Tải bản đầy đủ (.pdf) (53 trang)

Ứng dụng bài tập nhằm phát triển thể lực cho nam học sinh khối 11 trường THPT hiền đa – cẩm khê – phú thọ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 53 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA THỂ DỤC THỂ THAO

CÙ TIẾN ĐÔNG

ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ LỰC
CHO NAM HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG THPT
HIỀN ĐA – CẨM KHÊ – PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Đại học giáo dục thể chất

Phú Thọ, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA THỂ DỤC THỂ THAO

CÙ TIẾN ĐÔNG

ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ LỰC
CHO NAM HỌC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG THPT
HIỀN ĐA – CẨM KHÊ – PHÚ THỌ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Đại học giáo dục thể chất

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. TRẦN PHÚC BA

Phú Thọ, 2017



LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Hùng Vương,
các giảng viên , quý thầy cơ khoa Thể dục Thể thao đã tận tình giảng dạy, truyền
thụ những kiến thức, kinh nghiệm vô cùng quý báu trong suốt thời gian học tập
tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Trần Phúc Ba đã tận tình hướng dẫn
và chỉ bảo cho tơi những kiến thức q giá cho tơi hồn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Hiền Đa – Cẩm
Khê - Phú Thọ, các thầy cô tổ thể dục cùng các em nam học sinh khối 11 rường
THPT Hiền Đa – Cẩm Khê - Phú Thọ đã hết lòng giúp đỡ và hợp tác, tạo điều
kiện cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Tuy nhiên trong thời gian ngắn cũng như kiến thức còn nhiều hạn chế,
nên chắc rằng khóa luận khơng thể khơng có sai sót. Kính mong được sự hướng
dẫn, chỉ bảo của quý thầy cô.
Tôi xin nghiêm túc ghi nhận và chân thành cảm ơn!


MỤC LỤC
NỘI DUNG

PHẦN MỞ ĐẦU

TRANG
1

1.1. Lý do chọn đề tài.

1


1.2. Mục đích nghiên cứu.

5

1.3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

5
6

2.1. Quan điểm về giáo dục thể chất ở trƣờng học

6

2.1.1. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, của đảng của

6

nhà nước.

2.1.2. Các quan điểm tiến bộ của thế giới đối với GDTC

7

trường học
2.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh khối 11

9


THPT
2.2.1. Đặc điểm tâm lý

9

2.2.2. Đặc điểm sinh lý

9

2.3. Đặc điểm phát triển tố chất thể lực của học sinh.

10

2.3.1. Đặc điểm tố chất thể lực của học sinh.

10

2.3.2. Cơ sở sinh lý của GDTC học sinh.

10

2.3.3. Giáo dục thể chất đối với học sinh.

11

2.4. Các khái niệm liên quan đến phát triển thể chất.

12

CHƢƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP


18

NGHIÊN CỨU
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu.

18

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.

18

2.2.1. Phương pháp tham khảo tài liệu.

18

2.2.2. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm.
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm.

18
19

2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm.

19

2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

19



2.2.6. Phương pháp toán học thống kê.

20

2.3. Kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu.

21

CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƢỢC

23

3.1. Thực trạng thể lực của nam học sinh khối 11

23

trƣờng THPT Hiền Đa
3.1.1. Đánh giá thực trạng về đội ngũ giáo viên thể dục.

23

3.1.2. Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và

24

ngoại khóa môn thể dục trường THPT Hiền Đa – Cẩm Khê
– Phú Thọ.
3.1.3. Thực trạng chương trình giảng dạy mơn thể dục trường


24

THPT Hiền Đa.
3.1.4. Đánh giá thực trạng thể lực của nam học sinh khối 11
trường THPT Hiền Đa
3.2.Lựa chọn các bài tập phát triển thể lực cho nam học

25
27

sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa.
3.3. Ứng dụng các bài tập đã lựa chọn và đánh giá kết

29

quả lựa chọn bài tập phát triển thể lực cho nam học
sinh khối 11 trƣờng THPT Hiền Đa.
3.3.1. Ứng dụng bài tập phát triển thể lực cho nam học

29

sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa
3.3.2. Đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm phát triển thể lực

33

cho nam học sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa.
KẾT LU N VÀ KIẾN NGH

38


I.KẾT LU N:

38

II. KIẾN NGH :

39

PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TDTT:
GDTC:
THPT:
TW:
GD-ĐT:
%:
S:
TN:
ĐC:

Thể dục thể thao
Giáo dục thể chất
Trung học phổ thông
Trung ương
Giáo dục đào tạo
Phần Trăm
Giây

Thực nghiệm
Đối chứng


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Thể loại

Nội dung

Bảng 3.1: Thực trạng về đội ngũ giáo viên thể dục

Trang
23

trường THPT Hiền Đa
Bảng 3.2: Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho

24

hoạt động GDTC tại trường THPT Hiền Đa – Cẩm
Khê – Phú Thọ.
Bảng 3.3: Thực trạng về chương trình thể dục khối

25

11 trường THPT Hiền Đa
Bảng 3.4: Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đại diện

26


đánh giá các tố chất thể lực
B

N
G

Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra thể lực nam học sinh khối
11 trường THPT Hiền Đa
Bảng 3.6: Kết quả phỏng vấn lựa chọncác bài tập

27
28

nhằm phát triển thể lực cho nam học sinh khối 11
trường THPT Hiền Đa
Bảng 3.7: tiến trình thực nghiệm của nhóm thực

31

nghiệm
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra thể lực của hai nhóm
trước thực nghiệm
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra thể lực của hai nhóm

33
33

sau thực nghiệm
Bảng 3.10: Bảng đối chiếu kết quả kiểm tra thể lực


34

trước và sau thực nghiệm của nhóm đối chứng
Bảng 3.11: Bảng đối chiếu kết quả kiểm tra thể lực

35

trước và sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm
Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả kiểm tra chạy 30m
BIỂU
ĐỒ

35

xuất phát cao của hai nhóm thực nghiệm và đối
chứng trước và sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.2: So sánh kết quả kiểm tra bật xa tại

36


chỗ của hai nhóm thực nghiệm, đối chứng trước và
sau thực nghiệm
Biểu đồ 3.3: So sánh kết quả kiểm tra chạy tùy sức
5 phút của hai nhóm thực nghiệm, đối chứng trước
và sau thực nghiệm

36



PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Ngày nay, con người vừa là mục tiêu giáo dục vừa là động lực cho sự phát
triển kinh tế - xã hội, vì giáo dục đã trở thành động lực của sự phát triển. Giáo
dục đào tạo đóng vai trị trung tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực,
chiến lược ấy được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và chính sách Nhà
nước, trong đó tiêu biểu nhất là chỉ thị số 36-CT/TW ngày 23/4/1994, của ban bí
thư Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về công tác thể dục thể thao trong giai
đoạn mới. Chỉ thị khẳng định “ Phát triển thể dục thể thao là bộ phận quan trọng
trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và nhà nước nhằm bồi
dưỡng phát huy nhân tố con người, cơng tác thể dục thể thao phải góp phần tích
cực nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh,
làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao sức lao động và sức
chiến đấu của lực lượng vũ trang”.
Chỉ thị còn nêu rõ “Mục tiêu cơ bản, lâu dài của cơng tác thể dục thể thao
là hình thành nền thể dục thể thao tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực
đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí
xứng đáng trong hoạt động thể thao quốc tế, trước hết là khu vực đơng nam Á”.
Chính vì thế trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khơng
ngừng cải tiến nội dung, đổi mới chương trình phương pháp giảng dạy thể dục
thể thao trong các cấp học, trong đó điền kinh là một trong những nội dung cơ
bản không thể thiếu của hầu hết các chương trình giảng dạy của các trường phổ
thơng cũng như bậc Đại học, Cao đẳng và Trung cấp Chuyên nghiệp.
Chỉ thị 22/TĐQS 07/01/1996 nói rõ; “trong bất kể tình huống phải lo sức
khỏe cho học sinh, trong điều kiện nào cũng phải rèn luyện thân thể” do vậy
hoạt động TDTT là không thể thiếu trong xã hội. Ngay từ khi mới ra đời thể dục
thể thao (TDTT) đã là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa xã hội và là một
phương tiện giáo dục. TDTT còn mang đầy đủ tính lịch sử giai cấp và tính bản sắc

1



dân tộc. Vì vậy thơng qua TDTT mà ta có thể đánh giá được sự phát triển của văn
hóa thể chất ở một địa phương, dân tộc, quốc gia.
Ngoài ra, TDTT còn mang một nhiệm vụ quan trọng là đem lại hịa bình,
hữu nghị, đồn kết giữa các dân tộc với nhau, tạo nên mối quan hệ giữa các cá
nhân, giữa các tập thể, giữa các quốc gia khác nhau. Mở rộng mối quan hệ
khơng những về văn hóa mà cịn về kinh tế, chính trị với các nước trên thế giới.
Hiện nay nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Do đó TDTT ngày
càng giữ vai trò to lớn trong đời sống xã hội, đặc biệt nó đã trở thành nhu cầu
khơng thể thiếu của hàng triệu người. Tham gia tập luyện TDTT có tác dụng
củng cổ và hoàn thiện thể chất tăng cường sức khỏe, đồng thời TDTT là phương
tiện giải trí lành mạnh làm cho đời sống văn hóa của con người phong phú, đa
dạng hơn.
Trong thời đại ngày nay, đặc biệt là những năm đầu tiên của thế kỉ XXI,
thời đại của công nghệ cao - khoa học phát triển. Để phát triển nhanh mạnh và
có thể theo kịp trình độ phát triển của khuvực và thế giới thìvấn đề đặt ra chính
là nguồn nhân lực để xây dựng đất nước, là con người Việt Nam. Muốn vậy mỗi
người dân Việt Nam phải trở thành những người "Phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức". Trong
đó sức khỏe của người dân là vấn đề quan trọng và cần được quan tâm hàng
đầu.
Vì vậy Đảng và Nhà nước ta cần có những đường lối, chính sách mang
tính định hướng cho sự phát triển của nền TDTT nước nhà để nhằm tăng cường
thể chất cho nhân dân.
Việc tham gia tập luyện TDTT đối với mỗi người khác nhau thì sẽ có sở
thích, hình thức tham gia tập luyện khác nhau vì vậy mà nền TDTT nước ta
cũng cần đổi mới đa dạng để đáp ứng được nhu cầu rèn luyện sức khỏe và hoàn
thiện thể chất của người dân.
Hệ thống giáo dục thể chất trong các trường THPT là một bộ phận hữu cơ

của hệ thống giáo dục và đào tạo Việt Nam. Mục đích của giáo dục thể chất là
2


củng cố và tăng cường sức khỏe, phát triển năng lực thể chất của con người,
hình thành và hồn thiện các kỹ năng vận động để chuẩn bị sẵn sàng xây dựng
và bảo vệ tổ quốc.
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, sức khỏe con người là vốn quý. Đảng và Nhà nước ta ln coi
trọng vị trí của công tác giáo dục thể chất nhằm bồi dưỡng, nâng cao sức khỏe
đối với thế hệ trẻ và xem đó là động lực quan trọng cần phải có chính sách chăm
sóc giáo dục đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hồ về mặt thể chất, tinh
thần, trí tuệ và đạo đức.
Công tác GDTC va hoạt động TDTT trong các trường THPT là một mặt
giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, để góp phần thực hiện
mục tiêu: Nâng cao dân trí bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước để
đáp ứng nhu cầu đổi mới phát triển sự nghiệp kinh tế của đất nước.
Thể dục có một vị trí hết sức quan trọng đối với sự hoàn thiện về mặt thể
chất, chuẩn bị cho con người bước vào cuộc sống học tập, lao động với hiệu quả
cao. Thể dục là sự tổng hợp những phương pháp và biện pháp chuyên mơn về
giáo dục thể chất trong q trình phát triển loài người, vừa áp dụng các phương
pháp, biện pháp, vừa kết hợp với nhân tố vệ sinh góp phần nâng cao sức khỏe,
phát triển thể lực, rèn luyện cơ thể, hình thành kĩ năng kĩ xảo cần thiết cho cuộc
sống.
Việc chuẩn bị thể lực cho học sinh có vai trị quan trọng trong việc tiếp
thu và hình thành kĩ thuật động tác, cũng như kĩ năng thực hành trong các môn
thể thao.
GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển thể chất cho học
sinh, sinh viên, nhằm góp phần vào việc đào tạo con người phát triển toàn diện,
nâng cao thể lực, giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống lành mạnh. Thế hệ học

sinh, sinh viên là những người chủ tương lai của đất nước, nên sứ mệnh lịch sử
tương lai của dân tộc đều trông mong vào thế hệ này.

3


Về thực trạng của công tác GDTC hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
nhận định: “ Chất lượng GDTC còn thấp, giờ dạy còn đơn điệu, thiếu sinh
động”. Nhận thức về vị trí, vai trị của GDTC cịn nhiều hạn chế trong các cấp
giáo dục và cơ sở trường.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác GDTC đối với học sinh
THPT hiện nay, qua quá trình thực tập lần một tại trường THPT Hiền Đa – Cẩm
Khê – Phú Thọ tôi điều tra được đa phần học sinh của trường là con em nơng
thơn, có nhiều học sinh điều kiện kinh tế gia đình cịn gặp rất nhiều khó khăn,
ngồi giờ học trên lớp các em phải giúp gia đình làm việc vì vậy thời gian giành
cho các hoạt động TDTT ngoại khóa nâng cao thể lực là khơng có, bên cạnh đó
điều kiện dinh dưỡng khơng tơt dẫn đến học sinh có thể lực cũng như thể hình
kém hơn học sinh ở các trường THPT khác có điều kiện tốt hơn. Qua tìm hiểu
thực tế chúng tôi thấy nhà trường thực hiện rất nghiêm túc các giờ học thể dục
chính khóa tuy nhiên với thời lượng mỗi tuần 2 tiết mỗi tiết 45 phút lại học dàn
đều tất cả các mơn thể thao khơng có nhiều các bài tập phát triển thể lực cho học
sinh như chương trình của Bộ GD-ĐT hiện nay thì việc tăng cường và nâng cao
thể lực cho học sinh là rất hạn chế, đặc biệt là nam học sinh khối 11 các em đang
ở độ tuổi đòi hỏi được vận động với khối lượng lớn để hồn thiện cơ thể thì lại
càng không đáp ứng. Từ thực tiễn quan sát và dựa vào các tiêu trí đánh giá về
thể lực của học sinh theo quyết định 53/2008/QĐ - BGDĐT của Bộ Giáo Dục và
Đào Tạo ban hành ngày 18 tháng 8 năm 2008. Tôi nhận thấy thể lực của các em
nam học sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa – Cẩm Khê – Phú Thọ còn yếu.
Nguyên nhân chủ yếu là các bài tập thể dục trên lớp theo chương trình của Bộ
Giáo dục và Đào tạo là chưa đáp ứng được phát triển thể lực cho học sinh khối

11 do chưa có các bài tập phát triển thể lực đưa vào cuối buổi học được sắp xếp
một cách hợp lý, khoa học và có hệ thống. Xuất phát từ những lý do kể trên. Là
sinh viên chuyên ngành GDTC đang học tập tại trường Đại Học Hùng Vương
bằng những kiến thức đã được trang bị tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“ Ứng

4


dụng bài tập nhằm phát triển thể lực cho nam học sinh khối 11 trƣờng
THPT Hiền Đa – Cẩm Khê – Phú Thọ”.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở thực tiễn và giảng dạy, lựa chọn và ứng dụng một số bài tập nhằm
phát triển thể lực cho nam học sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa – Cẩm Khê – Phú
Thọ.
1.3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu.
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu: các bài tập nhằm phát triển thể lực cho nam học
sinh khối 11 trường THPT Hiền Đa – Cẩm Khê – Phú Thọ.
1.3.2. Khách thể nghiên cứu : Gồm có hai nhóm:
Nhóm thực nghiệm: 29 nam học sinh lớp 11A1 trường THPT Hiền Đa –
Cẩm Khê – Phú Thọ.
Nhóm đối chứng: 29 nam học sinh lớp 11A2 trường THPT Hiền Đa –
Cẩm Khê – Phú Thọ.

5


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Quan điểm về giáo dục thể chất ở trƣờng học
2.1.1. Quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, của đảng của nhà nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp TDTT

cả nước ta là: TDTT là một cách mạng vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là
nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của tồn dân, do dân và vì dân. Mục
tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần cải tạo
nịi giống Việt Nam làm cho dân cường nước thịnh. Tiêu biểu cho điều tư tưởng
của Bác là: “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”; “Giữ gìn dân chủ xây dựng
nước nhà. Gây dựng đời sống mới. Việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành
công. Mỗi người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân
mạnh khỏe tức là góp phần làm cho cả nước mạnh khỏe. Vậy, rèn luyện tập thể
dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục tồn diện cho
thế hệ trẻ. Trong đó, trí dục, đức dục được coi là những vấn đề hệ trọng nhằm
giáo dục hình thành nhân cách người học sinh – sinh viên – người chủ tương lai
của đất nước, những người lao động phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể
chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.
Cụ thể hóa đánh giá cơng tác TDTT trong những năm qua, chỉ thị 36
CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng về công tác TDTT trong giai đoạn
mới: ”Những năm gần đây cơng tác TDTT đã có tiến bộ, phong trào TDTT ở
một địa phương và ngành đã dược chú ý đầu tư nâng cấp xây dựng mới...Tuy
nhiên, TDTT của nước ta cịn ở trình độ thấp số người thường xun tập TDTT
cịn rất ít đặc biệt là thanh niên chưa tích cực tham gia tập luyện, hiệu quả
GDTC trong giáo dục trường học và trong các lực lượng vũ trang còn
thấp...Đội ngũ cán bộ TDTT còn yếu về nhiều mặt”.
Nguyên nhân chủ yếu của những yếu kém là do nhiều cấp Đảng ủy chính
quyền chưa nhận thức đầy đủ và xem nhẹ vai trò của TDTT trong sự nghiệp đào
tạo, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, chưa thực sự coi TDTT là một bộ
6


phận trong chiến lược kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phịng, chưa có chế độ
phù hợp với yêu cầu phát triển của TDTT, đầu tư cho lĩnh vực TDTT. Quản lí

của ngành TDTT cịn kém hiệu quả, chưa phát huy vai trị chủ động sáng tạo của
tồn xã hội để phát triển TDTT.
Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về phát triển sự nghiệp TDTT:
“Phát triển TDTT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người cơng
tác TDTT góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục nhân cách, đạo đức,
lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, nâng
cao năng xuất lao đông xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang”.
Chỉ thị 36 CT/TW của ban bí thư Trung ương Đảng đã nêu: “Mục tiêu lâu
dài của cơng tác TDTT là hình thành nền TDTT phát triển và tiến bộ, góp phần
nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân...
Thực hiện nền GDTC trong tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT
trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh – sinh viên”.
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và nhân dân ta đã từng ví “Sức
khỏe là vàng”, không một ngành nào, nghề nào, một công việc nào lại khơng địi
hỏi con người phải có sức khỏe.
Để bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho mỗi người dân là một việc rất quan
trọng và cần thiết cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa.
Đó là một trong những mối quan tâm hàng đầu của chế độ ta hiện nay, là nhiệm vụ
cao quý của Đảng và Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp cho ngành Thể Dục Thể
Thao, ngành Giáo Dục và Đào Tạo cùng phối hợp với ngành Y Tế. Sự quan tâm của
Đảng và nhà nước được thể hiện trong các cấp học, bậc học. TDTT đã được đưa
vào chương trình giảng dạy chính khóa từ bậc mầm non tơi cao đẳng và đại học.
2.1.2. Các quan điểm tiến bộ của thế giới đối với GDTC trường học
Trên thế giới hệ thống GDTC đã có sự phát triển từ xa xưa. Tại Nga trước
Cách mạng tháng Mười xuất hiện những quan điểm tiến bộ của các nhà khoa
học về GDTC tiêu biểu là:
7



+ C.Unxinxki (1824 - 1870): Ông là một nhà sư phạm kiệt xuất, ông đã đề
xuất cho trẻ em rèn luyện thân thể 5 phút trong thời gian học lý thuyết.
+ Lestơnxtơi (1826-1910): Ơng là nhà đại văn hào Nga, ông đã tiến hành
giờ học thể dục trong trường học do ông mở cho con em nông dân.
Đặc biệt là nhà sư phạm, nhà giải phẫu và là thầy thuốc nổi tiếng
Lesghapht (1837 - 1909). Ơng đã có cơng lớn trong sự phát triển của khoa học
và thực tiễn GDTC. Các quan điểm của ơng là:
- Giáo dục trí tuệ phẩm chất phải góp phần chuẩn bị cho lao động có năng
xuất cao về hạnh phúc của người học.
- Một trong những nhiệm vụ quan trọng của GDTC là trau dồi kĩ năng lĩnh
hội tự giác những kết quả thu được.
- Chỉ có phát triển hài hồ, cơ thể "bình thường" phải "lý tưởng" thì mới có
năng suất và hiệu quả lao động cao.
- Phát triển hài hoà về thể chất chỉ có thể có được với sự hỗ trợ của hệ thống
GDTC có luận cứ khoa học.
Những quan điểm tiến bộ đó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ
thống GDTC trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay.
Tóm lại: Giáo dục thể chất trong nhà trường là nội dung giáo dục, môn
học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo,
nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động
cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe,
phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục.
Tuy nhiên: Thời gian qua lãnh đạo bộ và một số địa phương chưa coi
trọng đúng mức đến công tác giáo dục rèn luyện thể chất cho học sinh phổ
thông. Giáo viên chưa được bồi dưỡng đồng bộ về chuyên môn, sân bãi, phương
tiện dạy học cịn nghèo nàn, sách và chương trình giáo dục còn nhiều điểm về
nội dung, phương pháp chưa hợp lí, thống nhất.

8



2.2. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh khối 11 THPT
2.2.1. Đặc điểm tâm lý
Nghề giáo là một nghề đặc biệt. Hàng ngày chúng ta thường xuyên tiếp
xúc với các em học sinh – những người không cùng lứa tuổi, thế hệ...với chúng
ta. Những quan sát hàng ngày cho thấy các em - ở lứa tuổi THPT có những rung
cảm và suy nghĩ không giống với người lớn. Những học sinh ở lứa tuổi 16-17 là
những học sinh vui tươi nghịch ngợm nhất, đôi lúc làm cho giáo viên gặp nhiều
phiền tối hơn những nhóm tuổi khác. Ở độ tuổi này các em bước vào giai đoạn
có tình cảm riêng tư, ln tỏ ra mình lớn hơn, có hiểu biết cao, muốn chứng tỏ
cho người lớn biết mình là người có hiểu biết. Nhưng khi học động tác thì cũng
dốc sức ngay từ ban đầu và khi hoạt động thì ít chú ý tới hoạt động, dễ tốn sức
và xảy ra chấn thương. Cho nên người giáo viên, huấn luyện viên đặc biệt chú ý
đến điều này để khắc phục. Các em thích nắm bắt những cái mới mẻ, đồng thời
quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế nên các em tiếp thu cái
mới nhanh nhưng chóng qn. Các em dễ bị mơi trường tác động tạo nên sự
đánh giá thấp về mình khi thành cơng thì tỏ rõ tự kiêu, trái lại khi thất bại thì rụt
rè dẫn đến thiếu ý trí, quyết tâm. Vì vậy điều quan trọng là giáo viên phai biết
tạo động lực bên trong lịng các em đó, ln khích lệ tinh thần, chỉ ra các điều
tốt cho các em tham gia và hình thành phẩm chất ý trí đạo đức từ đó giúp các em
có tinh thần vượt khó khơng ngại gian nan, dũng cảm và có trí cầu tiến.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý
* Hệ thần kinh TW
Ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông, hiện tượng lan tỏa hưng phấn
vẫn chiếm ưu thế so với ức chế. Chức năng của hệ thần kinh chịu ảnh hưởng
hoạt động của tuyến nội tiết trong tuổi dậy thì.
Ngồi ra, ở lứa tuổi này do sự hoạt động mạnh mẽ của tuyến giáp trạng,
tuyến yên, tuyến sinh dục làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu
thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng, làm ảnh hưởng đến hoạt động
TDTT, khiến cho các em không thể khống chế được bản thân, tính nhịp điệu bị

9


giảm sút, khả năng chịu đựng bị ảnh hưởng. vì vậy cần bố trí các bài tập thích hợp
chú ý quan sát phản ứng của cơ thể học sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời.
* Hệ tuần hồn
Ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn đang phát triển và hoàn thiện, trọng lượng của
tim tương đối hoàn chỉnh. Nhịp tim của các em khơng ổn định có thể thay đổi
dưới các ảnh hưởng của các kích thích khác nhau. Mỗi phút cung cấp số lượng
máu gần tương đương với tuổi trưởng thành. Ở lứa tuổi này phản ứng của hệ
tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và
huyết áp hồi phục tương đối nhanh.
* Hệ hô hấp
Xác định khả năng tối đa của độ sâu hơ hấp vì vậy nó là các chỉ số quan
trọng về khả năng hoạt động của bộ máy hơ hấp. Dung tích sống phụ thuộc vào
dung tích chung của phổi và sức mạnh của các cơ hô hấp, vào lưc cản của lồng
ngực và phổi khi chúng co giãn.Dung tích sống của phổi bao gồm thể tích hơ
hấp, thể tích hít vào bổ sung và thể tích dự trữ thở ra. Dung tích sống của phổi của
mỗi người rất khác nhau và phụ thuộc vào kích thước cơ thể, giới tính và lứa tuổi.
2.3. Đặc điểm phát triển tố chất thể lực của học sinh.
2.3.1. Đặc điểm tố chất thể lực của học sinh.
Sự thay đổi các tố chất cơ thể trên cơ sở của sự phát triển hình thái, cơ
năng. Nó thay đổi theo lứa tuổi có tính làn sóng, tính giai đoạn. Sự phát triển các
tố chất thể lực trong quá trình trưởng thành diễn ra không đồng đều và không
đồng bộ, mỗi tố chất phát triển theo nhịp độ riêng vào những thời kì khác nhau.
Tố chất thể lực bao gồm: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo.
2.3.2. Cơ sở sinh lý của GDTC học sinh.
Đặc điểm quan trọng của việc GDTC cho học sinh là quá trình diễn ra
trên cơ thể đang phát triển và trưởng thành. Điều đó làm cho công tác GDTC
thêm phức tạp và phải nắm vững các đặc điểm lứa tuổi cũng như áp dụng chúng

phù hợp với mục tiêu. nội dung giáo dục. Trong GDTC học sinh cần phải đặc
biệt lưu ý đến sự phù hợp với lượng vận động, tập luyện với mức độ tâm sinh lý
10


của các học sinh. Lượng vận động cực đại có thể làm cạn kiệt khả năng dự trữ
của cơ thể, dẫn đến những hiện tượng rối loạn bệnh lý. Đối với cơ thể học sinh
tập luyện nóng vội, rút ngắn giai đoạn có thể gây ra những ảnh hưởng xấu. Khả
năng vận động cơ thể học sinh tuân theo những đặc điểm lứa tuổi. Giai đoạn
thích nghi, trạng thái ổn định...
2.3.3. Giáo dục thể chất đối với học sinh.
GDTC là một q trình sư phạm nhằm hồn thiện về mặt thể chất và chức
năng của cơ thể con người, nhằm hình thành và củng cố những kỹ năng kỹ sảo
vận động trong đời sống, trong lao động, GDTC là một bộ phận của TDTT, là
một trong những hình thái hoạt động cơ bản của định hướng rõ của TDTT trong
xã hội. Hay cụ thể nói cách khác GDTC là loại hình giáo dục mà nội dung
chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển chủ định các tố chất thể lực của
con người.
GDTC và thể thao trường học luôn duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao
trình độ thể lực cho học sinh, rèn luyện thân thể đạt tiêu chuẩn thể lực theo quy
định. Trang bị cho học sinh kiến thức lý luận cơ bản về nội dung, phương pháp
tập luyện TDTT, kỹ năng vận động, kỹ thuật động tác cơ bản một số môn thể
thao. Rèn luyện cho học sinh có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, xây
dựng lối sống lành mạnh, tinh thần tự giác rèn luyện thân thể. Đồng thời tạo mọi
điều kiện thuận lợi để các trường xây dựng và rèn luyện phong trào thể thao
mạnh mẽ và sâu rộng “ Thực hiện GDTC trong tất cả các trường học, làm cho
việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh...”
GDTC trong các trường phổ thơng góp phần quan trọng trong việc: nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài... xây dựng những lớp nguoif
chủ nhân tương lai của đất nước.

Trên cơ sở tư tưởng đó, GDTC đối với học sinh là việc không thể thiếu
được trong công tác giáo dục và đào tạo. Sức khỏe được coi như là vốn quý nhất
của con người, là tài sản vô giá của quốc gia.

11


2.4. Các khái niệm liên quan đến phát triển thể chất.
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người. Đó là những đặc trưng tương
đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển
qua bẩm sinh di truyền và điều kiện sống ( bao gồm cả giáo dục và rèn luyện ).
Năng lực thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng
thích ứng.
Thể hình: Đó là hình thái, cấu trúc cơ thể, bao gồm trình độ phát triển,
những chỉ số tuyệt đối về hình thái. Cịn năng lực thể chất lại chủ yếu liên quan
đến những khả năng chức năng của hệ thống, cơ quan trong cơ thể thể hiện
chính qua vận hành cơ bắp... Nó bao gồm các tố chất vận động và những năng
lực cơ bản của con người. Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng
chủ yếu về chức năng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm
cả sức đề kháng đối với bệnh tật. Còn trạng thái thể chất chủ yếu nói về tình
trạng cơ thể thơng qua một số dấu hiệu về thể trạng, được xác định bằng cách đo
tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vịng ngực, dung tích sống... trong
một thời điểm nào đấy.
Đặc trưng của sự phát triển thể chất phụ thuộc nhiều vào các nguyên nhân
tạo thành (điều kiện bên trong và bên ngồi) và sự biến đổi của nó theo một số
quy luật về tính di truyền và khả biến, sự phát triển theo lứa tuổi và giới tính, sự
thống nhất giữa cơ thể và mơi trường, giữa hình thức – cấu tạo và chức năng cơ
thể.
Để phát triển thể chất người ta sử dụng các bài tập.
Bài tập TDTT: là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người

sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích phù hợp với các quy luật GDTC.
Người ta dùng chúng để giải quyết các nhiệm vụ GDTC, đáp ứng những yêu cầu
giáo dục thể chất và tinh thần của con người.
Thể lực chung: theo các nhà khoa học TDTT nước ngồi như Nơvicốp
(Nga), Viên Vĩ Dân ( Trung Quốc) thì thể lực chung được hiểu là: “ năng lực
của các chức năng và năng lực vận động của cơ thể được biểu hiện ra dưới sự
12


chi phối của hệ thống thần kinh, loại năng lực này được tổ hợp bởi sức mạnh tốc
độ, sức bền, tính mêm dẻo và năng lực phối hợp vận động”.
Cịn theo tác giả Nguyễn Tốn, Phạm Danh Tốn thì thể lực chung có thể
được hiểu là: “ Những tiền đè chung rộng rãi về thể lực để có thể đạt kết quả tốt
trong hoạt động hoặc trong một số hoạt động nào đó”.
Tuy các tác giả trên có các trình bày khác nhau nhưng đều hàm chứa
những nội hàm cơ bản là :
- Thể lực chung là năng lực của chức năng và năng lực vận động của cơ
thể.
- Thể lực chung gồm các tố chất thể lực chung: sức nhanh, sức mạnh, sức
bền, khéo léo, mềm dẻo. Nó là nền tảng rộng rãi cho các hoạt động của cơ thể.
Huấn luyện thể lực chung: (cịn gọi là q trình giáo dục các tố chất thể
lực chung và chuyên môn) là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và
theo kế hoạch sắp xếp hợp lý những bài tập TDTT nhằm phát triển các mặt chất
lượng và khả năng vận động.
Thông thường tố chất thể lực được chia thành 5 loại cơ bản: sức nhanh,
sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo.
Điểm đặc biệt của quá trình chuẩn bị thể lực chung là phải củng cố được
những điểm còn yếu trong cơ thể, những cơ quan trậm phát triển.
Chuẩn bị thể lực chung sự tác động có hướng đích của lượng vận động
(bài tập thể chất) đến người tập nhằm hình thành và phát triển lên một mức độ

mới của khả năng vận động biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất,
đồng thời còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận
tương ứng với các năng lực vận động của người tập, nâng cao các yếu tố tâm lý
trước hoạt động đặc trưng của mỗi môn thể thao.
Hoạt động thể lực rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vào công xuất hoạt
động cơ cấu động tác và thời gian gắng sức. Mỗi một dạng hoạt động đồng thời
đòi hỏi cơ thể phải thực hiện khả năng hoạt động thể lực của mình về một mặt
nào đó. Như vậy khả năng hoạt động thể lực có thể phát triển các mặt khác nhau
13


của năng lực hoạt động thể lực. Các mặt khác nhau đó của khả năng hoạt động
thể lực được gọi là các tố chất thể lực (tố chất vận động). Dựa trên quan điểm tố
chất thể lực tôi đi sâu vào đặc điểm của từng tố chất, và dựa trên cơ sở sinh lý, lý
luận và phương pháp TDTT.
Tố chất sức mạnh.
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngồi hoặc đề kháng
lại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp.
Để phát triển sức mạnh tối đa trong huấn luyện cần phải hình thành những
phản xạ có điều kiện phối hợp hoạt động của các trung tâm thần kinh để các cơ
chủ vận động có thể co trong khi hoạt động của các cơ đối kháng bị ức chế.
Có thể sử dụng cả hoạt động và tĩnh lực để phát triển sức mạnh. Cho các
cơ tập luyện theo chế độ đẳng trường với lực căng cơ tối đa sẽ làm cho sức
mạnh của cơ tăng cao.
Tố chất sức nhanh.
Đó là khẳ năng của con người hồn thành một hoạt động vận động với
khoảng thời gian ngắn nhất trong điều kiện được quy định.
Người ta phân biệt 3 hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:
+ Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động.
+ Tốc độ động tác đơn.

+ Tần số động tác.
Theo quan điểm sinh lí, về thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
gồm 5 thành phần:
+ Xuất hiện hưng hấn trong cơ quan cảm thụ.
+ Dẫn truyền hưng phấn hệ thần kinh trung ương.
+ Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu li tâm.
+ Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ.
+ Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tích cực.
Trong đó giai đoạn thứ 3 chiếm nhiều thời gian nhất. Những động tác
được thực hiện với tốc độ tối đa khác với động tác chậm về đặc điểm sinh lí sự
14


khác biệt cơ bản thể hiện ở chỗ: Khi thực hiện với tốc độ tối đa thì khả năng
điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thực hiện động tác sẽ gặp nhiều khó
khăn. Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiện động tác thật chính xác. Trong
các động tác rất nhanh và thực hiện với tần số cao. Động năng được chuyền cho
bộ phận nào đố có thể bị tiêu phí ở các cơ đối kháng tham gia hoạt động và
truyền cho bộ phận này gia tốc theo hướng ngược lại, trong động tác tốc độ lớn
hoạt động của cơ diễn ra trong thời gian ngắn đến mức không kịp co lại nhiều và
thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳng trường. Người ta thừa nhận rằng tần số
động tác phụ thuộc vào tính linh hoạt của quá trình thần kinh – tức là phụ thuộc
vào tốc độ chuyển trạng thái hưng phấn – với chế độ của khu vận đông.
Tố chất sức bền.
Là khả năng hồn thành một hoạt động vận động khơng bị suy giảm hiệu
quả trong điều kiện được quy định.
Hay có thể khái niệm: Sức bền là khả năng thực hiện một hoạt động với
cường độ cho trước, năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất
mà cơ thể có khả năng chịu đựng được.
Do thời gian hoạt động đó cuối cùng cũng bị giới hạn bởi sự xuất hiện của

mệt mỏi, nên sức bền có thể nói là năng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong
hoạt động nào đó. Như vậy, khái niệm sức bền luôn liên quan đến khái niệm mệt
mỏi.
Trong hoạt động thể lực sức bền đảm bảo cho người tập đạt được cường
độ lớn nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian
vận động kéo dài. Tương ứng khả năng huấn luyện của mình. Sức bền cịn đảm
bảo đơng tác cao và giải quyết hoàn hảo kĩ – chiến thuật tốt ở cuối cuộc thi đấu
và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trong tập luyện. Và khả năng chịu
đựng lượng vận động của người tập. Sức bền phát triển tốt là một điều kiện quan
trọng để hồi phục nhanh sức bền gồm có: sức bền chung và sức bền chun
mơn.

15


+ Sức bền chung: là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ
thấp. Có sự tham gia cuả phần lớn hệ cơ.
Sức bền chung có khả năng chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác
tức là khi được nâng cao trong một loại bài tập nào đó, có khả năng biểu hiện
trong các loại bài tập khác có cùng tính chất. Điều này có ý nghĩa thực tiễn quan
trọng. Để nâng cao sức bền chung của vận động viên ở một mơn nào đó có thể
sử dụng nhiều hình thức bài tập khác nhau.
+ Sức bền chun mơn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong
những loại hình bài tập nhất định.
Sức bền trong những loại bài tập có tính chun biệt phụ thuộc vào những
nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hồn thiện kỹ thuật. Do đó,
khi nâng cao sức bền chuyên môn trong một loại bài tập xác định nào đó thì hầu
như khơng có tác dụng làm tăng sức bền chuyên môn trong một loại bài tập
khác, tức là đây khơng có sự chuyển của sức bền, có thể xảy ra hay khơng phụ
thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng trong vận động, đặc điểm các tố chất vận

động của bài tập, tác dụng tương hỗ kỹ năng, kỹ xảo vận động, sức bền nói
chung rất cần thiết cho con người.
Vì sức bền chun mơn là thành phần của nhân tố thành tích thể lực nên
nó quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực như sức mạnh, sức nhanh. Những
mối quan hệ này được thể hiện bằng các tố chất như: sức mạnh bền, sức nhanh
bền. Như vậy, có thể nói rằng sức bền rất đa dạng nó đặc trưng cho các mông
thể thao.
Tố chất mềm dẻo.
Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn. Biên độ tối đa
cùng động tác là thước đo năng lực mềm dẻo.
Năng lực mềm dẻo được chia làm hai: mềm dẻo tích cực và mềm dẻo thụ
động
+ Mềm dẻo tích cực: là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn ở các khớp
nhờ sự nỗ lực của cơ bắp.
16


+ Mềm dẻo thụ động: là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn của các
khớp nhờ tác động của ngoại lực như: trọng lượng của cơ thể, lực ấn ép của
huấn luyện viên hoặc bạn tập.
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu chất lượng và số
lượng động tác. Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đày đủ sẽ dẫn đến
những hạn chế và khó khăn trong q trình phát triển năng lực thể thao.
Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động).
Đó là khả năng tiếp thu nhanh kĩ năng vận động, những động tác mới học
và năng lực chuyển hóa hoạt động vận động phù hợp với yêu cầu của tình huống
đã thay đổi.
Khéo léo là một tố chất thể lực tổng hợp, có thể định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau. Có quan điểm cho rằng: “ Khéo léo là năng lực định hướng và
phản ứng nhanh chóng khi có tình huống nảy sinh”. Quan điểm khác lại cho

rằng: “Khéo léo là khả năng phối hợp động tác tốt của người tập trong các hoạt
động vận động”. Cho dù khéo léo theo các góc độ khác nhau, song người ta đều
thừa nhận tố chất này bao hàm trong đó nhiều năng lực thành phần để tạo nên
khả năng phối hợp vận động cao.
Phương pháp chủ yếu để phát triển các khả năng phối hợp vận động là
thường xuyên luyện tập các bài tập thể chất (bài tập kĩ thuật) với thay đổi kết
cấu, độ khó, tốc độ, nhịp điệu bài tập, rèn luyện các năng lực cảm giác khơng
gian và thời gian. Đa dạng hóa việc thực hiện động tác, thay đổi điều kiện bên
ngoài, thay đổi cách thu nhận thơng tin...Cũng như góp phần giáo dục có hiệu
quả khả năng phối hợp động tác.

17


×