Q trình đơ thị hóa mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong cơng cuộc phát
triển của mỗi quốc gia. “Mối quan hệ tích cực đầy ý nghĩa giữa đơ thị hóa và phát
triển kinh tế được hình thành. Mối quan hệ này được thể hiện bởi các yếu tố như cơng
nghiệp hóa, thương mại hóa, tăng năng suất, tạo nhiều việc làm và cải thiện sự tiếp
cận đối với những yếu tố khác nhau về sản xuất, thị trường, những cơ sở hạ tầng và
các tiện nghi khác. Như vậy, đơ thị hóa dẫn đến tăng thu nhập, thay đổi cách sống,
đem lại chất lượng cao về dịch vụ và cũng phù hợp với dân số ngày càng tăng lên.
Tuy nhiên, đơ thị hóa cũng đưa lại một số hiệu quả tiêu cực về phát triển đô thị và
môi trường nếu khơng có biện pháp quản lý và kiểm sốt chặt chẽ”.
Những tác động mang tính lý thuyết kể trên đã được chứng minh qua thực tiễn
trên phạm vi tồn cầu. Những tác động đó “đối với các nước đang phát triển, q
trình đơ thị hóa càng có mối liên quan chặt chẽ đến q trình cơng nghiệp hóa và
trình độ phát triển kinh tế”. Mặt khác, nếu khơng được quản lý và kiểm sốt chặt chẽ
thì “q trình đơ thị hóa cũng sẽ làm tăng các khu nghèo đô thị, làm mất cân bằng
không gian đô thị, cơ sở hạ tầng và dịch vụ bị quá tải dẫn đến làm giảm chất lượng
cuộc sống đơ thị”.
Đơ thị hố bền vững phải xuất phát từ quan điểm tổng hoà phát triển bền vững
giữa kinh tế, xã hội, ổn định môi trường sinh thái và bảo đảm cho một tổ chức liên
kết không gian chặt chẽ giữa đô thị - nơng thơn. Vậy hệ thống các tiêu chí về Phát
triển đô thị bền vững ở nước ta cần được tiếp tục nghiên cứu và thực hiện.
Gần đây, trong chuyên đề nghiên cứu “Phân tích chính sách đơ thị hóa trong
q trình đơ thị hố tác động đến phát triển bền vững ở Việt Nam”, thuộc Chương
trình Thiên niên kỷ 21 do UNPD tài trợ, đã đề xuất 10 nhóm tiêu chí bền vững trong
q trình đơ thị hóa như sau:
1. Phân bố và quy hoạch đô thị phù hợp với các vùng địa lý và điều kiện sinh
thái tự nhiên, bảo vệ môi trường;
2. Nền kinh tế đô thị phát triển ổn định và bền vững nhằm tạo nhiều việc làm
đô thị ổn định, bền vững cho mọi thành phần kinh tế và mọi người dân đô thị;
1
3. Trình độ dân trí đơ thị và nguồn lực phát triển đủ mạnh;
4. Trình độ quản lý phát triển đô thị đủ mạnh và bền vững;
5. Dịch vụ đô thị đáp ứng yêu cầu cuộc sống đô thị ngày càng cao;
6. Cơ sở hạ tầng xã hội đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững;
7. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đầy đủ, ổn định và phát triển bền vững;
8. Lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch đô thị;
9. Huy động sự tham gia của cộng đồng người dân đô thị trong công tác qui
hoạch, phát triển và quản lý đô thị;
10. Hợp tác, phối hợp điều hành Vùng hợp lý, hiệu quả, cùng có lợi và cùng
phát triển.
Vậy, theo hệ thống tiêu chí Phát triển đơ thị bền vững nêu trên, hệ thống đô thị nước
ta cần sớm nhận ra và khắc phục một số điểm sau đây:
- Tốc độ đô thị hố hiện nay đạt mức trung bình trong khu vực, khoảng xấp xỉ
35%, là khá nhanh nhưng chưa tương xứng với bản chất của q trình đơ thị hố. Hai
khu vực sản xuất phi nông nghiệp (Công nghiệp - Xây dựng và Thương mại, dịch vụ
du lịch) mới đạt trung bình xấp xỉ trên dưới 50 - 55%; thậm chí có đơ thị, nhất là các
đơ thị miền núi còn thấp hơn, trong khi yêu cầu phải đạt từ 65% trở lên, các đô thị
loại III trở lên, nhất là các đô thị loại đặc biệt (Hà Nội mở rộng chỉ đạt 65%), loại I,
cịn phải đạt cao hơn.
Chính
sách
đơ
thị
hóa
tác
động
đến
Phát
triển
bền
vững
2
- Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý phát triển đơ thị trong q trình đơ thị hố
thường chạy theo bề nổi: xây dựng nhiều khu công nghiệp, nhiều khu đơ thị mới, các
khu vui chơi giải trí... (thậm chí chưa có nhu cầu ở tại một vài đô thị miền núi, vẫn
xây dựng các khu đô thị mới), mà ít chú ý đến cơng tác quy hoạch cải tạo và xây
dựng lại các khu chung cư cũ, các con phố cũ, khu vực ngoại thành mà một thời đã
gắn bó với cơng cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa là một
không gian vật thể chức năng đô thị, vừa mang ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc.
- Xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, nhất là hạ tầng xã hội (nhà trẻ, nhà mẫu giáo, trường
học, nhà văn hoá, trạm y tế...) không đáp ứng yêu cầu phục vụ của cộng đồng dân cư
sống trong các khu đô thị mới. Nguyên nhân chủ yếu là các doanh nghiệp ít mặn mà
trong việc đầu tư vào khu vực này vì ít mang lại lợi nhuận cho họ.
- Công tác lồng ghép các nội dung quy hoạch và bảo vệ môi trường trong quy hoạch
vùng, quy hoạch chung đơ thị cịn rất yếu kém vì chưa có các văn bản pháp quy để
thực hiện yêu cầu này.
- Công tác quản lý đơ thị cịn một khoảng cách khá xa so với u cầu phát triển của
q trình đơ thị hố và phát triển đơ thị. Mặt khác, tính chun nghiệp trong công tác
quản lý đô thị hầu như chưa được quan tâm đúng mức, nhất là việc đào tạo cán bộ
quản lý đô thị chưa được thực hiện bài bản, hệ thống.
- Việc phối hợp quản lý, điều hành và quản lý hệ thống đơ thị trong vùng đơ thị hố,
vùng phát triển kinh tế xã hội còn yếu kém, nhất là việc sử dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên vào công cuộc phát triển đô thị như sông, bờ biển, hồ, rừng, núi...
Do đó, gây ra khơng những lãng phí tài nguyên thiên nhiên, mất cân bằng các hệ sinh
thái mà cịn ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của cơng cuộc phát triển kinh tế đơ thị và
vùng.
Tóm lại, cơng tác xây dựng và quản lý đô thị và lập các đồ án Quy hoạch Xây dựng
3
đơ thị trong q trình đơ thị hố hiện nay cần hướng tới các yêu cầu về PTĐTBV. Với
chức năng của mình, ngành Xây dựng đã và đang đáp ứng các yêu cầu cũng như các
loại hình quy hoạch xây dựng theo Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị để có một
hệ thống đơ thị phát triển bền vững trên phạm vi cả nước. Tuy nhiên, để có một hệ
thống đơ thị phát triển bền vững trong q trình đơ thị hố, cần có sự tham gia đầy đủ
của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, đồng thời huy động tối đa sự
tham gia của cộng đồng, để hướng tới một hệ thống đô thị phát triển theo hướng bền
vững như trên đã trình bày. Và, chỉ có như vậy, việc thực hiện các tiêu chí về
PTĐTBV trong hệ thống đô thị quốc gia mới được thực hiện, khả thi và hiệu quả.
GS.TS
Lê
Hồng
Kế
Viện Nghiên cứu Môi trường và Quy hoạch Phát triển Bền vững (IRESDP)
Hội Quy hoạc Phát triển Đô thị Việt Nam (VUPDA)
Thực trạng quản lý quy hoạch và phát triển đô thị; làm thế nào để kiểm
soát được các quy hoạch, phát huy tốt công tác quản lý và xây dựng theo quy
hoạch?
GS.TSKH Nguyễn Thế Bá, Chủ tịch Hội quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam
cho biết: đến nay, cả nước đã hình thành 10 vùng đơ thị hóa đặc trưng với 718 đô thị
lớn nhỏ. Bên cạnh những ưu điểm đạt được, chúng ta không khỏi phân vân lo lắng
trước nhiều hiện tượng bất cập trong quy hoạch và xây dựng phát triển đô thị hiện
nay.
Việc xây dựng tự phát của một số bộ phận dân cư, hay các cơ quan, xí nghiệp
tại đô thị vẫn tiếp diễn không theo quy hoạch đã duyệt. Việc chuẩn bị mặt bằng xây
dựng, cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kỹ thuật xây dựng như giao thông, điện, nước,
cống rãnh, thông tin liên lạc... không được thực hiện đầy đủ, đồng bộ đã làm cho
công tác xây dựng vốn đã chắp vá lại càng lộn xộn theo kiểu tùy tiện, mạnh ai người
nấy chạy, bất kể đúng sai.
4
Mặc dù phát triển khá mạnh song các đô thị Việt Nam hiện vẫn chưa thực sự
đáp ứng được nhu cầu xã hội hóa nhà ở cho mọi đối tượng. Hệ thống các đơ thị trung tâm chưa hình thành đều khắp các vùng. Đa phần dân số đô thị sống ở Hà Nội
và TP.HCM. Các đơ thị lớn có sức hút mạnh đang tạo ra sự tập trung dân cư, cơng
nghiệp q tải nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu điều hịa q trình tăng trưởng đó,
trong khi các đơ thị nhỏ và vừa thì kém sức hấp dẫn, khơng có khả năng đảm nhiệm
nổi vị trí và vai trị trung tâm của mình trong mạng lưới đơ thị quốc gia.
Thêm vào đó, chúng ta vẫn chưa kiểm sốt được các hoạt động phát triển, nhất
là đối với lĩnh vực đầu tư tư nhân (nhà ở, khách sạn công trình thương mại, du lịch...).
Hơn nữa, cơng tác quy hoạch cũng còn nhiều bất cập. Việc quy hoạch tiến hành chậm
so với thực tế xây dựng đô thị, quy hoạch chi tiết đơ thị cịn thiếu và chất lượng cịn
hạn chế do thiếu cơ sở tài liệu điều tra cơ bản. Kiến trúc đơ thị phát triển chưa có định
hướng, nhiều di sản, kiến trúc văn hóa có giá trị của dân tộc đang bị vi phạm và biến
dạng nghiêm trọng.
Trong các khu đô thị mới, phần lớn đất đai dành phát triển quỹ nhà ở, xây dựng
các cơng trình dịch vụ để bán và cho thuê, diện tích cây xanh, các khu vui chơi công
cộng bị thu hẹp tối đa để giảm bớt suất đầu tư hạ tầng cơ sở. Xét về lợi ích kinh tế
trước mắt, cách đầu tư xây dựng này sẽ giúp chủ đầu tư thu hồi vốn và có lãi nhanh
nhất nhưng về lâu dài nó lại ảnh hưởng xấu đến chất lượng mơi trường cũng như chất
lượng dịch vụ xã hội của khu vực (khu nhà ở ngày càng bị thiếu diện tích vườn hoa,
cây xanh, nhà trẻ, các tuyến đi bộ...). Tuy nhiên đến nay, nhà nước vẫn chưa có bất cứ
cơng cụ hữu hiệu nào để kiểm tra, đánh giá phản hồi hoặc chất vấn những hoạt động
quy hoạch như vậy.
Thiếu sự đồng bộ thống nhất giữa nhà quản lý, nhà tư vấn quy hoạch, nhà kiến
trúc, nhà xây dựng trong quá trình quản lý quy hoạch và kiểm sốt phát triển đô thị đã
làm cho cảnh quan đô thị trở nên xấu xí, hỗn tạp, đe dọa sự phát triển bền vững của
đô thị. Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật tại các khu dân cư đơ thị nhìn chung khơng
đồng bộ, mạng lưới giao thơng trong và ngồi đô thị chưa phát triển, gây trở ngại cho
5
các mối liên thông giữa đô thị với các vùng lân cận cũng như với hoạt động: làm việc
- nghỉ ngơi - sinh hoạt của người dân trong đô thị.
Các chính sách, biện pháp, cơ chế tạo vốn, tạo điều kiện phát huy sức mạnh
của cộng đồng vào mục đích xây dựng đơ thị cịn thiếu, các thủ tục hành chính trong
giao đất, cấp phép xây dựng và thẩm định các dự án đầu tư còn nhiều phiền hà. Việc
phân công, phân cấp trong quản lý xây dựng đô thị cịn chồng chéo, năng lực của
chính quyền đơ thị chưa tốt, các tồn tại trong quản lý nhà và đất đô thị chậm được
giải quyết cũng đang là những trở ngại lớn trong việc thiết lập lại trật tự kỷ cương và
tạo nguồn lực phát triển đô thị Việt Nam.
Theo định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến
năm 2020, quy mô đô thị từ mức 19 triệu người, diện tích 1.140km2 năm 2000 sẽ
tăng lên 30,4 triệu người và diện tích 2.432km2 vào năm 2010, 40 triệu người và diện
tích 4.600km2 (chiếm 45% dân số và 1,4% diện tích cả nước) vào năm 2020. Để
công tác quy hoạch xây dựng và phát triển đơ thị đi vào nề nếp, có hiệu quả, có giá trị
thực tiễn cao, đòi hỏi phải xây dựng được một hệ thống quản lý với những quy chế và
thể chế luật lệ thích hợp với tình hình thực tế phát triển kinh tế xã hội mới ở nước ta.
Trong đó cần chú trọng tới sự phối hợp chặt chẽ và tuân thủ nghiêm ngặt của
tất cả các bộ phận có liên quan, đặc biệt là lĩnh vực quản lý đất đai đô thị, xây dựng
hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thơng cơng chính, đầu tư xây dựng, quản lý cơng trình
xây dựng... Chính quyền đơ thị phải có chế độ chính sách thích hợp để đảm bảo tốt
được vấn đề phát triển đơ thị hài hịa, hiện thực và hợp lý nhất trong phân công trách
nhiệm, tránh sự chống chéo không cần thiết trong xây dựng đô thị.
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ ĐƠ THỊ HĨA
Trong thế kỷ XX, sự gia tăng dân số quá nhanh và không kiểm soát được xảy
ra ở nhiều nơi trên thế giới. Theo các chuyên gia Liên Hợp Quốc, đến năm 2030 dân
số thế giới sẽ vượt qua ngưỡng 8 tỷ.
6
Phần lớn ngun nhân của đơ thị hố nảy sinh do khát vọng phát triển cấu trúc
không gian của đô thị. Cùng với sự xuất hiện các khu đô thị mới, khu cơng nghiệp và
những thành phố chính là sự thay đổi của các đơ thị có sẵn về lượng một cách rõ ràng
nhất. Đó là một hiện tượng tất yếu trên con đường phát triển của loài người nhưng
nếu chúng ta khơng đi đúng hướng sẽ rất có hại cho môi trường và cho sức khỏe của
con người.
Khi thành phố ngày càng được mở rộng thì những vấn đề liên quan đến đi lại,
nghỉ ngơi, tiếp xúc với thiên nhiên... của cư dân trong các đô thị ngày càng cao. Đơ
thị càng phát triển và càng lớn thì cường độ di chuyển của người dân càng nhiều. Đây
là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra những khó khăn trong các đô thị hiện
đại (ô nhiễm môi trường do các chất thải từ các phương tiện giao thông cơ giới, tai
nạn giao thơng…). Ngồi ra cịn có những “kẻ thù” hết sức nguy hiểm cho xã hội và
cho sức khoẻ của con người (cho cả cư dân bản địa và những người di cư hay vãng
lai) do sự tập trung một khối lượng lớn người trên một diện tích có hạn của thành
phố. Đó chính là các loại tệ nạn xã hội (nghiện hút, mại dâm, trộm cắp, lừa đảo…) và
những loại bệnh tật vô phương cứu chữa của nền văn minh hiện đại (ung thư, tâm
thần, bệnh nghề nghiệp...).
Sức “hấp dẫn” của cuộc sống đô thị và của các vùng đã được đơ thị hố là
ngun nhân chính lơi cuốn một khối lượng khổng lồ cư dân nơng thơn đi tìm miền
“đất hứa”. Mặt khác những thành phố lớn ngày càng hấp dẫn và lôi cuốn cư dân từ
các đô thị nhỏ hơn cũng như từ các vùng nơng thơn nên càng làm cho tình hình thêm
phức tạp (hạ tầng kỹ thuật quá tải; cây xanh, mặt nước, không gian trống hiếm
hoi…).
Sự phát triển không được kiểm sốt của các đơ thị sẽ dẫn đến những vấn đề
khơng thể sửa chữa được lợi ích chỉ rơi vào một nhóm rất ít người trong xã hội cịn
thực tế dành cho đại đa số quần chúng lao động là đơ thị hóa phát triển khơng bền
vững: chất lượng nhà ở kém (khơng có chỗ ở và nơi cư trú khơng cịn đủ khơng gian
7
để có thể tự tổ chức các hoạt động văn hoá và đời sống), cuộc sống bấp bênh do giá
cả sinh hoạt ngày một cao, người dân không tiếp cận được đầy đủ nền giáo dục chung
của xã hội…
Chất lượng môi trường và cuộc sống của cư dân đô thị ngày càng xấu đi khơng
phải chỉ vì hậu quả của đơ thị hố khơng bài bản mà cịn do nhiều lý do khác nữa,
trong đó việc quản lý là nguyên nhân cơ bản và có nhiều bất cập nhất! Nhiều chuyên
gia trên thế giới đã nhận xét rằng: có một số lượng đáng kể quốc gia trên thế giới
không thành cơng do chính quyền các cấp của họ khơng đủ khả năng phục vụ nhân
dân vì cán bộ khơng được đào tạo bài bản, kỷ cương lỏng lẻo và thiếu tinh thần trách
nhiệm…Ở nước ta, quản lý xã hội, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong lĩnh vực
quản lý đơ thị!
Trong đơ thị cịn những nguồn ơ nhiễm khác mà con người ít để ý đến. Đó là
sự ô nhiễm do các yếu tố vật lý, cụ thể là do các yếu tố từ trường với tần suất và
cường độ khác nhau (các trạm thu - phát sóng, các đường dây truyền tải điện
năng…). Hơn nữa, cho đến bây giờ chúng ta cũng chưa lường hết được về những tác
động của các loại vật liệu xây dựng đến sức khoẻ của con người, đặc biệt là những
loại vật liệu có nguồn gốc từ các hợp chất vơ cơ. Đơ thị càng phát triển thì các nguy
cơ ơ nhiễm từ các yếu tố đó càng lớn.
Thành phố khơng những bị ơ nhiễm mà khí hậu của nó cũng bị thay đổi.
Những thành phần cơ bản của khí hậu như bức xạ, chế độ nhiệt - ẩm, áp suất khơng
khí, chế độ gió…ln bị tác động bởi q trình đơ thị hố. Nhà càng cao thì mặt đất
càng bị nhiễm khuẩn vì ánh sáng mặt trời bị che khuất khơng đủ khả năng để tiêu diệt
các loại vi trùng có hại. Do q trình đơ thị hố và phát triển dân số diễn ra quá nhanh
và quá hỗn độn nên những quy tắc quy hoạch không được tôn trọng - ví dụ như vi
phạm về mật độ xây dựng, về hướng của các con đường và của các cơng trình…sẽ
làm tăng mất mát những tia nắng tự nhiên có lợi cho sức khoẻ con người và hơn thế
8
nữa cần phải tiêu tốn thêm một phần năng lượng đáng kể để duy trì chế độ vi khí hậu
trong các khơng gian sống của con người,…
Rõ ràng q trình đơ thị hố đang tồn tại rất nhiều vấn đề có ảnh hưởng xấu
đến sức khoẻ của con người và sự phát triển của xã hội. Để giải quyết tận gốc những
vấn đề này thì chỉ có một cách duy nhất là cần phải làm trong sạch môi trường.
Nguyên tắc xây dựng đô thị dựa trên các quy luật của sinh học có ý nghĩa vơ cùng lớn
trong việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của con người. Ngày nay, việc
ứng dụng các quan niệm sinh thái hướng đến các đô thị phát triển bền vững cũng
được xem trọng Điều quan trọng nhất là phải tạo ra môi trường thuận lợi để thế giới
tự nhiên được hoạt động theo quy luật riêng của mình. Quá trình đơ thị hố của thế
giới đã có kinh nghiệm thành cơng và khơng thành cơng. Từ những kinh nghiệm đó,
chúng ta phải tự rút ra các bài học để có thể góp phần cho sự nghiệp đơ thị hố ở
nước ta trong thời gian tới.
ĐƠ THỊ HĨA VÀ HƯỚNG GIẢI QUYẾT
Để những vấn đề của đơ thị hóa ở nước ta đi đúng hướng thì một trong những
nhiệm vụ cơ bản ban đầu là hoạch định cho được từng bước đi cụ thể của cả q trình
đơ thị hố. Trước tiên khi đặt vấn đề suy nghĩ về đô thị hố tại Việt Nam: Đơ thị hố bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp lưu truyền qua hàng ngàn năm nay sẽ ra sao? Đơ
thị hố - nơng dân và người nghèo được gì tại những lãnh thổ chịu tác động của q
trình đó? Văn hố và truyền thống dân tộc sẽ thích nghi như thế nào dưới tác động
mãnh liệt và q ồ ạt của q trình đơ thị hóa?
Đơ thị phát triển tự phát thiếu quy hoạch, từ đó dẫn đến việc có một số đơ thị
thiếu hoặc rất kém về hạ tầng kỹ thuật và xã hội, ơ nhiễm mơi trường, cảnh quan suy
thối.. Ở bất cứ khâu nào của công tác quy hoạch (quy hoạch mới, quy hoạch cải tạo
chỉnh trang đô thị cũng như điều chỉnh quy hoạch) đều thiếu sự đồng bộ, chất lượng
9
các các đồ án quy hoạch không được tốt, thiết kế đô thị chưa được quan tâm hoặc bỏ
ngỏ, điều lệ quản lý đơ thị thì lỏng lẻo và thiếu sự thống nhất giữa các cấp… Thậm
chí các dự án quy hoạch còn phụ thuộc vào các nhà đầu tư! Như vậy, ngun nhân
chính của tình trạng này là do hệ thống pháp luật liên quan đến đầu tư xây dựng trong
phát triển đơ thị cịn thiếu đồng bộ (nhiều lĩnh vực bị bỏ trống nhưng lại có nhiều lĩnh
vực được đầu tư chồng chéo).
Ngồi ra, đơ thị hố ở nước ta đã và đang dẫn đến mất cân đối trong sự hài
hồ cần thiết giữa mơi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên. Đồng thời, cũng làm
mất đi sự cân đối và sự hài hoà cần thiết giữa các vùng dân cư, các vùng kinh tế. Vậy
thì, đơ thị hóa nhất thiết phải được tiến hành đồng bộ cả vùng bị đơ thị hố và các
lãnh thổ chịu tác động của q trình đó.
Mặt khác, đơ thị hố đang tạo điều kiện phát triển rất nhanh cho các ngành phi
sản xuất, nhưng lại cản trở sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất cho xã hội.
Điều này, rất dễ nhận thấy ở các ngành nông, lâm, ngư nghiệp... tại các vùng nơng
thơn bị đơ thị hóa, từ đó dẫn đến phân chia giàu nghèo một cách rõ rệt. Sự phân tầng
xã hội về mặt kinh tế tất yếu sẽ sinh ra phân tầng xã hội về giáo dục, về văn hố, về
hệ tư tưởng, từ đó dẫn tới mâu thuẫn trong đời sống chính trị. Đó là tiền đề cho
những bất an trong đời sống xã hội.
Tăng trưởng kinh tế nhanh dẫn tới q trình đơ thị hoá tại Việt Nam diễn ra khá
mạnh mẽ. Vậy chúng ta phải ứng xử như thế nào với quá trình đó? Trước hết, phải tập
trung vào cơng tác quy hoạch và đơ thị hóa một cách bài bản hơn: quy hoạch và đơ
thị hóa phải có tầm nhìn dài hạn và lộ trình thực hiện; quy hoạch và đơ thị hóa phải
có sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội; quy hoạch và đô thị hóa phải tính
đến lợi ích của các bên liên quan: Nhà nước, xã hội, cộng đồng dân cư và người dân.
Nhà nước có trách nhiệm chuẩn bị kế hoạch sử dụng đất, chuyển đổi mục tiêu sử
dụng đất và phải chủ động đào tạo nghề cho người dân để chuyển dịch cơ cấu lao
động.
10
Trong quy hoạch, nhất thiết phải giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá đặc
sắc của mỗi vùng miền, mỗi địa phương (vật thể cũng như phi vật thể), trong đó đặc
biệt chú ý đến các di tích lịch sử, các làng cổ, các giá trị văn hoá phi vật thể để có thể
trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, cũng là khoảng đệm tạo sự thông thống cho
đơ thị.Đơ thị hố ở Việt Nam phải được đặt trong bối cảnh chung của cả thế giới. Ở
đây, điều quan trọng là tiếp thu khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong phát triển và
quản lý đô thị như thế nào. Sự liên kết và học hỏi những kinh nghiệm tốt về đơ thị
hóa với thế giới là rất cần thiết. Tuy mỗi nước có hồn cảnh và đặc thù riêng, nhưng
chúng ta phải học hỏi và phải “đứng được bằng bản năng và bản sắc riêng của chính
mình”.
KTS.
TRẦN
LAN
HƯƠNG
Phịng quản lý đơ thị - UBND quận Long Biên, Hà Nội
Một là: Xác định tầm quan trọng của công tác quy hoạch, khơng ngừng đẩy mạnh vai
trị cơng tác lập quy hoạch và nâng cao chất lượng quy hoạch. Trong quản lý đô thị
công tác quy hoạch phải được ưu tiên đầu tư đi trước một bước, là tiền đề để định
hướng và bảo đảm tính đồng bộ trong quá trình xây dựng phát triển cũng như cải tạo
và chỉnh trang đơ thị. Trước mắt cần tập trung hồn thiện quy hoạch phát triển đô thị
Thành phố theo hướng đa tâm, quy hoạch sử dụng đất quy hoạch giao thơng, quy
hoạch cấp, thốt nước, quy hoạch cơng viên, cây xanh,.v.v. song song với việc áp
dụng các tiến bộ trong phát triển đô thị, quy hoạch không những phải đáp ứng yêu
cầu cao về tạo dựng chất lượng không gian đơ thị, mà cịn phải đáp ứng tốt u cầu
về dự báo gắn sát với thực tiễn và xu hướng phát triển của xã hội, thật sự trở thành
nền tảng cho việc tạo dựng nguồn lực phát triển cho Thành phố.
Hai là: Huy động các nguồn tài chính từ ngân sách, đặc biệt chú trọng việc đổi mới
cơ chế, chính sách phát triển đô thị trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý quy
hoạch, quản lý đất đai, nhà ở, quản lý khai thác sử dụng cơng trình đơ thị, kết hợp với
các chính sách phù hợp để huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã
11
hội, nội lực trong nhân dân, thực hiện chủ trương xã hội hóa đầu tư cho phát triển đơ
thị để tập trung đầu tư hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, nâng cao chất
lượng, tiện nghi, môi trường sống cho nhân dân Thành phố. Đặc biệt chú trọng đến
các cơng trình hạ tầng về thốt nước và xử lý nước thải, rác thải, giao thông, hệ thống
chiếu sáng, cây xanh, các trường học, các trung tâm hoạt động văn hóa, thể dục thể
thao, các khu thương mại. v. v.
Ba là: Xác định việc xây dựng và duy trì chất lượng đơ thị bền vững phụ thuộc một
phần quan trọng trong ý thức của người dân thực hiện nếp sống văn hóa đơ thị. Vì
vậy phải làm tốt công tác tuyên truyền về xây dựng nếp sống văn hóa đơ thị và ý thức
về trật tự đơ thị, để người dân thực hiện nếp sống văn hóa đơ thị trong mọi hoạt động
như văn hóa trong xây dựng, cải tạo nhà cửa, văn hóa trong kinh doanh, bn bán,
bày bán hàng hố, văn hóa trong giữ gìn, bảo vệ mơi trường, cảnh quan, văn hóa
trong bảo đảm an tồn giao thơng, văn hóa trong tổ chức hiếu, hỷ. v.v. Đưa nội dung
xây dựng nếp sống văn hóa đơ thị vào nội dung quy ước, hương ước của thôn, tổ, khu
phố, tuyên truyền vận động để nhân dân tự giác tham gia thực hiện, khuyến khích
nhân dân đấu tranh, phê phán những tiêu cực, lạc hậu, đồng thời khen thưởng kịp thời
những tổ chức, cá nhân có thành tích tốt trong việc xây dựng nếp sống văn hóa đơ thị.
Bên cạnh việc thực hiện tốt tuyên truyền giáo dục ý thức thực hiện nếp sống văn hóa
đơ thị thì công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh các vi phạm cũng góp
phần tạo ra thói quen sống có văn hóa và văn minh, tơn trọng người khác và cộng
đồng.
Bốn là: Cần đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới tư duy trong quản lý nhà nước về đô thị
đi đôi với việc nâng cao phẩm chất, năng lực và trình độ cán bộ quản lý đơ thị các
cấp. Tăng cường phân cấp quản lý đô thị, nâng cao quyền hạn, trách nhiệm của chính
quyền địa phương, tổ chức bộ máy tinh giản, gọn nhẹ nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực
quản lý, đồng thời chú trọng hơn nữa công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ bằng
nhiều hình thức phù hợp với thực tế trình độ, kinh nghiệm và kiến thức. Củng cố kiện
toàn bộ máy lãnh đạo và đội ngũ cán bộ cơng chức Phịng quản lý đô thị, bổ sung lực
12
lượng, tạo điều kiện và tăng cường hoạt động của Đội Thanh tra xây dựng và quản lý
trật tự đô thị. Trước mắt cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
đô thị cho đội ngũ cán bộ cơng chức các Phịng chức năng, Đội Thanh tra xây dựng
và quản lý trật tự đô thị, Tổ quản lý trật tự đô thị các phường, xã.
Năm là: Tiếp tục nghiên cứu, bổ xung, xây dựng hoàn chỉnh Quy chế quản lý đơ thị
Thành phố Thái Bình cho phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước. Quy
chế này phải được triển khai học tập, phổ biến rộng rãi trong nhân dân và lấy ý kiến
nhân dân để từng bước bổ sung hoàn thiện. Xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp
hoạt động, phân cấp rõ về trách nhiệm và quyền hạn giữa các phòng, ban chức năng
với các xã, phường trong quản lý trật tự đô thị và tổ chức tuyên truyền, thực hiện nếp
sống văn hóa đơ thị.
(Trích tham luận của đồng chí Nguyễn Hải Trường, Đội trưởng đội Thanh tra xây
dựng và Quản lý TTĐT Thành phố tại Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XXVI )
13