Tiểu luận tình huống
TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TRẦN PHÚ
***
TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG
CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NGẠCH
CHUN VIÊN
Họ và tên:
Đơn vị cơng tác:
Lớp:
Hà Tĩnh, tháng 5 năm 2022
1
A. MỞ ĐẦU
Quản lý nhà nước về đất đai là một lĩnh vực hiện đang nảy sinh nhiều
vấn đề phức tạp do hệ thống pháp luật về đất đai đang trong q trình hồn
thiện, q trình đơ thị hố nơng thơn, hiện đại hố các đơ thị, xây dựng cơ sở hạ
tầng, các cơ sở kinh tế diễn ra với tốc độ chóng mặt trong khi cơ chế quản lý
nhà nước về đất đai, ý thức pháp luật của người dân, của cán bộ, công chức
trong giải quyết các quan hệ liên quan đến đất đai còn nhiều hạn chế… Đây
chính là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các tranh chấp đất đai trong nhân
dân diễn ra phổ biến tại nhiều địa phương. Trong khi đó, q trình giải quyết
của các cơ quan nhà nước còn chưa thống nhất, thậm chí chưa đúng với các
quy định pháp luật hiện hành, gây nên nhiều bức xúc cho các đối tượng tham
gia quan hệ pháp luật, làm nảy sinh các dư luận xã hội và các hành vi tiêu cực
trong nhân dân, cá biệt có nhiều vụ việc từ các tranh chấp đất đai dẫn đến các
hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức. Vì vậy, giải quyết hợp lý, hợp tình
các tranh chấp đất đai trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong việc
giữ gìn an ninh trật tự tại các địa phương và xây dựng niềm tin của nhân dân
đối với Nhà nước.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành mới, bổ sung các văn
bản quy phạm pháp luật, luật quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất
đai như: Luật đất đai 1993, 2003 và mới nhất là Luật Đất đai 2013. Các văn bản
trên phần nào đã đáp ứng được phần nào những đòi hỏi thực tế trong lĩnh vực
quản lý và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thực
trạng quản lý đất đai từ trung ương tới địa phương còn gặp nhiều khó khăn, bất
cập; đặc biệt là những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về
quản lý và sử dụng đất đai. Tình hình khiếu nại, tố cáo tranh chấp của công dân
trong lĩnh vực đất đai diễn ra ở quy mô rộng, phức tạp, kéo dài ở hầu hết các
địa phương trong cả nước, nhiều nơi đã trở thành điểm nóng, kéo đến các cơ
quan, chính quyền, tổ chức Đảng nhằm gây áp lực đòi được giải quyết quyền
lợi theo yêu cầu, gây mất trật tự an toàn xã hội.
2
Thực trạng nhân dân khiếu kiện nhiều trong lĩnh vực quản lý đất đai gây
mất ổn định về trật tự xã hội cho thấy công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết
khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cán bộ, cơng
chức thực hiện nhiệm vụ còn chưa đáp ứng được vai trò và vị trí của mình.
Khi ra các quyết định hành chính chủ thể ban hành quyết định phải dựa
vào căn cứ pháp luật và phải có tính khả thi. Bất kỳ một tình huống nào cũng
đề chứa đựng những yếu tố pháp lý mà việc giải quyết nó cũng đều dẫn đến
một hệ quả pháp lý nhất định và đều tác động đến đời sống xã hội, con người.
Chính vì vậy, khi ra quyết định các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặc biệt
chú ý tới các căn cứ pháp lý, phải điều tra tỉ mỉ cặn kẽ mọi tình tiết có liên quan
đến vụ việc và tình huống.
Sau khi được học tập kiến thức quản lý nhà nước, chương trình quản lý
nhà nước ngạch Chuyên viên, cùng với việc nghiên cứu đường lối của Đảng,
chính sách pháp luật của nhà nước và kinh nghiệm rút ra trong hoạt động thực
tiễn, tơi xin chọn một tình huống trong việc: “Khiếu nại cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trái với quy định pháp luật tại xã Sơn Tây, huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh” để viết tiểu luận cho khóa học.
3
B. NỘI DUNG
1. Mơ tả tình huống
1.1. Hồn cảnh xuất hiện tình huống
Ơng Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H là hai anh em ruột và là con của
ông Nguyễn Văn K và vợ là bà Lê Thị N (đã chết) đều thường trú tại địa chỉ
Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng thời gian
1982, ơng C sau khi xây dựng gia đình thì được bố mẹ là ơng Nguyễn Văn K
và bà N xây dựng nhà trên đất với diện tích là 450m 2/1287m2 (gồm 350m2 đất
thổ cư; 100m2 đất thổ cư), Việc cho tặng này đã được lập thành văn bản cho
tặng quyền sử dụng đất nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Năm 1997, Thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về
việc đo đạc lại bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
các hộ trên địa bàn tỉnh thì diện tích đất của hộ ơng C có sự biến động do ơng C
đã đổi phần diện tích đã mua của người hàng xóm cho ơng B (em trai ông C),
mở ngõ đi chung và mở rộng đường dong xóm . Đến năm 1998, hộ ơng C được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 2 thửa đất tại bản đồ số 05 gồm: thửa 162,
diện tích 260m2 đất vườn; thửa 163, diện tích 610m2 (gồm 255m đất ở; 155m2
đất vườn; 200m2 đất ao).
Năm 2009, ông K cho tặng đất cho con gái là bà H với sự có mặt của
đơng đủ các thành viên trong gia đình và tất cả đều nhất trí. Tuy nhiên, việc cho
tặng khơng lập thành văn bản. Tại buổi đo đạc tách thửa cho bà H thì ơng C lại
đi làm ăn xa, khơng có ở nhà nên khơng biết việc hộ bà H đã được cấp giấy
chứng nhân quyền sử dụng đất chồng lên phần diện tích của gia đình ơng là
75m2 mà gia đình ơng đã được cấp GCNQSDĐ năm 1998. Tháng 10/2016, khi
gia đình phát sinh mẫu thuẫn liên quan đến đất đai, lúc này ông C mới được
biết sự việc.
1.2. Diễn biến
4
Trước sự việc đó, ngày 20 tháng 11 năm 2020, ông Nguyễn Văn C gửi đơn
đề nghị Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây kiểm tra, xem xét lại quy trình cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng trên thửa số 162, Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây. Tuy
nhiên, sau 30 ngày gia đình ơng C vẫn chưa nhận được câu trả lời từ Ủy ban
nhân dân xã Sơn Tây.
Ngày 24 tháng 12 tháng 2020, ông Nguyễn Văn C tiếp tục gửi đơn khiếu
nại gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn với nội dung “Khiếu
nại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân huyện
Hương Sơn đã cấp chồng lên phần diện tích đất của gia đình sử dụng ổn định
từ 1998 đến nay”.
Sau khi nhận được đơn, ngày 04 tháng 01 năm 2021, Chủ tịch UBND
huyện ra Quyết định thành lập tổ cơng tác gồm: Phịng Tài ngun và Mơi
trường; Thanh tra huyện và Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây đã tiến hành thẩm tra,
xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị H
và ông Nguyễn Văn C, Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây.
Ngày 05 tháng 01 năm 2021, Phòng Tài nguyên và Mơi trường; Thanh
tra huyện đã mời ơng Đình Văn C đến phòng làm việc để trao đổi một số nội
dung cần làm rõ trong đơn của ông C.
Từ ngày 06 tháng 01 năm 2021 đến ngày 13 tháng 01 năm 2021, tổ công
tác đã tiến hành kiểm tra, xem xét hồ sơ tài liệu lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã
Sơn Tây và tiến hành xác minh thu thập chứng cứ có liên quan đến việc cấp
giấy chứng nhận quyền cho hộ bà H và hộ ông C. Đồng thời, tổ công tác cũng
đã làm việc với những người có liên quan, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ
và giải trình việc sử dụng đất của hộ ơng C và hộ bà H.
Ngày 14/3/2021, Tổ công tác đã có báo cáo số 01/BC-TCT gửi Ủy ban
nhân dân huyện Hương Sơn về việc xem xét đơn khiếu nại của ông Nguyễn
Văn C, nội dung báo cáo như sau:
* Về nguồn gốc và biến động của nhà đất của hộ ông Nguyễn Văn C và
bà Nguyễn Thị H, Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây.
5
- Nguồn gốc: Thửa đất gia đình ơng C và bà H đang sử dụng có nguồn
gốc đất là của bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn K và Nguyễn Thị N (đã chết). Theo
bản đồ tỷ lệ 1/2000 lập năm 1987 được thể hiện 02 thửa rõ ràng về ranh giới,
trong đó:
+ Hộ ơng Nguyễn Văn K sử dụng thửa số 531, diện tích 837m 2 (gồm
360m2 đất thổ cư; 313 m2 đất thổ cư; 200 m2 đất ao).
+ Hộ ông Nguyễn Văn C sử dụng thửa số 843 diện tích 450m 2 (gồm
350m2 đất thổ cư; 100m2 đất thổ cư).
- Biến động:
Năm 1989, ông K tiếp tục chia đất cho con trai thứ hai là ông Đinh Văn
B với diện tích là 420m2, liền kề với mảnh đất của ông Nguyễn Văn C.
Năm 1990, ông C mua môt miếng đất của hàng xóm nhưng với ý định
mở rộng phần diện tích trên lãnh thổ của bố mẹ, ơng C đã đổi phần diện tích đất
mua của hàng xóm cho ơng B (em trai) để lấy phần diện tích mà ơng B đã được
bố mẹ cho cạnh gia đình nhà ông.
Năm 1997, thực hiện quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc đo đạc
lại bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ trên
địa bàn tỉnh thì diện tích đất của hai hộ thể hiện như sau:
+ Hộ ông Nguyễn Văn K sử dụng thửa số 161 tờ bản đồ số 5, diện tích
360m2 (gồm 200m2 đất ở; 160m2 đất vườn).
+ Hộ ông Nguyễn Văn C sử dụng 02 thửa đất tại tờ bản đồ số 05 gồm:
thửa số 162, diện tích 260m2 đất vườn; thửa số 163, diện tích 610m 2 ( 255m2
đất ở; 155m2 đất vườn; 200m2 đất ao.).
Diện tích đất của hai hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
năm 1998, tổng diện tích cả khu đất năm 1997 giảm 93,0m 2 so với năm 1987
do mở ngõ đi cho ông K và mở rộng đường dong xóm.
* Hồ sơ, tài liệu thu thập (bản phơ tơ có đóng dấu treo của Ủy ban nhân
dân xã) gồm:
- Đơn đăng ký quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Văn K và hộ ông
Nguyễn Văn C;
6
- Biên bản kết thúc công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây.
- Danh sách các hộ sử dụng đất ở hợp pháp tại Thơn Hà Chua, xã Sơn
Tây
- Trích bản dồ giải thửa năm 1987;
- Trích bản đồ địa chính năm 1998;
- Trích lục thửa đất của ơng Nguyễn Văn C, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Văn C;
- Hồ sơ tặng cho và cấp giấy chứng nhận cho hộ bà Nguyễn Thị H;
- Biên bản giao nhận diện tích của trung tâm đo đạc bản đồ giữa Ủy ban
nhân dân xã Sơn Tây, tổ đo đạc và Thôn trưởng Thôn Hà Chua (kèm theo thống
kê diện tích từng thửa).
* Kết quả làm việc với các bên liên quan:
- Ngày 09 tháng 01 năm 2021, tổ công tác tiến hành làm việc với ông K
kết quả như sau: Theo ông K nguồn gốc đất của cả khu là đất của vợ chồng ông
tạo dựng nên. Đến năm 1980, khi ơng C xây dựng gia đình, thì vợ chồng ông K
cho phép ông C làm nhà ở với tổng diện tích là 450m 2 (gồm 350m2 đất thổ cư;
100m2 đất thổ cư), việc cho tặng đã được lập thành biên bản. Đến năm 1997,
khi Nhà nước tiến hành đo đạc lập bản đồ địa chính ơng K có biết và có ký
nhận việc cho tặng quyền sử dụng đất đối với ông C.
Về việc tặng cho và làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât
đối với bà H: Năm 2009, vợ chồng có nhờ ông D - nguyên cán bộ địa chính xã
làm thủ tục việc tặng cho và tách thửa. Tại buổi đo đạc để tách thổ cho bà H có
đầy đủ các thành viên trong gia đình, gồm cả vợ chồng ơng C, tuy nhiên tại thời
điểm làm các thủ tục tách thửa thì ơng C hay đi làm ăn xa, nhưng có về thường
xun.
- Cùng ngày, tổ cơng tác đã tổ chức buổi làm việc với bà H, kết quả như
sau: Năm 2009, bố mẹ bà có chia tách cho bà một phần diện tích đất để xây nhà
ở, việc này đều được các thành viên trong gia đình tán thành, nhất trí bao gồm
cả gia đình ơng C, tuy nhiên lại không lập thành văn bản. Cùng thời điểm trên,
7
hộ bà H làm nhà, hộ ơng C khơng có ý kiến gì và khẳng định việc làm nhà
chồng lên phần diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của
hộ ông C, bà không hề biết.
- Ngày 10 tháng 01 năm 2021, tổ làm việc với ông Nguyễn Văn C, kết
quả: Theo ông năm 2009, gia đình ơng K tặng cho đất cho gia đình bà H, ông C
không được biết, không ký giáp ranh hộ liền kề. Sau đó hộ bà H xây nhà ở,
ơng C có biết sự việc nhưng nghĩ đến tình cảm gia đình nên ơng C khơng có ý
kiến gì.
Năm 1990, ông C có mua đất của hộ ông Đ (người cùng thơn), sau đó
ơng C đã đổi phần diện tích đất này với em trai là ông B để lấy phần diện tích
đất bố mẹ đã cho ơng B. Việc đổi đất giữa ông C và ông B chỉ thỏa thuận bằng
miệng, khơng có giấy tờ gì.
- Tổ cơng tác cũng làm việc với ông B: Năm 1990, tại thời điểm ơng xây
dựng gia đình được bố mẹ cắt cho thửa đất, gồm có ngơi nhà bổi 5 gian với
diện tích là 420m2, liền kề với mảnh đất của ơng Nguyễn Văn C. Đến năm
1997, ơng B và gia đình chuyển ra phần diện tích đất mà ơng C đã mua của
hàng xóm là ơng Đ. Việc chuyển đổi giữa ông và ông C chỉ thỏa thuận bằng
miệng.
- Ngày 11 tháng 01 năm 2021, Tổ công tác làm việc với ông Lê Mạnh D,
nguyên cán bộ địa chính xã Sơn Tây từ năm 1990 đến năm 2010. Theo ông D
giải trình: Tháng 5/2009, ơng K có đơn xin tách đất cho con gái là bà Nguyễn
Thị H, khi ông đến gia đình để hướng dẫn thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất,
hộ ơng K và ơng c có thỏa thuận bằng miệng việc trao đổi vị trí đất cho H từ
diện tích vườn tây nhà ơng C sang phần vườn trước nhà ông K, nhưng không
lập thành biên bản.
* Kết quả thẩm tra, xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của hộ ông Nguyễn Văn C và hộ ông Nguyễn Văn K.
Thực hiện Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 về hướng
dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của Tổng cục địa chính, theo chủ trương chính sách chung của
8
UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc cấp giấy chứng nhận đồng loạt cho các hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh, Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây có thành lập hội
đồng đăng ký đất đai (khơng cịn hồ sơ lưu tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây).
Trong quá trình xét duyệt cấp giấy chứng nhận, do số hộ dân nhiều (trên 2000
hộ) nên không tổ chức xét duyệt từng hộ mà chỉ căn cứ vào bản đồ địa chính
lập năm 1997. Việc cơng khai hồ sơ khơng đúng quy định, khơng có thơng báo
cơng khai hồ sơ chỉ có biên bản kết thúc cơng khai hồ sơ với thời gian là 10
ngày (theo quy định thời gian công bố công khai là 15 ngày).
Thu thập hồ sơ đăng ký tại phịng Tài ngun và mơi trường, hồ sơ đăng
ký quyền sử dụng đất đai của hộ ông Nguyễn Văn C và hộ ơng Nguyễn Văn K
có đơn đăng ký quyền sử dụng đất, biên bản công khai và kết thúc công khai
cấp giấy chứng nhận của Thôn Hà Chua, danh sách hộ sử dụng đất hợp pháp.
Kiểm tra biểu thống kê diện tích từng thửa kèm theo biên bản giao nhận
diện tích của Trung tâm đo đạc bản đồ ngày 06 tháng 10 năm 1997, có chữ ký
xác nhận của ông Nguyễn Văn C với tổng diện tích 02 thửa 162 và 163 là
875m2 (tại trang 10); chữ ký xác nhận của ông Nguyễn Văn K với tổng diện
tích thửa 161 là 360m2 (tại trang 9).
Tuy nhiên, trong thời gian Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn, Thanh
tra huyện đang tiến hành kiểm tra, xác minh về quá trình xét cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, ngày 01/4/2017, do ông Nguyễn Văn C vẫn chưa nhận
được văn bản trả lời từ Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn nên ông Nguyễn
Văn C tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi lên Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh với nội
dung: “Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kiểm tra, xem xét việc Ủy ban
nhân dân huyện Hương Sơn cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia
đình bà H, tại Thơn Hà Chua đã chồng lên phần diện tích của gia đình ơng
Nguyễn Văn C sử dụng ổn định từ 1998 đến nay”.
2. Phân tích tình huống
2.1. Ngun nhân
a) Ngun nhân khách quan
9
- Trong một thời gian dài, công tác quản lý đất đai bị bng lỏng, quy
trình quản lý thiếu chặt chẽ, thiếu khoa học. Hồ sơ địa chính, tài liệu lịch sử
làm căn cứ giải quyết không đầy đủ.
- Các chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai có
nhiều thay đổi, có những vấn đề chưa thật cụ thể. Mặt khác, công tác cập nhật
văn bản pháp luật của cán bộ cơ sở còn yếu, vì vậy việc vận dụng, thực thi trên
thực tế gặp rất nhiều khó khăn.
- Giá trị quyền sử dụng đất ngày càng cao, sự gia tăng dân số tạo nên sức
ép đối với gia đình trong việc sử dụng đất vào các mục đích khác nhau quy mơ
đất bị thu hẹp dẫn đến việc tranh chấp, khiếu kiện đòi quyền lợi có phần thêm
gay gắt.
- Sự phát triển hạ tầng cơ sở làm cho giá đất tăng vọt tại nhiều nơi khiến
cho nhiều người quan tâm đến giá trị của đất, tìm mọi cách để có đất nhằm đáp
ứng cho các như cầu của mình.
- Cơng tác tun truyền, phổ biến pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu
nại chưa thường xuyên, không đúng trọng tâm, trọng điểm và hiệu quả chưa
cao.
b) Nguyên nhân chủ quan
- Trình độ quản lý hành chính Nhà nước nói chung về đất đai của các
cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở cịn bất cập. Cơng tác quản lý đất đai trong
một thời gian dài cịn bng lỏng, chưa được chú trọng, hồ sơ địa chính của
thửa đất là căn cứ quan trọng để giải quyết vụ việc không đầy đủ, không cập
nhật, thiếu chặt chẽ; thủ tục hành chính khơng đảm bảo.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác chuyên môn về quản lý đất đai qua các
thời kỳ của UBND xã Sơn Tây cịn yếu về chun mơn, kém hiểu biết về pháp
luật đất đai, thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến việc tham mưu cho người dân
trong việc lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cịn nhiều thiếu
sót, khơng bán sát với quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
10
- Vì lợi ích cá nhân bất chấp tình nghĩa anh em, cụ thể: Nếu gia đình
khơng xảy ra mâu thuẫn, các bên tranh giành, đấu đá lẫn nhau thì sẽ không dẫn
đến cơ sự anh đi khiếu kiện em gái để đòi đất.
- Sự hiểu biết của người đối với dân các quy định pháp luật về đất đai,
khiếu nại, tố cáo chưa thật sự đầy đủ và đúng đắn dẫn đến việc nhận thức vấn
đề một cách sai lệch, cố chấp gây ra nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý
nhà nước.
2.2. Hậu quả
- Khi tranh chấp đất đai khơng được giải quyết dứt điểm thì việc khiếu
nại sẽ kéo dài, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của những người liên quan và gây
mất ổn định tình hình an ninh-trật tự an tồn xã hội trên địa huyện.
- Những thiếu sót, sai phạm trong quy trình cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của cán bộ, công chức sẽ làm giảm sút niềm tin của người dân về
công tác quản lý nhà nước không chỉ ở lĩnh vực đất đai nói riêng mà cịn nhiều
lĩnh vực khác nữa.
- Những sai phạm trong việc ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Nếu sự việc không được xử lý kịp thời, hợp tình, hợp lý sẽ dẫn đến những hậu
quả khó lường.
- Quá trình tiếp nhận và xử lý đơn thư của công dân chậm trễ, không
đúng thời hạn sẽ tạo ra những bức xúc trong quần chúng nhân dân, dẫn đến tình
trạng khiếu kiện vượt cấp, đơng người, kéo dài.
3. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải sớm giải quyết dứt điểm vụ việc và
nâng cao hiệu quả giải quyết, đáp ứng tình hình hiện nay. Xét thấy đây là một
vụ khiếu kiện kéo dài, phức tạp đụng chạm đến vấn đề đất đai là vấn đề nhạy
cảm, bức xúc, cấp bách cần giải quyết ngay với mục tiêu:
- Xử lý dứt điểm vụ khiếu nại kéo dài lên tất cả các cấp, các cơ quan có
thẩm quyền, đúng điểm dừng theo quy định của Luật khiếu nại, Luật Đất đai
hiện hành. (phải ban hành quyết định giải quyết cuối cùng).
11
- Việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn C phải đảm bảo
đúng pháp luật, hợp lý, hợp tình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những
người có liên quan nói chung, cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của ông
Nguyễn Văn C là người đang khiếu nại tiếp.
- Khắc phục tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất trong tình hình hiện
nay, nhằm đảm bảo tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực quản
lý và sử dụng đất đai, bảo vệ uy tín, củng cố lịng tin của cơng dân đối với
chính quyền địa phương các cấp.
- Xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với mọi hành vi vi phạm pháp
luật về đất đai, khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến
vụ việc khiếu nại kéo dài, phức tạp này.
- Thông qua việc giải quyết thấu tình đạt lý vụ việc khiếu nại của ông
Nguyễn Văn C trú tại xã Sơn Tây, huyện Hương Sơn để góp phần tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật về đất đai, khiếu nại đối với cá nhân ơng C
và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống
4.1. Căn cứ pháp lý
- Luật đất đai năm 1993, năm 2003, năm 2013;
- Luật khiếu nại năm 2011;
- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định
chi tiết một số điều Lật Khiếu nại;
- Thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa chính
về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn với đất.
4.2. Phương án giải quyết
Việc giải quyết khiếu nại địi hỏi phải được phân loại theo tính chất vụ
việc từ đơn giản đến phức tạp, để kịp thời có biện pháp giải quyết, xử lý phù
12
hợp. Do đó, khi giải quyết khiếu nại, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ
quan chức năng từng bước giải quyết dứt điểm, thấu đáo, phù hợp với các quy
định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Từ
những tình tiết vụ việc nêu trên, tôi xây dựng 02 phương án như sau:
* Phương án 1:
Trên cơ sở các tài liệu mà ông Nguyễn Văn C cung cấp liên quan đến đất
đai tại Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây, huyện Hương Sơn cùng với những quy định
pháp luật về đất đai và những quy định pháp luật khác có liên quan, UBND tỉnh
Hà Tĩnh ra quyết định thụ lý hồ sơ vụ việc, kiểm tra, xem xét quy trình cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa chỉ Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây của hộ bà
Nguyễn Thị H, trên cơ sở đó ban hành quyết định giải quyết khiếu nại.
- Ưu điểm phương án 1: Vụ việc được giải quyết bởi cơ quan cấp trên
của cơ quan ra quyết định hành chính, đảm bảo tính khách quan, minh bạch
trong việc ra quyết định giải quyết khiếu nại; đảm bảo quyền và lợi ích cơng
dân; xử lý nghiêm minh những sai phạm của tập thể cá nhân có liên quan đến
quá trình xét duyệt, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà
Nguyễn Thị H.
- Hạn chế của phương án 1: theo Luật khiếu nại, tại điều 18 quy định:
Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính của mình; Điều 21 quy định: Chủ tịch UBND cấp
tỉnh giải quyết lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
Chủ tịch UBND cấp huyện, giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần
đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa
được giải quyết. Xét thấy thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu chưa hết nên
nếu UBND tỉnh Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết là trái thẩm quyền, kết quả sẽ bị hủy
bỏ.
* Phương án 2:
UBND tỉnh Hà Tĩnh chuyển đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn C đến
UBND huyện Hương Sơn để UBND huyện biết và tiếp tục giải quyết khiếu nại
theo quy định, đồng thời thông báo cho ông Nguyễn Văn C biết về việc UBND
13
huyện Hương Sơn đang trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ việc. Trên cơ sở
hồ sơ, tài liệu đã được Thanh tra huyện, Phịng Tài ngun - Mơi trường và
UBND xã Sơn Tây thẩm tra, xác minh và có báo cáo, Chủ tịch UBND huyện
xem xét và ra quyết định giải quyết khiếu nại với nội dung như sau:
- Ông Nguyễn Văn C khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận cho hộ bà
Nguyễn Thị H tại địa chỉ Thơn Hà Chua, xã Sơn Tây trên phần diện tích đất mà
gia đình ơng C đã ở ổn đinhn từ năm 1998 đến nay là có cơ sở.
- Trong quá trình đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
bà H, công tác quản lý, kiểm tra của các cơ quan chức năng không chặt chẽ,
không thực hiện đầy đủ quy trình, thủ tục lập hồ sơ theo quy định dẫn đến việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà H trên thửa đất 162 chồng
lên phần diện tích đất của ơng Nguyễn Văn C đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 1998.
- Phịng Tài ngun và Mơi trường trong q trình thẩm định hồ sơ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà H đã thiếu chính xác về hiện
trạng sử dụng đất thực tế dẫn đến việc trình UBND huyện cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị H không đúng hiện trạng sử dụng đất.
- Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị H trên
phần diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận của ông C là sai. Đối chiếu
theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013, đề nghị thu hồi
và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà Nguyễn Thị H.
- Tổ chức kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân liên
quan trong việc xét duyệt, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ bà Nguyễn Thị H, Thôn Hà Chua xã Sơn Tây.
- Ưu điểm phương án 2:
+ Phương án này đảm bảo quyền và lợi ích của công dân;
+ Việc khiếu nại tiếp buộc phải dừng lại trước những quy định rõ ràng
của pháp luật, bớt đi một “gánh nặng” cho cơ quan quản lý nhà nước.
+ Giải quyết dứt điểm, triệt để, khách quan đúng quy định, chính xác về
nội dung khiếu nại của cơng dân cũng như các vấn đề khác có liên quan; được
14
chính quyền cơ sở, nhân dân địa phương đồng tình ủng hộ, góp phần xây dựng
trật tự an ninh - chính trị địa phương ổn định.
+ Việc kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với cá nhân, tập thể có liên
quan trong việc làm sai quy định pháp luật đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa,
nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước ở địa phương.
- Hạn chế của phương án 2: Sẽ làm phát sinh khiếu kiện về chia thừa kế
hoặc tranh chấp đất đai giữa các thành viên trong gia đình ơng K. Mặt khác,
việc giải quyết này chỉ đạt về lý nhưng chưa thấu về tình.
* Lựa chọn phương án xử lý tình huống: Trong hai phương án trên, tơi
chọn phương án là khả thì nhất, đúng với quy định pháp luật hiện hành, tránh
tình trạng khiếu nại vượt cấp, kéo dài, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
cơng dân, nâng cao cơng tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực khiếu nại, tố cáo và
quản lý, sử dụng đất đai..Còn phương án 1 khơng khả thì vì khơng đúng thẩm
quyền giải quyết.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã chọn
UBND huyện Hương Sơn ban hành quyết định về việc giải quyết khiếu
nại và tổ chức thực hiện như sau:
Phương án 1: Thu hồi giấy chứng nhận đất số DĐ 77143 đã cấp cho bà
Nguyễn Thị H có địa chỉ tại Thôn Hà Chua, xã Sơn Tây, huyện Hương Sơn
theo Quyết định số 176/2021/QĐ-UBND ngày 25/6/2021, kế hoạch thực hiện:
- Giao phịng Tài ngun và mơi trường huyện làm văn bản đề nghị
UBND xã Sơn Tây thực hiện nhiệm vụ mời hộ bà H lên làm việc để nộp lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được UBND huyện cấp tại địa chỉ Thôn
Hà Chua, xã Sơn Tây.
Bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm đến Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây để
nộp lại giấy chứng nhận đã được Ủy ban nhân dân huyện cấp theo quy định.
Nếu sau 03 lần mà Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây gửi giấy mời mà bà
Nguyễn Thị H không đến nộp lại giấy chứng nhận đã được Ủy ban nhân dân
huyện cấp, lập thành biên bản, Ủy ban nhân dân xã sẽ báo cáo Ủy ban nhân dân
huyện thơng qua Phịng Tài ngun và Mơi trường (có biên bản và giấy mời
15
kèm theo), để lập kế hoạch , tổ chức cưỡng chế việc thi hành quyết định theo
quy định của pháp luật.
- Sau khi thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ bà H,
giao cho phòng Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban nhân dân xã Sơn Tây lập
hồ sơ, xét duyệt để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng thực
trạng sử dụng đất.
Phương án 2: Tiến hành kiểm điểm, xử lý trách nhiệm đối với tập thể, cá
nhân có liên quan trong việc xét duyệt, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ bà H:
Giao phòng nội vụ kiểm tra, giám sát việc cá nhân, tổ chức Ủy ban nhân
dân xã Sơn Tây, Phịng Tài ngun và Mơi trường có liên quan đến việc xét
duyệt, cấp giấy chứng nhận cho bà H tiến hành kiểm điểm và có báo cáo về Ủy
ban nhân dân huyện.
Phương án 3: Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn tiến hành rút kinh
nghiệm:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn tiến hành rút kinh nghiệm
công tác quản lý đất đai trên địa bàn, có sự tham gia của cơ quan thanh tra, tài
ngun và mơi trường, địa chính xã Sơn Tây để đánh giá kết quả công tác quản
lý nhà nước về đất đai từ năm 1998 đến nay, rút ra những hạn chế, nguyên
nhân, bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý đất đai, đề ra biện pháp và
phương hướng khắc phục trong thời gian tới.
Phương án 4: Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh:
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Hương Sơn cần lập báo cáo kết quả giải
quyết khiếu nại đất đai của ông Nguyễn Văn C về trường hợp của bà Đinh Thị
C theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đồng thời, cần nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm tập thể và cá nhân
trong quá trình xét duyệt, trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ
bà H.
6. Kiến nghị và kết luận
6.1 Kiến nghị
16
Để công tác quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện có hiệu quả, hạn
chế các tranh chấp, vi phạm pháp luật về đất đai, qua tiểu luận tình huống kiến
nghị một số vấn đề như sau:
Một là, kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực cho cán bộ, công chức ở
cấp cơ sở trực tiếp thực hiện quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, ngoài việc sửa đổi, bổ sung các văn
bản pháp luật để xác định rõ hơn, đầy đủ hơn vị trí, vai trị, trách nhiệm của cán
bộ, cơng chức địa chính cấp cơ sở trong việc xét duyệt, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thì việc đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao năng lực
cho cán bộ, công chức địa chính để đủ khả năng hồn thành tổ nhiệm vụ được
giao là yêu cầu rất quan trọng.
Hai là, tổ chức tổ việc quán triệt các chủ trương, chính sách, pháp luật
vào thực tiến công tác giải quyết khiếu nại hành chính.
Cần tuyên truyền sâu rộng các quy định của pháp luật, các chủ trương,
chính sách của Đảng và nhà nước để người dân hiểu và thực hiện đúng, tránh
tình trạng khiếu nại tràn lan, thiếu căn cứ; hướng dẫn cán bộ, công chức quán
triệt đúng quy định, tinh thần cơ sở gần dân, có trách nhiệm với xã hội trong
tiếp dân, giải quyết khiếu nại.
Ba là, Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục về lĩnh vực
đất đai
Đối với chính quyền các địa phương cần tích cực tuyên truyền, phổ biến
rộng rãi trong nhân dân các thủ tục pháp lý liên quan đến việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt là đất ở và đất sản xuất nông nghiệp để người
dân chủ động đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố cần đôn đốc cơ quan có thẩm quyền ở cấp huyện và cấp xã
tích cực tổ chức, vận động nhân dân kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất để
tránh các tranh chấp phát sinh. Đồng thời, qua đó, các cấp chính quyền một lần
nữa có điều kiện kiểm tra lại tính xác thực của các hồ sơ địa chính được lưu giữ
tại cơ quan để kịp thời điều chỉnh cho khoa học, phù hợp với thực tế, đồng thời
17
quản lý tốt quỹ đất để thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại
từng địa phương.
6.2. Kết luận
Qua phân tích tình huống trên ta thấy các vấn đề liên quan đến đất đai đã,
đang và sẽ luôn là vấn đề nhạy cảm và phức tạp của đời sống xã hội nói chung.
Đặc biệt là những sai phạm trong việc ban hành quyết định hành chính về lĩnh
vực đất đai xảy ra ở hầu hết các địa phương và tính chất, mức độ, hậu quả của
nó ngày càng nghiêm trọng hơn đối với xã hội. Do đó, để hạn chế tình hình
khiếu nại đơng người, vượt cấp, kéo dài gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị địa phương do cơng tác quản lý Nhà nước về đất đai gây ra, trước hết
đội ngũ cán bộ cơng chức địa chính cấp cơ sở nói riêng, cán bộ, công chức tiếp
nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo nói chung cần được bồi dưỡng về
nghiệp vụ chuyên môn; nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thi hành công
vụ...; Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong việc chấp hành pháp luật
về lĩnh vực đất đai; Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về giải quyết
khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đất đai một cách thường xuyên, liên tục và rộng
rãi đến nhân dân./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật đất đai năm 1993;
2. Luật đất đai năm 2003;
3. Luật đất đai năm 2013;
4. Luật Khiếu nại năm 2011;
5. Nghị định số 75/NĐ-CP ngày Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày
03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Lật Khiếu nại;
6. Thơng tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục địa
chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất;
18
7. Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn với đất;
8. Tài liệu bồi dưỡng về quản lý nhà nước chương trình chun viên của
Trường Chính trị Trần Phú.
19