i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA TỐN - TIN
-----------------------
ĐỒN THỊ HẢI YẾN
VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG KHÚC XẠ ÁNH SÁNG - VẬT LÍ 11
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Sư phạm Vật lí
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Nguyễn Thị Hồng Thoa
Phú Thọ, 2018
ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn
Thị Hồng Thoa đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm quý báu
của mình cho em trong những lúc em gặp khó khăn, thắc mắc. Những góp ý của cơ
thực sự là vơ cùng q báu và giúp ích rất nhiều để em có thể vượt qua khó khăn và
hồn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô giáo trong bộ mơn Vật lí
đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong quá trình học tập, em xin cảm ơn
ban chủ nhiệm Khoa Toán - Tin đã tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên thực hiện
nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học.
Ngoài ra, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo Dương Đức Hòa – giáo viên
giảng dạy Vật lí trường THPT Phong Châu và tồn thể các nhóm học sinh lớp 11A1
và 11A3 trường THPT Phong Châu đã nhiệt tình giúp đỡ em để em có thể hồn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tạo động lực
cho em hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng khóa luận của em cũng khơng tránh
khỏi những sai sót, vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý từ q Thầy Cơ giáo và
các bạn để khóa luận của em hoàn thành một cách tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Việt Trì, ngày
tháng
năm 2018
Sinh viên
Đồn Thị Hải Yến
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................... ii
MỤC LỤC ....................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TĂT .......................................................................... v
DANH MỤC HÌNH VẼ ................................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................. vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
1.1. Cơ sở lí luận của dạy học dự án .............................................................................. 6
1.1.1. Khái niệm dạy học dự án (DHDA) ................................................................... 6
1.1.2. Mục tiêu của dạy học dự án............................................................................ 12
1.1.3. Đặc điểm của dạy học dự án .......................................................................... 13
1.1.4. Các nội dung có thể tổ chức dạy học dự án .................................................... 16
1.1.5. Phân loại dạy học dự án................................................................................. 16
1.1.6. Các giai đoạn của tiến trình dạy học dự án .................................................... 18
1.1.7. Các bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh cho một dự án học tập.............. 21
1.1.8. Vai trò của GV và HS trong dạy học dự án..................................................... 25
1.1.9. Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và khả năng làm việc
theo nhóm của học sinh ........................................................................................... 26
1.2. Tìm hiểu thực tế dạy học chương Khúc xạ ánh sáng ở một số trường phổ thông trên
địa bàn tỉnh Phú Thọ.................................................................................................... 32
1.2.1. Tình hình giảng dạy của GV ........................................................................... 32
1.2.2. Tình hình học tập của học sinh ....................................................................... 33
Tiểu kết chương 1............................................................................................................ 36
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG DẠY HỌC DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG KHÚC
XẠ ÁNH SÁNG - VẬT LÍ 11 ......................................................................................... 37
2.1. Nội dung kiến thức chương Khúc xạ ánh sáng - Vật lí 11 ...................................... 37
2.2. Xây dựng tiến trình dạy học dự án một số kiến thức chương Khúc xạ ánh sáng - Vật
lí 11 ............................................................................................................................. 38
2.2.1. Các nguyên tắc lựa chọn để xây dựng chủ đề dự án ....................................... 38
2.2.2. Hệ thống chủ đề dự án ................................................................................... 39
2.2.3. Soạn thảo tiến trình dạy học chủ đề: Khúc xạ ánh sáng .................................. 41
Tiểu kết chương 2............................................................................................................ 54
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................................... 55
3.1. Mục đích của thử nghiệm sư phạm........................................................................ 55
3.2. Nhiệm vụ thử nghiệm ........................................................................................... 55
iv
3.3. Đối tượng, nội dung, phương pháp thử nghiệm sư phạm ....................................... 55
3.4. Tiến hành thử nghiệm sư phạm ............................................................................. 57
3.5. Phân tích, đánh giá kết quả thử nghiệm ................................................................. 62
3.5.1. Xây dựng tiêu chí đánh giá............................................................................. 62
3.5.2. Kết quả thử nghiệm sư phạm .......................................................................... 68
Tiểu kết chương 3............................................................................................................ 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 78
PHỤ LỤC ....................................................................................................................... 79
v
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TĂT
Viết tắt
Viết hoàn chỉnh
DHDA
Dạy học dự án
DA
Dự án
ĐG
Đánh giá
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PPDH
Phương pháp dạy học
PP DHDA
Phương pháp dạy học dự án
SGK
Sách giáo khoa
SP
Sản phẩm
TN
Thử nghiệm
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thơng
TTC
Tính tích cực
vi
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1. 1. Sơ đồ tiến trình thực hiện dự án ...................................................................... 18
Hình 2. 1. Sơ đồ cấu trúc chương Khúc xạ ánh sáng ……………………………………..37
Hình 3. 1. Các ý tưởng ban đầu của HS (Sơ đồ tư duy) ………………………………….59
Hình 3. 2. Một số hình ảnh thực tế ................................................................................... 61
Hình 3. 3. Biểu đồ phân bố tần số bài kiểm tra 15 phút.................................................... 73
Hình 3. 4. Biểu đồ so sánh kết quả bài kiểm tra 15 phút................................................... 74
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Sĩ số và chất lượng học tập nhóm TN, ĐC ....................................................... 56
Bảng 3.2. Kế hoạch dạy học thử nghiệm .......................................................................... 57
Bảng 3.3. Kế hoạch dạy học dự án chương Khúc xạ ánh sáng - Vật lí 11 ......................... 57
Bảng 3.4. Bảng phân chia nhóm ...................................................................................... 58
Bảng 3.5. Tiêu chí đánh giá chất lượng SP ...................................................................... 62
Bảng 3.6. Tiêu chí đánh giá nhóm ................................................................................... 64
Bảng 3.7. Các tiêu chí đánh giá cá nhân........................................................................... 67
Bảng 3.8. Bảng so sánh một số biểu hiện của HS nhóm TN và nhóm ĐC ........................ 68
Bảng 3.9. Kết quả đánh giá chất lượng sản phẩm ............................................................. 70
Bảng 3.10. Kết quả đánh giá nhóm của nhóm thử nghiệm................................................ 71
Bảng 3.11. Kết quả đánh giá cá nhân của nhóm thử nghiệm ............................................ 72
Bảng 3.12. Kết quả bài kiểm tra 15 phút .......................................................................... 73
Bảng 3.13. Phân loại kết quả bài kiểm tra 15 phút ........................................................... 74
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục đào tạo giữ vai trị đặc biệt quan trọng. Nó là chiếc chìa khóa và
động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, không chỉ ở Việt Nam và ở hầu hết các
quốc gia khác trên thế giới. Chính phủ các nước đều đặt vấn đề “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu”. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh tồn cầu hóa,
giáo dục đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, từ đó nó cũng địi hỏi
những đổi mới trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Việc
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng được nhu cầu xã hội là vấn đề
cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, tình trạng thừa thầy thiếu thợ hiện nay
đang rất phổ biến trong xã hội. Hàng loạt kỹ sư, cử nhân Việt Nam ra trường nhưng
có bao nhiêu người đạt đúng trình độ, bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành
nghề mình đã học, đó thực sự là một sự lãng phí lớn. Một trong những định hướng
cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, lý
thuyết sang một nền giáo dục mới chú trọng đến việc hình thành năng lực hoạt
động, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở người học, giúp cho người
học có nền tảng kiến thức vững chắc để có thể đối mặt, thích ứng trước thực tế đầy
ắp những biến động. Đây cũng là một trong những xu hướng quốc tế trong cải cách
phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông.
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng việc phát triển giáo
dục, nước ta đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực sự vững mạnh và có
chất lượng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Vì
vậy, trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước ta đã luôn quan tâm và tập trung
đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Theo nghị quyết số 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy
và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng
kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi
nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã
hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học” [1]. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
2
toàn diện GD& ĐT theo nghị quyết số 29 - NQ/TW, các nhà lãnh đạo, các nhà quản
lý, các nhà khoa học và những người làm trong ngành giáo dục cần có nhận thức
đúng đắn về bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực người học.
Để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục phổ thơng nói riêng,
yếu tố quyết định chính là chất lượng dạy và học qua các môn học. Tuy nhiên, nếu
người GV biết tổ chức các hoạt động dạy và học theo hướng phát triển năng lực
người học, lấy HS làm trung tâm thì khơng những HS tích cực, tự giác mà cịn năng
động, sáng tạo trong việc đề xuất và giải quyết vấn đề, khi đó người học có thể vận
dụng những kiến thức vào thực tế cuộc sống, biết phân tích, đánh giá, so sánh và rút
ra kết luận chính xác. Vì khi bản thân người học u thích mơn học, có hứng thú
với mơn học thì nó sẽ làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng sự tập trung, sự
say mê, ý chí quyết tâm vươn lên ở người học. Điều này, góp phần khơng nhỏ trong
việc nâng cao ý thức tự giác, tự lập, hình thành các kĩ năng, kĩ xảo và phát triển tư
duy, óc sáng tạo của người học.
Vật lí là mơn khoa học nghiên cứu các quy luật của tự nhiên và có tính ứng
dụng rất cao. Việc dạy học Vật lí ở trường phổ thơng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt
những yêu cầu trong việc tổ chức nội dung dạy và học. Vật lí mang tính ứng dụng
thực tiễn nên người GV không nên áp dụng phương pháp dạy học truyền thống theo
cách người GV là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, còn HS là
người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Như vậy, hiệu quả bài học sẽ chưa cao
và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng
lực người học. Mặt khác, người GV muốn nâng cao được trình độ chun mơn
nghiệp vụ, nâng cao năng lực trong việc tổ chức các hoạt động dạy và học thì người
GV phải là người thật năng động, sáng tạo, bồi dưỡng thường xuyên, củng cố và
cập nhật những nội dung về đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực
theo tinh thần đổi mới, phải thấy rõ được đặc thù của mơn học. Để từ đó có phương
pháp dạy học thích hợp nhằm giúp cho HS có thể phát huy được tính tích cực, tự
giác trong học tập, giúp các em có niềm đam mê và khám phá mơn học và có thể
vận dụng được những kiến thức mà các em đã tích lũy được ở nhà trường vào thực
tiễn cuộc sống. Việc đổi mới phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết và có như
vậy thì chất lượng dạy và học mới không ngừng được nâng cao.
3
Qua một thời gian được học tập, tìm hiểu về các phương pháp và kỹ thuật
dạy học tích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS trung học, em
nhận thấy phương pháp dạy học dự án có hiệu quả đáp ứng các yêu cầu của đổi mới
phương pháp dạy học.
Thứ nhất là, ở đầu thế kỉ XX các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận
cho phương pháp dạy học dự án (The Project Method) và coi đó là mơ hình dạy học
quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục
nhược điểm của dạy học truyền thống, coi người thầy là trung tâm. Ban đầu, dạy
học dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kĩ thuật, về sau được
dùng cả ở những môn học khác, cả ở các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian bị
lãng quên, hiện nay các trường phổ thông và ở các trường đại học trên thế giới, đặc
biệt là ở các nước phát triển, phương pháp dạy học dự án ngày càng được sử dụng
phổ biến [10].
Thứ hai là, dạy học dự án đặc biệt quan tâm đến khả năng đề xuất ý tưởng dự
án, đến khả năng tích hợp cơng nghệ thơng tin vào các sản phẩm học tập, một địi
hỏi khơng thể thiếu trong mọi sản phẩm do con người làm ra dù là hữu hình hay vơ
hình trong thời đại ngày nay. Ở phương pháp dạy học dự án, HS sẽ thực hiện một
nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết với thực hành, có tạo ra các
sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được HS thực hiện với tính tự lực cao
trong tồn bộ q trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc
thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án.
Học theo dự án (Project Work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng
hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế
cuộc sống. Mô hình dạy học dự án đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Nhưng ở nước ta, mô hình này mới chỉ nghiên cứu ở bước đầu và có một số tác giả
cũng đã nghiên cứu về việc tổ chức dạy học dự án, cụ thể như:
Nghiên cứu [6] của Nguyễn Thị Thanh Mai đã khái quát tương đối đầy đủ về
cơ sở lí luận của phương pháp dạy học dự án: quá trình hình thành, phát triển và
ứng dụng của dạy học dự án; khái niệm, đặc điểm, các bước thực hiện. Đồng thời,
tác giả đã xây dựng các giai đoạn của tiến trình thực hiện dạy học dự án và xây
dựng các dự án thuộc chương Oxi - lưu huỳnh lớp 10 và chương Nitơ – photpho lớp
11 trung học phổ thông.
4
Trong nghiên cứu [12] của Nguyễn Đăng Thuấn đã thiết kế 2 dự án dạy học
vật lí 10 và có đánh giá về vai trò của dạy học dự án trong việc phát huy tính tích
cực, chủ động, tự lực của HS.
Bên cạnh đó, cũng có nghiên cứu [11] của Nguyễn Thị Minh Thu đã đưa ra
dự án thiết kế mơ hình nhà bằng vật rắn và thiết kế đồ chơi (con chuồn chuồn, con
lật đật) để đánh giá quá trình thực hiện dự án của HS thơng qua kĩ năng, thái độ,
đánh giá sản phẩm thực hành của các nhóm HS, từ đó đánh giá hiệu quả của dạy
học dự án.
Các nghiên cứu đều cho thấy dạy học dự án đều phát huy được tính tích cực,
tự giác, năng động và sáng tạo của HS. Tuy nhiên, số lượng các đề tài, luận văn
nghiên cứu về mơ hình dạy học dự án còn hạn chế, nằm rải rác ở một số môn học,
áp dụng ở nhiều bậc học: đại học, phổ thơng…Điều đó chứng tỏ rằng phương pháp
dạy học dự án vẫn còn khá mới mẻ với đa số GV và HS. Và nhìn chung, mơ hình
dạy học dự án vẫn chưa có được sự quan tâm chú trọng như mong đợi ở một số
trường THPT, cũng như trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, nó chưa thâm nhập sâu vào
trường học để có thể phát huy tối đa ưu điểm của nó trong phát triển con người tồn
diện. Để thu hút sự hứng thú cao độ của số đông HS và để giảm áp lực tâm lí cho
HS trong kiểu học tập theo mơ hình truyền thống thì cần có nhiều hơn các bài học
dạy học dự án, góp phần nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Điều đó, góp phần đưa Vật lí - mơn học mang tính ứng dụng cao gần gũi với thực
tiễn cuộc sống hơn và nhà trường phổ thông hơn. Dạy học dự án thường được sử
dụng trong những bài học có tính ứng dụng trong thực tế, định hướng sản phẩm,
tính hướng ngoại và những vấn đề có thật trong cuộc sống để thu được sản phẩm
học tập cụ thể gắn kết giữa “lí thuyết và thực hành”. Tuy nhiên, khơng phải nội
dung kiến thức vật lí nào cũng có thể áp dụng thành cơng mơ hình dạy học dự án.
Qua q trình tìm hiểu chương trình Vật lí phổ thông, tôi nhận thấy chương
Khúc xạ ánh sáng thuộc chương trình Vật lí 11 có thể áp dụng phương pháp dạy học
dự án. Ngoài ra, việc dạy học chương Khúc xạ ánh sáng trùng với thời gian đi thực
tập, do đó tơi sẽ có điều kiện tiến hành thử nghiệm sư phạm để đánh giá được hiệu
quả của mô hình dạy học này. Chính vì vậy, với mong muốn trau dồi thêm về kiến
thức và có thêm kinh nghiệm giảng dạy theo phương pháp dạy học tích cực hiện đại
5
nên tơi lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình là: “Vận dụng dạy học dự án
trong dạy học chương Khúc xạ ánh sáng - Vật lí 11”.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
• Ý nghĩa khoa học
- Đề tài góp phần làm rõ hơn cơ sở lí luận của phương pháp dạy học dự án
trong dạy học Vật lí.
- Đề tài cung cấp một số tiến trình dạy học của mơ hình dạy học dự án trong
dạy học Vật lí.
• Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài góp phần bổ sung thêm kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy và khả
năng làm việc khoa học cho bản thân về phương pháp dạy học tích cực.
- Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, HS, GV quan tâm về
phương pháp dạy học dự án.
3. Mục tiêu khóa luận.
Thiết kế tiến trình dạy học một số bài học của chương Khúc xạ ánh sáng Vật lí 11 theo mơ hình dạy học dự án và thực hiện dạy học theo tiến trình đã thiết kế
nhằm phát huy tính tích cực và tăng cường khả năng hoạt động nhóm của học sinh.
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận của dạy học dự án
1.1.1. Khái niệm dạy học dự án (DHDA)
1.1.1.1. Lịch sử về sự ra đời và phát triển của dạy học dự án
“Dự án” thường được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực kinh tế - chính trị:
trong sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội.
Qua thời gian, khái niệm “dự án” đã dần dần đi vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo
không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như
một phương pháp hay hình thức dạy học. Vào thế kỉ XVI, những kiến trúc sư làm
việc chuyên nghiệp người Ý với xu hướng nghề nghiệp của họ đã thành lập nên một
Học viện nghệ thuật – The Accademia di San Luca – Rome dưới sự bảo trợ của
Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577.
Cuộc thi đầu tiên của Học viện được tổ chức vào năm 1656. Cấu trúc của các
cuộc thi vào Học viện tương đương với kì thi kiến trúc. Việc thiết kế trong các cuộc
thi vào Học viện chỉ là những tình huống giả định. Vì lí do này, chúng được gọi là
“dự án” – “những dự án với ý định là những bài tập trong tưởng tượng chứ chúng
không được dùng để xây dựng” (theo Egbert).
Sau mơ hình của Ý, Viện hàn lâm kiến trúc Hoàng gia cũng được thành lập ở
Pháp năm 1761, nhiệm vụ của cuộc thi trở nên phổ biến hơn. Ngoài những cuộc thi
“Prix d’Emulation” diễn ra hàng tháng. Với sự giới thiệu của Prix d’Emulatiom,
việc đào tạo đã tập trung vào học tập bằng các dự án. Sinh viên phải hoàn thành một
vài dự án cấp tháng. Và mỗi dự án đòi hỏi sinh viên phải thực hiện một nhiệm vụ là
thiết kế và gia công một sản phẩm kĩ thuật. Để làm được điều này, sinh viên phải
phát huy khả năng, tính tự lực và phải vận dụng tốt những kiến thức và kỹ năng đã
được trang bị nhằm hoàn thành dự án để được trao tặng huân chương hoặc được
công nhận kết quả. Sự công nhận này hết sức cần thiết để học tiếp thạc sĩ và được
trao tặng danh hiệu kiến trúc sư hàn lâm. Với Prix d’Emulatiom năm 1763, sự phát
triển ý tưởng dự án thành phương pháp học tập và giáo dục hàn lâm được hoàn
thiện.
Học tập bằng các dự án khơng cịn là duy nhất đối với ngành kiến trúc. Đến
thế kỷ XVIII nhờ các ảnh hưởng của các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, tư
tưởng của DHDA đã lan truyền sang nhiều nước ở châu Âu và châu Mỹ. Mãi đến
7
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, DHDA mới được đưa vào sử dụng trong nhà trường
phổ thông ở Mỹ trong phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm. Các nhà
sư phạm hồi bấy giờ mới xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp dự án, coi đây là
một PPDH lấy HS làm trung tâm, có thể khắc phục nhược điểm của dạy học truyền
thống, coi người thầy là trung tâm trong quá trình dạy học, mà nền móng của nó là
những quan điểm triết học giáo dục và lý thuyết nhận thức của J. Dewey. Lúc đầu,
phương pháp này chủ yếu sử dụng trong dạy học thực hành các môn kĩ thuật, mĩ
thuật...về sau đã được sử dụng rộng rãi ở các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội. Còn ở Nga, sau năm 1917 các loại hình trường học của Makarenko, Blonxki, ở
đó HS được giao những cơng việc mà họ phải lao động tự lực để hồn thành, là
những mơ hình giống như DHDA. Do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai,
phong trào cải cách giáo dục lấy HS làm trung tâm lắng xuống một thời gian dài.
Nhưng từ những năm 70 của thế kỉ trước, trào lưu cải cách giáo dục mới ở phương
tây đã tạo ra sự phát triển mới của DHDA và được nghiên cứu, sử dụng ở nhiều
nước trên thế giới. Ngày nay, DHDA được các nhà sư phạm nghiên cứu, sử dụng
với những tên gọi khác nhau, quan niệm khác nhau, như phương pháp DHDA, mơ
hình DHDA, hình thức DHDA hoặc quan điểm DHDA, nhưng nó cũng đã được các
nước sử dụng rộng rãi, ứng dụng ở tất cả các cấp học - bậc học, từ giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học, đào tạo nghề ... Chẳng hạn như ở Đan
Mạch, trường đại học Roskilde dành trên 50% quĩ thời gian đào tạo cho DHDA; ở
Thái Lan, trường phổ thông Satri Si Sariyothai sử dụng DHDA trong mơn kinh tế
gia đình …
1.1.1.2. Vận dụng dạy học dự án ở Việt Nam
Trong nhiều năm qua, khái niệm DHDA vẫn còn xa lạ đối với GV và HS ở
trường phổ thơng. Mãi cho tới những năm gần đây, lí luận DHDA mới được truyền
bá, vận dụng ở Việt Nam và mơ hình này đã được bộ Giáo dục và Đào tạo kết hợp
với công ty Intel Việt Nam triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước
theo chương trình Dạy học cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future). Trong
những năm gần đây, các giảng viên ở các trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh,
ĐHSP Hà Nội đã giảng cho sinh viên về mơ hình dạy học dự án và tổ chức thực
hiện dạy học dự án cho đối tượng sinh viên, thu hút được sự tham gia tích cực, khơi
dậy lịng say mê, hứng thú của người học. Ngày 26/03/2005, Sở GD - ĐT TPHCM
8
đã tổ chức hội thảo về mơ hình dạy học dự án tại trường THPT Nguyễn Thị Minh
Khai - nơi mơ hình dạy học được triển khai mạnh mẽ nhất. Ở các trường đại học
chủ yếu là trường sư phạm đã có những lớp tập huấn dành cho GV và sinh viên tiếp
cận với PP DHDA. Chẳng hạn như ở trường ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh, có lớp
tập huấn giành cho các giảng viên, còn đối với sinh viên thì cũng có triển khai và áp
dụng học ở một số khoa như khoa Sinh, khoa Toán, khoa Sử… Ở trường phổ thơng
các cấp, trong những năm gần đây thì GV cũng được tập huấn và triển khai thí điểm
ở một vài trường.
Trường ĐHSP Hà Nội đã đưa DHDA vào chương trình lí luận dạy học Đại
học dành cho các khố đào tạo Thạc sĩ; ĐHSP Huế có dự án phát triển GV THCS;
ngoài ra, DHDA cũng được dự án giáo dục Việt - Bỉ đưa vào chương trình tập huấn
cho GV tiểu học; Khoa sinh học trường ĐHSP - Tp HCM vận dụng DHDA trong
học phần “Chương trình dạy học của Intel” cho sinh viên năm thứ tư trong năm học
2006 - 2007 và sinh viên năm thứ 3 năm học 2007 - 2008. Ở học phần này, sinh
viên học theo đề tài tự chọn, chọn hứng thú riêng của nhóm (từ 5 - 6 người) với nội
dung mơn sinh học ở trường THPT. Sinh viên thực hiện dự án dưới sự hướng dẫn
của GV, họ phải sử dụng các kĩ năng về công nghệ thông tin để thực hiện các dự án.
Kết thúc dự án, sinh viên phải có được sản phẩm như trang web hay ấn phẩm,...với
sự hỗ trợ của phần mềm Publisher và bài trình bày bằng Power Point. Trong ngành
giáo dục, DHDA cũng được vận dụng để dạy học một số bộ môn: như Vật lí, Sinh
học, Mơi trường, Tin học,...nhờ cơng nghệ thơng tin của Intel, Microsoft mà DHDA
được sử dụng phổ biến và vận dụng ở Việt Nam. Trường THCS Trần Văn Ơn,
thành phố HCM đã sử dụng thí điểm DHDA ở mơn Tiếng Anh lớp 9 trong năm học
2006 - 2007 và môn tự chọn nghề phổ thông tin học ở lớp 8..
Bên cạnh đó, cịn có nhiều cơng trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác và
một số học viên cao học đã vận dụng quan điểm của dạy học dự án vào tổ chức dạy
học ở một số trường tại Thành Phố Hồ Chí Minh và Hà Nội…bước đầu đã thu được
nhiều thành công trong việc đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, tự chủ của người
học, lơi cuốn người học vào thực hiện dự án học tập một cách tự giác. Những cơng
trình nghiên cứu liên quan tới dạy học dự án ở Việt Nam như: “Project-Based
Learning (PBL) và việc ứng dụng vào dạy học môn Vật lý ở trường phổ thông Việt
Nam trong tương lai” của tác giả Hồ Thanh Liêm, luận văn tốt nghiệp ĐH tháng
9
6/2005 ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh, trong đó đã tổ chức soạn thảo dạy học dự
án chương “Dòng điện trong các mơi trường” thuộc chương trình Vật lý lớp 11
nhưng chưa tiến hành thực nghiệm sư phạm. Bài viết “Dạy học theo dự án – một
phương pháp có chức năng kép trong đào tạo GV” của Nguyễn Văn Cường và
Nguyễn Thị Diệu Thảo (2004), đề tài “Những định luật cơ bản của dịng điện khơng
đổi” cho HS lớp 11 theo quan điểm dạy học dự án của Nguyễn Văn Nghĩa (2006),
đề tài “Tổ chức dạy học theo dự án một số nội dung kiến thức chương “Sự bảo toàn
và chuyển hóa năng lượng” nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ
của HS trong học tập” của Trần Thúy Hằng (2006)....
DHDA bước đầu đã được vận dụng trong dạy học Vật lí ở trường phổ thơng.
Tuy nhiên, việc vận dụng DHDA trong dạy học Vật lí chưa được thể hiện trong
khung phân phối chương trình với thời gian xác định. Vì vậy, việc vận dụng mơ
hình dạy học này còn tùy thuộc vào mỗi trường và mỗi GV. Dựa theo chương trình
Vật lí THPT, một số trường vận dụng các dự án học tập như một phần trong chương
trình tự chọn, do GV thực hiện. Năm học 2008-2009, trường THPT Đội Cấn (Vĩnh
Phúc) áp dụng DHDA “Sử dụng năng lượng nhiệt mặt trời” trong chương trình gọi
là tuần lễ dự án đối với HS lớp 11A2 và lớp 11A3. Trong DA này, HS được tổ chức
theo từng nhóm nhỏ (4 - 5HS) để thực hiện DA với sự hỗ trợ của GV. Kết thúc DA,
HS trình bày SP là 12 bếp mặt trời, máy lọc nước muối và máy sấy nơng sản do các
nhóm tự thiết kế cùng với bài trình bày bằng Power Point. Các SP chỉ là giả định, vì
vậy HS chưa có điều kiện tham gia giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn xã hội.
Các hình thức vận dụng mơ hình DHDA cũng đã được thực hiện ở nhiều trường
THPT và THCS, tuy nhiên chỉ một số GV đã qua tập huấn mới có điều kiện vận
dụng DHDA theo hướng dẫn, một số khác thực hiện tự giác theo tài liệu tham khảo
nên hiệu quả chưa cao. Như vậy, chúng ta hãy tin tưởng rằng, PP DHDA sẽ tiếp tục
phát huy một cách hiệu quả nhất trong tương lai.
1.1.1.3. Khái niệm dạy học dự án
Dự án: Thuật ngữ dự án, tiếng Anh là project, có gốc tiếng La tinh là
projicere có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế.
Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế, xã
hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính khơng lặp lại của các điều kiện thực hiện dự
án.
10
Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó
cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, vật chất, nhân lực và cần
được thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện trong những điều
kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau.
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào
tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như
một phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các
trường dạy kiến trúc - xây dựng ở Ý từ cuối thế kỉ XVI. Từ đó tư tưởng dạy học
theo dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là
trong các trường đại học và chuyên nghiệp.
* Khái niệm dạy học dự án
Đầu thế kỉ XX các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận cho phương
pháp dạy học dự án (The Project Method) và coi đó là mơ hình dạy học quan trọng
để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm
của dạy học truyền thống, coi người thầy là trung tâm. Ban đầu, dạy học dự án được
sử dụng trong dạy học thực hành các môn kĩ thuật, về sau được dùng cả ở những
môn học khác, cả ở các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian bị lãng quên, hiện
nay các trường phổ thông và ở các trường đại học trên thế giới, đặc biệt là ở các
nước phát triển.
Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về dạy học dự án. Dạy học dự
án được nhiều tác giả coi là một mơ hình dạy học vì khi thực hiện một dự án, có
nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng. Tuy nhiên, khi khơng phân biệt
giữa hình thức và PPDH người ta cũng gọi là PP dự án. Khi đó cần hiểu đó là một
PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp [3].
Dạy học theo dự án là một mơ hình dạy học, trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, có tạo ra
các sản phẩm có thể giới thiệu. Sản phẩm này có thể là các bài báo cáo khoa học,
mơ hình, phần mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm. Nhiệm vụ này được người học thực
hiện với tính tự lực cao trong tồn bộ q trình học tập, từ việc xác định mục đích,
lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và
kết quả thực hiện [3].
11
Dạy học theo dự án là một mơ hình dạy học lấy HS làm trung tâm. Theo đó,
các nhóm HS dưới sự hướng dẫn của GV mà thực hiện các nhiệm vụ học tập một
cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: Đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch,
thực hiện ý tưởng, tạo SP, công bố SP. Qua đó, giúp các em phát triển kiến thức và
các kĩ năng thơng qua các nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích HS tìm tịi, thực
hiện hóa những kiến thức đã học trong qua trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm
của chính mình. Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những
câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao
trong bối cảnh thực tế [5].
Khái niệm dạy học dự án trong khóa luận trình bày dựa theo quan điểm của
tác giả Đỗ Hương Trà, dạy học dự án là mơ hình dạy học lấy hoạt động của HS làm
trung tâm. Kiểu dạy học này phát triển kiến thức và kĩ năng của HS thơng qua q
trình HS giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn bằng những kiến thức
theo nội dung môn học – được gọi là dự án. Dự án đặt HS vào vai trị tích cực như:
người giải quyết vấn đề, điều tra viên hay người viết báo cáo. Thường thì HS sẽ làm
việc theo nhóm và hợp tác với các chuyên gia bên ngoài và cộng đồng để trả lời các
câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa của bài học. Học theo dự án đòi hỏi HS
phải nghiên cứu và thể hiện kết quả học tập của mình thơng qua cả sản phẩm lẫn
phương thức thực hiện [10].
Khác với dạy học trên cơ sở vấn đề là tìm giải pháp và tiến hành giải quyết
các vấn đề, mà các vấn đề đó đang tồn tại trong thực tiễn, còn dạy học dự án hướng
tới giải quyết một vấn đề nhưng vấn đề cần giải quyết hoặc chưa xảy ra hoặc chưa
thu hút được sự quan tâm của những đối tượng liên quan. Dự án là sự thúc đẩy cho
vấn đề xảy ra sớm hơn trong sự chủ động đón nhận và giải quyết nó. Đây là cách tư
duy rất phổ biến của con người trong thời đại ngày nay ở tất cả các lĩnh vực hoạt
động thực tiễn: Khơng chờ đợi và đối phó một cách thụ động các vấn đề nảy sinh từ
thực tiễn mà chủ động đương đầu, chủ động thích ứng và phát triển, thúc đẩy sự
phát triển mọi mặt đời sống.
Dạy học dự án có điểm tương đồng với nhiều mơ hình dạy học tích cực khác
ở chỗ nó có nhiều mục tiêu chung, đặc biệt nó rất gần với dạy học trên cơ sở giải
quyết vấn đề: nó cũng đặc biệt quan tâm đến bồi dưỡng khả năng vạch chiến lược
giải quyết vấn đề và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản thể hiện ở
12
một số mục tiêu khác có tính chiến lược của kiểu dạy học này: ngoài sự quan tâm
đến khả năng vạch chiến lược giải quyết vấn đề của cuộc sống thực giống như dạy
học trên cơ sở vấn đề, dạy học dự án đặc biệt quan tâm đến khả năng đề xuất ý
tưởng dự án, đến khả năng tích hợp công nghệ thông tin vào các sản phẩm học tập,
một địi hỏi khơng thể thiếu trong mọi sản phẩm do con người làm ra dù là hữu hình
hay vơ hình trong thời đại ngày nay.
Dự án có thể thực hiện trong phạm vi lớp học hay vượt ngồi khn khổ lớp
học, có thể kéo dài một vài tiết học, thậm chí một vài tuần, vài tháng tùy thuộc quy
mơ, tính chất của dự án. Bạn đừng quá lo lắng vì điều này, bởi thực hiện dự án dài
hay ngắn đều thu hút sự hứng thú cao độ của số đông HS, là cách tốt để nuôi dưỡng
hứng thú học tập và giảm áp lực tâm lí cho HS trong kiểu học tập trong mơ hình
truyền thống.
Dạy học dự án khơng đặt nặng mục tiêu dạy kiến thức mà xuất phát từ nội
dung GV khéo léo đưa ra một dự án hấp dẫn, kích thích được người học tham gia
thực hiện. HS trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao tất nhiên phải tự
tìm hiểu nội dung cần học thông qua các nguồn tài liệu và thông qua trao đổi một
cách có định hướng: các nhiệm vụ cần thực hiện, phiếu đánh giá kết quả thực hiện
nhiệm vụ.
1.1.2. Mục tiêu của dạy học dự án
1.1.2.1. Hướng tới phát triển kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích – tổng hợp, đánh giá
và sáng tạo)
HS trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập cùng một lúc với việc tìm
kiếm thơng tin (trong đó có nội dung bài ) là q trình xử lí thơng tin, lập ra một
tổng thể kiến thức mới khác với nội dung bài học, phê phán, đánh giá, lựa chọn
công cụ (kiến thức, công nghệ…) để thực hiện nhiệm vụ học tập. Khác với dạy học
truyền thống tư duy phát triển một cách tuần tự và có giới hạn, kiến thức tiếp nhận
sau quá trình học trên lớp chỉ dừng lại ở mức biết hoặc hiểu, để thực sự hiểu HS
phải vận dụng giải nhiều bài tập, trình độ tư duy theo mơ hình dạy học này vì thế
thường chỉ đến mức độ vận dụng, HS cũng rất khó có thể thiết lập một tổng thể kiến
thức mới (tư duy tổng hợp), hay vận dụng một cách sáng tạo vào giải quyết một vấn
đề thực tiễn.
1.1.2.2. Hướng tới phát triển kĩ năng sống
13
Hợp tác, giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều hành, ra quyết định, tổng hợp công
nghệ thông tin vào giải quyết công việc và thực hiện các sản phẩm…là những mục
tiêu mà các phương pháp dạy học tích cực hướng tới. Dạy học dự án có ưu thế đặc
biệt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu này: HS trong q trình thực hiện dự án
tồn quyền quyết định phương tiện và cách thức hoạt động, phải hợp tác cao độ
trong sự hiểu biết điểm mạnh của từng thành viên trong nhóm, phải biết tranh luận
và biết lắng nghe, phải biết tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động, phải
huy động tối đa khả năng tích hợp cơng nghệ vào sản phẩm học tập của nhóm…
1.1.3. Đặc điểm của dạy học dự án
- Thiết lập mối liên hệ giữa nội dung học tập với cuộc sống ngoài học đường,
hướng tới các vấn đề của thực tiễn sinh động đang diễn ra.
Nhiều nội dung học (thường là các kiến thức cổ điển) có rất ít mối liên hệ với
cuộc sống ngày hơm nay, SGK lại ln thiếu tính cập nhật nên những ứng dụng
trong sách nhanh chóng lạc hậu. Điều đó làm cho ý nghĩa của việc học trở nên khó
thuyết phục khiến HS khơng thể hứng thú.
Dạy học dự án làm cho nội dung dạy học trở nên có ý nghĩa thực tiễn, làm
cho HS có hứng thú với việc học hơn. HS đóng vai và thực hiện hành vi của những
người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể nào đó như “đóng vai là thành viên
của Ủy ban Phòng chống gia cầm ở Việt Nam, kêu gọi sự quan tâm của cả xã hội để
ngăn chặn đại dịch cúm gia cầm ở nước ta” hay thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch
quảng bá về các di tích lịch sử ở địa phương”…qua các dự án đó, HS được tham gia
vào các hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học.
- Phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề xuất phát từ yêu cầu của
thực tiễn.
Phát hiện vấn đề cần giải quyết là kĩ năng quan trọng giúp con người làm chủ
cuộc sống, làm chủ mọi công việc. Phát hiện và thúc đẩy sự xuất hiện, tiến triển của
vấn đề theo ý muốn của mình là cách để con người thành công trong cuộc sống và
công việc trong thời hiện đại.
Quá trình khám phá tìm hiểu bao gồm một loạt các hoạt động để thỏa mãn óc
tò mò bẩm sinh của con người về thế giới. Trong dạy học dự án, việc khám phá tìm
hiểu này mang một ý nghĩa cụ thể hơn, HS được khuyến khích đặt câu hỏi, lập kế
hoạch, tiến hành tìm hiểu, quan sát và suy nghĩ về những gì mình đã khám phá.
14
Có thể coi dạy học dự án là một tập con của dạy học khám phá. Một nghiên
cứu về dạy học dự án đã kết luận dự án thường tập trung vào những câu hỏi hoặc
vấn đề “thôi thúc HS phải đối mặt (và “chiến đấu”) với những khái niệm và nguyên
tắc trọng tâm của môn học”. Hơn nữa, những hoạt động chính trong dự án đã bao
hàm q trình khám phá tìm hiểu, giải quyết vấn đề và cấu trúc kiến thức của HS
(Thomas, 2000).
- Tạo cơ hội cho HS tự tìm hiểu chính mình, tự khẳng định mình.
Dạy học truyền thống với các nội dung học thường mang tính hàn lâm, lí
thuyết chỉ phù hợp với số ít HS có tiềm năng phát triển tư duy suy luận logic, cịn
với số đơng HS có phong cách học khác kiểu dạy học này có thể gây ra áp lực cho
HS, làm cho HS mất tự tin vào bản thân. Dạy học dự án cũng như nhiều chiến lược
dạy học tích cực khác là dạy học đa phong cách giúp HS có cơ hội phát hiện và phát
huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của chính mình…
- Phát triển kĩ năng sống:
Giao tiếp, hợp tác, quản lí, điều hành, ra quyết định…là những kĩ năng sống
rất quan trọng quyết định sự thành công trong mọi lĩnh vực của đời sống con người
ở thế kỉ XXI. Rèn luyện những kĩ năng sống là mục tiêu của nhiều mơ hình dạy học
tích cự hiện nay.
- Phát triển kĩ năng tư duy bậc cao (tổng hợp, đánh giá):
Phát triển tư duy bậc cao ngay trong q trình học tập là mục tiêu có thể và
cần đạt tới ở các cấp học khác nhau. Ở đây, quan điểm phát triển tư duy một cách
tuần tự từ thấp đến cao khơng cịn là quan điểm phù hợp với tất cả HS vốn có phong
cách tư duy khác nhau. Để giải quyết một vấn đề thực tiễn người học phải phân tích,
so sánh, đánh giá, lựa chọn thông tin, giải pháp, phải tự thiết kế tổng thể kiến thức
mới ngay trong q trình xử lí những thơng tin (kiến thức) tìm được liên quan của
thơng tin đã xử lí với vấn đề cần được giải quyết.
- Tạo điều kiện cho nhiều phong cách, tiềm năng học tập khác nhau, tạo mơi
trường cho sự hịa trộn, thúc đẩy lẫn nhau trong HS vì sự phát triển tồn diện:
Dạy học dự án và các mơ hình dạy học tích cực khác đều nhằm thu hút
những HS có phong cách học tập, tư duy khác nhau hợp tác với nhau để cùng giải
quyết một vấn đề thực tiễn. Trong dạy học, sự lặp lại, sự nhàm chán có thể khiến
HS khơng cịn thấy ý nghĩa của các nội dung được học. Dạy học dự án với nhiệm vụ
15
giải quyết vấn đề có thực trong cuộc sống mà nội dung cần học chỉ là một phần
trong số thông tin mà HS có thể và phải tìm kiếm và xử lí, làm cơ sở cho việc giải
quyết vấn đề. Khi đó, nội dung cần học khơng cịn khơ khan nữa mà nó thực sự trở
nên có ý nghĩa, hiểu biết của HS luôn vượt ra khỏi khuôn khổ nội dung học và tiến
đến gần thực tiễn hơn.
Để giải quyết tốt vấn đề tất cả HS trong một nhóm phải thực sự cộng tác,
phải hiểu nhau, phải biết điểm mạnh, điểm yếu của nhau và hình như nhiều HS tỏ ra
kém cỏi trong dạy học truyền thống lại thường có ý tưởng hay, mới lạ, thường có
những điểm mạnh mà nhiều HS khác khơng có. Qua sự hợp tác với nhau, mỗi HS tự
khẳng định được điểm mạnh của mình, họ cảm thấy tự tin và cảm thấy cần phải cố
gắng hơn trong cả những giờ học kiểu truyền thống. Còn với số HS trong kiểu dạy
học truyền thống được đánh giá tốt cũng tự nhìn thấy những điểm mạnh (tư duy suy
luận logic) và hạn chế (ý tưởng, phương án…) của mình, họ học tập được nhiều
điều từ những HS có phong cách học tập khác. Hợp tác làm cho HS thấy khả năng
cũng như hạn chế, điểm mạnh cũng như điểm yếu của mình và bạn, thấy được rằng
cá nhân mỗi người khó có thể có khả năng giải quyết và giải quyết tốt tất cả các vấn
đề khác nhau trong học tập, nghề nghiệp và cuộc sống mà cần phải biết hợp tác,
tương trợ lẫn nhau, thấy được rằng xung quanh khơng có ai là hồn tồn yếu kém
mà ngược lại mỗi người có điểm mạnh riêng mà mình có thể hợp tác tốt trong nhiều
vấn đề cụ thể…
- Làm cho nhiệm vụ học tập tới tất cả HS:
Mỗi HS đều phải đóng góp vào q trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, đó
là trách nhiệm đồng thời cũng là mong muốn tự khẳng định mình của mỗi các nhân.
- Kết quả thực hiện dự án phải là những sản phẩm có thể trưng bày, trình bày
được, đó là kết quả của việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống.
Các sản phẩm này có thể là một bài trình diễn đa phương tiện, một trang
web, một ấn phẩm hay một mơ hình vật thể (mơ hình mạch điện cầu thang, mơ hình
máy báo cháy, mơ hình phanh từ,…) có các chức năng vận hành như vật thật hoặc
các thí nghiệm để kiểm chứng một thơng tin (từ các quả chanh người ta có thể làm
ra điện?...).
16
1.1.4. Các nội dung có thể tổ chức dạy học dự án
Vật lí là mơn học có nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật, nhiều đề tài
trong vật lí gắn liền với thực tiễn cuộc sống, chẳng hạn như:
- Khi học về Dịng điện khơng đổi, có thể đề cập đến các mạch điện trong gia
đình, mạch điện cầu thang, vấn đề an toàn điện, vấn đề sử dụng tiết kiệm điện.
- Khi học về mắt, có thể đề cập đến các vấn đề về tật khúc xạ học đường.
- Khi học về các Định luật bảo toàn, có thể đề cập đến các vấn đề về an tồn
giao thơng, về các chuyển động bằng phản lực.
- Khi học về từ trường, có thể đề cập đến các tương tác từ trong đệm từ của
tàu cao tốc, về lồng Pha-ra-đây để tránh nhiểm từ.
Từ đặc điểm gắn liền với thực tiễn, gắn với những vấn đề nóng hổi trong
cuộc sống của dạy học dự án, có thể nói vật lí là mơn học có nhiều cơ hội tổ chức
dạy học dự án. Như vậy, khi dạy các ứng dụng của vật lí trong kĩ thuật hay vận
dụng kiến thức vật lí để giải quyết các vấn đề thực tiễn, GV có thể tổ chức dạy học
dự án. Tuy nhiên, không phải bất cứ bài học dự án nào cũng có thể tổ chức dạy học
dự án. GV cần phải biết từ bỏ dạy học dự án với các bài học địi hỏi sự trình bày
một cách chính xác, chặt chẽ, logic, hệ thống.
1.1.5. Phân loại dạy học dự án
Dạy học dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Sau
đây là một số cách phân loại dạy học dự án:
- Phân loại theo chuyên mơn
• Dự án trong một mơn học: Trọng tâm nội dung nằm trong mơn học đó. Ví
dụ, dự án thiết kế mạng điện trong trường học, thiết kế hệ thống đèn báo trên xe
khách, dự án thiết kế mơ hình các máy điện (mơn Vật lí), dự án tìm hiểu virut cúm
gia cầm (môn Sinh), dự án thiết kế mô hình nhà máy Sunphat (mơn Hóa học), dự án
tìm hiểu các loại nhạc cụ dân tộc người Thái (môn Âm nhạc), ….
• Dự án liên mơn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều mơn học khác nhau. Ví
dụ như dự án cải tạo hồ bơi của trường (tốn – lí – mĩ thuật – kĩ thuật)…
• Dự án ngồi chun môn: Là loại dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các
mơn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường, dự án tìm hiểu năng
lượng mặt trời, dự án quảng bá du lịch địa phương…
17
- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá
nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường
phổ thơng cịn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một
lớp học.
- Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV,
dự án dưới sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
- Phân loại theo quĩ thời gian thực hiện dự án: K. Frey đề nghị cách phân
chia như sau:
• Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2 đến 6 giờ
• Dự án trung bình: thực hiện trong một số ngày (còn gọi là “ngày dự án”)
nhưng giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học.
• Dự án lớn: được thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần, có
thể kéo dài trong nhiều tuần “Tuần dự án”.
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông.
Trong đào tạo đại học, có thể qui định quĩ thời gian lớn hơn.
- Phân chia theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các
dạng sau:
• Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng. Ví dụ dự án tìm
hiểu các hiện tượng thời tiết…
• Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng,
các q trình.
• Dự án mang tính thực hành: là dự án có trong tâm là việc thực hiện một
nhiệm vụ thực hành mang tính phức hợp trên cơ sở vận dụng kiến thức, kỹ năng cơ
bản đã học nhằm tạo ra một sản phẩm vật chất.
• Dự án mang tính tích hợp: là dự án mang nội dung tích hợp nhiều nội dung
hoạt động như tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu lí thuyết, giải quyết vấn đề, thực hiện
các hoạt động thực hành, thực tiễn.
Các loại dự án trên khơng hồn tồn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực
chun mơn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.
18
1.1.6. Các giai đoạn của tiến trình dạy học dự án
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều
tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định
chủ đề dự án, lập kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án. Có thể chia cấu trúc của dạy
học dự án làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn. Sau đây trình bày một cách phân chia các
giai đoạn của dạy học dự án theo 5 giai đoạn như mơ tả ở sơ đồ hình 1.1.
Xây dựng ý tưởng dự án. Quyết định chủ đề
Giáo viên tạo điều kiện để học sinh đề xuất ý tưởng dự án, quyết định
chủ đề, xác định mục tiêu
Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án
Học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công lao động.
Thực hiện dự án
Học sinh làm việc nhóm và cá nhân theo kế hoạch.
Kết hợp lí thuyết và thực hành, tạo ra sản phẩm.
Giới thiệu sản phẩm dự án
Học sinh thu thập sản phẩm, giới thiệu, công bố sản phẩm dự án.
Đánh giá
Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả và quá trình. Rút ra kinh nghiệm.
Hình 1. 1. Sơ đồ tiến trình thực hiện dự án
Có thể diễn giải sơ đồ:
• Quyết định chủ đề và xác định mục tiêu dự án:
Việc lựa chọn chủ đề dự án phụ thuộc vào sự hứng thú, quan tâm của HS và
kinh nghiệm các em đã có. Chủ đề dự án có thể hấp dẫn với một nhóm HS, với cả
lớp, hay với một HS nhất định.
Bằng việc quan sát và thảo luận trên lớp, GV sẽ phát hiện ra HS quan tâm tới
vấn đề gì, vấn đề gì thực sự hấp dẫn đối với các em.