hồn thiện hơn trong
lần xuất bản sau.
NHÀ XUẤT BẢN CƠNG THƯƠNG
Chương I
MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN
VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC DỊCH VỤ
PHÂN PHỐI TRONG NỀN KINH TẾ
1.1. Khái niệm, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến lĩnh
vực dịch vụ phân phối trong nền kinh tế
1.1.1. Khái niệm và phân loại dịch vụ phân phối
Theo Kinh tế Chính trị học Mác - Lê nin, phân phối là
một khâu của quá trình tái sản xuất. Phân phối bao gồm phân
phối cho sản xuất tức là phân chia các yếu tố sản xuất cho các
ngành sản xuất, các đơn vị sản xuất khác nhau để tạo ra các
sản phẩm, và phân phối cho tiêu dùng. Theo quan điểm
Marketing, phân phối là một quá trình chuyển đưa sản phẩm
từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua
nhiều phương thức và hoạt động khác nhau. Đề tài này nghiên
cứu quá trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người
tiêu dùng cuối cùng, nhưng không phải ở phạm vi doanh
nghiệp mà ở phạm vi nền kinh tế.
Trong nền kinh tế, các hoạt động kinh tế khác nhau
được tập hợp và phân thành 3 khu vực cơ bản: khu vực nông
nghiệp; khu vực công nghiệp; và khu vực dịch vụ. Trong đó,
khu vực nơng nghiệp và khu vực cơng nghiệp có đặc điểm
chung là bao gồm các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất
11
(hàng hóa hữu hình). Khu vực dịch vụ lại bao gồm các ngành
sản xuất ra sản phẩm phi vật chất (vơ hình). Mặc dù, giống như
hàng hóa, dịch vụ cũng là sản phẩm của lao động, nhưng sản
phẩm dịch vụ có những đặc trưng khác với hàng hố như: 1)
Sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những
vật phẩm cụ thể (tính vơ hình), chất lượng của dịch vụ chỉ có
thể được xác định bằng mức độ thoả mãn nhu cầu của đối
tượng sử dụng sản phẩm dịch vụ đó; 2) Q trình sản xuất
(cung ứng) và tiêu dùng dịch vụ bao gồm các hoạt động thường
xảy ra đồng thời; 3) Các sản phẩm dịch vụ thường không thể
lưu trữ được; 4) Dịch vụ không lưu trữ được cũng sẽ khơng có
sự chuyển quyền sở hữu.
Trong khu vực dịch vụ bao gồm các ngành khác nhau,
như: ngành viễn thơng, ngành tài chính, ngành vận tải, ngành
phân phối… Như vậy, khái niệm dịch vụ phân phối là khái
niệm để phân biệt nó với các ngành dịch vụ khác trong nền
kinh tế.
Theo hệ thống phân loại sản phẩm của Liên Hợp Quốc
(Central Product Classification - CPC), ngành dịch vụ phân
phối được định nghĩa bao gồm 4 phân ngành: đại lý; bán buôn;
bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp); nhượng quyền
thương mại.
Bán buôn, bao gồm việc bán hàng cho những người bán
lẻ, các doanh nghiệp của các ngành công nghiệp, thương mại,
các tổ chức hoặc các đơn vị chuyên môn, hoặc cho những
người bán buôn khác.
12
Bán lẻ bao gồm tất cả những hoạt động liên quan đến việc
bán hàng hoá hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng, cuối cùng
để họ sử dụng vào mục đích cá nhân, khơng kinh doanh.
Đại lý bao gồm những người thay mặt cho người sở hữu
hàng hóa thực sự để bán bn, bán lẻ.
Nhượng quyền là hình thức một nhà phân phối này
(người nhượng quyền) bán cho nhà phân phối khác (người
được nhượng quyền) một số đặc quyền và ưu đãi cụ thể,
thường được thực hiện dưới hình thức hợp đồng. Ví vụ, người
được nhượng quyền có quyền sử dụng một mơ hình hay một
thương hiệu của người nhượng quyền.
Danh mục CPC (danh mục sản phẩm trung tâm tạm thời
của Liên Hợp Quốc) xác định rằng: “dịch vụ chính do các nhà
bán bn và bán lẻ thực hiện là bán lại hàng hóa kèm theo hàng
loạt các dịch vụ phụ trợ có liên quan khác như: bảo quản, lưu
kho hàng hóa; sắp xếp và phân loại đối với hàng hóa khối
lượng lớn, bốc dỡ và phân phối lại đối với hàng hóa khối lượng
nhỏ; dịch vụ giao hàng; dịch vụ bảo quản lạnh; các dịch vụ
khuyến mãi do những người bán buôn thực hiện; và các dịch
vụ liên quan đến việc kinh doanh của người bán lẻ như chế
biến phục vụ cho bán hàng, dịch vụ kho hàng và bãi đỗ xe”.
Ở Việt Nam, theo Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 về
phân ngành kinh tế, bán buôn và bán lẻ thuộc ngành thương
nghiệp, sửa chữa thiết bị - phân ngành cấp 1 và thuộc khu vực
dịch vụ. Hiện nay, theo Quyết định số 10/2007/QĐ -TTg của
Thủ tướng Chính phủ ngày 23/1/2007 về phân ngành kinh tế,
13
ngành dịch vụ phân phối được gọi là ngành bán buôn, bán lẻ,
sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ khác - phân ngành cấp
I (nhóm G) và thuộc khu vực dịch vụ. Ngành này bao gồm 3
phân ngành chính là: bán, sửa chữa ơ tơ, mơ tơ, xe máy và xe
có động cơ khác; bán bn (trừ ơ tơ, mơ tơ, xe máy và xe có
động cơ khác); bán lẻ (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động
cơ khác). Các phân ngành này được thống kê hàng năm theo
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia. Các phân ngành đại lý và
nhượng quyền thương mại khơng có trong danh mục phân
ngành cấp 2 của ngành dịch vụ phân phối (thuôc hệ thống phân
ngành kinh tế) và trong niên giám thống kê hàng năm. Trong
các tài liệu thống kê của nhiều nước cũng không bao gồm hai
phân ngành này.
1.1.2. Vị trí, vai trị và mối quan hệ phát triển của lĩnh vực
dịch vụ phân phối
a)Vị trí, vai trị của lĩnh vực dịch vụ phân phối
+ Theo Kinh tế - Chính trị học Mác - Lê nin, phân phối
là khâu trung gian của quá trình tái sản xuất xã hội (gồm các
khâu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng).
Nhóm 1: Các dịch vụ đầu vào “thượng nguồn” như
nghiên cứu và phát triển (R&D), các nghiên cứu khả thi, đào
tạo nhân viên,...
Nhóm 2: Các dịch vụ đầu vào “trung nguồn” như các dịch
vụ kế toán, luật pháp, kỹ thuật và kiểm nghiệm, các dịch vụ máy
tính, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị, tài chính, viễn thơng,...
14
Nhóm 3: Các dịch vụ đầu vào “hạ nguồn” như quảng
cáo, phân phối, vận tải, kho bãi...
+ Từ bình diện của nền kinh tế, bán buôn, bán lẻ chiếm
một phần đáng kể trong các hoạt động kinh tế. Theo số liệu
thống kê của các nước, ngành dịch vụ phân phối (bán bn và
bán lẻ) đóng góp phần đáng kể trong GDP. Trong nhóm G-7
(Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý, Canada), phân phối
đóng góp vào GDP (chỉ có phân ngành bán buôn và bán lẻ) từ
8% - 15%, vào việc làm thường từ 11% - 19%. Phần đóng góp
của ngành phân phối trong GDP của Trung Quốc, Hồng Kông
và Panama lên tới 20%. Theo số liệu thống kê của 74 quốc gia
khác, các hoạt động bán buôn và bán lẻ đóng góp trung bình
13.5% vào GDP. Ở nhiều quốc gia, đóng góp vào GDP của
bán bn và bán lẻ chỉ đứng thứ 2 sau lĩnh vực chế tạo và vượt
trên các lĩnh vực khác như nơng nghiệp, khai khống, vận tải,
viễn thơng,...
Đồng thời, ngành dịch vụ phân phối cịn là lĩnh vực tạo
ra nhiều công ăn việc làm trong nền kinh tế. Đối với nhiều nền
kinh tế, vai trò tạo việc làm của ngành dịch vụ phân phối cịn
có ý nghĩa lớn hơn so với đóng góp vào GDP. Tầm quan trọng
của ngành dịch vụ phân phối thể hiện qua tỷ lệ doanh nghiệp
phân phối thường chiếm khoảng 20% trong tổng số doanh
nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế.
b) Mối quan hệ phát triển của lĩnh vực dịch vụ phân phối
+ Mối quan hệ phát triển giữa các khâu của quá trình tái
sản xuất:
15
Theo Kinh tế Chính trị học Mác - Lê nin, trong q trình
tái sản xuất nói chung, sản xuất là khâu mở đầu, sản xuất giữ
vai trò quyết định đối với các khâu phân phối, trao đổi và tiêu
dùng. Nói cách khác, trình độ phát triển sản xuất có ảnh hưởng
quyết định đối với trình độ phát triển dịch vụ phân phối. Mặt
khác, phân phối và trao đổi vừa có tính độc lập tương đối với
sản xuất và tiêu dùng, vừa có tính độc lập tương đối với nhau.
Lĩnh vực dịch vụ phân phối có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lợi ích
của người tiêu dùng, nhất là trên các phương diện như: giá cả,
khả năng lựa chọn hàng hóa, mức độ thuận tiện khi mua hàng.
Đồng thời, thông qua lĩnh vực phân phối, các nhà sản xuất có
thể tiếp nhận được thông tin thị trường để điều chỉnh hoạt động
sản xuất, các nguồn lực phát triển của nền kinh tế cũng được
phân bổ hợp lý. Phân phối mang lại lợi ích thực tế cho cả người
sản xuất và người tiêu dùng, qua đó góp phần thúc đẩy cả sản
xuất và tiêu dùng phát triển.
+ Mối quan hệ giữa các phân ngành dịch vụ phân phối
Trong các phân ngành dịch vụ phân phối trên đây, phân
ngành nhượng quyền thương mại liên quan nhiều đến những thỏa
thuận bằng hợp đồng về quyền sử dụng một cơ sở bán lẻ hay một
thương hiệu giữa các nhà phân phối. Do đó, phân ngành này có
sự khác biệt về chất so với các phân ngành còn lại.
Giữa 3 phân ngành dịch vụ phân phối (bán bn, bán lẻ
và đại lý) có thể có hoặc khơng có mối quan hệ trực tiếp với
16
nhau. Cụ thể, các mối quan hệ giữa 3 phân ngành dịch vụ phân
phối này được thể hiện qua các kênh phân phối hàng hóa trên
thị trường. Trong đó, kênh 1 khơng có sự hiện diện của các nhà
bán bn, bán lẻ. Các kênh dài có sự tham gia của nhiều nhà
phân phối hơn.
Sơ đồ 1.1. Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất tới
người tiêu dùng
Kênh trực tiếp
(1)
Kênh ngắn
(2)
Người sản
xuất
Người tiêu
dùng
Người sản
xuất
Kênh trung
bình
(3)
Người sản
xuất
Kênh dài
(4)
Người sản
xuất
Đại lý môi
giới
Người bán
lẻ
Người tiêu
dùng
Người bán
buôn
Người bán
lẻ
Người tiêu
dùng
Người bán
buôn
Người bán
lẻ
Người tiêu
dùng
Theo quan niệm truyền thống, bán buôn thực hiện chức
năng “người trung gian” giữa nhà sản xuất, hoặc đại lý, hoặc
nhà bán buôn khác với các nhà bán lẻ. Tuy nhiên, trong thực
tế, nhất là tại các nền kinh tế thị trường hiện đại, việc thiết lập
mối quan hệ giữa các nhà phân phối thuộc các phân ngành dịch
17
vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tính chất thương phẩm,
u cầu kiểm sốt kỹ thuật của hàng hóa; mức độ hợp lý về
thời gian lưu thông của hàng hoá từ người sản xuất đến người
tiêu dùng, về chi phí lưu thơng và mức giá bán lẻ đến tay người
tiêu dùng, về lợi nhuận đạt được của các doanh nghiệp thành
viên trong kênh phân phối; qui mơ, trình độ phát triển của nhà
phân phối; mức độ bao phủ của mạng lưới phân phối trên thị
trường;…
+ Mối quan hệ phát triển dịch vụ phân phối giữa các
quốc gia
Trong thời đại tồn cầu hóa kinh tế và tự do hóa thương
mại, các ngành kinh tế nói chung và dịch vụ phân phối nói
riêng của mỗi quốc gia ngày càng có mối quan hệ và phụ thuộc
lẫn nhau.
Mối quan hệ phát triển ngành dịch vụ phân phối giữa các
quốc gia được kết nối thông qua các phương thức thực hiện
thương mại dịch vụ. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
(GATS) của WTO xác định rằng thương mại dịch vụ là việc cung
cấp dịch vụ theo 4 phương thức được thể hiện ở sơ đồ 1.2.
18
Sơ đồ 1.2: Các phương thức thực hiện thương mại dịch vụ
Nước A
Nước B
Nhà CC từ B
Khách thuộc A
Phương thức 1
Khách hàng từ A
Khách thuộc A
Phân tích mơi
trường
Cơng ty ở A
Khách thuộc
A
Khách thuộc A
Chi nhánh từ A
Nhà CC
từ B
Nhà CC từ B
Phương thức 2
Chi nhánh từ B
Khách thuộc A
Tự nhiên nhân từ B
Phương thức 3
Công ty ở B
Nhà CC từ B
Nhà CC từ B
Phương thức 4
1. Di chuyển qua biên giới của sản phẩm dịch vụ - cung cấp
dịch vụ qua biên giới;
2. Di chuyển của người tiêu dùng dịch vụ sang nước khác
- tiêu dùng ở nước ngoài;
3. Thiết lập hiện diện thương mại tại nước ngoài của nhà
cung cấp dịch vụ - hiện diện thương mại;
4. Di chuyển tạm thời của thể nhân sang một nước khác để
cung cấp dịch vụ tại đó - hiện diện của tự nhiên nhân.
Trong ngành dịch vụ phân phối, các phương thức thực
hiện thương mại chủ yếu là hiện diện thương mại và cung cấp
19
qua biên giới. Theo phân ngành dịch vụ, bán buôn và bán lẻ
chủ yếu được thực hiện theo phương thức hiện diện thương
mại; phân ngành nhượng quyền thương mại được thực hiện
theo phương thức cung cấp qua biên giới; phân ngành dịch vụ
đại lý được thực hiện theo phương thức cung cấp qua biên giới
và hiện diện thương mại.
Tự do hóa thương mại đối với ngành dịch vụ phân phối
là xu hướng tương đối mới. Tuy nhiên, sự hiện diện thương
mại, nhất là tại các nước đang phát triển của các tập đoàn bán
lẻ lớn trên thế giới phát triển tương đối nhanh trong khoảng 2
– 3 thập kỷ qua. Các nghiên cứu cho thấy, mối quan hệ phát
triển dịch vụ phân phối giữa các quốc gia thông qua sự hiện
diện của các nhà bán lẻ được phát triển qua 3 giai đoạn. Trong
giai đoạn đầu, sau khi hiện diện thương mại ở một quốc gia,
các nhà bán lẻ nước ngoài chủ yếu bán sản phẩm của các nhà
cung cấp đã có quan hệ, do đó tỷ lệ nhập khẩu tương đối cao.
Tuy nhiên, sang giai đoạn hai, các nhà bán lẻ nước ngoài đã
từng bước kết nối được với các nhà cung cấp tại quốc gia đó
và tỷ lệ sản phấm nội địa được cung cấp cho cơ sở bán lẻ tăng
lên nhanh chóng. Giai đoạn ba, tỷ lệ nhập khẩu lại tăng lên do
sự phát triển của chuỗi cung ứng khu vực.
1.1.3. Yếu tố tác động đến quá trình phát triển của ngành
dịch vụ phân phối
Sự phát triển của ngành dịch vụ phân phối chịu sự chi
phối mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố kinh tế, thể chế - pháp luật, văn
hóa - xã hội, kỹ thuật.
+ Các yếu tố thể chế - luật pháp:
20
Mỗi quốc gia có khung khổ pháp lý khác nhau đối với
ngành dịch vụ phân phối. Trong các nền kinh tế thị trường,
chính phủ thường khơng trực tiếp tham gia dịch vụ phân phối
thơng qua hình thức sở hữu trực tiếp. Tuy nhiên, ngành phân
phối là đối tượng của nhiều qui định nhằm hạn chế kinh doanh
ở những cấp độ khác nhau. Trong lĩnh vực bán lẻ, các qui định
có thể phân thành 5 loại: 1) các qui định hạn chế về địa điểm
để giảm thiểu các ảnh hưởng về khơng gian, mơi trường; 2)
các qui định về kiểm sốt giá cả để bảo vệ người tiêu dùng; 3)
luật cạnh tranh để ngăn chặn độc quyền; 4) kiểm soát sự gia
nhập của các công ty mới để bảo đảm sự ổn định của thị
trường; 5) các qui định cấp phép kinh doanh và kiểm tra để
đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng.
+ Các yếu tố về kinh tế:
Tình trạng của nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ
mơ (lãi suất, lạm phát, tiền lương cơ bản, các chiến lược phát
triển kinh tế của chính phủ, các chính sách ưu đãi cho các
ngành (thuế, trợ cấp....), triển vọng kinh tế trong tương lai...
đều có tác động đến các ngành kinh tế, trong đó có ngành dịch
vụ phân phối. Mức độ tác động của các yếu tố kinh tế đến
ngành dịch vụ phân phối có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia,
các giai đoạn phát triển. Nhìn chung, có thể khái quát tác động
của yếu tố kinh tế đến ngành dịch vụ phân phối theo trình độ
phát triển kinh tế. Tại các nền kinh tế đang phát triển, ngành
dịch vụ phân phối chủ yếu có qui mơ nhỏ, phân tán, số đông
các doanh nghiệp bán lẻ chỉ sở hữu một cửa hàng duy nhất. Tại
các nền kinh tế phát triển, ngành dịch vụ phân phối ngày càng
trở nên tập trung hơn với sự hình thành các doanh nghiệp phân
phối qui mô lớn và phát triển các cửa hàng bán lẻ lớn theo
21
chuỗi. Đồng thời, các doanh nghiệp phân phối có xu hướng kết
hợp cả bán buôn và bán lẻ. Trong sự hợp nhất theo chiều dọc
của bán buôn và bán lẻ, thị phần của các nhà bán lẻ có thương
hiệu ngày càng tăng.
+ Các yếu tố văn hóa xã hội:
Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn
hóa và các yếu tố xã hội đặc trưng. Những yếu tố này thường
gắn liền với tập quán kinh doanh, tập quán tiêu dùng tại các
khu vực khác nhau. Tuy nhiên, những giao thoa văn hóa của
các nền văn hóa khác sẽ thay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống và
tạo ra triển vọng quốc tế hóa ngành dịch vụ phân phối. Các đặc
điểm về xã hội (tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, thu
nhập trung bình, phân phối thu nhập, điều kiện sống,…) có tác
động trực tiếp đến nhu cầu mua sắm và tiêu dùng của người
dân và có tác động đến phạm vi, mức độ và chất lượng dịch vụ
của các nhà phân phối.
+ Yếu tố công nghệ:
Ngày nay, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và
được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Đặc biệt, lĩnh vực công
nghệ thông tin, internet tác động đến hoạt động kinh doanh ngày
càng mạnh mẽ hơn. Trong ngành dịch vụ phân phối, thương mại
điện tử có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhất là lĩnh vực bán lẻ. (Định
nghĩa thương mại điện tử theo nghĩa rộng bao gồm việc quảng
cáo sản phẩm, đặt mua và thanh toán qua mạng điện tử). Điều đó
làm thay đổi cách thức phân phối sản phẩm.
22
+ Ngoài các yếu tố cơ bản trên, xu hướng tồn cầu hóa
và tự do hóa thương mại trong lĩnh vực dịch vụ đang trở thành
một yếu tố tác động mạnh mẽ đến ngành dịch vụ phân phối.
Quá trình hội nhập sẽ khiến các rào cản về thương mại dần dần
được gỡ bỏ, các doanh nghiệp có cơ hội bn bán với các đối
tác cả trong và ngoài nước, đồng thời phải điều chỉnh phù hợp
với các lợi thế so sánh, phân công lao động của khu vực và của
thế giới. Ở phạm vi quốc tế, các mạng lưới sản xuất/phân phối
bao gồm các chuỗi sản xuất theo chiều dọc mở rộng khắp các
quốc gia trong khu vực và toàn cầu. Các mạng lưới này có sự
tham gia của nhiều quốc gia với mức thu nhập khác nhau.
Chính những khác biệt về giá và các lợi thế địa điểm sẽ được
tận dụng hiệu quả để hình thành các mạng lưới kinh doanh theo
chiều dọc. Ngoài ra, các mạng lưới này cịn chứa đựng các mối
quan hệ trong và ngồi cơng ty. Ở mỗi quốc gia, giữa các công
ty đa quốc gia (MNEs) và các cơng ty trong nước hình thành
các mối quan hệ liên kết phức tạp. Do đó, các mạng lưới này
đã trở thành một bộ phận quan trọng trong từng nền kinh tế và
cả khu vực. Các hoạt động sản xuất và thương mại quốc tế của
mỗi quốc gia không thể thiếu các mạng lưới này.
1.2. Năng lực và nâng cao năng lực của ngành dịch vụ phân
phối trong nền kinh tế
1.2.1. Tiếp cận khái niệm năng lực và nâng cao năng lực của
ngành dịch vụ phân phối
Có rất nhiều cách tiếp cận khái niệm năng lực khác
nhau. Tùy theo những loại hoạt động cụ thể ở những phạm vi,
23
lĩnh vực khác nhau do những đối tượng khác nhau thực hiện
có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về năng lực. Ví dụ
như: năng lực tư duy, năng lực thể chất, năng lực chuyên môn,
năng lực giao tiếp,… hay năng lực cá nhân, năng lực của một
tổ chức, năng lực của ngành, của quốc gia...
Trên bình diện chung nhất, năng lực là tổng hợp các
đặc điểm, thuộc tính của cá nhân, hay tổ chức phù hợp với yêu
cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho
hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Khi đề cập đến năng lực của
mỗi một cá nhân hay tổ chức có thể bao gồm nhiều loại năng
lực khác nhau được thể hiện thông qua một hoặc một số hoạt
động khác nhau. Các năng lực của một cá nhân hay tổ chức
được hình thành khơng chỉ trên cơ sở các tư chất tự nhiên của
cá nhân hay các nguồn lực hiện có của tổ chức, mà quan trọng
hơn q trình rèn luyện, hồn thiện năng lực sẵn có và tạo lập
năng lực mới thông qua học tập, lao động và khả năng tự điều
khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh sai sót cũng như khả năng tạo
lập trong q trình hoạt động thực tế. Từ đó, có thể nói, nâng
cao năng lực của cá nhân hay tổ chức là quá trình củng cố, gia
tăng những năng lực hiện có và tạo lập thêm những năng lực
mới phù hợp với yêu cầu của hoạt động và những thay đổi của
môi trường hoạt động nhằm đảm bảo đạt hiệu quả cao hơn.
Năng lực dịch vụ phân phối ở phạm vi nền kinh tế, như
đã nêu trên đây, được hiểu là năng lực của ngành. Xuất phát
từ những đặc điểm và thuộc tính của ngành dịch vụ phân phối,
năng lực của ngành dịch vụ phân phối trong nền kinh tế có thể
bao gồm các nhóm năng lực sau:
24
a) Từ góc độ dịch vụ phân phối là một khâu của quá
trình tái sản xuất các hội, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng,
năng lực ngành dịch vụ phân phối trong nền kinh tế gồm có:
+ Năng lực khai thác, phát triển các nguồn hàng đảm bảo
cung ứng hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường;
+ Năng lực tổ chức lưu thơng hàng hóa đảm bảo tiết
kiệm thời gian, chi phí và đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu thụ
trên thị trường;
+ Năng lực thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ
của người tiêu dùng trên thị trường.
b) Từ góc độ các loại hình dịch vụ phân phối, năng lực
ngành dịch vụ phân phối trong nền kinh tế gồm có:
+ Năng lực của phân ngành dịch vụ bán buôn;
+ Năng lực của phân ngành dịch vụ bán lẻ;
+ Năng lực của phân ngành đại lý;
+ Năng lực của phân ngành nhượng quyền thương mại.
c) Từ góc độ các chủ thể chính tham gia hoạt động
trong lĩnh vực dịch vụ phân phối, năng lực ngành dịch vụ phân
phối trong nền kinh tế gồm có:
+ Năng lực của các doanh nghiệp trong ngành dịch vụ
phân phối;
25