SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƢỜNG THPT PHAN THÚC TRỰC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ BÀI THI THPT
MÔN LỊCH SỬ 12 BẰNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG
PHÁP HƢỚNG DẪN ÔN LUYỆN
(Lĩnh vực: Lịch sử)
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Tổ: KHXH
Năm học 2021 - 2022
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CÁC TỪ VIẾT TẮT
SKKK
GV
SGK
THPT
HS
KHXH
KHTN
ĐH – CD
CNXH
GDCD
NỘI DUNG
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
Học sinh
Khoa học xã hội
Khoa học tự nhiên
Đại học – Cao đẳng
Chủ nghĩa xã hội
Giáo dục công dân
2
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ:……………………………………………………...
1
1. Lí do chọn đề tài……………….……………………………………….......
1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu………………...……………………….....
1
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu………………...……………………….....
2
4. Đóng góp của đề tài……………………………………......………….........
5. Tính mới của đề tài.......................................................................................
2
2
PHẦN II. NỘI DUNG:………………………………………………………..
4
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn………………………………….
4
1.
Cơ
sở
luận………………………………………………………………...
lí
4
2. Cơ sở thực tiễn………………………………………………………….......
5
2.1. Đánh giá kết quả bài thi THPT môn Lịch Sử năm học 2020- 2021……......
5
2.2. Thực trạng học tập và ôn thi THPT môn Lịch Sử ở các trường THPT trên
địa bàn Yên Thành…………………………………………………….............
7
Chƣơng 2. Các phƣơng pháp và kĩ thuật đã thực hiện trong quá trình
dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Sử 12…......................
9
1. Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tƣợng học sinh cụ
thể:……..............................................................................................................
9
2. Hƣớng dẫn học sinh học tập bám sát sách giáo khoa là chìa khóa để
chắc kiến thức.……………...…………………………………………………
19
3. Thiết kế các chủ đề, nội dung học tập để ôn luyện sau khi đã hồn
thành kiến thức cơ bản.………………………………………………………
22
4. Ơn tập bằng các bảng biểu so sánh nội dung kiến thức.………………...
24
5. Hƣớng dẫn học sinh các phƣơng pháp tự học……………………………
27
6. Hƣớng dẫn kĩ năng làm bài………………………..……………………....
29
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm……………………………………..…….
33
PHẦN III. KẾT LUẬN:……………………………………………………....
37
1. Kết luận...........................................................................................................
37
2. Kinh nghiệm rút ra.………………………………………………………….
3. Ý kiến đề xuất..………………………...……………………………………
38
38
3
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài
Bác Hồ đã từng nói: “Dân ta phải biết sử ta cho tường gốc tích nước nhà
Việt Nam”, điều đó cho thấy Lịch sử là một mơn học đóng vai trị vơ cùng quan
trọng trong việc hình thành nhân cách, tư tưởng và tinh thần của mỗi người.
Tuy nhiên, hiện nay vị trí của mơn Lịch sử ở trường phổ thơng chưa thật sự
được coi trọng. Nhiều HS chưa thực sự hứng thú đối với môn học, thái độ học tập
mang tính đối phó, nặng về ghi nhớ máy móc, khơng hiểu bản chất của sự
kiện...nên trong nhiều năm qua, Lịch Sử là mơn học, mơn thi ln gây “nóng” trên
các phương tiện truyền thông và tạo nên sự quan tâm, chú ý bởi dư luận xã hội.
Mơn Lịch sử nói riêng và các môn khoa học xã hội đang bị quay lưng trong việc
lựa chọn khối thi, ngành thi của nhiều HS. Việc HS bây giờ ngại học Lịch sử, ngán
thi môn này là một sự thật xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ đó ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học trong các trường THPT.
Năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện “Đổi mới kì thi tốt nghiệp
THPT, kì thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng theo hướng đảm bảo tính thiết thực,
hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo
dục với kết quả thi”, do đó mơn Lịch sử chính thức chuyển từ thi tự luận sang hình
thức trắc nghiệm khách quan. Với tinh thần chủ động, Ban giám hiệu trường THPT
Phan Thúc Trực đã chỉ đạo tổ nhóm chun mơn xây dựng kế hoạch đưa ra những
giải pháp tối ưu nhằm đảm bảo, nâng cao chất lượng dạy và học đáp ứng yêu cầu
của việc đổi mới thi cử. Thực hiện chủ trương của Ban giám hiệu với trách nhiệm
cao, tổ nhóm chuyên môn chúng tôi đã xây dựng kế hoạch, đề ra những giải pháp,
rút kinh nghiệm sau mỗi kì thi, năm thi và điều chỉnh kịp thời, đúng hướng. Do đó,
chúng tơi đã đúc rút được những kinh nghiệm góp phần ổn định và nâng cao chất
lượng bộ môn qua các năm thi. Dù chất lượng bộ môn được nâng cao, đặc biệt là
chất lượng bài thi THPT môn Lịch sử của trường THPT Phan Thúc Trực có kết
quả vượt trội so với các trường trên địa bàn huyện Yên Thành và có vị trí cao trong
xếp hạng của Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An, nhưng so với các bộ mơn khác,
điểm số mơn Lịch sử vẫn cịn thấp. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao hiệu quả ôn thi
THPT môn Lịch sử vẫn luôn là điều trăn trở đối với mỗi GV bộ môn.
Với tư cách là một GV nhiều năm dạy ôn thi khối 12, tôi xin mạnh dạn đưa
ra một số giải pháp hướng dẫn nhằm nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Lịch Sử
bằng đổi mới phương pháp hướng dẫn ôn luyện.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục tiêu
4
Xác lập luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu thực trạng bài
thi THPT môn Lịch Sử khối 12. Trên cơ sở đó, tiến hành đề xuất các phương pháp,
kĩ thuật để nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Sử 12.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc đổi mới phương pháp
dạy học, phương pháp ôn thi THPTở bộ môn Lịch Sử khối 12.
- Đề xuất các phương pháp, kĩ thuật để nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn
Lịch sử 12.
- Tổ chức thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các phương pháp, kĩ thuật ôn
thi đã tiến hành.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Lịch Sử 12 bằng
đổi mới phương pháp hướng dẫn ôn luyện.
- HS các lớp 12 trường THPT Phan Thúc Trực, Yên Thành, Nghệ An.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Một số trường THPT trên địa bàn huyện Yên Thành,
Nghệ An.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ năm học 2020 - 2021 đến
năm học 2021 - 2022.
- Phạm vi nội dung: Một số phương pháp và kĩ thuật ôn thi nhằm nâng cao
hiệu quả bài thi THPT mơn Lịch Sử 12.
4. Đóng góp của đề tài
Việc đề xuất một số phương pháp và kĩ thuật hướng dẫn ôn thi THPT đã
được chúng tôi tiến hành triển khai có hiệu quả ở trường THPT Phan Thúc Trực sẽ
góp phần vào việc nâng cao hiệu quả ơn thi tốt nghiệp THPT nói riêng, nâng cao
chất lượng dạy và học mơn Lịch sử nói chung khơng chỉ ở trường THPT Phan
Thúc Trực mà cịn có thể áp dụng ở các trường THPT khác.
5. Tính mới của đề tài
Qua nghiên cứu, tổng hợp tài liệu, chúng tôi thấy vấn đề làm sao nâng cao
chất lượng, hiệu quả ôn thi THPT môn Lịch sử cho khối 12 là một vấn đề được
nhiều chuyên gia, GV và HS quan tâm trong những năm gần đây. Vì vậy có khá
nhiều bài viết, đề tài sáng kiến kinh nghiệm đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên các
bài viết chủ yếu chỉ đề cập đến các kĩ năng ôn luyện mang tính chất thủ thuật riêng
chứ chưa có bài viết nào mang tính chất hệ thống, bài bản dành cho HS. Bên cạnh
5
các bài viết phân tích, các bài phỏng vấn, cũng có một số đề tài Sáng kiến kinh
nghiệm đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả ôn thi THPTcho HS khối 12
môn Lịch sử nhưng các giải pháp đưa ra chủ yếu thiên về tổng hợp kiến thức Lịch
sử, hoặc về đổi mới phương pháp trong dạy học.Với đề tài này, tôi mạnh dạn đưa
ra một hệ thống các giải pháp nhằm hướng dẫn cách thức ôn thi môn Lịch sử cho
HS để nâng cao hiệu quả và chất lượng bài thi THPT, hơn nữa đề tài này đã được
áp dụng và bước đầu mang lại hiệu quả cao trong ôn luyện cho HS khối 12 tại
trường THPT Phan Thúc Trực.
Các giải pháp đưa ra được xây dựng trên cơ sở kinh nghiệm giảng dạy và
quan sát, học hỏi của bản thân nhằm đảm bảo tính giáo dục, tính khả thi và tính
thực tiễn trong mơi trường giáo dục hiện nay.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
6
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
1. Cơ sở lí luận
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học đang là vấn đề nóng bỏng trong các trường THPT.
Với việc đổi mới này, các thầy cô từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì
đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Và phương pháp dạy học
cũng chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy
cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và
phẩm chấtđể từ đó bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, hình thành khả năng
học tập suốt đời. Nhìn chung, việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay bao
gồm các nhân tố sau đây:
- Mục tiêu dạy học: Chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành,
phát triển phẩm chất và năng lực người học;
- Chương trình dạy học: Chuyển từ tập trung, bao cấp sang phân cấp:
Chương trình khung của Bộ, chương trình địa phương, chương trình nhà trường;
- Nội dung dạy học: chuyển từ nội dung kiến thức hàn lâm sang tinh giản,
chọn lọc, tích hợp, đáp ứng yêu cầu ứng dụng vào thực tiễn và hội nhập quốc tế;
- Phương pháp dạy học: Chuyển từ chủ yếu truyền thụ một chiều, HS tiếp
thu thụ động (hoạt động dạy của GV là trung tâm) sang tổ chức hoạt động học cho
HS, HS tự lực, chủ động trong học tập (hoạt động học của HS là trung tâm, GV là
người hỗ trợ, hướng dẫn);
- Hình thức dạy học: Các giờ học chuyển từ chủ yếu diễn ra trên lớp học
truyền thống sang việc đa dạng hóa các hình thức dạy học, kết hợp cả trong và
ngoài lớp học, ngoài nhà trường: dạy học tại di sản, dạy học gắn với sản xuất kinh
doanh, tăng cường các hoạt động xã hội, tăng cường ứng dụng công nghệ thông
tin, nghiên cứu khoa học, hoạt động trải nghiệm sáng tạo…Từ chủ yếu dạy học
tồn lớp sang kết hợp giữa dạy học nhóm nhỏ, cá nhân với toàn lớp học.
- Kiểm tra đánh giá: Từ chủ yếu kiểm tra việc ghi nhớ kiến thức sang đánh
giá năng lực; từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập sang kết hợp đánh giá kết quả
học tập với đánh giá quá trình, đánh giá sự tiến bộ của HS.
- Các điều kiện dạy học: Chuyển từ việc chủ yếu khai thác các điều kiện
giáo dục trong phạm vi nhà trường sang việc tạo điều kiện cho HS được học tập
qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là qua Internet; ...
phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời.
Để công việc đổi mới giáo dục có hiệu quả, mỗi nhân tố trên đóng vai trị, vị
trí và ý nghĩa khác nhau. Trong đó việc đổi mới phương pháp dạy học có vai trị
đặc biệt quan trong. Đối với bộ mơn Lịch sử, việc đổi mới phương pháp dạy học
càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Vì lịch sử vốn tồn tại khách quan, là những
7
vấn đề đã xảy ra trong quá khứ nên trong q trình giảng dạy và ơn tập để HS nắm
bắt được bản chất các vấn đề lịch sử, đòi hỏi bên cạnh những lời dạy sinh động GV
phải lựa chọn các phương pháp dạy khác nhau mới mang lại hiệu quả.
Ngồi việc đổi mới phương pháp dạy học, thì việc đổi mới phương pháp
kiểm tra đánh giá trong những năm gần đây cũng được dư luận đặc biệt quan tâm.
Quá trình đổi mới này được thực hiện đồng bộ trong các hoạt động giáo dục ở
trường, đặc biệt là đối với kì thi THPT quốc gia.
“Tinh thần sẽ có sự đổi mới để thích nghi với việc kỳ thi trung học phổ
thông sẽ phải năng động hơn trước ảnh hưởng của dịch bệnh và có đổi mới trong
tăng cường phân cấp để các địa phương chủ động hơn. Năm 2022 là một bước đi
đầu, có khả năng là một năm giao thời chuẩn bị để thực hiện đổi mới toàn diện hơn
vào năm sau”. Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp và kỹ thuật ôn thi cho HS
khối 12 nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình dạy học và góp phần
nâng cao hiệu quả bài thi THPT của HS đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Đánh giá kết quả bài thi THPT môn Lịch Sử trong năm học 2020- 2021
Là GV với hơn 15 năm giảng dạy Lịch sử ở bậc THPT, nhất là trong những
năm dạy Lịch sử lớp 12, tôi nhận thấy chất lượng môn Lịch sử cịn khiêm tốn vì
nhiều lí do:
- HS chưa thực sự u thích mơn học bởi trong q trình giảng dạy, ơn tập
nhiều GV chưa có phương pháp phù hợp để tạo nên hứng thú, kích thích sự suy
nghĩ tìm tòi của HS.
- Khả năng nắm bắt, đánh giá sự kiện lịch sử của HS chưa cao, chưa hiểu hết
bản chất của một sự kiện, vấn đề lịch sử.
- Phương pháp ơn tập cuối cấp cịn nghèo nàn, đơn điệu, khả năng kết hợp
đa dạng các phương pháp trong ôn tập chưa tốt, tính sáng tạo trong giảng dạy chưa
cao.
- Kết quả học tập của HS còn thấp đặc biệt là ở kỳ thi THPT hàng năm. Để
chứng minh cho nhận định này, tôi xin phép được đưa ra các số liệu kết quả thi
THPT năm 2021 của môn Lịch sử.
Trong kì thi THPT năm 2021 thì kết quả phân tích phổ điểm thi tốt nghiệp
THPT mơn Lịch sử của cả nước năm 2021 cho thấy: Có 637.005 thí sinh tham gia
thi bài thi Lịch sử trong đó điểm trung bình là 4,97 điểm, điểm trung vị là 4,75
điểm. Điểm số có nhiều thí sinh đạt nhất là 4,0 điểm.
Điểm
Số lượng
Điểm
Số lượng
Điểm
0,00
0,25
0,50
0,75
1,00
1,25
1,50
1,75
2,00
2,25
2,50
4
7
24
125
380
957
2.351
4.417
8.118
12.773
17.921
2,75
3,00
3,25
3,50
3,75
4,00
4,25
4,50
4,75
5,00
5,25
23.197
28.359
31.083
33.381
34.161
34.468
34.399
33.226
32.078
30.888
29.554
5,50
5,75
6,00
6,25
6,50
6,75
7,00
7,25
7,50
7,75
8,00
8
Số lượng
Điểm
Số lượng
28.782
26.488
24.461
22.986
20.934
19.150
17.129
15.253
8,25
8,50
8,75
9,00
9,25
9,50
9,75
10,00
9.035
7.573
6.242
4.895
3.425
2.025
935
266
13.828
12.253
10.336
- So sánh với phổ điểm của các mơn thi khác trong kỳ thi năm nay, có thể
thấy Lịch sử là môn duy nhất trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021 có điểm
trung bình dưới 5 (cụ thể là 4,97 điểm).
- Đây là mơn thi có kết quả thấp nhất trong kỳ thi năm nay. Vào năm 2020,
tiếng Anh là mơn “đội sổ”, khi có điểm trung bình là 4,58 điểm.
- Ngồi ra, năm nay Lịch sử cũng là mơn có số lượng thí sinh có điểm liệt
nhiều nhất, với 540 thí sinh có điểm thi <= 1 điểm (chiếm tỉ lệ 0,08%).
- Đây cũng là môn thi có số thí sinh đạt điểm dưới trung bình nhiều nhất
trong số các môn của Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021. Cụ thể có 331.429 thí
sinh đạt điểm dưới trung bình (chiếm tỉ lệ 52,03%).
- So sánh điểm mơn Lịch sử trong 3 năm gần đây, có thể thấy Lịch sử luôn ở
khu vực cuối bảng trong kỳ thi THPT.
- Điểm sáng duy nhất của môn Lịch sử năm nay là có 266 thí sinh đạt điểm
10 đây là mơn có số điểm 10 đứng thứ 4 trong 9 mơn thi (sau Giáo dục cơng dân
có 18.680 thí sinh đạt điểm 10; Tiếng Anh: 4.345 thí sinh đạt điểm 10; Sinh học:
582 thí sinh đạt điểm 10).
Theo nhận định của các chuyên gia, lý do môn Lịch sử có điểm thi thấp là vì
đề thi Lịch sử năm nay có độ phân hóa cao, khó hơn các năm trước.
Ngồi ra, nhiều năm nay tỉ lệ chọn mơn tổ hợp Khoa học xã hội luôn cao
hơn tổ hợp môn Khoa học tự nhiên. Một trong những lý do là thí sinh chọn tổ hợp
KHXH để dễ tốt nghiệp.
Bởi mơn giáo dục cơng dân có nhiều câu hỏi gần gũi với cuộc sống của thí
sinh, dễ có điểm. Cịn mơn Địa lý thí sinh có lợi thế là được sử dụng Atlat (nhiều
năm, hai mơn thi này ln có phổ điểm ở mức cao nhất trong các mơn thi). Mơn
khó nhằn nhất trong tổ hợp KHXH chỉ cịn mơn Lịch sử.
Như vậy, với kết quả của kì thi THPT năm 2021, một lần nữa gióng lên hồi
chng về chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn Lịch sử ở các trường THPT
hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu của HS và tình hình mơn học, qua q trình giảng
dạy tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong việc hướng dẫn HS ôn luyện thi
THPT, kết quả tôi nhận thấy HS học tập chăm chỉ, hứng thú, nắm bắt sử liệu nhanh
hơn, quá trình tư duy tổng hợp, so sánh, nhận xét đánh giá linh hoạt hơn, kết quả
thi THPT của HS ngày càng được cải thiện. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi
đã quyết định chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Lịch sử bằng đổi
mới phương pháp hướng dẫn ôn luyện để mong đóng góp một phần kinh nghiệm
nhỏ bé của bản thân vào q trình đổi mới mơn học, nâng cao kết quả học tập bộ
môn Lịch sử ở lớp 12.
9
2.2. Thực trạng học tập và ôn thi THPT môn Lịch sử ở các trường THPT
trên địa bàn Yên Thành
Trong một số năm trở lại đây, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển thì số
HS sao nhảng việc học tập các mơn xã hội nói chung và mơn Lịch sử nói riêng
ngày càng bộc lộ nhiều, vấn đề này không chỉ phổ biến ở các thành thị mà cịn là
tình trạng chung ở vùng nơng thơn, vùng sâu, vùng xa. Điều này đã được đề cập
nhiều trong các cuộc hội thảo, hội nghị khoa học và cũng là chủ đề quen thuộc trên
các diễn đàn giáo dục. Trong phạm vi đề tài này, tơi xin được trình bày thêm một
vài ý kiến về thực trạng trên tại trường THPT Phan Thúc Trực, huyện Yên Thành,
tỉnh Nghệ An.
Thứ nhất, qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy HS THPT có
quan niệm chưa đúng đắn về bộ mơn Lịch sử. Hầu hết các em cho rằng môn Lịch
sử là mơn học thuộc lịng với rất nhiều mốc thời gian, sự kiện, nhân vật khó nhớ.
Vì quan niệm chưa đúng đắn nên nhiều em thờ ơ với việc học mơn này. Rất ít em
có hứng thú thực sự và biết cách học môn Lịch sử. Tuy nhiên, thái độ học tập đối
với bộ môn Lịch sử diễn ra khác nhau tại các khối lớp 10, 11 và 12.
Ở khối 10: Nhìn chung HS có thái độ học tập tích cực đối với tất cả các
mơn, trong đó có mơn Lịch sử. HS lớp 10 thường hào hứng tham gia tích cực các
hoạt động trong giờ học. Các em cũng hăng say tìm kiếm tư liệu và giải quyết các
vấn đề mà GV định hướng. Nhìn chung, ở lớp 10, HS chưa phân biệt quá rõ trong
việc học tập "môn chính và mơn phụ".
Đối với HS khối 11: Khi dạy khối này, chúng tôi dễ dàng nhận ra, HS đã
không dàn trải học đều các môn như lớp 10, nhiều em đã đầu tư thời gian và tâm
huyết vào các môn học khối mà các em định hướng. Điều này cũng có mặt tích cực
là HS đã tiếp cận với cách học theo chiều sâu, thể hiện rõ định hướng nghề nghiệp
cho tương lai, nhưng cũng dẫn đến sự thiếu hụt kiến thức cơ bản ở nhiều bộ môn.
Đặc biệt cách học này không đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục nước ta hiện
nay là đào tạo những con người tồn diện cho cơng cuộc hiện đại hóa đất nước. Và
hơn hết, cách học này cũng dẫn đến một thực trạng đáng buồn đối với những môn
được xem là mơn phụ, trong đó có mơn Lịch sử: rất ít em tâm huyết lựa chọn là
môn học mà các em theo đuổi.
Bước sang lớp 12, hầu hết các em chỉ quan tâm đến các mơn học gắn liền
với kì thi THPT, việc học môn Lịch sử đã trở thành nỗi ám ảnh của nhiều HS.
Vậy nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng này? Đã có rất nhiều cuộc hội
thảo, chuyên đề, các bài viết đề cập đến vấn đề này, nhưng theo tơi có các ngun
nhân cơ bản sau dẫn đến việc HS thờ ơ với bộ môn Lịch sử tại các trường THPT:
- Chương trình và sách giáo khoa mơn Lịch sử ở cấp học phổ thơng cịn
nặng nề, đầy ắp các sự kiện, năm tháng; kiến thức lặp đi, lặp lại từ tiểu học đến
THPT làm cho người học, người dạy nhàm chán. Đồng thời, sách giáo khoa môn
10
Lịch sử ở cấp học THPT mang tính hàn lâm, chưa hấp dẫn người học, kiến thức
còn dàn trải, nặng nề.
- Do phương pháp giảng dạy bộ môn ở các trường THPT chưa gây hứng thú
học tập cho HS. Phần lớn GV vẫn theo phương pháp dạy truyền thụ một chiều,
thiếu sinh động, đòi hỏi học thuộc. Mà tuổi trẻ đầy năng động, đầy sức sống, rõ
ràng các em không có hứng thú với cách học như vậy.
- Do cơ chế thi cử và tác động của môi trường xã hội, số trường ĐH lựa
chọn các môn KHXH đang ngày ít đi, lại "khó tìm đầu ra" nên ít thí sinh lựa
chọn...
Nhận thức được đầy đủ các nguyên nhân trên, trong mấy năm trở lại đây, bộ
Giáo dục đã linh động để các trường THPT chủ động giảm tải chương trình nhưng
các bài học Lịch sử khơ khan với nhiều mốc thời gian, sự kiện, nhân vật vẫn không
thể thu hút được HS.
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến lại cho rằng chính phương pháp dạy học của GV
đã dẫn đến hệ quả là HS quay lưng với bộ môn Lịch sử. Tuy nhiên, bản thân tôi
nhận thấy, phần lớn các GV, mà điển hình là đội ngũ GV mơn Lịch sử tại trường
THPT Phan Thúc Trực, huyện Yên Thành đều rất tâm huyết và trăn trở với nghề.
Chúng tôi thường xuyên trau dồi kiến thức, đổi mới phương pháp dạy học để
không chỉ đáp ứng được nhu cầu của cuộc cải cách giáo dục hiện nay mà còn nâng
cao chất lượng bộ môn Lich sử. Nhiều GV đã đạt danh hiệu GVG tỉnh và có vị trí
cao trong giới chun môn của giáo dục tỉnh nhà. Và những nỗ lực đó ít nhiều đã
cải thiện được thực trạng dạy học môn Lịch sử của HS trong trường, đặc biệt là HS
khối 12, điều này thể hiện rõ nhất qua kết quả kì thi THPT mơn Lịch sử trong
những năm gần đây của trường. Trong kì thi THPT năm 2020, mơn Lịch sử trường
THPT Phan Thúc trực vinh dự khi có kết quả xếp thứ 8 trong toàn tỉnh. Đặc biệt,
trong kì thi THPT năm 2021 vừa qua, mơn Lịch sử đã đạt được những thành tích
rực rỡ với vị thứ 4 trong bảng xếp hạng thi của Sở giáo dục và đào tạo Nghệ An
với điểm trung bình đạt 5,7. Đây là một kết quả rất ấn tượng đối với ngôi trường
nằm ở vùng bán sơn địa huyện Yên Thành.
Phát huy những thành quả đó, năm nay các GV mơn Lịch sử của trường
THPT Phan Thúc Trực tiếp tục đẩy mạnh thi đua dạy và học, quyết tâm nâng cao
hơn nữa chất lượng bộ môn Lịch sử bằng việc tiếp tục đổi mới phương pháp dạy
và học.
11
Chƣơng 2. Các phƣơng pháp và kĩ thuật đã thực hiện trong quá trình
dạy học nhằm nâng cao hiệu quả bài thi THPT môn Sử 12
1. Xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với đối tƣợng HS cụ thể
a. Đối với HS thi tốt nghiệp THPT
Để ôn thi THPTQG đạt hiệu quả cao, GV không thể ôn tập một cách cảm
tính mà cần phải lập kế hoạch ơn tập cụ thể, chi tiết phù hợp với cấu trúc đề thi của
Bộ, với điều kiện dạy học của từng trường cũng như phù hợp với từng đối tượng
HS. Trên cơ sở kế hoạch ôn tập cụ thể GV sẽ khoanh vùng được những kiến thức
trọng tâm để ôn tập cho HS, xác định được các mức độ nhận thức ở các chủ đề để
có hướng ơn tập đúng cấu trúc đề thi của Bộ. Ngồi ra kế hoạch ơn tập càng cụ thể,
càng chi tiết, GV càng dễ dàng phân hóa được đối tượng ơn tập để từ đó có phương
pháp, nội dung và thời lượng ôn tập phù hợp cho từng nhóm đối tượng HS.
Để lập được kế hoạch ôn tập cụ thể, chi tiết, trước hết GV cần xác định được
mục đích ơn tập là gì, dành cho đối tượng nào, chỉ để xét tốt nghiệp xét tuyển Đại
học. Xác định được mục đích, yêu cầu của kế hoạch sẽ giúp GV định hướng được
dung lượng kiến thức, thời lượng dạy học và phương pháp ôn tập hiệu quả. Để việc
xây dựng kế hoach dạy học phù hợp với đối tượng HS có hiệu quả, cần đề xuất và
phối hợp với Nhà trường, tổ nhóm chun mơn.Tại trường THPT Phan Thúc Trực,
ngay từ khi vào lớp 10, nhà trường đã phân hóa các nhóm lớp theo khối KHXH,
KHTN và lên kế hoach dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng. Và lên lớp 12,
nhà trường rà sốt, phân hóa lại lần cuối để tạo điều kiện cho phù hợp với nhu cầu
HS trong quá trình học. Trên cơ sở phân hóa các nhóm lớp này, nhà trường phối
hợp với tổ, nhóm chun mơn lên kế hoạch dạy học phù hợp với các đối tượng HS
ngay từ đầu năm học. Đối với khối KHXH, nhà trường sắp xếp thành các lớp
12C1, 12C2, 12C3, 12C4, các đơn vị lớp sắp xếp theo năng lực học tập của HS với
các mức độ khác nhau. Điều này đã tạo điều kiện cho GV lên kế hoạch dạy học
phù hợp với đối tượng HS. Năm học 2021 – 2022, tôi được phân công giảng dạy
các lớp khối KHXH gồm: 12C1, 12C2, 12C3 và ngay từ đầu năm học, tôi đã lên kế
hoạch cụ thể cho các đơn vị lớp. Nhìn chung, trong khối KHXH, chỉ có một số
lượng nhỏ HS có nhu cầu thi và xét tuyển Đại học, còn phần lớn là đối tượng HS
thi tốt nghiệp THPT. Cả hai đối tượng này không phân chia theo từng đơn vị lớp
và sắp xếp chung nên địi hỏi GV phải có kế hoạch chi tiết, cụ thể cho phù hợp.
Với tôi, trong nhiều năm được phân công giảng dạy và ôn luyện khối 12 thi THPT,
trong giai đoạn đầu, với đối tượng thi tốt nghiệp THPT, tôi chỉ giảng dạy những
kiến thức rất cơ bản, bám sát SGK để vừa giảm tải áp lực, vừa gây hứng thú học
tập đối với HS. Trong quá trình giảng dạy, GV sẽ nâng dần yêu cầu để khắc sâu
kiến thức cơ bản cho HS. Đối với mỗi đơn vị bài, sau khi dạy xong, GV sẽ yêu cầu
HS cũng cố và khắc sâu kiến thức bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm gồm đầy đủ 4
mức độ nhận thức: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dung cao, trong đó
chú trọng các câu hỏi ở mức độ nhận biết và thông hiểu. Gần cuối học kì 2 của
năm học, GV sẽ tổng ơn lại cho HS các kiến thức đã học theo từng chủ đề, kết hợp
12
với việc đẩy mạnh luyện đề tổng hợp theo ma trận thi THPT của bộ. Trong giai
đoạn tổng ôn này, GV cùng HS xác định và cũng cố các kiến thức trọng tâm của
các giai đoạn lịch sử, các chủ đề. Mặt khác, GV cũng điều tra những phần HS còn
hổng kiến thức, hiểu sơ sài để lên kế hoạch ôn tập.
Ví dụ: Khi dạy bài 1 (SGK Lịch sử 12): Sự hình thành trất tự thế giới mới
sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945 - 1949).
Trong quá trình giảng dạy giai đoạn đầu, tôi chỉ yêu cầu HS nắm được các
kiến thức trọng tâm sau:
1) Hội nghị Ianta (2/1945) và những thỏa thuận sau đó của các cường quốc.
Phần này, GV và HS làm rõ được hoàn cảnh, nội dung, ý nghĩa của hội nghị
Ianta.
2) Sự thành lập Liên hợp quốc.
GV chỉ yêu cầu HS nắm được những kiến thức cơ bản về sự thành lập, mục
đích, nguyên tắc hoạt động và vai trò của tổ chức này.
Và để cũng cố, khắc sâu kiến thức cho HS, GV yêu cầu HS hoàn thành hệ
thống câu hỏi trắc nghiệm của bài.
Câu hỏi nhận biết:
Câu 1. Tham dự Hội nghị Ianta (2-1945) có nguyên thủ của những quốc gia
nào dưới đây?
A. Anh, Pháp, Mĩ.
B. Anh, Pháp, Đức.
C. Liên Xô, Mĩ, Anh.
D. Mĩ, Liên Xô, Trung Quốc.
Câu 2. Hội nghị cấp cao của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh diễn ra từ
ngày 4 đến 11-2-1945 được tổ chức tại đâu?
A. Oasinhtơn (Mĩ).
B. Ianta (Liên Xô).
C. Pốtxđam (Đức).
D. Luân Đôn (Anh).
Câu 3. Theo quyết định của Hội nghị Ianta (2-1945), quân đội nước nào sẽ
vào chiếm đóng Nhật Bản và Nam Triều Tiên?
A. Mĩ.
B. Anh.
C. Pháp.
D. Liên Xô.
Câu 4. Sự kiện nào dưới đây gắn liền với ngày 24-10-1945?
A. Bản Hiến chương Liên hợp quốc chính thức có hiệu lực.
B. Mĩ và Liên Xô phê chuẩn bản Hiến chương Liên hợp quốc.
C. Hội nghị Xan Phranxixcô (Mĩ) thông qua bản Hiến chương Liên hợp quốc.
D. Năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an thông qua bản Hiến chương.
Câu 5. Tháng 9-1977, Việt Nam đã gia nhập vào tổ chức nào dưới đây?
13
A. Liên hợp quốc (UN).
B. Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
C. Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
D. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Câu 6. Hiến chương Liên hợp quốc được thông qua tại hội nghị nào dưới đây?
A. Hội nghị Ianta (Liên Xô).
B. Hội nghị Niu Oóc (Mĩ).
C. Hội nghị Pốtxđam (Đức).
D. Hội nghị Xan Phranxixcô (Mĩ).
Câu 7. Tổ chức nào dưới đây là tiền thân của tổ chức Liên hợp quốc?
A. Hội Quốc liên.
C. Đệ nhị Quốc tế.
B. Liên minh vì tiến bộ.
D. Khối Đồng minh chống phát xít.
Câu 8. Theo quyết định của Hội nghị Ianta, nước nào sẽ chiếm đóng Nhật
Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
A. Mĩ.
B. Anh.
C. Liên Xô.
D. Trung Quốc.
Câu 9. “Duy trì hịa bình và an ninh thế giới” là mục đích hoạt động của tổ
chức nào dưới đây?
A. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
B. Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO).
C. Liên minh châu Âu (EU).
D. Liên hợp quốc (UN).
Câu hỏi thông hiểu:
Câu 1. Nội dung nào dưới đây không phải là nguyên tắc hoạt động của tổ
chức Liên hợp quốc?
A. Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hịa bình.
B. Chung sống hịa bình và sự nhất trí của năm cường quốc.
C. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực với nhau.
D. Không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước.
Câu 2. Hội nghị Ianta (2-1945) được triệu tập trong bối cảnh lịch sử nào?
A. Chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc.
B. Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ.
C. Chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra quyết liệt.
D. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc.
Câu 3. Theo nghị quyết của Hội nghị Pốtxđam,quân đội của những nước
14
nào sẽ làm nhiệm vụ giải giáp chủ nghĩa phát xít ở nước Đức?
A. Anh, Pháp, Mĩ và Liên Xơ.
B. Liên Xô, Mĩ, Canada và Pháp.
C. Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Mĩ.
D. Anh, Pháp, Mĩ, Pháp ,Anh và Canada.
Câu 4. Nội dung nào dưới đây phản ánh đúng quyết định của Hội nghị Ianta
(2-1945)?
A. Các nước Đồng minh đàm phán, ký kết các hiệp ước với các nước bại trận.
B. Các nước phát xít Đức, Italia ký văn kiện đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.
C. Các nước Đồng minh thỏa thuận chia Đức thành hai nước Đông Đức và
Tây Đức.
D. Các nước Đồng minh thỏa thuận khu vực đóng quân và phân chia phạm
vi ảnh hưởng.
Câu 5. Việc Liên Xô là một trong năm nước Ủy viên thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc có ý nghĩa như thế nào trong quan hệ quốc tế?
A. Thể hiện là tổ chức quốc tế có vai trị quan trọng trong việc duy trì hịa
bình an ninh thế giới.
B. Góp phần hạn chế sự thao túng của chủ nghĩa tư bản đối với tổ chức Liên
hợp quốc.
C. Tổ chức quốc tế quan trọng nhất trong đời sống chính trị quốc tế sau năm 1945.
D. Khẳng định vai trò tối cao của năm nước lớn trong tổ chức Liên hợp quốc.
Câu 6. Một trong những vấn đề cấp bách đòi hỏi các nước lớn phải giải
quyết khi Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc là
A. Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hịa bình và an ninh thế giới.
B. Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp phát xít.
C. Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận.
D. Liên Xơ sẽ tham chiến chống phát xít Nhật ở châu Á.
Câu 7. Nội dung nào dưới đây không phải là quyết định của Hội nghị Ianta
(2 - 1945)?
A. Thành lập tổ chức Liên hợp quốc.
B. Nhanh chóng khắc phục hậu quả của chiến tranh.
C. Thống nhất mục tiêu tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít.
D. Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp phát xít.
15
Câu 8. Sự kiện nào dưới đây góp phần hình thành khuôn khổ trật tự thế giới
mới sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
A. Hội nghị Ianta (2 – 1945).
B. Nhật Bản đầu hàng Đồng minh.
C. Tổ chức Liên hợp quốc được thành lập.
D. Tuyên bố của Tổng thống Mĩ Truman (3 – 1947).
Câu 9. Một trong những mục đích hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc là.
A. Duy trì hịa bình và an ninh thế giới.
B. Khắc phục hậu quả sau chiến tranh.
C. Giúp đỡ các nước thành viên về kinh tế, văn hóa.
D. Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hịa bình.
Câu 10. Nội dung nào sau đây là nguyên tắc hoạt động của tổ chức Liên hợp
quốc?
A. Bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và quyền tự quyết của các dân tộc.
B. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực đối với nhau.
C. Hợp tác có hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục.
D. Thúc đẩy các mối quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế.
Câu 11. Hiến chương được xem là văn kiện quan trọng nhất của tổ chức
Liên hợp quốc vì
A. Đã được các nước thành viên phê chuẩn.
B. Đã quy định bộ máy tổ chức của Liên hợp quốc.
C. Đề ra nguyên tắc hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc.
D. Nêu rõ mục đích hoạt động của tổ chức Liên hợp quốc.
Câu 12. Vấn đề nào dưới đây không phải là yêu cầu cấp bách đòi hỏi các
nước lớn phải giải quyết khi Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết
thúc?
A. Thành lập tổ chức Liên hợp quốc.
B. Nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
C. Giải quyết hậu quả của chiến tranh.
D. Phân chia thành quả chiến thắng.
Câu hỏi vận dụng:
Câu 1. Trật tự thế giới hai cực Ianta được hình thành trên cơ sở nào?
16
A. Những quyết định của Hội nghị Ianta và thỏa thuận sau đó của ba cường
quốc.
B. Những quyết định của các nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc.
C. Những thỏa thuận sau đó của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ, Anh.
D. Những quyết định của Hội nghị Ianta và Hội nghị Pốtxđam.
Câu 2. Quyết định nào dưới đây của Hội nghị Pốtxđam (7– 945) đã tạo ra
những khó khăn mới cho cách mạng Đông Dương sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
A. Liên Xô không được đưa quân đội vào Đông Dương.
B. Quân Anh sẽ mở đường cho thực dân Pháp chiếm lại Đông Dương.
C. Đông Nam Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây.
D. Đồng ý cho quân Trung Hoa Dân quốc và quân Anh vào Đông Dương.
Câu 3. Theo quyết định của Hội nghị Pốtxđam (Đức), lực lượng nào sẽ vào
giải giáp phát xít Nhật ở Đơng Dương ?
A. Qn Anh và quân Pháp.
B. Quân Mĩ và quân Liên Xô.
C. Quân Anh và quân Trung Hoa Dân quốc.
D. Quân Mĩ và quân Trung Hoa Dân Quốc.
Câu 4. Từ năm 1945 đến nay, tổ chức nào đã trở thành diễn đàn quốc tế vừa
hợp tác vừa đấu tranh nhằm duy trì hịa bình và an ninh thế giới?
A. Liên hợp quốc (UN).
C. Liên minh châu Âu (EU).
D. Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM).
B. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
Câu 5. Những quyết định của Hội nghị Ianta (2-1945) đã tác động như thế
nào đến quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
A. Đánh dấu trật tự thế giới mới được hình thành.
B. Góp phần hình thành nên khuôn khổcủa trật tự thế giới mới.
C. Giải quyết được mâu thuẫn của ba cường quốc Liên Xô, Mĩ và Anh.
D. Tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hịa
bình.
Câu 6. Hội nghị Ianta (2-1945) diễn ra căng thẳng, quyết liệt chủ yếu là do
A. Các nước có quan điểm khác nhau về việc nhanh chóng kết thúc chiến
17
tranh.
B. Các nước muốn giành quyền lợi tương xứng với vai trị, địa vị của mình.
D. Các nước muốn tạo ra tình trạng đối đầu Đơng-Tây.
C. Các nước muốn tổ chức lại thế giới sau chiến tranh.
Câu 7. Nội dung gây nhiều tranh cãi nhất giữa ba cường quốc Liên xô, Mỹ,
Anh tại Hội nghị Ianta (2/1945) là
A. Phân chia khu vực chiếm đóng và phạm vi ảnh hưởng giữa các nước.
B. Quan điểm khác nhau về tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít .
C. Thành lập Liên hợp quốc để duy trì hịa bình an ninh thế giới.
D. Giải quyết hậu quả do Chiến tranh thế giới thứ hai để lại.
Câu 8. Nhận xét nào dưới đây là đúng về hạn chế trong các nguyên tắc hoạt
động của tổ chức Liên hợp quốc?
A. Coi trọng việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hịa bình.
B. Đề cao việc tơn trọng tồn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của các nước.
C. Coi trọng việc không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào.
D. Đề cao sự nhất trí giữa năm nước lớn (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc).
Câu 9. Ý nào dưới đây không là hệ quả của những quyết định quan trọng
trong Hội nghị Ianta (2-1945)?
A. Dẫn đến sự hình thành trật tự thế giới “hai cực”.
B. Dẫn đến tình hình thế giới chia thành hai phe.
C. Dẫn đến tình trạng đối đầu Đơng-Tây.
D. Dẫn đến hình thành trật tự thế giới “đa cực”.
b. Đối với HS xét tuyển thi Đại học
Tại trường THPT Phan Thúc Trực, nhóm đối tượng xét tuyển thi Đại học
chiếm số lượng ít, đặc biệt là đối với HS theo định hướng KHXH, số lượng này
càng ít. Đối với nhóm đối tượng này, ngoài việc đảm bảo kiến thức cơ bản, GV cần
định hướng và khơi dậy đam mê học tập, tìm hiểu cho HS để nâng cao kiến thức.
GV hướng dẫn HS có thể lựa chọn nhiều hình thức ơn tập khác như trao đổi với
bạn bè, tìm hiểu kiến thức thơng qua kênh Youtube, Facebook…. Điều này khiến
cho việc học Lịch sử mỗi ngày trở nên thú vị, cuốn hút và nhớ lâu hơn. Thường
xuyên trao đổi với bạn bè cùng lớp, các thầy cô để hỏi thêm về các kiến thức chưa
hiểu rõ, hoặc trao đổi các cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề.
GV sẽ đóng vai trò là người dẫn dắt, truyền đam mê học tập cho HS, ngồi
việc quan tâm, khích lệ, GV thường xun cung cấp thêm hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm ở mức độ thông hiểu, vận dụng cho các em.
18
Ví dụ: Sau khi học xong bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh
thế giới thứ 2.
Ngoài việc cung cấp hệ thống câu hỏi cơ bản chung cho các lớp, GV sẽ yêu
cầu HS nhóm xét tuyển Đại học làm thêm một số bài tập trắc nghiệm khác, với bài
tập này GV khuyến khích các đối tượng HS khác làm. Sau khi HS làm xong, GV
sẽ chấm và giải thích cụ thể, đồng thời khích lệ kịp thời HS.
Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2
Câu 1. Đặc trưng lớn nhất của trật tự thế giới được hình thành sau Chiến
tranh thế giới thứ hai là gì?
A. Thế giới bị chia thành hai cực, hai phe.
B. Hệ thống chủ nghĩa xã hội được hình thành.
C. Mĩ vương lên trở thành siêu cường duy nhất.
D. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ.
Câu 2. Nhận xét nào dưới đây là đúng về việc thỏa thuận đóng quân và phân
chia phạm vi ảnh hưởng giữa ba cường quốc trong Hội nghị Ianta (2-1945)?
A. Thực chất là phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Liên Xô và Mĩ, Anh.
B. Thực chất là phân chia phạm vi ảnh hưởng giữa Mĩ và Liên Xơ.
C. Thực chất là hình thành trật tự thế giới “đơn cực”.
D. Thực chất là hình thành trật tự thế giới “đa cực”.
Câu 3. Nhận xét nào dưới đây là đúng về vai trò chủ yếu của Liên hợp quốc
trong việc giải quyết những biến động của tình hình thế giới hiện nay?
A. Liên hợp quốc trở thành diễn đàn vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm duy trì
hịa bình, an ninh thế giới.
B. Liên hợp quốc thúc đẩy các mối quan hệ giao lưu, hơp tác giữa các nước
thành viên trên nhiều lĩnh vực.
C. Liên hợp quốc bảo vệ các di sản trên thế giới, cứu trợ nhân đạo khi các
thành viên gặp khó khăn
D. Liên hợp quốc góp phần ngăn chặn các đại dịch đe doạ sức khỏe loại
người.
Câu 4. Nguyên tắt hoạt động nào dưới đây của tổ chức Liên hợp quốc được
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng để giải quyết vấn đề Biển đông hiện nay?
A. Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hịa bình.
B. Chung sống hịa bình và sự nhất trí của năm cường quốc.
C. Khơng đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực với nhau.
19
D. Hợp tế có hiệu quả về kinh tế, văn hóa, giáo dục.
Câu 5: Đâu khơng phải là ngun nhân dẫn tới việc các cường quốc đồng
minh triệu tập Hội nghị Ianta (2-1945)?
A. u cầu nhanh chóng đánh bại hồn tồn các nước phát xít
B. u cầu tổ chức lại thế giới sau chiến tranh
C. Yêu cầu thắt chặt khối đồng minh chống phát xít
D. Phân chia thành quả chiến thắng giữa các nước thắng trận
Câu 6: Vì sao gọi là “trật tự hai cực Ianta”?
A. Đại diện hai nước Liên Xô và Mỹ phân chia khu vực ảnh hưởng trên thế
giới
B. Trật tự thế giới mới phân thành 2 cực đứng đầu là Mĩ - Liên Xô được đặt
khuôn khổ từ Hội nghị Ianta.
C. Ianta là trung tâm của các vấn đề xung đột trên thế giới
D. Ianta là khu vực trung tâm tranh chấp ảnh hưởng giữa Mĩ - Liên Xơ sau
chiến tranh
Câu 7: Em có nhận xét gì về sự phân chia phạm vi ảnh hưởng ở khu vực
châu Âu giữa các cường quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
A. Sự phân chia diễn ra chủ yếu giữa Mĩ và Liên Xô
B. Sự phân chia diễn ra không đồng đều giữa các cường quốc
C. Nước Đức là trung tâm của sự phân chia giữa các cường quốc
D. Sự phân chia diễn ra ở toàn bộ Châu Âu
Câu 8: Tương lai của Nhật Bản được quyết định như thế nào theo Hội nghị
Ianta (2-1945)?
A. Nhật Bản bị quân đội Mĩ chiếm đóng.
B. Nhật Bản vẫn giữ nguyên trạng.
C. Quân đội Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin của Nhật Bản.
D. Nhật Bản trở thành thuộc địa kiểu mới của Mĩ.
Câu 9: Tại sao Liên Xô lại được khôi phục lại những quyền lợi đã mất của
nước Nga trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 – 1905)?
A. Do thế và lực của Liên Xô mạnh hơn trước
B. Do Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á
C. Do Liên Xơ có cơng tiêu diệt phát xít Đức ở châu Âu
D. Do sự thỏa hiệp giữa các cường quốc
20
Câu 10: Những quyết định của hội nghị Ianta (2-1945) đã có tác động tích
cực gì đối với phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam trong năm 1945?
A. Việt Nam không phải chịu sự tác động của cuộc đối đầu Xơ- Mĩ.
B. Tiêu diệt phát xít Nhật, tạo thời cơ để nhân dân Việt Nam nổi dậy khởi
nghĩa
C. Việt Nam nhận được sự ủng hộ từ tổ chức Liên Hợp Quốc
D. Việt Nam không bị thực dân Pháp quay trở lại xâm lược
Câu 11: Hội nghị nào đã đặt nền tảng cho sự ra đời của tổ chức Liên hợp
quốc
A. Hội nghị Ianta
B. Hội nghị Xan Phranxico
C. Hội nghị Pốtxđamc
D. Hội nghị Pari
Câu 12: Những quyết định của hội nghị Ianta (2-1945) có hạn chế gì?
A. Q bất công với các nước bại trận và dân tộc thuộc địa
B. Không giải quyết được mâu thuẫn giữa các nước tư bản
C. Do các nước tư bản hoàn toàn chi phối
D. Tạo điều kiện để các nước phương Tây khôi phục lại quyền thống trị ở
các thuộc địa cũ.
Câu 13: Việc triệu tập hội nghị Ianta và một trật tự thế giới mới được thiết
lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai phản ánh điều gì trong quan hệ quốc tế?
A. Sự thay đổi so sánh tương quan lực lượng giữa các cường quốc sau chiến
tranh
B. Nhu cầu thiết lập một nền hịa bình bền vững sau chiến tranh
C. Tham vọng chi phối thế giới của các cường quốc
D. Thái độ coi thường của các nước lớn đối với các dân tộc nhược tiểu
Câu 14: Nội dung nào phản ánh đúng điểm tương đồng giữa hệ thống
Vécxai - Washington với trật tự hai cực Ianta?
A. Đều do các nước đế quốc thiết lập nên để phục vụ lợi ích các nước đó.
B. Đều thành lập các tổ chức quốc tế để giám sát và duy trì trật tự thế giới.
C. Đều chia thế giới ra làm hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
D. Đều là hệ quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945).
Câu 15: Quyết định nào của hội nghị Ianta (2-1945) đưa đến sự phân chia
thế giới thành hai cực?
A. Sau khi đánh bại phát xít Đức, Liên Xơ tham chiến chống Nhật ở Châu Á
21
B. Thỏa thuận việc đóng quân, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở Châu Âu và
Châu Á
C. Thành lập Liên hợp quốc để giữ gìn hịa bình và an ninh thế giới
D. Tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật
2. Hƣớng dẫn HS học tập bám sát sách giáo khoa là chìa khóa để chắc
kiến thức
a. Tìm hiểu cấu tạo và nội dung của SGK.
SGK là tài liệu cơ bản, chính thống được dùng trong dạy học Lịch sử, đi đôi
với việc cung cấp kiến thức lịch sử, SGK còn cung cấp kỉ năng và phương pháp
học tập bộ môn nên việc hướng dẫn HS biết khai thác tư liệu trong SGK để phục
vụ việc học tập đóng một vai trị quan trọng. Mặc dù không đề cập đến phương
pháp học tập, nhưng nội dung và cấu trúc chương trình là những gợi ý quan trọng
cho việc lựa chọn phương pháp học tập của HS. GV ngoài việc định hướng HS
khai thác tư liệu cụ thể được trình bày trong SGK, cịn hướng dãn HS ơn tập, cũng
cố, hệ thống hóa kiến thức cơ bản thông qua các câu hỏi cuối mỗi mục, mỗi bài và
mỗi chương. Làm việc với SGK, HS có thể tự kiểm tra, đánh giá khả năng của
mình, đồng thời rèn luyện được rất nhiều kỉ năng cơ bản trong học tập và nghiên
cứu.
Vì vậy, GV phải hướng dẫn và định hướng HS khai thác, sử dụng hết nội
dung truyền tải của SGK, qua đó góp phần hình thành các thao tác và phương pháp
học tập đúng đắn, khoa học. Để khai thác có hiệu quả SGK, ngay trong những tiết
học đầu tiên, GV cần thông báo cho HS biết được vai trò, tầm quan trọng của
SGK, hướng dẫn các em tìm hiểu sơ lược nội dung, cấu tạo của SGK. Để định
hướng nhận thức cho HS, cũng là để giới thiệu chương trình, GV hướng dẫn HS
mở phần phụ lục xem sách có bao nhiêu chương, bao nhiêu bài, HS phải nắm rõ
tên từng chương, từng bài, bởi đó bao hàm nội dung cơ bản nhất mà các em sẽ phải
học. Việc giới thiệu và định hướng chương trình cũng giúp HS nhận thức được
mạch lơ gich, hệ thống của kiến thức mà mình sẽ học.
Ví dụ, giới thiệu phần Mục lục SGK Lịch sử 12, GV hướng dẫn HS đọc:
Phần một: Lịch sử thế giới hiện đại từ năm 1945 đến năm 2000, và phần 2: Lịch sử
Việt Nam từ 1919 đến năm 2000, sau đó đọc đến tên các chương các bài trong từng
phần. Cùng với việc hướng dẫn HS cách đọc, GV định hướng HS tự khái quát, sắp
xếp nội dung từng phần một cách ngắn gọn nhất theo trình tự thời gian, theo cách
hiểu của bản thân. Kết thúc hoạt động học này, HS nhận thức được, phần Lịch sử
thế giới hiện đại có 5 nội dung chính: Sự hình thành trật tự thế giới sau Chiến tranh
thế giới thứ 2; Liên xô – Liên bang Nga; Các nước Á, Phi, Mĩ latinh; Quan hệ quốc
tế sau chiến tranh thế giới thứ 2; Cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Phần Lịch
sử Việt Nam bao gồm: Phong trào yêu nước sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến
khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1919 - 1930); Cuộc kháng chiến chống Pháp
và kháng chiến chống Mĩ (1945 - 1975); Công cuộc xây dựng CNXH và đổi mới
22
đất nước (1975 - 2000). Với cách sắp xếp này, HS sẽ khắc sâu các nội dung chính
của cả năm học.
Bên cạnh đó, GV cũng hướng dẫn HS nhận thức được vai trị, vị trí và biết
cách khai thác các kênh chữ, kênh hình trong SGK. Phần kênh chữ trong SGK, có
hai loại chính: Phần in hoa (Viết to dành cho tên các phần, chương, bài, mục lớn);
phần chữ nhỏ (Viết thường dành cho tên các tiểu mục, nội dung, câu hỏi của các
bài cụ thể), cở chữ to nhỏ dần thể hiện ở mức độ quan trọng của từng phần nội
dung kiến thức.
Phần kênh hình được trình bày dưới dạng tranh ảnh, các kênh hình được sắp
xếp theo trình tự thời gian thuộc những nội dung kiến thức cơ bản cho hai phần
Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt nam mà HS sẽ học trong chương trình lịch sử 12.
Kênh hình được đưa vào bài dưới dạng tranh, ảnh về các nhân vật, các sự kiện lịch
sử tiêu tiểu về kinh tế, chính trị, các lược đồ, bản đồ Lịch sử. Phụ thuộc vào nội
dung truyền tải từng phần, từng bài mà kênh hình được đưa vào như một thơng tin
ngắn gọn nhất. Với chương trình Lịch sử, kênh hình là một nguồn cung cấp thơng
tin lịch sử cần thiết, quan trọng cho HS thay vì phần nội dung kênh chữ dài dòng,
nhiều trang. Việc giới thiệu và định hướng HS khai thác các nội dung ẩn chứa
trong kênh hình là một phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dạy học cũng
như ôn luyện cho HS khối 12.
b. Khai thác kiến thức trong một bài lịch sử cụ thể
Việc khai thác kiến thức trong một bài lịch sử cụ thể thường bắt đầu từ việc
đọc tên bài, tên chương đến đề mục, tiểu mục và các câu hỏi cuối mục, cuối bài.
Công đoạn này hay bị lãng qn vì HS khơng nhận thức được đây là phần khái
quát nhất nội dung cơ bản của mỗi bài, mỗi mục. Giống như đọc phần mục lục, HS
cũng cần nắm bắt nhanh nội dung thông qua tên bài, tên mục. Bên cạnh đó, việc
hướng dẫn HS khai thác nội dung câu hỏi cuối các mục, cuối bài cũng là một cách
giúp HS rút ra được nội dung chính của bài.
Ví dụ, khi dạy bài 20: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc
(1953 - 1954), với việc khai thác tên bài, HS có thể nắm bắt được những thông tin
đầu tiên về thời gian, kết quả của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.
Còn khi đọc phần I. Âm mưu mới của Pháp - Mỹ ở Đông Dương: Kế hoạch Nava,
HS nhận thức được hai thông tin: đến 1953, Pháp - Mĩ có âm mưu mới, và âm mưu
này được thể hiện trong kế hoạch Nava.
Trên cơ sở nhận thức này, HS sẽ khai thác SGK để làm rõ nội dung kiến
thức này. Khi hướng dẫn HS khai thác SGK, GV và HS lưu ý các thuật ngữ, khái
niệm, tìm ra những từ khóa để làm rõ nội dung đề mục hay các câu hỏi có trong
bài, trên cơ sở đó, khái quát được kiến thức theo cách hiểu của HS.
Mặt khác, hầu hết các bài trong SGK đều có đoạn in chữ nhỏ, chứa đựng
những nội dung kiến thức quan trọng, và trong những năm gần đây, đề thi THPT
môn Lịch sử hay khai thác những nội dung kiến thức này. Vì vậy, GV phải hướng
23
dẫn HS khai thác tư liệu này để làm phong phú và cụ thể hơn nội dung của bài học,
đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả ơn thi THPT. Việc khai thác tư liệu chữ in
nhỏ có thể xem là việc bắt buộc, thường xuyên đối với HS để rèn luyện các thao
thác tư duy, hình thành kĩ năng học tập đúng đắn cho HS.
c. Kết hợp sử dụng SGK với các hoạt động học tập trên lớp
Việc học tập bám sát SGK cần được thể hiện nhịp nhàng trong các giờ học
và trong việc tự học ở nhà. Trong các giờ học trên lớp, GV định hướng HS khai
thác nội dung bằng việc khoanh vùng kiến thức, đọc nhanh vùng kiến thức đó để
tìm ra ý đủ để làm rõ bản chất hoặc làm rõ vấn đề đang theo dõi.
Ví dụ: Khi học Mục I. Kháng chiến tồn quốc chống thực dân Pháp bùng
nổ. Khi tìm hiểu nội dung1. Thực dân Pháp bội ước và tiến công nước ta. GV sẽ
hướng dẫn HS đọc nhanh để tìm ra các hành động bội ước và tiến công ta của quân
Pháp. Qua đó, GV hướng dẫn HS rút ra được âm mưu, mục đích của Pháp đối với
nước ta sau Cách mạng tháng Tám. Từ đó phát huy được tính tích cực, chủ động
tìm kiếm kiến thức của HS trong quá trình học.
Như vậy, SGK là một tài liệu học tập quan trọng, bắt buộc đối với HS, việc
học tập bám SGK là một trong những phương pháp để nâng cao hiệu quả học tập
và ôn thi THPT cho HS 12. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy hiện nay ở các trường
THPT, việc khai thác SGK vẫn còn nhiều hạn chế nên dẫn đến chất lượng học tập
bộ mơn cịn thấp, nguyên nhân chủ yếu do HS chưa nhận thức được tầm quan
trọng của SGK nên chưa biết cách học, cách khai thác tư liệu trong sách. Việc đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay đang rất được đề cao, trong đó việc lấy HS làm
trung tâm là một nội dung quan trọng. Vì vậy việc hướng dẫn HS học tập bám sát
SGK là một giải pháp giúp HS tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức. GV cần
hướng dẫn HS khai thác SGK trong các hoạt động học trên lớp cũng như ở nhà để
nâng cao hiệu quả học tập bộ môn. Đây là một trong những phương pháp quan
trọng giúp HS có cách học khoa học, nắm bắt kiến thức Lịch sử một cách nhanh
nhất và vững chắc nhất. Qua đó nâng cao hiệu quả bài thi THPT cuối năm cho HS.
3. Thiết kế các chủ đề, nội dung học tập để ơn luyện sau khi đã hồn
thành kiến thức cơ bản
Sau khi học xong nội dung kiến thức cơ bản, để cũng cố, khắc sâu và mở
rộng kiến thức, GV thiết kế các chủ đề, nội dung học tập để ôn luyện cho HS. Đây
là một giai đoạn có vai trị quan trọng trong việc ơn luyện nhằm nâng cao chất
lượng bài thi THPT. Để việc ôn luyện này có hiệu quả, GV cần thiết kế các chủ đề
và nội dung ôn tập một cách chi tiết, bài bản, cùng với một hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm bám sát kiến thức cơ bản của chương trình.
Nội dung các chủ đề kiến thức trọng tâm phần lớn ở lớp 12, gồm Lịch sử thế
giới và Lịch sử Việt Nam. Phần Lịch sử thế giới có thể chia thành 6 chủ đề, tương
đương 6 chương trong SGK.
24
- Chủ đề 1: Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai.
- Chủ đề 2: Liên Xô (1945-1991); Liên bang Nga (1991-2000).
- Chủ đề 3: Các nước châu Á, Phi và Mỹ Latinh (1945-2000).
- Chủ đề 4: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản (1945-2000).
- Chủ đề 5: Quan hệ quốc tế (1945-2000).
- Chủ đề 6: Cách mạng khoa học cơng nghệ và xu thế tồn cầu hóa.
Phần lịch sử Việt Nam, từ năm 1919 đến năm 2000, có 5 giai đoạn tương
ứng với 15 bài học trong sách giáo khoa. Các em cũng có thể chia thành 5 chủ đề:
- Chủ đề 1: Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1931 (bài 12, 13).
- Chủ đề 2: Cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945 (bài 14, 15, 16).
- Chủ đề 3: Bảo vệ thành quả Cách mạng tháng 8/1945 và kháng chiến
chống Pháp 1945-1954 (bài 17, 18, 19, 20).
- Chủ đề 4: Kháng chiến chống Mỹ 1954-1975 (bài 21, 22, 23).
- Chủ đề 5: Đất nước đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội (bài 24, 25, 26).
Phần lịch sử 11, trong đề thi THPT năm 2021, phần Lịch sử 11 có 4 câu hỏi
chiếm 10% nội dung kiến thức đề thi. Lịch sử 11 gồm 3 chủ đề:
- Chủ đề 1: Việt Nam cuối thế kỉ XIX.
- Chủ đề 2: Việt Nam đầu thế kỉ XX.
- Chủ đề 3: Lịch sử thế giới (1917 - 1945)
Để việc ơn tập các chủ đề này có hiệu quả cao, trước khi học tập, GV yêu
cầu HS hệ thống kiến thức theo sơ đồ, bảng biểu trước ở nhà. Sau đó trong các giờ
học, GV và HS sẽ hệ thống lại các kiến thức cơ bản và rút ra đặc điểm kiến thức
của chủ đề.
Ví dụ: Khi ơn tập phần nội dung chủ đề: Kháng chiến chống Mỹ 1954-1975
(bài 21, 22, 23).GV hướng dẫn HS hoàn thành các bài tập cơ bản sau:
1. Tình hình và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam sau 1954
Miền Bắc
Miền Nam
Tình hình
Nhiệm vụ
Vị trí
2. Các chiến lược chiến tranh của Mĩ (1954 - 1975)
Nội dung
Chiến tranh đặc
biệt
Chiến tranh cục
bộ
Việt nam hóa
chiến tranh
Thời gian
25