TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
NGUYỄN MAI HỒNG
RÈN KỸ NĂNG QUAN SÁT TRONG VIẾT VĂN
MIÊU TẢ THEO ĐỊNH HƢỚNG TIẾP CẬN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2020
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
NGUYỄN MAI HỒNG
RÈN KỸ NĂNG QUAN SÁT TRONG VIẾT VĂN
MIÊU TẢ THEO ĐỊNH HƢỚNG TIẾP CẬN
NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Ngƣời hƣớng dẫn: Th.S Bùi Thị Thu Thủy
Phú Thọ, 2020
i
LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập tại khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non trƣờng Đại
học Hùng Vƣơng tơi đã học hỏi đƣợc những kiến thức bổ ích, có nhiều trải
nghiệm thực tế đầy ý nghĩa và phần nào hiểu đƣợc trách nghiệm của một
ngƣời giáo viên đứng lớp, cũng nhƣ một ngƣời giáo viên chủ nghiệm trong
tƣơng lai.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài đƣợc sự giúp đỡ tận tình
của cơ giáo Bùi Thị Thu Thủy, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cơ! Từ việc
hình thành ý tƣởng đến khi hồn thành khóa luận, nhiều lúc tơi thấy khó khăn,
chùn bƣớc nhƣng những lời khuyên chân thành cũng nhƣ những lời dạy bảo
của cô đã giúp tôi bƣớc tiếp trên con đƣờng nghiên cứu này.
Tôi cũng xin cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo
dục Tiểu học và Mầm non trƣờng Đại học Hùng Vƣơng, các thầy cô đã tận
tình dạy bảo tơi từ những ngày đầu bƣớc vào giảng đƣờng Đại học cũng nhƣ
đã tạo điều kiện tốt nhất cho tơi hồn thành khóa luận.
Bên cạnh đó tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, và các
thầy cô trƣờng Tiểu học Hữu Đô cũng nhƣ các em học sinh thân yêu đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tơi hồn thành khóa luận một cách tốt đẹp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình thân u – nơi tơi nép
vào mỗi khi mệt mỏi, nản lịng; là nơi ln động viên, cổ vũ để tôi bƣớc tiếp
trên con đƣờng mà tôi đã chọn.
Phú Thọ, ngày
tháng
năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Mai Hồng
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC RÈN KỸ
NĂNG QUAN SÁT TRONG VIẾT VĂN MIÊU TẢ THEO ĐỊNH
HƢỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC ................................................................. 7
1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................... 7
1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học .......................................... 7
1.1.2. Những vấn đề chung về văn miêu tả và quan sát để làm văn miêu tả .. 13
1.1.3. Những vấn đề chung về dạy học theo định hƣớng tiếp cận năng lực ... 28
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 33
1.2.1. Chƣơng trình dạy học Tập làm văn miêu tả lớp 4 ở Tiểu học .............. 33
1.2.2. Thực trạng dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4 theo định hƣớng tiếp
cận năng lực ở các trƣờng Tiểu học hiện nay. ................................................ 37
1.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng quan sát trong dạy học văn miêu tả ở lớp 4 tại
trƣờng Tiểu học Tân Dân - TP Việt Trì ......................................................... 41
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ............................................................................... 43
CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG QUAN SÁT
TRONG VĂN MIÊU TẢ THEO ĐỊNH HƢỚNG TIẾP CẬN NĂNG
LỰC CHO HỌC SINH LỚP 4 ..................................................................... 44
2.1. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp tổ chức dạy học Tập làm văn theo
hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh ............................................................. 44
2.1.1. Nguyên tắc hƣớng tới hoạt động tƣ duy ............................................... 44
2.1.2. Nguyên tắc hƣớng vào hoạt động với giao tiếp .................................... 45
2.1.3. Nguyên tắc chú ý tới trình độ Tiếng Việt vốn có của các em học sinh 46
2.1.4. Nguyên tắc so sánh và hƣớng tới cả hai dạng nói và viết ..................... 48
2.2. Xây dựng một số biện pháp rèn luyện kĩ năng quan sát trong văn miêu tả
theo định hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh lớp 4 ................................... 48
2.2.1. Sử dụng và phối hợp các giác quan ...................................................... 48
2.2.2. Quan sát gắn với tƣởng tƣợng ............................................................... 52
2.2.3. Quan sát gắn với bày tỏ tình cảm, cảm xúc .......................................... 54
iii
2.2.4. Quan sát gắn liền với tƣ duy logic ........................................................ 57
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ............................................................................... 60
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ............................................... 61
3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................. 61
3.2. Nội dung thực nghiệm .............................................................................. 61
3.3. Tổ chức thực nghiệm................................................................................ 61
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm ................................................................. 62
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................... 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 75
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 78
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các phân môn của mơn Tiếng Việt: Tập đọc, Kể chuyện, Chính
tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu, có thể nói Tập làm văn là phân mơn hiện
thực hóa các hiểu biết cũng nhƣ các kỹ năng về Tiếng Việt do các phân mơn
khác rèn luyện và cung cấp. Đồng thời góp phần hồn thiện kĩ năng đó thơng
qua q trình làm văn, đặc biệt là văn miêu tả. Nhƣng để làm tốt một bài văn
miêu tả, đòi hỏi học sinh phải biết quan sát. Quan sát là hoạt động nhận thức
đƣợc con ngƣời sử dụng thƣờng xuyên trong cuộc sống, để tiếp nhận tri thức,
mở mang vốn sống, vốn hiểu biết cho bản thân. Khi tham gia hoạt động quan
sát, con ngƣời có nội dung để trao đổi, trị chuyện, tham gia giao tiếp, nhờ đó
mà con ngƣời hiểu biết về nhau, cùng vun đắp và phát triển cuộc sống chung.
Đối với học sinh, quan sát là một kĩ năng học tập cơ bản giúp học sinh tiếp
nhận kiến thức và tổ chức tốt các hoạt động sống của mình. Đối với nhiệm vụ
học văn miêu tả, quan sát giúp học sinh có tƣ liệu để làm văn, giúp học sinh
phát triển vốn từ Tiếng Việt để học tốt các môn học.
Quan quan sát thì học sinh mới có thể viết đƣợc một bài văn hoàn chỉnh
và sinh động. Quan sát là tổng hợp của tri giác. Nhìn thấy, nghe thấy, ngửi
thấy, sờ mó thấy, nội cảm thấy, chính vì vậy mà quan sát có vai trị rất quan
trọng để làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4
Đảng và nhà nƣớc đặc biệt quan tâm đến giáo dục. Trong thời đại ngày
nay, khi khoa học và công nghệ đang phát triển nhƣ vũ bão, tri thức đã trở
thành thƣớc đo sự phát triển và dự báo tƣơng lai cho mỗi quốc gia, giúp
chúng ta nâng cao vị thế quốc gia, lại vừa là thách thức lớn đối với vận
mệnh toàn Đối với một dân tộc có truyền thống hiếu học nhƣ Việt Nam thì
đây là cơ hội dân tộc. Với tầm nhìn chiến lƣợc sắc bén, ngay từ Hội nghị
Trung ƣơng Đảng lần thứ hai khóa VIII (tháng 12 năm 1960),[90] Đảng
khẳng định thực sự coi “Giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu”. Có các
giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục. Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ
phát triển, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nƣớc và của toàn
dân, mục tiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng
2
nhân tài..... Dạy học theo định hƣớng tiếp cận năng lực đang là xu thế hiện
nay đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm
Nghị quyết số 29-NQ T
ngày 4 11 2013 Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa
XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo đã xác định r : “Tiếp
tục đổi mới mạnh mẽ phƣơng pháp dạy và học theo hƣớng hiện đại; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của ngƣời
học; khôi phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung
dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngƣời học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”[80]. Nghị quyết cũng
chỉ r đổi mới là chuyển từ dạy học nặng về kiến thức sang hình thành năng
lực và các ph m chất tƣơng ứng. Các môn học trong nhà trƣờng đều tập trung
phát triển những năng lực chung ở mỗi học sinh. Ở tiểu học, năng lực ngôn
ngữ là năng lực chung, năng lực này đƣợc tạo nên bởi nhiều thành tố khác
nhau, trong đó, quan sát là kỹ năng đặc thù, là thành tố quan trọng giúp học
sinh phát triển vốn từ, phát triển năng lực tạo lập văn bản, góp phần cấu thành
nên năng lực chung (năng lực ngôn ngữ) cho học sinh tiểu học. Rèn luyện kỹ
năng quan sát góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ cho các em học sinh. Vì
thế, hoạt động quan sát góp phần cụ thể hóa quan điểm giao tiếp và quan điểm
tích cực trong dạy học theo định hƣớng đổi mới.
Mỗi giáo viên khi lên lớp phải đổi mới phƣơng pháp dạy học của mình
nhằm đem lại hiệu quả dạy và học. Và dạy học theo hƣớng tiếp cận năng lực
là một phƣơng pháp dạy học tiến bộ, hữu ích giúp giáo viên và học sinh đạt
đƣợc hiệu quả cao.
Là giáo viên Tiểu học tƣơng lai chúng tôi cũng mong muốn đem sự
hiểu biết của mình trong quá trình học tập và nghiên cứu để góp phần nâng
cao hiệu quả dạy học Tiểu học nói chung và day học mơn Tiếng Việt nói
riêng cụ thể là phân môn Tập làm văn – một mơn góp phần khơng nhỏ giúp
cho học sinh tạo ra đƣợc các ngơn bản nói và viết theo phong cách khác nhau
do chƣơng trình quy đinh, nói cách khác, nhiệm vụ dạy học Tập làm văn là
hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh. Năng lực tạo lập
3
ngơn bản đƣợc phân tích thành các kĩ năng bộ phận nhƣ: xác định mục đích
nói, lập ý triển khai ý thành lời dƣới dạng nói, viết thành câu, đoạn bài.
Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn cung cấp cho học sinh những kiến thức
và hình thành, phát triển cho các em những kĩ năng này. Ngoài các kĩ năng
chung để viết văn bản, mỗi loại văn bản cụ thể địi hỏi có những kĩ năng đặc
thù. Ngồi nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập ngôn bản, phân mơn Tập
làm văn đồng thời góp phần rèn luyện tƣ duy và hình thành nhân cách cho
học sinh. Đặc biệt để hoàn thành bài văn miêu tả đối với học sinh lớp 4
thƣờng rất khó khăn. Do đặc điểm tâm lí, học sinh Tiểu học cịn ham chơi,
khả năng tập trung chú ý quan sát chƣa tinh tế. Vì vậy khơng phải giờ dạy văn
miêu tả nào cũng đạt hiệu quả, không phải giáo viên nào cũng dạy tốt văn
miêu tả. Việc tìm tịi phƣơng pháp để hƣớng dẫn học sinh quan sát còn nhiều
hạn chế.
Là sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và sẽ là giáo viên sau này, tôi
nhận thấy việc nghiên cứu rèn kĩ năng quan sát là cần thiết và quan trọng
trong việc bồi dƣỡng nghề nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học và kĩ năng nghề nghiệp sau này cho chính bản thân mình.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ
năng quan sát trong viết văn miêu tả theo định hướng tiếp cận năng lực cho
học sinh lớp 4”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất đƣợc một số biện pháp rèn kĩ năng quan sát trong quá trình dạy
học Tập làm văn nhằm hỗ trợ học sinh phát triển kĩ năng quan sát đồng thời
nâng cao kết quả học tập môn Tiếng Việt cho các em.
Đánh giá đƣợc mức độ phù hợp của các biện pháp rèn kĩ năng quan sát
trong dạy học Tập làm văn theo hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng đƣợc cơ sở lí luận và điều tra thực trạng về rèn luyện kĩ năng
quan sát theo định hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh lớp 4.
4
Xây dựng biện pháp rèn kĩ năng quan sát theo định hƣớng tiếp cận
năng lực trong văn miêu tả cho học sinh lớp 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các biện pháp rèn kĩ năng quan sát trong viết văn miêu tả theo định
hƣớng tiếp cận năng lực
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Lựa chọn học sinh lớp 4 để nghiên cứu và thực nghiệm
Nghiên cứu điều tra thực trạng rèn kĩ năng quan sát theo hƣớng tiếp cận
năng lực trong văn miêu tại trƣờng Tiểu học Tân Dân – TP Việt Trì
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Đây là phƣơng pháp thu thập thơng tin qua sách báo, tài liệu nhằm mục
đích tìm chọn những khái niệm tƣ tƣởng cơ bản là cơ sở lý luận của đề tài.
Phƣơng pháp phân tích tổng hợp thƣờng bắt đầu từ phân tích các tài
liệu để tìm ra cấu trúc, các xu hƣớng phát triển của lý thuyết. Từ phân tích lý
thuyết, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm,
phạm trù tiến tới tạo thành lý thuyết khoa học mới.
Phƣơng pháp tổng hợp lý thuyết là phƣơng pháp liên kết, sắp xếp tài
liệu, thông tin lý thuyết đã thu thập đƣợc để tạo ra một hệ thống lý thuyết
(chƣơng 1: cơ sở khoa học của việc rèn kĩ năng quan sát theo hƣớng tiếp cận
năng lực trong văn miêu tả), tạo ra hệ thống lý thuyết đầy đủ, sâu sắc về chủ
đề nghiên cứu.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp điều tra
Điều tra, khảo sát thực tế hoạt động của giáo viên khi rèn kĩ năng quan
sát theo hƣớng tiếp cận năng lực bằng cách sử dụng phiếu thăm dò và dự giờ.
Phƣơng pháp điều tra đƣợc thực hiện ở chƣơng 1 và chƣơng 3.
5.2.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Thực hiện phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia bằng cách xin ý kiến
giảng viên hƣớng dẫn, các giảng viên giảng dạy môn Văn trƣờng Đại học
5
Hùng Vƣơng và một số giáo viên dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.
Phƣơng pháp này đƣợc thực hiện trong quá trình nghiên cứu
Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia là phƣơng pháp là phƣơng pháp thu
thập thông tin khoa học, nhận định bằng cách sử dụng trí tuệ của đội ngũ
chun gia có trình độ cao của một lĩnh vực, chuyên ngành nào đó, nhận định
bản chất một sự kiện khoa học hay thực tiễn phức tạp để tìm ra những giải
pháp tối ƣu giúp cho ngƣời nghiên cứu có đƣợc đánh giá cụ thể về cơng trình
nghiên cứu của mình
5.2.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm là phƣơng pháp nhằm thu thập
thông tin về sự thay đổi chất lƣợng dạy học của giáo viên với học sinh theo
hƣớng tích cực hoạt động hóa của học sinh
Phƣơng pháp này đƣợc tiến hành nhằm kiểm tra tính khả thi và tác
động sƣ phạm của các biện pháp rèn kĩ năng quan sát theo định hƣớng tiếp
cận năng lực trong văn miêu tả cho học sinh lớp 4
Phƣơng pháp tổ chức thực nghiệm sƣ phạm đƣợc thực hiện ở chƣơng 3
5.2.4. Phương pháp thống kê toán học
Phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu hỗ trợ nghiên cứu
thực trạng và thực nghiệm nhằm rút ra những những nhận xét, kết luận có giá
trị khách quan
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Xác định đƣợc cơ sở lý luận của việc rèn kĩ năng quan sát theo định
hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh lớp 4 để tìm ra đƣợc các biện pháp rèn
kĩ năng quan sát trong dạy học Tập làm văn một cách hiệu quả nhất, kích
thích đƣợc sự hứng thú của các em trong việc viết văn.
Xác định đƣợc cơ sở khoa học của việc rèn kĩ năng quan sát trong dạy
học Tập làm văn theo hƣớng tiếp cận năng lực để từ đó đƣa ra đƣợc các biện
pháp khả thi nhất trong hoạt động dạy học nhằm hình thành năng lực ngƣời học
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Rèn kĩ năng quan sát trong văn miêu tả theo định hƣớng tiếp cận năng
6
lực sẽ giúp giáo viên nâng cao chất lƣợng dạy học và giáo dục. Quan sát là kĩ
năng đặc thù, là thành tố quan trọng giúp học sinh phát triển vốn từ, năng lực
tạo lập văn bản
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên, giáo viên ngành Tiểu
học và những ai quan tâm đến giáo dục Tiểu học.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, bảng các kí hiệu, chữ viết tắt, danh mục bảng biểu,
mục lục, kết luận kiến nghị và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm 3
chƣơng:
+ Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc rèn kĩ năng quan sát trong
viết văn miêu tả theo hƣớng tiếp cận năng lực
+ Chƣơng 2: Biện pháp rèn luyện kĩ năng quan sát trong viết văn miêu tả
theo định hƣớng tiếp cận năng lực cho học sinh lớp 4
+ Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm
7
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC
RÈN KỸ NĂNG QUAN SÁT TRONG VIẾT VĂN MIÊU TẢ
THEO ĐỊNH HƢỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học
1.1.1.1. Đặc điểm sinh lý của học sinh Tiểu học
- Lứa tuổi này các em cần đƣợc quan tâm đúng mức bởi lẽ sinh lý của
các em có nhiều thay đổi. Sự biến đổi về sinh lý có ảnh hƣởng không nhỏ đến
các hoạt động học tập, sinh hoạt và vui chơi của các em. Vì vậy, các thầy cơ
cần đặc biệt quan tâm đến và chú ý. Trong quá trình dạy học ngƣời giáo viên
ln phải biết đƣợc những đặc điểm sinh lý cơ bản của đối tƣợng để có thể có
những biện pháp và phƣơng pháp giáo dục phù hợp. Chẳng hạn nhƣ hệ xƣơng
của các em còn nhiều mơ sụn, các xƣơng đang trong thời kì phát triển nên dễ
cong vẹo, gãy dập. Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi và học tập của các
em, các thầy cô giáo cần phải chú ý quan tâm, hƣớng các em tới hoạt động
vui chơi, lành mạnh an toàn, nhắc nhở các em ngồi đúng tƣ thế.
- Mặt khác, các hệ cơ quan trong cơ thể của các em đều đang trong quá
trình phát triển. Vì thế trong hoạt động giáo dục thầy cô cần tổ chức cho các
em các hoạt động vui chơi phù hợp và an tồn đảm bảo cho sự phát triển đó.
Chẳng hạn nhƣ giáo viên cho các em chơi các trò chơi vận động từ mức độ
đơn giản đến phức tạp để thỏa mãn nhu cầu vận động của trẻ nhƣng vẫn đảm
bảo hệ cơ phát triển bình thƣờng .
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng do vậy tƣ duy
hình tƣợng, tƣ duy trìu tƣợng. Do đó, các em rất hứng thú với các trị chơi trí
tuệ nhƣ: đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ. Dựa vào cơ sở sinh lý này mà các
nhà giáo dục nên đƣa ra các câu hỏi nhằm phát triển tƣ duy của các em.
- Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm, trọng lƣợng cơ thể mỗi năm tăng
2kg. Tim của trẻ đập khoảng 85 - 90 lần phút, mạch máu tƣơng đối nở rộng,
áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chƣa hoàn chỉnh.
8
1.1.1.2. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học
- Đặc điểm của quá trình nhận thức
+ Học sinh Tiểu học có những biến đổi cực kì quan trọng trong các điều
kiện sống và hoạt động của trẻ, do đó các đặc điểm tâm lí nói chung và đặc
điểm hoạt động nhận thức nói riêng cũng thay đổi cơ bản. Các em đang là lứa
tuổi phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức. Nhận thức phát triển là
động lực thúc đ y trẻ học tập, làm cho hoạt động học của các em trở nên tự
nhiên nhƣ các hoạt động khác hàng ngày. Do vậy mà việc học tập sẽ diễn ra
dễ dàng hơn và việc truyền thụ kiến thức cho các em cũng bớt phần nào vất
vả cho giáo viên.
+ Dù trong hoàn cảnh sống khác nhau nhƣng các em đều có khả năng
phát triển nhận thức. Trong đó đều có sự phát triển đáng kể là tri giác, trí nhớ,
chú ý, tƣởng tƣởng và tƣ duy.
+ Tri giác
● Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết
và năng về tính khơng chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tƣợng cịn
chƣa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi cịn lẫn lộn. Học sinh các lớp đầu
cấp Tiểu học tri giác còn yếu nên thƣờng thâu tóm sự vật về tồn bộ, về đại
thể tri giác.
● Học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học khi tri giác thƣờng gắn với hành
động thực tiễn của bản thân. Đối với trẻ, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm
cái gì đó với sự vật, nhƣ cầm nắm, sờ mó vào sự vật ấy. Những gì phù hợp
với nhu cầu của các em,những gì các em thƣờng học trong cuộc sống và gắn
với hoạt động của bản thân, những gì đƣợc giáo viên chỉ dẫn thì mới đƣợc các
em tri giác. Điều này cũng đƣợc các thế hệ nối tiếp nhau chiêm nghiệm và
truyền lại cho nhau “ trăm nghe không bằng một thấy, trăm lần thấy không
bằng một lần tự làm ”. Khi học sinh tri giác thì cảm xúc của các em thể hiện
rất r . Điều mà học sinh tiểu học tri giác đầu tiên là từ sự vật và những dấu
hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em cảm xúc. Vì thế, cái trực
quan, cái rực rỡ, cái sinh động đƣợc các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tƣợng
9
tích cực đối với các em. Theo một số nhà tâm lí học thì những bức tranh có
màu sắc sặc sỡ trong sách có ảnh hƣởng khơng tốt đến việc học của học sinh,
nhƣ làm chậm tốc độ học chẳng hạn, bởi lẽ những chi tiết riêng biệt trong ảnh
khêu gợi, kích thích lại sự phỏng đốn các từ đang đọc. Khi đã có kĩ xảo đọc
sơ đẳng thì cũng là khi những tranh ảnh minh họa bắt đầu ảnh hƣởng âm tính
đến sự phát triển ngơn ngữ.
● Tri giác về thời gian và không gian cũng nhƣ ƣớc lƣợng về thời gian
và không gian của học sinh tiểu học cịn hạn chế. Một số cơng trình nghiên
cứu chun biệt đã đi đến kết luận. Học sinh tiểu học thƣờng khó hiểu khoảng
cách về thời gian của các sự kiện, những niên đại lịch sử cũng rất trừu tƣợng
đối với các em. Tri giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển. Trong
q trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích hoạt động có
phân tích, có phân hố hơn thì tri giác sẽ mag tính chất có sự quan sát có tổ
chức. Trong sự phát triển tri giác của học sinh, giáo viên tiểu học có vai trị rất
lớn. Giáo viên là ngƣời hằng ngày khơng chỉ dạy cách nhìn, hình thành kĩ
năng nhìn cho học sinh mà cịn cần chú ý hƣớng dẫn các em biết xem xét,
không chỉ dạy bảo học sinh nghe mà còn cần chú ý dạy trẻ biết lắng nghe.
+ Trí nhớ:
● Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tƣợng phát triển chiếm
ƣu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín
hiệu thứ nhất ở các em tƣơng đối chiếm ƣu thế. Các em nhớ và giữ gìn chính
xác những sự vật, hiện tƣợng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa,
những câu giải thích bằng lời. Các em thƣờng học thuộc lịng tài liệu theo
từng câu, từng chữ mà khơng sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt bằng lời lẽ của
mình.
+ Chú ý:
● Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu khả năng điều chỉnh
chú ý một cách có ý chí chƣa mạnh. Học sinh đầu bậc Tiểu học thƣờng chỉ
chú ý khi có động cơ gần (nhƣ đƣợc điểm cao, đƣợc giáo viên khen,...), đến
cuối bậc Tiểu học thì các em đã có thể duy trì chú ý có chủ định ngay cả khi
10
có động cơ xa (nhƣ các em chú ý vào cơng việc khó khăn nhƣng khơng hứng
thú vì biết chờ đợi kết quả trong tƣơng lai,...).
● Chú ý không chủ định của học sinh Tiểu học phát triển nhờ những
thứ mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thƣờng dễ lơi cuốn sự chú ý của
các em, khơng có sự nỗ lực của ý chí. Sự chú ý khơng chủ định càng trở nên
mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học nhƣ: tranh ảnh, hình vẽ, mơ
hình, vật thật là phƣơng tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý của học sinh.
Nhƣng cũng cần nhớ rằng học sinh Tiểu học rất dễ mẫn cảm, những ấn tƣợng
trực quan quá mạnh có thể tạo ra trung khu hƣng phấn mạnh ở vỏ não và kết
quả sẽ kìm hãm khả năng phân tích, khái qt tài liệu học tập.
● Nhu cầu, hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý khơng chủ định
cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để tạo nhu cầu, hứng
thú, dễ lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Tuy nhiên, trong quá trình dạy và học
không phải khi nào cũng hấp dẫn, không phải khi nào giáo viên cũng tạo đƣợc
hứng thú cho học sinh, mà nhiều khi việc học cũng buồn tẻ, kém hấp dẫn. Vì
vậy, giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh khơng chỉ quen làm việc gì
mà mình hứng thú mà cịn cần làm cả những việc khơng lí thú, hấp dẫn.
Nhiều cơng trình nghiên cứu về chú ý đã cho thấy, học sinh tiểu học thƣờng
chỉ tập trung chú ý liên tục trong khoảng từ 30-35 phút. Sự chú ý của học sinh
tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập: nhịp độ học tập quá nhanh hoặc
q chậm đều khơng thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung.
+ Tƣởng tƣợng:
● Đây là một quá trình nhận thức quan trọng của học sinh Tiểu học. Nếu
tƣởng tƣợng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặp khó khăn
trong hành động, trong học tập. Khi học về lịch sử thì học sinh phải hình
thành trong tƣởng tƣợng về bức tranh quá khứ, khi tìm hiểu về địa lí thì nhất
thiết phải có biểu tƣợng về cảnh quan, về khí hậu, về phong tục của các vùng
miền, của các nƣớc khác.
● Tƣởng tƣợng của học sinh Tiểu học đã phát triển và phong phú hơn
so với trẻ em tuổi mẫu giáo lớn. Nó đƣợc hình thành và phát triển trong hoạt
11
động học và các hoạt động khác của các em. Tuy nhiên tƣởng tƣợng của học
sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tƣởng tƣợng còn đơn
giản, hay thay đổi, chƣa bền vững. Càng về những năm cuối bậc tiểu học,
tƣởng tƣợng của học sinh tiểu học càng gần hiện thực hơn. Sở dĩ vậy là vì các
em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội đƣợc tri thức khoa học từ
quá trình học tập, ví dụ nhƣ đồ chơi của học sinh Tiểu học đòi hỏi phải
“thật” hơn đồ chơi của trẻ mẫu giáo.
+ Tƣ duy:
● Tƣ duy của trẻ em mới đến mới trƣờng là tƣ duy cụ thể, dựa vào
những đặc điểm trực quan của đối tƣợng và hiện tƣợng cụ thể. Theo J.Piaget
(nhà tâm lý học Thụy Sĩ), tƣ duy của trẻ em từ 7 - 10 tuổi còn ở giai đoạn
những thao tác cụ thể, điều này đƣợc thể hiện rất r qua những tiết học đầu
tiên khi trẻ mới tới trƣờng. Trong tƣ duy của học sinh đầu bậc Tiểu học tính
trực quan đƣợc thể hiện rất r . Điều này bộc lộ ra ngay khi chúng ta thử cho
học sinh bài toán: “Nếu mỗi con gà có 3 chân thì hai con gà có mấy chân” thì
hầu hết học sinh khơng làm đƣợc, các em lúng túng khơng thốt ra khỏi ấn
tƣợng trực quan cụ thể đã có trong em. Q trình học tập theo phƣơng pháp
nhà trƣờng tạo cho học sinh tiểu học có sự phát triển về tƣ duy, từng bƣớc
chuyển từ cấp độ nhận thức các sự vật hiện tƣợng chỉ vẻ bề ngồi, các biểu
hiện dễ nhận biết bằng cảm tính đến nhận thức đƣợc những dấu hiệu bản chất
của chúng. Điều này có tác dụng hình thành ở học sinh khả năng tiến hành
thao tác đầu tiên, thao tác so sánh đầu tiên, tiến tới khả năng suy luận sơ đẳng.
Nhiều cơng trình nghiên cứu ở Nga và Việt Nam đã xác định rằng khi nội
dung dạy học, phƣơng pháp dạy học, phƣơng thức tổ chức dạy học thay đổi
phù hợp thì học sinh tiểu học có thể đạt đƣợc trình độ tƣ duy phát triển cao
hơn, có đƣợc một số đặc điểm của tƣ duy khoa học.
- Đặc điểm nhân cách của học sinh Tiểu học
+ Tích cách
● Học sinh Tiểu học dễ bị kích động bởi những kích thích bên trong
và bên ngồi. Do vậy trẻ dễ có hành vi đột phá, hành động ngay lập tức dƣới
12
ảnh hƣởng của kích thích bên trong và bên ngồi. Các em ở độ tuổi này rất
hồn nhiên, cả tin: tin vào sách vở, tin vào ngƣời lớn, tin vào khả năng của bản
thân. Tuy nhiên niềm tin này còn cảm tính chƣa có lí trí soi đƣờng. Giáo viên
cần vận dụng niềm tin này để giáo dục các em dần dần trƣởng thành hơn, có
tính tích cực hơn trong học tập.
● Ở độ tuổi này, dễ nhận thấy tính xung đột trong hành vi của các em.
Do vậy hành vi của học sinh Tiểu học mang tính tự phát, dễ vi phạm nội quy
và thƣờng đƣợc xem là “vô kỉ luật”. Các em có hành vi ý chí chƣa cao, bản
tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các
yêu cầu có tính nghiêm ngặt, địi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng.
Nhƣng bên cạnh đó trẻ cũng có những nét tính cách tốt nhƣ: hồn nhiên, ham
học hỏi, vị tha.... Đặc điểm nhân cách của các em bộc lộ r ra bên ngoài
những hành vi và cử chỉ, chúng cũng ít có mâu thuẫn hơn, đó là điều kiện
thuận lợi trong việc tìm hiểu nhân cách của các em. Đồng thởi ở lứa tuổi này
tính bắt chƣớc, có thể bắt chƣớc khá tỉ mỉ chi tiết, nhƣng lại hay chú ý những
đặc điểm bên ngoài và bắt chƣớc thiếu lựa chọn. Vì vậy nếu giáo viên có
những hành vi khơng tốt nhƣ nói tục, chửi thề,.... thì các em rất dễ bắt chƣớc
theo.
+ Tình cảm
● Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí, trong nhân
cách của mỗi ngƣời. Đối với học sinh Tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì
nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ. Tình cảm tích cực
sẽ kích thích trẻ em nhận thức và thúc đ y trẻ em hoạt động. Xúc cảm, tình
cảm của học sinh thƣờng nảy sinh từ các tác động của những ngƣời xung
quanh, từ các sự vật, hiện tƣợng cụ thể, sinh động. Nhìn chung, học sinh Tiểu
học rất dễ bị kích thích bởi hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tƣợng với
các thuộc tính của nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết).
● Tình cảm của các em rất hay xúc động, kích động, sống nhiều bằng
tình cảm. Tình cảm của các em mang tính cụ thể. Dễ biểu hiện cảm xúc khi tri
giác trực tiếp các sự vật, hiện tƣợng cụ thể, hấp dẫn. Những lời triết lý khô
13
khan, thiếu hình ảnh, thiếu sinh động khó gây cảm xúc ở trẻ. Các em thƣờng
thể hiện cƣờng độ cảm xúc mạnh mẽ, dễ xúc động, khó kìm hãm đƣợc tình
cảm của mình. Trong dạy học và giáo dục ngƣời giáo viên cần chú ý đến đặc
điểm tình cảm của trẻ để hình thành những tình cảm tích cực và phong phú đa
dạng cho các em. Trƣớc hết ngƣời giáo viên cần có nhiều tình cảm, giàu lịng
nhân ái, bao dung, dạy trẻ bằng cả tấm lòng yêu nghề.
1.1.2. Những vấn đề chung về văn miêu tả và quan sát để làm văn miêu tả
1.1.2.1. Cơ sở lí luận về văn miêu tả
1.1.2.1.1. Thế nào là văn miêu tả
Văn miêu tả là một loại văn dùng để diễn tả sự vật, hiện tƣợng, con
ngƣời một cách sinh động, cụ thể nhƣ nó vốn có. Văn miêu tả khơng phải là
sự sao chép máy móc thực tế khách quan, mà đó là kết quả của q trình lao
động cơng phu: quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá, tƣởng tƣợng hết sức
phong phú của ngƣời viết. Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tƣởng tƣợng,
sáng tạo của ngƣời viết. Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện
tƣợng, con ngƣời bằng ngơn ngữ. Nhờ có văn miêu tả, con ngƣời có thể lạc
vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động, hƣơng vị của
những cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy r tƣ tƣởng, tình cảm của mỗi
con ngƣời, mỗi sự vật. Đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế, những rung
động sâu sắc mà ngƣời viết thu lƣợm đƣợc khi quan sát cuộc sống. Bất kỳ
một sự vật, hiện tƣợng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tƣợng
của văn miêu tả nhƣng không phải bất kỳ một sự việc nào cũng trở thành văn
miêu tả. Miêu tả không chỉ đơn giản ở việc giúp ngƣời đọc thấy r đƣợc
những nét đặc trƣng, những đặc điểm, tính chất,…không phải là việc sao
chép, chụp lại một cách máy móc mà phải thể hiện đƣợc sự tinh tế của tác giả
trong việc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả
đối với đối tƣợng miêu tả. Một bài văn miêu tả đạt đƣợc đỉnh của nó khi mà
bằng ngơn ngữ sinh động nào đó khiến cho ngƣời đọc, ngƣời nghe nhƣ cảm
thấy mình đang đứng trƣớc sự vật, hiện tƣợng đó và cảm thấy nhƣ đƣợc nghe,
sờ những gì mà tác giả nói đến.Khi miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục
14
đích thơng báo đơn thuần thì đó khơng phải là miêu tả văn học mà là theo
phong cách khoa học.
Hãy cùng ngắm nhìn một buổi chiều thanh bình tại một vùng quê dƣới
ngòi bút của tác giả Đỗ Chu (Chiều trên quê hƣơng - SGK TV lớp 3 tập 1).
Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xơ đuổi nhau trên cao. Nền trời
xanh vời vợi. Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi khiến
ngƣời ta Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xơ đuổi nhau trên cao.
Nền trời xanh vời vợi. Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do, tha thiết đến
nỗi khiến ngƣời ta phải ao ƣớc giá mà mình có một đơi cánh. Trải khắp cánh
đồng là nắng chiều vàng dịu và thơm hơi đất, là gió đƣa thoang thoảng hƣơng
lúa ngậm địng và hƣơng sen. Chỉ ngắn gọn có bốn câu văn mà Đỗ Chu đã
cho ta nhìn thấy đƣợc một làng quê hài hòa vào một buổi chiều mùa hạ vừa
động vừa tĩnh. Động đó là mây đùa giỡn nhau, tiếng chim hót. Tĩnh đó là
nắng vàng dịu, hƣơng lúa ngậm địng và hƣơng sen. Một cuộc sống khát khao
nhƣng cũng rất n bình. Sự hịa hợp giữa đất với trời, giữa thiên nhiên cỏ cây
hoa lá. Một buổi chiều thật đẹp, làm cho tâm hồn ngƣời đọc cũng cảm thấy
đƣợc yên bình, nhẹ nhàng hơn. Ngịi bút của tác giả thật tinh tế.
Theo từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên (1999) định nghĩa:
“miêu tả” là dùng ngôn ngữ hoặc một số phƣơng tiện nghệ thuật nào đó làm
cho ngƣời khác có thể hình dung đƣợc cụ thể sự vật hoặc thế giới nội tâm của
con ngƣời.[68]
Theo Đào Duy Anh trong Hán – Việt từ điển thì miêu tả là “lấy nét vẽ
hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Còn văn miêu tả vẽ
ra các sự vật, sự việc, hiện tƣợng, con ngƣời, … bằng ngôn ngữ một cách sinh
động cụ thể. Văn miêu tả giúp cho ngƣời đọc nhìn r chúng, tƣởng tƣợng nhƣ
đang tận mắt, bắt tận tay những đối tƣợng miêu tả. Những hình ảnh do văn
miêu tả tạo nên khơng phải là bức ảnh chụp lại, sao chép lại một cách vụng
về. Nó là sự kết tinh đƣợc khi quan sát cuộc sống.
Chúng ta hãy nhìn xem cảnh mùa xuân bên bờ sơng Lƣơng dƣới ngịi
bút của Nguyễn Dình Thi: “Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bên bờ
15
sông Lương. Mùa xuân đã điểm các chùm hoa đỏ mọng lên những cành cây
gạo chót vót giữa trời và trải màu lúa non sáng dịu lên khắp mặt đất cách ít
ngày cịn trần trụi đen xám. Trên những bái đất phù sa mị hồng mơn mởn,
các vòm cây quanh năm xanh um đã dần dần chuyển màu lốm đốm, như được
rắc thêm một lớp bụi phấn hung hung vàng; các vườn nhãn, vườn vải đang
trổ hoa. Và hai bên ven con sông nước êm đềm trong mát, không một tấc đất
nào bỏ hở. Ngay dưới lịng sơng, từ sát mặt nước trở lên, những luống ngô,
đổ lạc, khoai, cá, … Chen nhau xanh rờn phủ kín các bãi cát mùa nay phơi
cạn …”
Trong đoạn văn miêu tả ở trên, cảnh mùa xuân hiện lên cụ thể, từ
“chùm hoa gạo đỏ mọng chót vót” đến “màu lúa non sáng dịu, những vịm cây
xanh um”… Tình cảm u mến cảnh vật của tác giả không bộc lộ trực tiếp lộ
liễu mà kín đáo gửi gắm trong từng chi tiết miêu tả. Các màu sắc: “đỏ mọng,
mịn hồng, mơn mởn, màu lúa non sáng dịu, xanh um, xanh rờn …”, màu nào
cũng đậm, cũng nhƣ đập mạnh vào mắt ngƣời đọc để khoe sức sống dồi dào,
bên trong mỗi vòm cây, tán lá để khoe cái màu mỡ, cái hớn hở, mà mùa xuân
vừa khoác lên cho cây cỏ. Những màu sắc tƣng bừng ấy là sự phản ánh chiếu
lên cảnh vật tình cảm sâu lắng bên nét đã tạo ra bức tranh xuân rực rỡ mà hài
hoà về màu sắc, giàu cảm xúc.
1.1.2.1.2. Đặc điểm của văn miêu tả
* Văn miêu tả mang tính thơng báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của
người viết
Ngƣời viết bao giờ cũng đánh giá đối tƣợng miêu tả theo một quan điểm
th m mỹ, cũng gửi vào bài viết ít nhiều tình cảm riêng của mình. Do vậy từng
chi tiết của bài miêu tả đều mang ấn tƣợng cảm xúc chủ quan. Đặc điểm này
làm cho miêu tả trong văn học khác hẳn miêu tả trong khoa học (nhƣ trong
sinh học, địa lý học, khảo cổ học,…).
Trong sách giáo viên Tự nhiên và xã hội lớp 2, ở bài 33 “Mặt trăng và các
vì sao” có miêu tả mặt trăng nhƣ sau: “Mặt trăng trịn, giống như một quả
bóng lớn ở xa trát đất. Ánh sáng mặt trăng mát dịu, khơng nóng như ánh sáng
16
mặt trời vì mặt trăng khơng tự phát ra được ánh sáng. Mặt trăng phản chiếu
ánh sáng từ mặt trời xuống trái đất”.
Đoạn văn này gạt bỏ hẳn cảm xúc riêng của ngƣời viết. Các chi tiết hiện
ra chính xác nhƣng thật lạnh lùng; mang tính khoa học. Hơn nữa ở đây tác giả
chỉ nêu ra những chi tiết chỉ đặc điểm chung mà không đề cập đến những nét
riêng của mặt trăng vào những ngày đầu, giữa, cuối tháng và các mối liên
quan đến các vạn vật xung quanh, nhất là với con ngƣời đang quan sát và
miêu tả.
Song cũng miêu tả về trăng, chúng ta sẽ b ắt gặp một hình ảnh mặt trăng
khác hẳn dƣới ngịi bút của em Đào Thu Phong (học sinh trƣờng Tiểu học
Nguyễn An Ninh – Vũng Tàu) đƣợc đăng ở Báo Nhi đồng Thành phơ Hồ Chí
Minh – 1995: “Mặt trăng trịn vành vạnh từ từ nhô lên sau luỹ tre. Trăng đêm
nay sáng quá! Bầu trời điểm xuyến một vài ngôi sao, lấp lánh như những con
đom đóm nhỏ. Ánh trăng vàng dịu mát toả xuống, chảy tràn lan trên mặt đất,
trên các cành cây ngọn cỏ… Không gian mới yên tĩnh làm sao! Chỉ còn tiếng
sương đểm rơi lốp bốp trên lá cây và tiếng côn trùng ra rả trong đất ẩm. Chị
gió chuyên cần nhẹ nhàng làm bay rung rung mấy ngọn xà cừ trồng ven
đường … Thoang thoảng đâu đây mùi hoa thiên lý dịu dàng lan toả… Đêm
quê thật đẹp và êm đềm”.
“Trăng tròn vành vạnh” chỉ có thể là trăn mƣời sáu, nhƣ thế mới có sức
toả sáng bao la tràn ngập đất trời đến vậy. Qua cảm nhận của ngƣời viết, đêm
trăng quê hƣơng ở đây có đủ hình ảnh, âm thanh và hƣơng vị. Hình ảnh có
đêm trăng sáng vời vợi, những ngơi sao lấp lánh, mấy ngọn xà cừ rung rung
trong gió đêm… Âm thanh ở đây là trên nền sự yên tĩnh, có tiếng sƣơng đêm
rơi lốp bốp và tiếng cơn trùng ra rả. Hƣơng vị thoang thoảng đâu đây là mùi
hoa thiên lý dịu dàng… Tất cả các hình ảnhm, âm thanh, hƣơng vị ấy đều gợi
một cảnh tƣợng, một không khí thanh bình, n ả nơi thơn dã. Đó cũng chính
là “hồn q” là tất cả những gì sẽ đọng lại trong lòng ngƣời đọc khung cảnh
đêmn trăng quê huơng thật đẹp và êm đềm
* Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình, hấp dẫn
17
Sinh động và tạo hình là một đặc trƣng và tiêu chí để đánh giá một bài
văn miêu tả hay. Đặc trƣng này thực ra là hệ quả của tính cụ thể, chân thực và
sáng tạo trong văn miêu tả. Nó địi hỏi ngƣời viết dù có miêu tả đối tƣợng nào
ở góc độ nào cũng phải tạo đƣợc sự hấp dẫn, truyên cảm đối với ngƣời đọc.
Muốn vậy, khi miêu tả, các em phải thổi vào đó hơi thở của cảm xúc để miêu
tả trở nên có hồn, nếu khơng đơn thuần chỉ là những dịng chữ khơ khan, lạnh
lùng, khơng để lại ấn tƣợng gì cho độc giả. Một bài văn miêu tả đƣợc coi là
sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, phong cảnh, con ngƣời,… trong đó
hiện lên qua từng câu, từng dịng nhƣ trong cuộc sống thực, tƣởng có thể cầm
đƣợc, nắm đƣợc,…
Tính sinh động, hấp dẫn đƣợc thể hiện ở sự miêu tả hàm súc, lời ít, ý
nhiều, ở những chi tiết đặc biệt, gây ấn tƣợng sâu sắc nơi ngƣời đọc. Cái hay,
cái đặc sắc của bài văn miêu tả đƣợc thể hiện nhờ các chi tiết miêu tả sinh
động. Đọc văn miêu tả ngƣời đọc nhƣ thấy các đối tƣợng vơ tri vơ giác cũng
có hồn, các con vật cũng có đời sống và có những hoạt động nhƣ con ngƣời.
Một bài văn đƣợc coi là sinh động, tạo hình khi các đồ vật, loài vật, phong
cảnh, con ngƣời hiện lên qua từng câu, từng dòng nhƣ đang sống trong cuộc
sống thực, ngƣời đọc tƣởng nhƣ có thể “cầm đƣợc”, nhƣ “sờ đƣợc”, “ngửi
thấy” và “cảm nhận” đƣợc cả cái không gian xung quanh mà đối tƣợng miêu
tả đang tồn tại. Để tạo ra sự sinh động, hấp dẫn trong miêu tả các tác giả
thƣờng dùng các biện pháp nghệ thuật nhƣ: so sánh, nhân hóa , n dụ, cƣờng
điệu... đi cùng với các từ gợi tả, gợi cảm để tạo ấn tƣợng khi miêu tả.
Đặc điểm quan trọng này thuờng chƣa đƣợc làm r trong các tài liệu về
văn miêu tả dùng trong nhà trƣờng Tiểu học hiện nay. Đây là một ph m chất
rất cần thiết của một bài văn miêu tả. M.Gorki có lần phân tích: “Dùng từ để
“tô điểm” cho ngƣời và vật là một việc. Tả một cách sinh động, cụ thể đến nỗi
ngƣời ta muốn lấy tay sờ, nhƣ ngƣời ta thƣờng muốn sờ mó các nhân vật
trong Chiến tranh và hồ bình của Lép – Tơn – Xtơi, đó là một việc khác.”
Một bài văn miêu tả đƣợc coi là sinh động, tạo hình, khi các sự vật,
phong cách, con ngƣời… đƣợc miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng trong
18
cuộc sống thực, tƣởng nhƣ nắm đƣợc, có thể nhìn ngắm đƣợc hoặc sờ mó
đƣợc. Trong “Những chiếc ấm đất” của Nguyễn Tuân, đoạn miêu tả cảnh
ngƣời đầy tớ già gánh nƣớc từ trên chùa về làng là một đoạn văn miêu tả giàu
chất tạo hình. Tuy đoạn này kiệm lời kiệm chi tiết nhƣng sức gợi trong tâm
tƣởng ngƣời đọc lại lớn.
M.Gorki đã nói lên sự khâm phục của mình khi đọc những trang miêu
tả thần diệu của Ban - dắc trong tác ph m “Miếng da lừa”: Tôi thật sự kinh
ngạc khi đọc những trang tả bữa tiệc ở nhà ông chủ nhà băng trong tiểu thuyết
Miếng da lừa của Ban - dắc. Ở đó có đến vài chục ngƣời cùng nói tạo nên
cảnh ồn ào hỗn độn và tôi tƣởng nhƣ nghe thấy những âm thanh phức tạp ấy.
Nhƣng cái chính là tơi khơng chỉ nghe thấy con mắt, nụ cƣời, điệu bộ của họ
mặc dù Ban-dắc khơng tả mặt mày hình dáng các vị khách của ông chủ nhà
băng”. “Ở đây Ban-dắc chỉ dùng những câu chuyện rời rạc bên bàn ăn mà vẽ
lên đƣợc những khn mặt và những tính cách r nét lạ lùng”.
Thật vậy làm nên sinh động, tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết
sống, gây ấn tƣợng… Tƣớc bỏ chúng đi, bài văn miêu tả sẽ trở nên nhạt, vơ
vị, khơng có sức gợi tả hay gợi cảm để cho bài văn miêu tả giàu chất tạo hình.
* Ngơn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh
Ngơn ngữ trong văn miêu tả là yếu tố quan trọng làm nên sức sống của
bài văn. Khác với những văn bản khoa học, ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ
ngôn ngữ đƣợc trau chuốt, chọn lọc giàu cảm xúc và hình ảnh, có thể gây ấn
tƣợng mạnh, tác động sâu xa trong trí tƣởng tƣợng và cảm nhận của ngƣời
đọc. Có nhƣ thế thì ngơn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của
ngƣời viết, vẽ đƣợc một cách sinh động, tạho hình đối tƣợng miêu tả. Ngôn
ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạng của các động từ và tính từ đan
xen nhau tạo thành nhữung hạt pha lê lấp lánh trong văn miêu tả. Tiếng việt
giàu và đẹp, là một kho tàng ngữ liệu vô tận cho nhà văn lựa chọn ngôn ngữ
một cách chính xác và tinh tế. Ngơn ngữ miêu tả là biểu hiện của những cung
bậc tình cảm trong bài văn. Tạo nên màu sắc của cảm xúc của hình ảnh, ngƣời
ta cịn phối hợp tính từ, động từ với nhiều biện pháp so sánh, nhân hoá và n
19
dụ. Mặc dù nghệ thuật miêu tả không phải chỉ tạo hình ảnh nhƣng mà nghệ
thuật của hành văn, sự sống của bài văn miêu tả lại nằm trong hình ảnh. Hình
ảnh thật sự là một cách viết văn mạnh mẽ, một phƣơng thức làm cho sự vật
trở nên nhạy cảm hơn. Nhiều biện pháp tu từ nhƣ: n dụ, so sánh, nhân hố
tạo nên hình ảnh ngơn ngữ
Ngơn ngữ miêu tả gợi tả, gợi cảm, mang tính tƣợng hình làm cho đối
tƣợng miêu tả trở nên lung linh, đẹp. Để tạo nên tính hấp dẫn, truyền cảm
trong bài văn miêu tả, khơng thể khơng nói đến việc lựa chọn và sử dụng các
phƣơng tiện ngôn ngữ. Dùng ngôn ngữ, ngƣời viết có thể miêu tả đối tƣợng,
sự vật trong một q trình vận động, có thể tả từ những thứ hữu hình đến cái
vơ hình nhƣ âm thanh, hƣơng vị, tƣ tƣởng hay tình cảm thầm kín của con
ngƣời. Chất liệu làm nên tính hình tƣợng và đa nghĩa của văn bản nghệ thuật
nói chung và văn miêu tả nói riêng là lớp từ ngữ gợi tả, gợi cảm hay còn gọi
là lớp từ cụ thể. Bản thân lớp từ này mang đến sự cảm nhận tinh tế bằng tất cả
các giác quan để ngƣời đọc có thể nhìn thấy đƣợc những màu sắc, đƣờng nét,
ánh sáng, trạng thái bên ngoài hay những rung động bên trong của sự vật hiện
tƣợng. Để tạo nên giá trị gợi tả, gợi cảm cho bài văn miêu tả ngƣời ta thƣờng
dùng các phƣơng tiện ngơn từ nhƣ tính từ tuyệt đối, các từ láy, từ tƣợng
thanh, tƣợng hình...
Miêu tả trong văn chƣơng khơng nhƣ miêu tả trong khoa học, nó có
ƣu thế riêng so với miêu tả bằng đƣờng nét, màu sắc hội hoạ. Ngơn ngữ
miêu tả có khả năng diển tả cảm xúc của ngƣời viết, vẽ đƣợc sinh động, tạo
hình đối tƣợng miêu tả
Qua khảo sát và tìm hiểu ở các bài văn miêu tả của học sinh tiểu học
đƣợc tuyển chọn cùng với các trích đoạn ở các tác ph m văn học do các nhà
văn sáng tác, chúng ta thấy ngơn ngữ miêu tả giàu các tính từ, động từ thƣờng
hay sử dụng phép nhâ hoá, so sánh, n dụ. Do sự phối hợp của các tính từ
(màu sắc, ph m chất,…), của các động từ với các biện pháp tu từ, ngôn ngữ
miêu tả luôn toả sáng lung linh trong lòng ngƣời đọc. Gợi lên trong lòng họ
những cảm xúc, tình cảm ấn tƣợng, hình ảnh về sự vật về miêu tả.
20
Hay đọc một đoạn văn về hoa sen, một loại hoa đƣợc miêu tả thật là
đẹp với màu sắc không sặc sỡ nhƣng chỉ một màu thanh bạch mà đủ làm tôn
cái vẻ đẹp của hoa “lên khác thƣờng”, không lẫn với bất cứ một loại hoa nào
khác. Hoa sen, một loại hoa rất thân thƣơng và gần gũi với đồng quê Việt
Nam, biểu thị tính cách, ph m hạnh chịu thƣơng chịu khó, chất phác, giản dị
của con ngƣời Việt Nam. Với những chi tiết đƣợc lựa chọn, tác giả đã khăc
hoạ đƣợc hình ảnh, vẻ đẹp “Thanh tân, khả ái” của lồi sen trắng: “… Lúc
hoa cịn búp thì hình trịn mà nhọn trơng như ngịi bút lơng, viết đại tự của
nhà nho ta; kịp đến lúc nở thì hoa mới thật đẹp làm sao. Cánh hoa trăng
trắng nằm trên tấm lá xanh xanh, trên một cái cọng mảnh mạnh trong làn
nước biêng biếc ảmh phản chiếu tận đáy hồ, he hé nở vừa thấy một cái nhuỵ
vàng lấm tấm. Thật là:
“Trong đầm gì đẹp bằng sen”
Hoa sở dĩ q là bở tính chất đạm bạc, màu khơng sặc sỡ chỉ lạt mà giữ
bên, mùi không nồng nàn, chỉ thoang thoảng mà thơm lâu và bởi cái phẩm
cách thanh tao, thân sanh trưởng nơi ô trọc nhưng:
“Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
1.1.2.2. Kĩ năng quan sát trong làm văn miêu tả
1.1.2.2.1. Khái niệm về quan sát
Quan sát rất quan trọng đối với con ngƣời trong cuộc sống, vì vậy nó
đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét.
M. Bakhtin chỉ ra rằng “Trong thế giới, không có cái gì là vật thể, đối
tƣợng, khách thể, chỉ có những chủ thể”, tất cả đều có tiếng nói riêng của nó
đang mời gọi giao tiếp đối thoại. Ngƣời quan sát phải nghe đƣợc những tiếng
nói này và tham gia tích cực, nhiệt tình vào cuộc giao tiếp, đối thoại này.
Quan sát thế giới phải trở thành cuộc giao tiếp giữa các chủ thể, ngƣời quan
sát phải biết nghe, biết đọc, biết khám phá thế giới để phát hiện những điều
mới lạ. Nhƣ vậy, với M. Bakhtin, quan sát sự vật là thực hiện những giao tiếp
không lời với đối tƣợng đang tồn tại xung quanh mình.