Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

tiểu luận quan điểm triết học mác lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc này trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên và trong sự nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (259.61 KB, 18 trang )

TRƯỜNG
----------

MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
ĐỀ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN
TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA
NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP
CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GIẢNG VIÊN GIẢNG DẠY:
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN:
MÃ HỌC VIÊN:
NGÀNH:

- 2022


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1.
1.1.
1.2.
1.3.
Chương 2.


2.1.
2.2.

1
2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM
TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Phạm trù lý luận
Phạm trù thực tiễn
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP
LUẬN CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC
SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN THÂN SINH VIÊN
VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc
này trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên
Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc
này trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

2
2
2
4

8

8
10
15
16


1

MỞ ĐẦU
Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là cơ sở lý luận cho việc xác định nội dung nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, suy cho cùng thì cơ sở của nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là mối liên hệ hiện thực, thực tế giữa thực
tiễn và lý luận. Một khi nhận thức, lý luận đã xuất hiện và tỏ rõ vai trị khơng
thể thiếu của nó đối với thực tiễn thì người ta phải ý thức được mối liên hệ hữu
cơ của nó với thực tiễn và như thế đưa đến hình thành những quan điểm,
nguyên tắc cho hoạt động. Như vậy, những quan điểm, nguyên tắc không chỉ
được hình thành trên cơ sở thực tiễn, mà cịn phải phục tùng những mục đích,
điều kiện thực tiễn của con người.
Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn là nguyên tắc của nhận thức khoa học nói chung, nằm trong hệ
thống phương pháp luận triết học duy vật biện chứng, khoa học chung nhất về
tự nhiên, xã hội và tinh thần. Do đó, nội dung này có ý nghĩa phổ biến đối với
mọi nhận thức khoa học, kể cả bản thân triết học. Nó phụ thuộc vào lập
trường, lợi ích giai cấp, nói khác đi, nó khơng mang tính giai cấp. Nhà khoa
học hay bất kỳ người hoạt động lý luận nào đều phải tính đến nội dung này
trong hoạt động của mình, cũng giống như họ vận dụng các nội dung khác của
chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nghiên cứu nghiên tắc này có ý nghĩa quan
trọng trong q trình đổi mới, hội nhập ở nước ta hiện nay. Do đó, nghiên cứu
vấn đề “Quan điểm triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý

luận và thực tiễn. Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc
này trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên và trong sự nghiệp đổi
mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc.


2

NỘI DUNG
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TRIẾT
HỌC MÁC - LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Phạm trù lý luận
Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực
khách quan vào trong bộ não con người. Cho nên, bản chất của lý luận là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Nhận thức là cả một quá trình biện
chứng từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nơng cạn đến sâu sắc,
từ hiện tượng đến bản chất … Đúng như V.I.Lênin nhận xét: “Trong lý luận
nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học cần suy luận
một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức chúng ta là bất di
bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự hiểu biết như thế nào, sự hiểu
biết không đầy đủ và khơng chính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn như
thế nào” [6, tr.117].
Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất
phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vịng khâu và hình thức khác
nhau. Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà q trình đó được phân chia thành
nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là
trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của q trình nhận thức. Nó được
thể hiện ở ba hình thức cơ bản là cảm giác, tri giác và biểu tượng. Xét về bản
chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh

những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan, lý
luận được hình thành khơng phải nằm ngồi thực tiễn mà trong mối liên hệ
với thực tiễn.
1.2. Phạm trù thực tiễn
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen “Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có
mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã
hội và bản thân con người” [1, tr.201].


3

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh
thần. Thực tiễn là hoạt động vật chất. Hoạt động vật chất là những hoạt động
mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất
định nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người. Con người sử dụng các
phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác
nhau tuỳ thuộc mục đích của con người. Kết quả của quá trình hoạt động thực
tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá
nhân và cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động sáng tạo, là hoạt
động được đối tượng hoá, là q trình chuyển hố cái tinh thần thành cái vật
chất. Bởi hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể
trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó nhận thức
khách thể. Vì vậy thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức con người với
thế giới bên ngoài. Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của
con người. Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một
cách thụ động với thế giới bên ngồi thì con người nhờ vào thực tiễn như là
hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để cải tạo thế giới nhằm thoả
mãn nhu cầu mình thích nghi một cách chủ động tích cực với thế giới và làm
chủ thế giới. Để thoả mãn nhu cầu của mình con người phải tiến hành sản

xuất ra của cải vật chất để ni sống mình và nhờ đó con người tạo nên những
vật phẩm vốn khơng có sẵn trong tự nhiên. Như vậy, khơng có hoạt động thưc
tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được.
Vì vậy có thể nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người
và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người
và thế giới. Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ
diễn ra trong một giai đoạn nhất định nào đó. Nó có q trình hình thành phát
triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, khơng có hoạt động


4

thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối
của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phương tiện cũng như mục đích
hoạt động.
Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia làm ba hình
thức cơ bản là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt
động thực nghiệm khoa học. Ngồi các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên,
cịn có các hoạt động phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế,
giáo dục,… các loại hoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch
sử xã hội lồi người, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng
hoạt động thực tiễn của con người.
1.3. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. Giữa lý
luận và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn
từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự
nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thể hiện:
* Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực

tiễn. Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại
và phát triển xã hội. Lý luận khơng có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng
là phục vụ thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là ln ln gắn liền với thực
tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến.
* Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp
vô sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó
được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay khơng? Sự phát triển của lý
luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn khơng tách rời
lý luận, khơng thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận.


5

Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri
thức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan,
từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt
động thực tiễn. Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ
đó có thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập.
* Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần
tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì
chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự thống nhất đó
là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác - Lênin.
Thực tiễn khơng có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi
nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần V.I.Lênin nhắc đi nhắc lại
rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành
động cách mạng, và lý luận khơng phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính
sáng tạo. Lý luận ln ln cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra

từ trong thực tiễn sinh động.
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận: Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là
mục đích và tiêu chuẩn của lý luận, lý luận hình thành, phát triển phải xuất
phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Thực tiễn là cơ sở của lý luận.
Xét một cách trực tiếp, những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả
của quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Thơng qua kết quả hoạt động
thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc,
tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức
thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa trình hoạt động thực tiễn cịn là cơ sở để
bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã đựơc khái quát. Mặt khác, hoạt động
thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình


6

nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thơng qua đó, lý luận được bổ sung, mở
rộng. Chính vì vậy, V.I.Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể
trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ tồn diện của nó, trong sự vận
động mâu thuẫn của nó, tự nó và vì nó” [7, tr.527].
Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ là
nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà cịn góp phần hồn thiện các mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm
phương pháp cho hoạt động. Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng
kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Q trình
đó diễn ra khơng ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận ngày
càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động con người không
bị hạn chế trong không gian và thời gian. Thơng qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy
một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận.
Thực tiễn là mục đích của lý luận. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý
luận. Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực

khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận
đối với hoạt động thực tiễn của con người. Do đó, mọi lý luận phải thơng qua
thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C.Mác nói: “vấn đề tìm hiểu tư duy
của con người có thể đạt đến chân lý khách quan khơng hồn tồn khơng phải
là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con
người phải chứng minh chân lý” [2, tr.210]. Thông qua thực tiễn những lý luận
đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại; những kết luận
chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá trị
của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn: Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý
luận phải được vận dụng vào thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong


7

thực tiễn. C.Mác đã từng nói, người thợ xây khơng bao giờ tinh xảo như con
ong xây tổ nhưng người thợ xây hơn hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng
một cơng trình họ đã hình thành được hình tượng của cơng trình ấy trong đầu
họ. Tức là hoạt động của con người là hoạt động có ý thức. Ban đầu hoạt động
của con người chưa có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp
ứng nhu cầu tồn tại của mình. Thơng qua đó, con người khái quát thành lý
luận. Từ đó những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải
có lý luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thàng tự giác,
có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn.
Lý luận đóng vai trị soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định
hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo
được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo
được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong
q trình hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động
hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt

động của con người. Mặt khác lý luận cịn có vai trị giác ngộ mục tiêu, lý
tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của
quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội. Chính vì vậy, C.Mác đã
khẳng định “vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật chất,
nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào
quần chúng” [3, tr.180].
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con
người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong
phú nhưng khơng phải khơng có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn
được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận khơng chỉ là


8

phương pháp mà còn là định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định
hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối
quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Không những thế, lý luận cịn định hướng
mơ hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn,
trước hết từ lý luận để xây dựng mơ hình thực tiễn theo những mục đích khác
nhau của q trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ lực lượng
tiến hành và những phát sinh của nó trong q trình phát triển để phát huy các
nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn.
Chương 2. SỰ VẬN DỤNG Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
CỦA NGUYÊN TẮC NÀY TRONG CUỘC SỐNG, HỌC TẬP CỦA BẢN
THÂN SINH VIÊN VÀ TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1. Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc này
trong cuộc sống, học tập của bản thân sinh viên
Trong quá trình học tập, sinh viên phải nắm vững mục tiêu, yêu cầu và

nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, có động cơ học tập đúng đắn; tham gia một cách
chủ động, tích cực vào mọi khâu của quá trình giáo dục, đào tạo. Để nâng cao
chất lượng tự học môn Triết học Mác - Lênin của sinh viên, bên cạnh những
kinh nghiệm của mỗi cá nhân thì cần có những buổi trao đổi nhóm, những
buổi tọa đàm về các nhóm đề tài, chuyên đề, phương pháp tự học khoa học, từ
đó mỗi sinh viên vận dụng, học tập nâng cao chất lượng tự học nhằm đạt kết
quả và chất lượng cao. Cụ thể là: Thường xuyên ôn luyện kiến thức bài học
cũ, chuẩn bị tốt nội dung bài học mới. Tập trung chú ý nghe giảng, truyền
cảm hứng cho từng bài học. Tăng cường trao đổi, thảo luận, học tập nhóm về
nội dung bài học và những vấn đề lý luận hoặc thực tiễn liên quan. Chú trọng
đọc sách và tài liệu tham khảo, thường xuyên liên hệ lý luận với thực tiễn. Thi


9

và kiểm tra là thước đo đánh giá trình độ của sinh viên, giúp sinh viên rèn
luyện phương pháp, bản lĩnh trước mỗi vấn đề phải giải quyết…
Thanh niên, sinh viên cần phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý
luận chính trị, bồi đắp tư tưởng cách mạng trong sáng. Phải có lập trường tư
tưởng vững vàng, có lịng u nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và
sự nghiệp mới. Tích cực tham gia vào các cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà
nước, đấu tranh chống tham nhũng, tệ nạn xã hội...
Luôn học tập tốt để nâng cao trình độ văn hóa, chun mơn, kỹ thuật và
tay nghề. Cần tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Tự nguyện, tự giác tham gia vào các hội
của sinh viên, phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên xuất sắc.
Bên cạnh đó, thanh niên, sinh viên cần phải tích cực tham gia vào việc
xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành,
sạch đẹp. Tích cực tham gia phịng chống ơ nhiễm mơi trường, suy thối mơi
trường và ứng phó với biến đổi khí hậu tồn cầu.

Cần phải xung kích đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phịng an ninh. Tích cực tham gia các chương trình, dự án của
địa phương; tự nguyện, tự giác tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, tham gia
các hoạt động bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự an tồn xã hội.
Thời gian qua, nhiều phong trào lớn của tuổi trẻ đã thu hút hàng ngàn
sinh viên thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đất nước. Do vậy thanh
niên, sinh viên cần tích cực tham gia các chương trình “Học tập rèn luyện vì
ngày mai lập nghiệp” thơng qua các hình thức học tập kết hợp với nghiên cứu
khoa học, tham gia phong trào trí thức trẻ tình nguyện xóa đói giảm nghèo,
xây dựng nơng thơn mới, chương trình xóa cầu khỉ xây dựng hàng nghìn cầu
kiên cố cùng nhiều cơng trình trọng điểm Nhà nước, xây dựng các “Làng sinh
viên lập nghiệp”...


10

Nghiên cứu vấn đề trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi chúng ta,
nhất là thanh niên, sinh viên - chủ nhân tương lai của đất nước. Trách nhiệm
của mỗi thanh niên, sinh viên hiện nay chính là trách nhiệm trong học tập.
Kiến thức rất bao la, không gói gọn trong bài giảng của thầy, trong học tập
nhiệm vụ của mỗi thanh niên, sinh viên là phải chú tâm, biết nghiên cứu, tìm
tịi, khám phá những cái mới, phương pháp học tập của sinh viên khác với
phương pháp học tập của học sinh phổ thông. Mặt khác, cách học và đạo đức
trong việc học có ý nghĩa rất lớn, học phải đi đôi với hành, biết vận dụng kiến
thức được học vào đời sống, để làm cuộc sống ý nghĩa hơn. Không học vẹt,
học qua loa cho xong, vì đó chính là cách học khơng biết khơi sáng ngọn lửa
tri thức mà dần dần sẽ giết chết tri thức.
2.2. Sự vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc này
trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Đứng trước vơ vàn những khó khăn có thể ảnh hưởng tới việc tiếp tục

thực hiện mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã lựa chọn, với thái độ
nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật tình hình trong nước, Đảng ta đã
có những đánh giá hết sức khách quan, nghiêm túc và thẳng thắn về tình hình
mọi mặt của đất nước. Bằng sự đồn kết, quyết tâm đưa đất nước ta thốt khỏi
khó khăn, dưới ánh sáng của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta đã có sự nhận thức lại, đổi mới tư duy cho phù hợp với thực
tiễn tình hình đất nước và bối cảnh quốc tế. Chính từ sự nhận thức và đổi mới
tư duy đó, Đảng ta đã chủ trương thực hiện đổi mới toàn diện đất nước đặc
biệt trên hai lĩnh vực kinh tế và chính trị. Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ
VI của Đảng đánh dấu bước chuyển căn bản trong cơng cuộc đổi mới tồn
diện đất nước.
Xét về tổng thể, công cuộc đổi mới ở nước ta bắt đầu từ đổi mới tư duy
lý luận chính trị của Đảng trong nhận thức, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và


11

con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, từ đó tìm kiếm, xác định mơ hình phát
triển đất nước phù hợp với điều kiện lịch sử nước ta và điều kiện thời đại mới.
Đổi mới tư duy là tiền đề đổi mới trong hiện thực. Nếu không thực hiện sự
đổi mới này thì khơng thể vượt qua được những hạn chế trong nhận thức và
quan niệm cũ về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ, không thể chủ động,
sáng tạo, mạnh dạn thực hiện những đổi mới khác, trước hết trên lĩnh vực
kinh tế. Nhờ đổi mới tư duy lý luận - chính trị, chúng ta nhận thức ngày càng
rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức
là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng
tầng tư bản chủ nghĩa, những tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là khoa học và công nghệ
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại, xác
định việc nước ta tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ gián tiếp, lâu dài,

với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất
q độ.
Đại hội VI chúng ta nhận thức được rằng, chủ nghĩa xã hội không loại
trừ, không đối lập với kinh tế thị trường, trái lại cần thiết phải phát triển kinh
tế thị trường, tận dụng những ưu thế của nó để phát triển lực lượng sản xuất,
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, bắc những nhịp cầu trung gian để đến chủ
nghĩa xã hội. Có thể nói, tại Đại hội VI đặc biệt là Hội nghị Trung ương 6
(khố VI), Đảng đã có bước phát triển quan trọng trong nhận thức lực lượng,
coi “chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu
dài”. Chính sách này cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế với quy mơ và
trình độ kỹ thuật thích hợp trong từng khâu của q trình sản xuất và lưu
thơng nhằm khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế. Chính sách
đó là “sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành
phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” [4, tr.56-57].


12

Từ đổi mới về lý luận, thực tiễn nền kinh tế của chúng ta đã chuyển từ
cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý kinh tế
thị trường. Điểm nổi bật là chúng ta đã từng bước xoá bỏ cơ chế quản lý tập
trung quan liêu bao cấp hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế thị trường
đòi hỏi sự thừa nhận cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy phát triển sản xuất
nhưng đồng thời cũng dẫn đến sự chênh lệch thu nhập, phân hoá giàu nghèo.
Đây chính là mặt trái của nó mang đến địi hỏi Nhà nước phải có sự quản lý
theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm giữ cho nền kinh tế không bị chệch
hướng khỏi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn.
Có thể nói rằng đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội là một sự
sáng tạo của Đảng ta, nó phù hợp với thực tiễn, phù hợp với trình độ phát

triển và xu thế phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta, do đó nó góp phần
giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, góp phần tích cực đưa đất nước ta
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội theo mơ hình cũ.
Nó vừa khắc phục những sai lầm chủ quan duy ý chí của chúng ta trong mơ
hình cũ, lại kế thừa được những thành tựu của mơ hình cũ, vừa ngăn ngừa, đấu
tranh khắc phục những sai lầm hữu khuynh phủ định cách mạng xã hội chủ
nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã qua, muốn chuyển sang con
đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc quay lại cuộc cách mạng dân chủ nhân
dân đã được vượt qua - cũng tức là quay lại cách mạng tư sản (dù là kiểu mới)
trong một thời gian (nên “chủ nghĩa xã hội chỉ là định hướng của tương lai”, nó
khơng phải là cái đang được thực hiện trong hiện tại như có người đã nêu).
Trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
Đảng ta xác định rằng, cần phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước
đổi mới chính trị. Đây là một chủ trương đúng và trúng, bảo đảm không gây


13

nên những đảo lộn làm mất cân bằng trong đời sống xã hội; đồng thời, giữ
vững được sự ổn định chính trị - một tiền đề tiên quyết cho sự phát triển của
đời sống kinh tế - xã hội.
Tư tưởng trên đã được tiếp tục phát triển một cách rõ ràng hơn ở Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta. Khi tổng kết các bài học của 10
năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định phải “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi
mới kinh tế với đổi mới chính trị, găn lý luận với thực tiễn, lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [5, tr.71]. Đây là một
cách khái qt mới, hồn tồn khoa học, nó phù hợp với lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nước ta.
Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta ln nhấn mạnh phải ổn định

chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tưởng như
là một nghịch lý nhưng lại hồn tồn có lý và khoa học. Đây là điểm nổi bật
của công cuộc đổi mới ở Việt Nam (luôn lấy sự ổn định chính trị - xã hội làm
tiền đề, điều kiện tiên quyết).
Thực tiễn trên thế giới cho thấy ổn định chính trị là điều kiện hết sức cơ
bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra mơi trường để thu hút nguồn đầu tư trong
nước và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh. Những
thành tựu hơn 30 năm đổi mới vừa qua ở nước ta đã khẳng định điều đó.
Những thành tựu đó khơng thể tách rời việc chúng ta giữ được sự ổn định về
chính trị. Nhờ ổn định chính trị mà đổi mới kinh tế được thuận lợi.
Ổn định về chính trị lại khơng thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhưng
đổi mới chính trị khơng phải là đổi mới vơ ngun tắc, mà đổi mới là để giữ
vững sự ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cường vai trị lãnh đạo của
Đảng, vai trò tổ chức quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế,
quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nước ta diễn
ra với những bước đi thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ việc giải quyết


14

những vấn đề cấp bách đã chín muồn. Mục tiêu căn bản của đổi mới chính trị
và hệ thống chính trị cũng là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới ở
nước ta, là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ cương, pháp luật, với
ý thức trách nhiệm của công dân, chống khuynh hướng dân chủ cực đoan và
những mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để thực hiện đa nguyên,
đa đảng, gây rối về chính trị, chống phá chế độ.
Tóm lại, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIII là phải
rất thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và coi trọng thực tiễn. Thực tiễn nói tới ở

đây là thực tiễn Việt Nam hiện nay, qua 35 năm đổi mới, phải tính đến cả thực
tiễn đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Việt Nam và cả thực tiễn thế giới. Từ
thực tiễn đó để vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, tìm ra bản chất, quy luật vận động của cơng cuộc đổi mới ở Việt Nam,
một sự nghiệp có tính đặc thù của nước ta, chưa có tiền lệ trong lịch sử. Trên cơ
sở đó đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam.
Kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn khơng có nghĩa là học, áp
dụng lý luận một cách giáo điều, mà trong mọi vấn đề cần phải giải quyết đều
phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực
tế khơng, có thật đúng lý khơng, tuyệt đối không nhắm mắt sao chép, rập
khuôn lý luận một cách xi chiều, máy móc. Thực tiễn sinh động của một
Việt Nam đổi mới trong thế giới toàn cầu sẽ làm nảy nở lý luận mới. Cứ như
vậy, vừa nâng cao trình độ hoạt động thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm vừa
nâng cao trình độ lý luận, đem lý luận chứng minh với thực tiễn, chúng ta sẽ
có được một lý luận chân chính soi sáng cơng cuộc đổi mới.


15

KẾT LUẬN
Dưới ánh sáng của lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, Đảng ta đã vận dụng và giải quyết nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước và đã thu được những
thành tựu to lớn. Tuy nhiên, quá trình nhận thức và vận dụng của Đảng ta là
một q trình biện chứng phức tạp. Có lúc, sự nhận thức và vận dụng của
Đảng ta còn chưa sáng tạo, chưa phù hợp với thực tiễn đất nước dẫn đến tình
hình kinh tế, chính trị - xã hội của nước ta lâm vào khủng hoảng. Từ thực tiễn
đó đặt ra yêu cầu đối với Đảng ta là đổi mới tư duy lý luận và tư duy chính trị,
phải nghiêm túc nhận thức lại và vận dụng cho phù hợp mối quan hệ biện

chứng giữa lý luận và thực tiễn. Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới
do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta đã thu được những thành tựu to
lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều đó chứng minh sự vận dụng
mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn của Đảng ta là phù hợp,
đúng đắn, sự vận dụng này ngày càng được tiếp tục bổ sung những tri thức
mới, biểu hiện thông qua đường lối đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội.


16

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.Mác và Ph.ăng-ghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
2. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
3. C.Mác và Ph.ăng-ghen tồn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, 1976.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu tồn quốc
lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
6. V.I.Lênin, toàn tập, tập 345, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.
7. V.I.Lênin, toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, 1976.



×