HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
VÀ VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT
NAM HIỆN NAY
Họ và tên học viên:
Mã số học viên:
Lớp:
Khóa học:
Hà Nội - 2022
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I.
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ CON
1.1.
1.2.
II.
NGƯỜI
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc con người
Quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người
VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI
2.1.
2.2.
VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhận thức về nhân tố con người ở nước nước ta hiện nay
Một số nội dung khơi dậy khát vọng con người Việt Nam
hiện nay
2.3.
Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
3
3
3
5
8
8
14
16
19
20
3
MỞ ĐẦU
Sự phát triển có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất những năm gần
đây dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm biến
đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới, tạo ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phát
triển của nhân loại, hình thành nền kinh tế tri thức. Sự phát triển không ngừng
của xã hội từ thời đại văn minh này sang thời đại văn minh khác đã đặt ra yêu
cầu khách quan về tầm quan trọng của vấn đề phát huy nguồn nhân lực trí tuệ
trong sự phát triển xã hội. Nếu nhìn lơgíc của quy luật phát triển, giữa trí tuệ
con người và sự phát triển xã hội có sự tác động biện chứng với nhau. Xã hội
phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần thì tất yếu sẽ kéo theo những biến đổi
trong ý thức và trí tuệ của con người từ thấp đến cao.
Vấn đề phát huy và sử dụng có hiệu quả nhân tố con người có vị trí, vai
trị đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức nói riêng
và đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Để phát huy và sử dụng
nguồn nhân lực có hiệu quả chúng ta phải hiểu được nguồn gốc, bản chất của
con người, hay chính là quán triệt những nguyên tắc cơ bản của triết học Mác
- Lênin về xây dựng con người. Mặt khác nhận thức được nội hàm, vị trí và ý
nghĩa quan trọng của vấn đề này, Đảng ta khẳng định phát huy vai trò nhân tố
con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Do đó,
nghiên cứu vấn đề “Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người và vấn
đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam hiện nay” làm chủ đề tiểu luận
có ý nghĩa quan trọng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Phân tích làm rõ quan điểm triết học Mác - Lênin về con người. Trên
cơ sở đó luận giải vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam hiện nay
dựa trên quan điểm của Đảng.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm rõ quan điểm triết học Mác - Lênin về con người.
- Vấn đề khơi dậy khát vọng con người Việt Nam hiện nay.
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm triết học Mác - Lênin về con người và vấn đề khơi dậy khát
vọng con người Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Tiểu luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề con người, xây dựng con người
mới xã hội chủ nghĩa và phát huy nguồn lực con người để hiện thực hóa khát
vọng xây dựng đất nước.
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác kết hợp với các phương
pháp nghiên cứu khác như nghiên cứu lý thuyết, phương pháp logic, phân
tích, tổng hợp, thống kê, mơ tả, so sánh...
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
* Ý nghĩa lý luận
Phân tích làm rõ bản chất kho học, giá trị của quan điểm triết học Mác Lênin về con người. Trên cơ sở đó luận giải vấn đề khơi dậy khát vọng con
người Việt Nam hiện nay nhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình
xây dựng đất nước.
* Ý nghĩa thực tiễn
Tiểu luận có thể làm tài liệu tham khảo cho các trường đại học, trung
tâm bồi dưỡng chính trị... nghiên cứu, vận dụng vào trong q trình giảng dạy.
Học viên, sinh viên có thể làm tài liệu tham khảo các môn học liên quan đến
chủ đề..
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
tiểu luận gồm 2 chương.
5
NỘI DUNG
I. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1.1. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về nguồn gốc con người
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết
học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội.
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm
của giới tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh
học, tính lồi. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định
sự tồn tại của con người. Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con
người” [1, tr.410]. Con người là một bộ phận của tự nhiên.
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của mn lồi, con người là sản
phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên. Con người
phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như
thức ăn, nước uống, hang động để ở. Đó là quá trình con người đấu tranh với
thiên nhiên, với thú dữ để sinh tồn. Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã
thay đổi từ vượn thành người, điều đó đã được chứng minh trong các cơng
trình nghiên cứu của Đácuyn. Các giai đoạn mang tính sinh học mà con người
đã trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi quy định bản tính sinh học
trong đời sống con người. Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh
vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con
người và mối quan hệ của nó với tự nhiên. Những thuộc tính, những đặc điểm
sinh học, quá trình tâm - sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên
bản chất sinh học của cá nhân con người.
Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy
nhất quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con
người với thế giới loài vật là mặt xã hội. Trong lịch sử đã có những quan niệm
khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử
dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội” [1, tr.411], hay con
6
người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì
nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên
được nguồn gốc bản chất xã hội ấy. Với phương pháp biện chứng duy vật,
triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong
toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất
ra của cải vật chất.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con
người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo,
nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng
việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con
người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con
người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình” [2, tr.118].
Thơng qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải
biến toàn bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, cịn con
người thì tái sản xuất ra tồn bộ giới tự nhiên” [3, tr.317].
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;
hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con
người. Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và
tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư
duy; xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành
bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong
cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người ln ln bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác
nhau, nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật
về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di
truyền, biến dị, tiến hoá… quy định phương diện sinh học của con người. Hệ
thống các quy luật tâm lý ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh
7
học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ
thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người.
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong
đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ giữa
sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và
nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái
sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị
tinh thần.
Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa
mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội
trong mỗi con người là thống nhất. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của
con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với
loài vật. Nhu cầu sinh học phải được nhân hoá để mang giá trị văn minh con
người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội khơng thể thốt ly khỏi tiền đề của nhu
cầu sinh học. Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo
thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội.
1.2. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về bản chất con người
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người
vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối
quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa
người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và
mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người.
Bởi vậy, để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
một mệnh đề nổi tiếng Luận cương về Phơbách: “Bản chất con người không
phải một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” [4, tr.530].
Luận đề trên khẳng định rằng, khơng có con người trừu tượng, thốt ly
mọi điều kiện, hồn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định,
sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định.
8
Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo
ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư
duy trí tuệ. Chỉ trong tồn bộ các mối quan hệ xã hội đó ( như quan hệ giai
cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã
hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý là luận điểm trên khẳng định bản chất xã hội khơng có
nghĩa là phủ định mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó
muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết
là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục thiếu sót của các nhà triết
học trước Mác khơng thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt khác, cái
bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ khơng thể là
cái duy nhất; do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng phong phú và đa
dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và lợi ích của mỗi cá nhân
trong cộng đồng xã hội.
Khơng có thế giới tự nhiên, khơng có lịch sử xã hội thì khơng tồn tại
con người. Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài
của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là
chủ thể của lịch sử - xã hội. C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật
chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo
dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính bản thân nhà giáo dục cũng cần phải
được giáo dục” [4, tr.531]. Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên.
Ph.Ăngghen cũng cho rằng: “Thú vật cũng có một lịch sử phát triển dần dần
của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy không phải
do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc làm ra lịch
sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và cũng không phải do ý
muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa
hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mình làm ra lịch sử một
cách có ý thức bấy nhiêu”. Như vậy, với tư cách là một thực thể xã hội, con
người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng
thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội. Thế giới loài vật dựa
9
vào những điều kiện có sẵn của tự nhiên. Con người thì trái lại, thơng qua
hoạt động thực tiễn của mình để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo
lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình. Trong quá trình cải biến tự
nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình. Con người là sản phẩm của
lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người,
vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội. Trên cơ sở
nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, con người thông qua hoạt động vật chất
và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu
và nhu cầu do con người đặt ra. Khơng có hoạt động của con người thì cũng
khơng tồn tại quy luật xã hội, và do đó, khơng có sự tồn tại của tồn bộ lịch sử
xã hội lồi người.
Khơng có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai
đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội. Do vậy, bản chất con người,
trong mối quan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi,
cũng phải thay đổi cho phù hợp. Bản chất con người khơng phải là một hệ
thống đóng kín, mà là một hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của
con người. Mặc dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trị tích
cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo. Thơng qua đó, bản
chất con người cũng vận động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng mỗi sự
vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy định tương ứng với sự vận động và
biến đổi của bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hồn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hồn cảnh đó
chính là tồn bộ mơi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo
khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục. Thơng qua đó con người tiếp cận hồn cảnh một
cách tích cực và tác động trở lại hồn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau:
hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử , hành vi con người, sự phát triển của
phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng con người
và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người.
10
II. VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1. Nhận thức về nhân tố con người ở nước nước ta hiện nay
Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Khát vọng là mong muốn, khao khát đến
mức da diết” [8, tr.512]. Còn Từ điển từ và ngữ Việt Nam thì “khát vọng” là
sự ao ước và trơng ngóng. Có thể hiểu “Khát vọng” là một trạng thái tinh
thần, phản ánh sự ước ao, mong muốn, đòi hỏi với một sự thơi thúc mạnh mẽ.
“Khát vọng” chính là nguồn động lực có sức mạnh vơ biên trong mỗi con
người, được thể hiện qua những hoạt động không ngơi nghỉ nhằm chiến thắng
bản thân, vượt lên hoàn cảnh để thực hiện ước mơ. “Khát vọng” của một dân
tộc là sự cộng hưởng những khát vọng vươn lên của mỗi con người trong
cộng đồng quốc gia - dân tộc, tạo thành nguồn năng lượng nội sinh to lớn,
sống động và sức mạnh vơ song vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tồn tại,
phát triển. Đối với Việt Nam, một dân tộc có truyền thống u nước, tự
cường, đồn kết, khát vọng về một quốc gia dân tộc độc lập, tự do và hạnh
phúc là một sức mạnh nội sinh phi thường, cội nguồn tạo nên những kỳ tích
trong suốt tiến trình hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước.
Việc nhận thức về khát vọng con người ở nước ta hiện nay phải dựa
trên cơ sở nhận thức đúng đắn về nhân tố con người. Nhân tố con người là sự
phát triển sáng tạo quan điểm Mác - Lênin về con người với tư cách là chủ thể
sáng tạo có ý thức của lịch sử. Đối với khái niệm nhân tố con người, đến nay
đã có nhiều học giả trong và ngồi nước đề cập với những góc độ, cách tiếp
cận khác nhau (có thể dưới góc độ quản lý, hay dưới góc độ phân tích tâm lý xã hội,...). Trong tài liệu triết học - xã hội về nhân tố con người cũng nổi lên
nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Quan niệm coi nhân tố con người như là hoạt động của những con
người riêng biệt, những năng lực và khả năng của họ do các nhu cầu và lợi ích
cũng như tiềm năng trí lực và thể lực của mỗi người quyết định. Bên cạnh đó
cũng có quan niệm coi nhân tố con người như là một tổng hòa các phẩm chất
11
thuộc tính, đặc trưng, năng lực đa dạng của con người, biểu hiện trong các
dạng thức hoạt động khác nhau.
Như vậy, cái chung trong các quan niệm này là coi nhân tố con người về
bản chất là nhân tố xã hội, quy định vai trò chủ thể của con người. Nhưng sự
khác nhau là, quan niệm thứ nhất lấy hoạt động làm đặc trưng cơ bản, còn
phẩm chất, năng lực được thể hiện trong hoạt động. Quan niệm thứ hai, lấy đặc
trưng cơ bản là những phẩm chất năng lực, cịn hoạt động là sự thể hiện nó.
Phát huy nhân tố con người là một tổ hợp thống nhất các quan điểm,
phương hướng, phương pháp, biện pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo
dục, quản lý... nhằm tạo ra tiền đề vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc hình
thành, phát triển, hiện thực hóa vai trị chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của
con người, hướng vào mục đích phát triển xã hội, phát triển con người.
Việc phát huy nhân tố con người không chỉ là khơi dậy, khai thác, sử
dụng tiềm năng sáng tạo của con người một cách tối đa, tạo ra động lực phát
triển kinh tế - xã hội, mà đồng thời còn là q trình đào tạo, bồi dưỡng, tạo
động lực kích thích phát triển và nâng cao khơng ngừng vai trị chủ thể tích
cực, tự giác, sáng tạo của con người với tư cách như là mục tiêu của sự phát
triển xã hội. Từ đó, có thể khẳng định: Phát huy nhân tố con người chính là
tạo cơ hội, điều kiện để sử dụng, bồi dưỡng, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần cần thiết để con người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động
và hoạt động sáng tạo nhằm thúc đẩy sự phát triển kỉnh tế - xã hội. Phát huy
nhân tố con người nói chung (theo nghĩa rộng) thường đề cập đến việc sừ
dụng con người, giáo dục, bồi dưỡng nguồn nhân lực và các chính sách, biện
pháp tạo động lực kích thích người lao động, làm cho các năng lực tiềm ẩn
được tỏa sáng thành hiệu quả kinh tế - xã hội; còn theo nghĩa hẹp, thường tập
trung vào việc tạo động lực kích thích để các tiềm năng được phát huy.
Xây dựng con người có ý nghĩa rất quan trọng quyết định sự thành
công của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
căn dặn: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người
xã hội chủ nghĩa” [6, tr.278]. Năm 2014, sau khi tổng kết 15 năm thực hiện
12
Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, Hội nghị Trung ương 9 khóa
XI của Đảng đã ban hành Nghị quyết 33-NQ/TW về ”Xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước” (Nghị quyết số 33), trong đó, đề cao việc phần xây dựng con người
phát triển toàn diện.
Bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống
và nhân cách. Đây là tư tưởng xuyên suốt trong chăm lo xây dựng con
người. Lấy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc là giá trị cơ bản, cốt lõi
đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước để xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc; lấy chuẩn mực đạo đức, lối sống và nhân cách làm thước đo
đánh giá con người trong quan hệ ứng xử với tự nhiên, xã hội, hướng tới giá
trị nhân văn.
Xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện mỹ. Sống trong thời đại cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng
quốc tế, đang diễn ra cuộc cách mạng 4.0, địi hỏi mỗi con người Việt Nam
phải có thế giới quan khoa học trong nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng
và xử lý các vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra. Vấn đề cốt lõi của thế giới
quan khoa học là tư tưởng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh làm nền tảng tư tưởng, trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận
thức và cải tạo thế giới. Muốn có thế giới quan khoa học, Đảng yêu cầu:
“Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập”.
Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là nhiệm vụ có tính
cấp thiết và thời sự đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đảng
đòi hỏi các nhà quản lý, giới khoa học nghiên cứu toàn diện, sâu sắc con
người Việt Nam trong lịch sử và hiện nay, đúc rút nêu ra một hệ giá trị chuẩn
của con người Việt Nam, làm cơ sở pháp lý trong tổ chức thực hiện và hướng
đích xây dựng con người phát triển toàn diện.
13
Xây dựng và phát huy lối sống “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì
mỗi người”; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường”. Đây là lối sống thể hiện bản
chất chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thể hiện mối quan hệ “cái chung” và
“cái riêng”, đặt “cái ta” lên trên “cái tôi”, đề cao trách nhiệm cá nhân đối với
bản thân, gia đình và xã hội. Từ đó, Đảng khẳng định trong xây dựng con
người phải: “Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng;
nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn”.
Xét đến cùng, văn hóa là nghệ thuật của cái đẹp, mọi hoạt động của văn
hóa đều vận động theo quy luật của cái đẹp. Muốn hiểu đúng cái đẹp cần phải
giáo dục để mọi người dân nhận biết đúng đắn chuẩn mực, giá trị của cái đẹp.
Đảng đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực
cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên”.
Xây dựng con người phát triển toàn diện, quy lại trong bốn giá trị cốt
lõi là Trí - Đức - Thể - Mỹ. Thực tiễn cho thấy thể lực, tầm vóc, sức dẻo dai
của con người Việt Nam cịn hạn chế. Do vậy, Đảng chủ trương: “Nâng cao
thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri
thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Xây đi đôi với chống. Xây dựng phẩm chất tốt đẹp, nhân cách nhân ái,
cao thượng, bao dung, thân thiện của người Việt Nam đồng thời với đấu tranh
với mọi biểu hiện cản trở, làm tha hóa nhân cách, lối sống tốt đẹp của con
người. Đảng đề ra nhiệm vụ: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác,
thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng
xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp khắc
phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”.
Những nhiệm vụ cụ thể nêu trên trong Nghị quyết số 33 là những chỉ
dẫn rất quan trọng để cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân căn cứ
vào đó xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Thành tựu của 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đất nưốc đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn
14
diện so với những năm trước đổi mới. Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng
hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Quy mơ, trình độ nền kinh tế
được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện
rõ rệt. Đây là là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt
Nam và xu thế phát triển của thời đại. Đây không chỉ là niềm tự hào, là động
lực, nguồn lực quan trọng, mà cịn là niềm tin để tồn Đảng, tồn dân và toàn
quân ta bước vào giai đoạn cách mạng mới sâu sắc hơn, toàn diện hơn và
mạnh mẽ hơn để phát triển nhanh và bền vững đất nước. Việc đẩy mạnh mở
của và hội nhập quốc tế bằng hoạt động đối ngoại tích cực, độc lập và tự chủ
đã cho phép chúng ta tiến cùng thời đại, nắm bắt, dự báo, tiếp cận được những
xu thế phát triển và những giá trị phổ quát của nhân loại. Những thành tựu đó
tạo nền tảng vững chắc để khẳng định “khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc” của Văn kiện Đại hội XIII của Đảng không phải là một
huyễn tưởng xuất phát từ ngẫu hứng chủ quan, duy ý chí, mà là một khát vọng
bắt nguồn từ niềm tin vững chắc vào cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín của đất
nước, vào bản lĩnh và những kinh nghiệm dày dạn mà Đảng, nhân dân ta
trong thực tiễn lao động. Đó là khát vọng được bồi đắp trên cơ sở phân tích,
dự báo kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời,
tỉnh táo cân nhắc, tính tốn những khó khăn, thách thức bên ngồi, những yếu
kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua.
Trên cơ sở đánh giá khách quan, toàn diện thành tựu của 35 năm đổi
mới đất nước và khẳng định những kết quả đó “là niềm tự hào, là động lực,
nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt
qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới
toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước” [5, tr.92]. Bên
cạnh đó, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn,
thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp
hơn đối vối sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, địi hỏi tồn Đảng, tồn
15
dân và toàn quân phải tiếp tục đổi mối mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị
cao, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc bằng khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc từ tinh thần yêu nước và sức
mạnh đoàn kết dân tộc.
Lấy “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” là mẫu số
chung để khơi dậy tinh thần yêu nước của mỗi người dân, xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết dân tộc quanh Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời tôn trọng
những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc.
Muốn vậy, trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức quan điểm: đại đoàn kết
là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là
Đảng Cộng sản. Đó là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, là nhân tố bảo đảm
thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nâng cao hiệu
quả tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần xây dựng Đảng
và chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh thực hiện các cuộc
vận động, phong trào thi đua yêu nước, tổ chức động viên nhân dân tham gia
các phong trào thi đua làm kinh tế giỏi, phát triển kinh tế gắn liền với phát triển
văn hoá - xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động
nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, khơng để bị động, bất ngờ. Kiên
quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc đi đơi vối giữ vững mơi trường hịa bình, ổn định để phát triển
đất nước. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở
giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Nhiệm kỳ Đại hội XIII là một dấu mốc, một bước chuyển hết sức quan
trọng, làm tiền đề cho các nhiệm kỳ tiếp theo để thực hiện thắng lợi mục tiêu
chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với mục
tiêu cụ thể “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [5, tr.99]. Phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần
yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát
vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy tối đa nội lực, tranh
16
thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là
quan trọng nhất.
2.2. Một số nội dung khơi dậy khát vọng con người Việt Nam hiện nay
Để khơi dậy khát vọng con người hiện nay cần phải tiếp tục hoàn thiện
thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình và
nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất lao động và sức cạnh tranh
của nền kinh tế theo hướng kết hợp tăng trưởng kinh tế đi liền với thực hiện
tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường. Phát huy nhân tố con người
thực chất là chăm lo tạo ra những điều kiện cần thiết để mỗi người, mỗi cộng
đồng người thể hiện tối đa năng lực của mình trong lao động, trong hoạt động
sáng tạo nhằm đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội vì hạnh phúc của mỗi
con người. Thực tiễn đã chứng minh, những chính sách kinh tế của Đảng và
Nhà nước ta trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên động lực kinh tế
giải phóng sức sản xuất, trực tiếp thúc đẩy kinh tế phát triển, sự phát triển của
nhiều thành phần kinh tế, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường tạo ra
nhiều ngành, nghề mới, thị trường mới, đó là cơ sờ, điều kiện thuận lợi để
phát huy nhân tố con người. Bên cạnh đó, việc thực hiện tiến bộ và cơng bằng
xã hội với nội dung cốt lõi là công bằng trong phân phối, công bằng giữa cổng
hiến và hưởng thụ là một khía cạnh cần được quan tâm giải quyết.
Để khơi dậy khát vọng con người hiện nay phải giải quyết hài hịa các
quan hệ lợi ích chính đáng, hợp pháp được pháp luật và xã hội thừa nhận, tạo
động lực cho con người. Lợi ích chính là điểm mẩu chốt, là một trong những
động lực hàng đầu nhằm phát huy nhân tố con người. Trong thực tiễn cách
mạng trước đây, do nhu cầu giải phóng dân tộc nổi lên hang đầu nên lợi ích
tồn dân tộc phải được đặt lên trên hết trong giải quyết mọi mối quan hệ lợi
ích. Tuy nhiên, khi đất nước hịa bình, các nhu cầu và lợi ích chính đáng của
người dân cần được tơn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn. Đó chính là việc
quan tâm, giải quyết tốt vấn đề lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao
động; hạn chế, loại bỏ các hình thức thu nhập bất chính, triệt tiêu động lực
của người lao động, thực hiện công bằng về cơ hội, tạo môi trường cạnh tranh
17
lành mạnh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong thực tể hiện nay, vấn
đề giải quyết hài hịa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích tồn
xã hội, giữa lợi ích trực tiếp trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất
với lợi ích tinh thần đang được đặt ra và khơng dễ tìm được sự đồng thuận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chỉ dẫn cụ thể đối với đội ngũ cán bộ,
đảng viên: “... mỗi người trong Đảng phải hiểu rằng: lợi ích của cá nhân nhất
định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải
phục tùng lợi ích của tồn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi
ích lâu dài... Nếu gặp lợi ích chung của Đảng mâu thuẫn với lợi ích riêng của
cá nhân, thì phải kiên quyết hy sinh lợi ích của cá nhân cho lợi ích của Đảng”
[7, tr.316].
Để khơi dậy khát vọng con người hiện nay phải tạo lập mơi trường,
chính trị, văn hóa, xã hội lành mạnh, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống
tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước. Việc con người có
thể phát huy mạnh mẽ năng lực hành động tự do sáng tạo đến đâu phụ thuộc
vào bản chất của chế độ xã hội. Trong hiện thực cụ thể, điều ấy phụ thuộc trực
tiếp trước tiên vào tổ chức hoạt động của bộ máy chính trị. Vì thế, việc xây
dựng bộ máy chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, ở Việt Nam hiện nay,
bên cạnh sự ổn định chính trị, cần tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, tổ chức bộ máy Chính phủ tinh gọn, xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Để khơi dậy khát vọng con người hiện nay phải tiếp tục nâng cao hiệu
quả, đổi mói giáo dục - đào tạo, phát triển khoa học - công nghệ theo hướng
đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Thực hiện triết lý giáo dục học hiện đại, với bổn
trụ cột: học đểbiết\ học để làm; học để cùng chung sống và học để làm người.
Triết lý này cho thấy, mục đích của giáo dục, một mặt là nâng cao trình độ
nhận thức, mặt khác là rèn luyện kỹ năng, hoàn thiện nhân cách cho đổi tượng
được giáo dục. Muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của con
người trong nhận thức và hành động, muốn năng lực của con người tỏa sáng
thì con người cần được giáo dục - đảo tạo. Vì thế, ngày nay, cùng với việc đổi
18
mới công nghệ phải chú ý đổi mới công tác giáo dục, với phương châm:
“Giáo dục cái mà đất nước cần, chứ khơng phải giáo dục cái mà ta có”. Mặt
khác, giáo dục tồn diện: giáo dục chính trị, giáo dục lao động nghề nghiệp,
giáo dục đạo đức phải sử dụng nhiều hỉnh thức giáo dục - đào tạo đa dạng,
phong phú, tạo điều kiện cho con người tự giác, tự giáo dục, chủ động sáng
tạo. Đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cơ bàn, đầu tư cho tái sản xuất sức
lao động, đầu tư cho tương lai.
Để khơi dậy khát vọng con người hiện nay phải giải quyết tốt mối quan
hệ giữa giáo dục - đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động. Năng
lực con người muốn có cần được giáo dục - đào tạo, muốn tỏa sáng cần được
sử dụng, muốn thăng hoa, phát triển cần có động lực qua các chính sách đãi
ngộ thỏa đáng. Thực tế thời gian vừa qua, nhiều người trong độ tuổi lao động
khơng tìm được việc làm, trong số đó có một lực lượng khơng nhỏ đã qua đào
tạo; trong số lao động đã qua đào tạo không phải ai cũng làm việc đúng ngành
nghề chun mơn; tình trạng làm ừái ngành, trái nghề khơng phải là cá biệt.
Có thể nói, việc sử dụng khơng họp lý lao động nói chung đã là một sự lãng
phí, song sử dụng khơng họp lý lao động đã qua đào tạo thì mức độ lãng phí
cịn lớn hon nhiều. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập, đến đời sống
mà đó cịn là sự lãng phí nguồn tài nguyên quý giá nhất trong mọi nguồn vốn
chúng ta đang có để phát triển kinh tế. Thực tế này có nhiều nguyên nhân ở
từng khâu và cả trong tổng thể hệ thống liên kết chặt chẽ giữa các khâu trong
hệ thống. Điều này cần được điều chỉnh, thể hiện thống nhất trong chủ trương
của Đảng, hệ thống chính sách của Nhà nước và cần được truyền thông rộng
rãi đến nhận thức và hành động của mọi người trong xã hội.
2.3. Liên hệ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là địa phương luôn dẫn đầu cả nước trong quá trình phát
triển. Để đạt được kết quả đó, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh luôn quan tâm phát
triển con người, lấy con người làm trung tâm, đó là phát triển của con người,
vì con người và do con người. Phát triển của con người cũng có nghĩa là đầu
19
tư vào phát triển tiềm năng của con người như giáo dục, y tế, kỹ năng… để
con người có thể làm việc một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất. Phát
triển do con người là hướng vào việc tạo cho con người có cơ hội tham gia
vào mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội).
Như vậy, mục tiêu của sự phát triển khơng chỉ là phát triển xã hội mà
chính là phát triển con người, là cần phải tạo ra một môi trường đảm bảo cho
con người phát huy khả năng sáng tạo, được hưởng một cuộc sống khoẻ
mạnh, được học hành, các quyền tự do chính trị, quyền con người và cá nhân
được bảo đảm.
Xác định việc xây dựng con người trong giai đoạn mới với tư tưởng,
đạo đức và lối sống lành mạnh là lĩnh vực then chốt, tỉnh Quảng Ninh đã và
đang chú trọng thực hiện nhiệm vụ này. Trong suốt 15 năm qua, các phong
trào thi đua yêu nước, hướng về cội nguồn như “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xóa đói
giảm nghèo”, “Giúp đỡ người tàn tật, trẻ em cơ nhỡ”, “Ông bà, cha mẹ mẫu
mực, con cháu hiếu thảo”… được phát động và tổ chức rộng khắp, được đơng
đảo nhân dân hưởng ứng nhiệt tình. Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái
của con người Vùng mỏ ngày càng được khẳng định và phát huy, nhiều nét
mới trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình thành.
Ngày càng xuất hiện nhiều gương người tốt, việc tốt, nhiều điển hình tiên tiến.
Bên cạnh đó, quán triệt sâu sắc việc xây dựng đời sống văn hóa và mơi trường
văn hóa là nhiệm vụ quan trọng, gắn với việc xây dựng con người phát triển
tồn diện, các cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan, đồn thể, các địa phương
trong tỉnh đã khuyến khích, tạo điều kiện cho nhân dân được tổ chức và tham
gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, hình thành truyền thống xã hội tốt đẹp. Qua
đó đã góp phần thiết thực vào đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, củng cố khối
đại đoàn kết dân tộc, giáo dục nhân cách, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa
trong nhân dân.
20
Trên cơ sở xác định rõ các tiềm năng, cơ hội và những lợi thế khác biệt
của văn hóa, con người, trong đó xác định văn hóa, con người là nền tảng tinh
thần vững chắc của xã hội; là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, là sức
mạnh nội sinh quan trọng phục vụ cho sự phát triển bền vững của tỉnh, năm
2018, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 11 “Xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững”. Sau thời gian thực hiện, có 6 mục tiêu hồn thành như: 100% các địa
phương xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án gìn giữ, bảo tồn và phát huy
bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp, từng bước loại bỏ các hủ tục. 100% các
cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị xây dựng và thực hiện tốt quy định cụ
thể về văn hóa cơng sở, kỷ luật, kỷ cương. 100% các khu dân cư có và thực
hiện tốt hương ước, quy ước nếp sống văn minh phù hợp với truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và tuân thủ quy định của pháp luật. 100% công chức nhà
nước cấp tỉnh và cấp huyện ở khu vực đơ thị dưới 50 tuổi có khả năng sử
dụng thành thạo máy tính và áp dụng kỹ năng tin học vào xử lý công việc trực
tiếp. 100% thanh, thiếu nhi trong các trường học được giáo dục về giá trị lịch
sử - văn hóa truyền thống, kỹ năng sống, giao tiếp, ứng xử.
Nhờ những chính sách đúng đắn, khơi dậy khát vọng con người, tỉnh
Quảng Ninh ln giữ vững vị trí trong nhóm 5 địa phương đứng đầu cả nước
về chỉ số phát triển con người. Những kết quả đó đã tác động tích cực và tạo
sức mạnh tổng hợp để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của tỉnh trong thời
gian qua. Tỉnh tiếp tục tập trung xây dựng con người Quảng Ninh phát triển
toàn diện trên cơ sở tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đặc trưng của con người
năng động - sáng tạo - hào sảng - lành mạnh - văn minh - thân thiện; tăng
cường tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống văn minh, truyền thống văn
hóa dân tộc, ý thức tuân thủ pháp luật; tôn trọng đạo lý “uống nước nhớ
nguồn”, “tương thân tương ái” cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ; tuyên
truyền giáo dục ý thức văn minh sinh thái cho người dân của tỉnh, du khách
tạo lập, hình thành lối sống thân thiện với mơi trường.
21
22
KẾT LUẬN
Con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là con người
hoàn chỉnh phát triển toàn diện trong hiện thực, đây chính là một bước chuyển
biến về chất trong nhận thức về con người của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nó
là cơ sở nghiên cứu những điều kiện, con đường đúng đắn để đi đến giải
phóng con người. Đồng thời là cơ sở để Đảng ta đề ra những chủ trương,
chính sách phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trí tuệ trong nền
kinh tế tri thức - yếu tố đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh
vượng của đất nước.
Chính vì vậy, để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải phát triển lực phát triển nhân tố con
người - nguồn nhân lực là quan trọng và quyết định. Bên cạnh đó, xây dựng,
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bền vững cần phải được
xác định là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách vừa có tính chiến lược nhằm đảm
bảo tính ổn định của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Với quan
điểm và chiến lược đúng đắn, chắc chắn tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sẽ
có bước phát triển vượt bậc trong thời gian tới, góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
2. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 34, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
3. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 35, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
4. C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh, tồn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011.
7. Hồ Chí Minh, tồn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà
Nội, 2011.
8. Trung tâm ngôn ngữ học, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 1994.