TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-----------------------
TRỊNH THỊ HẰNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LẬP
CHO TRẺ 5-6 TUỔI THƠNG QUA
HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG
TĨM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Giáo dục Mầm non
Phú Thọ, 2021
v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1. Danh mục các bảng
Trang
1. %̫QJ: 7UҧOӡLFӫDJLiRYLrQYӅYLӋFWәFKӭFJLiRGөFWtQKWӵOұS
FKRWUҿ-WXәLWK{QJTXDFiFKRҥWÿӝQJJLiRGөF................................
29
%ҧQJ7UҧOӡLFӫDJLiRYLrQYӅYLӋFVӱGөQJFiFELӋQSKiSJLiR
GөFWtQKWӵ7/FKRWUҿ-WXәLWK{QJ TXDKRҥWÿӝQJODRÿ{QJ««
30
3. %̫QJ3: 1KӳQJNKyNKăQJLiRYLrQWKѭӡQJJһSNKLJLiRJLiRGөFWtQK
WӵOұSFKRWUҿ-WXәLWK{QJTXDKRҥWÿӝQJODRÿӝQJ«««««
32
4. %̫QJ41KӳQJ\ӃXWӕҧQKKѭӣQJÿӃQKLӋXTXҧJLiRGөFWtQKWӵOұp
FKRWUҿ5-6 WXәLWK{QJTXD KRҥWÿӝQJODRÿӝQJ««..........««
33
5. %̫QJ5: 7KӵFWUҥQJELӇXKLӋQPӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFӫDWUҿ
5-WXәLWURQJÿӝQJODRÿӝQJӣWUѭӡQJPҫPQRQ«««««««....
38
6. %̫QJ0ӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFKRWUҿ-WXәLWKӵFQJKLӋP
YjÿӕLFKӭQJWURQJODRÿӝQJWUѭӟFNKLWLӃQKjQKWKӵFQJKLӋP
65
7. %̫QJ0ӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFKRWUҿ-WXәLQKyPWUҿWKӵF
QJKLӋPYjÿӕLFKӭQJWURQJODRÿӝQJVDXNKLWLӃQKjQKWKӵFQJKLӋP
68
8. %̫QJ0ӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFӫDWUҿWKӵFQJKLӋPWUѭӟFYj
VDXNKLWKӵFQJKLӋPWUѭӟFNKLWLӃQKjQKWKӵFQJKLӋP«««««««
71
2. Danh mục các biểu đồ
1. %L͋Xÿ͛.ӃWTXҧPӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFKRWUҿ-WXәL
WK{QJTXDODRÿӝQJWUѭӟFWKӵFQJKLӋP«««««««««««««
69
2. %L͋Xÿ͛0ӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFKRWUҿ-WXәLWURQJODR
ÿӝQJӣQKyPÿӕLFKӭQJ««««««««««««««««««...
70
3. %L͋Xÿ͛0ӭFÿӝELӇXKLӋQWtQKWӵOұSFӫDWUҿQKyPWUѭӟFWKӵF
QJKLӋPYjVDXNKLWKӵFQJKLӋP«««««««««««««««...
71
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trước địi hỏi của thời đại, của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,
cần phải có những con người thơng minh, năng động, TL và sáng tạo. Trẻ mẫu
giáo hôm nay sẽ là công dân tương lai, là nhân tố quyết định trong cơng cuộc
phát triển đất nước sau này. Chính vì vậy chăm sóc và giáo dục nhằm phát triển
tồn diện cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu của giáo dục mầm non. Đúng như
Macorenco – Nhà giáo dục Xô Viết vĩ đại những năm 30 – 40 của thế kỉ XX đã
khẳng định: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ lúc
trước tuổi lên 5. Những điều dạy cho trẻ trong thời kì đó chiếm 90% tiến trình
giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó
là lúc bắt đầu nếm quả, cịn những nụ hoa thì đã được vun trồng trong những
năm đầu tiên” và như L.N. Tonxtoi cũng đã từng khẳng định: “Tất cả những cái
gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời
thơ ấu. Trong qng đời cịn lại, những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một
phần trăm những cái đó mà thôi”.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân
và mục tiêu trong chương trình giáo dục mầm non năm 2019 được xác định
Cần phát triển một số giá trị, tính cách chất lượng cần thiết phù hợp với lứa
tuổi như: mạnh, tự tin, TL, sáng tạo, linh hoạt, tự giác. Tạo điều kiện thuận
lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị cho việc học tập ở lớp 1 và
các bậc học sau này có kết quả. Chính ở đây khẳng định, giáo dục và hình
thành tính TL cho trẻ nói chung và cho trẻ mẫu giáo nói riêng là rất cần
thiết.Tính TL có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành nhân cách của trẻ 56 tuổi, thể hiện ở một số mặt như sau: Tính TL là điều kiện phát triển sự tự
ý thức và nhu cầu khẳng định của trẻ; Tính TL xuất hiện ở trẻ thể yêu cầu
muốn thực hiện các hoạt động độc lập, để quản lý mình.
Trong xu hướng đổi mới giáo dục việc tổ chức hoạt động lao động giúp trẻ 56 tuổi có những phẩm chất lao động: Trẻ biết yêu lao động, biết quý trọng người
2
lao động, giúp trẻ nắm được các kỹ năng lao động đơn giản phục vụ cho sinh
hoạt giúp hình thành cho trẻ tính TL trong lao động. Hình thành nhân cách cho
trẻ ngay từ buổi ban đầu đang được các bậc phụ huynh và các cơ sở giáo dục
mầm non đặc biệt quan tâm. Và một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo
dục nhân cách trẻ là làm thế nào để có thể phát huy tính TL cho trẻ. Việc giáo
dục tính TL cho trẻ mầm non sẽ tạo cơ hội cho trẻ tự khẳng định bản thân, có
khả năng giải quyết mọi vấn đề gặp phải trong cuộc sống sau này mà không ỷ
nại, dựa dẫm vào người khác. Chính những điều này sẽ góp phần khơng nhỏ vào
sự thành công của trẻ khi trẻ trưởng thành.
Hiện nay giáo dục mầm non cho thấy, vấn đề GDTTL cho trẻ mà đặc biệt
là trẻ 5-6 tuổi đã có rất nhiều người đã nghiên cứu theo hướng tích hợp nhưng
cịn nhiều hạn chế: Phần đông các giáo viên vẫn sử dụng phương pháp truyền
thống đã được sử dụng nhiều lần. Tuy nhiên một số giáo viên đã cố gắng sử
dụng phương pháp mới xong hiệu quả giáo dục chưa đạt được như mong muốn,
các chủ đề và các tình huống cịn ít, giáo viên cịn lúng túng thiếu sáng tạo trong
GDTTL cho trẻ 5-6 tuổi.
Việc giáo dục tính TL cho trẻ ở trường mầm non có thể được tiến hành dưới
nhiều hình thức khác nhau như: lồng ghép trong hoạt động học tập, chế độ sinh
hoạt hàng ngày, hoạt động vui chơi... Trong đó giáo dục tính TL thơng qua hình
thức lao động là hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lý của
trẻ. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực ti n, chúng tôi quyết định chọn đề tài
“Một số biện pháp GDTTL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động lao động” làm
đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận và thực ti n chúng tơi nghiên cứu, đề xuất một số biện
pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động lao động.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp cơ sở lý luận về một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6
tuổi thông qua hoạt động lao động.
3
- Xác định thực trạng một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi
thơng qua hoạt động lao động.
- Đề xuất một số biện pháp tổ chức giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi
thơng qua hoạt động lao động.
- TN sư phạm nhằm khẳng định hiệu quả và tính khả thi của những biện
pháp đã đề xuất.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động lao
động.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu: Một số biện pháp GDTTL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua
hoạt động lao động ở trường mầm non Gia Cẩm - thành phố Việt Trì - tỉnh
Phú Thọ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa một số vấn đề về lý luận cơ sở về giáo dục
tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động lao động.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát một số biện pháp giáo dục tính TL trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động
lao động.
Quan sát, ghi chép những biểu hiện nhận thức, hứng thú của trẻ trong hoạt
động lao động.
5.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên để điều tra những khó khăn, hạn chế mà
giáo viên gặp phải. Cách thức tổ chức giáo dục tính TL trẻ 5-6 tuổi thơng
qua hoạt động lao động.
Đàm thoại với trẻ để tìm hiểu hiệu quả biện pháp giáo dục tính TL trẻ 5-6 tuổi
thơng qua thơng qua hoạt động lao động.
4
5.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Dự giờ, trao đổi với giáo viên nhằm thu thập những kinh nghiệm quý báu của
các nhà chuyên môn về các biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thơng qua
hoạt động lao động để đưa ra kết luận chính xác và khoa học, rút ra bài học cho bản
thân.
5.2.4. Phương pháp điều tra phiếu anket
Bằng hệ thống câu hỏi điều tra nhận thức của giáo viên mầm non, của phụ
huynh học sinh về việc sử dụng các biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi
thơng qua hoạt động lao động.
5.2.5. Phương pháp thống kê tốn học
Sử dụng các cơng thức tính %, điểm trung bình… nhằm xử lý và phân tích
các kết quả nghiên cứu. Rút ra kết quả định tính trên cơ sở định lượng.
5.2.6. Phương pháp TN sư phạm
TN một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động
lao động.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Làm rõ cơ sở lý luận về quy trình tổ chức hoạt động lao động nhằm phát
huy tính TL cho trẻ 5-6 tuổi, vai trị của việc phát huy tính TL cho trẻ thông qua
hoạt động lao động.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú kho tàng lý
luận về khả năng TL thông qua hoạt động lao động.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đưa ra quy một số biện pháp tổ chức hoạt động lao động giáo dục tính TL
cho trẻ 5-6 tuổi.
Đề tài xuất một số biện pháp tài liệu tham khảo cần thiết cho sinh viên
nghành giáo dục mầm non và giáo viên mầm non quan tâm đến vấn đề giáo dục
giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động lao động.
7. Cấu trúc khóa luận
Cấu trúc khóa luận gồm:
5
Mở đầu:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực ti n của vấn đề.
Chương 2: Một số biện pháp giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thơng qua
hoạt động lao động.
Chương 3: TN sư phạm.
Kết luận và kiến nghị.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trên thế giới
Vấn đề giáo dục tính TL cho trẻ từ lâu đã được các nhà tâm lí học và giáo
dục học quan tâm nghiên cứu bằng các biện pháp, phương pháp khoa học khác
nhau. Họ đều gặp nhau tại một điểm khẳng định vai trị của tính TL đối với sự
hình thành và phát triển nhân cách con người.
Tiêu biểu như cơng trình nghiên cứu của các tác giả như: L.I.Kaplan [5]
T.I.Ganhelin [1] Vengher [6] A.A.Xơmirơnôp [7] E.I.Đơmitriev [2]. Các tác giả
đều đã khẳng định tính TL khơng tự nhiên mà có, những tư chất tự nhiên của
con người chỉ là những điều kiện cần thiết cho việc hình thành tính TL dưới sự
hướng dẫn và giúp đỡ của người lớn.
Theo tác giả T.I.Ganhelin [4] .A.Xơmirơnôp [6] E.I.Đơmitriev [2] tính
TL chỉ được thể hiện một cách thực sự trên cơ sở đã có những hiểu biết, kĩ
năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống mới. Tính TL
được thể hiện thơng qua hành vi của con người trong các mối quan hệ của con
người với thế giới xung quanh.
Một số nhà nghiên cứu gắn tính TL với các q trình tâm lí như: tư duy
chú ý, trí nhớ phản ánh trong cơng trình của các tác giả: S.L.Rubinstein [4] T.I
.Galina, [3], I.U.A. Đmitriêva [7]. Theo các tác giả tính TL gắn chặt với ý chí và
xem nó như một cấu trúc phức tạp, nhưng khi đã được hình thành thì tồn tại như
một phẩm chất tính cách bền vững và không thay đổi.
Trong giáo dục mẫu giáo, N. K. Krupaipa [2] nhiều lần nhấn mạnh phải
dạy trẻ những hình thức lao động đơn giản vừa với sức trẻ. A. S. Macarencô
cho rằng, trong lao động sẽ hình thành tính độc lập, tinh thần trách nhiệm, sự
tự tổ chức hành vi có mục đích của trẻ. Trẻ biết lao động thì cũng biết giá trị
7
của nỗ lực lao động, biết tôn trọng lao động của người khác, chú ý nhiều hơn
đến những người cần giúp đỡ. Cũng như N.K. Krupaipa [7] A.S. Macarenkô
[5] rất chú trọng lao động tập thể của trẻ. Ông viết: Sự cố gắng lao động chung,
công việc trong tập thể, sự giúp đỡ của con người lao động, mối quan hệ phụ
thuộc giữa mọi người lao động mới có thể tạo ra thái độ đúng đắn giữa con
người với nhau.
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các tác giả: T.I Galina,
K.D.usinxki [3] R.G.Nheatreva, [5] A.A.Liublinxkaia [1] T.Guscova [8]. Các tác
giả qua nghiên cứu đều đã khẳng định vai trò của người lớn trong việc phát triển
tính TL cho trẻ. Đồng thời họ cũng nhận định rằng lao động cho trẻ có vai trị hết
sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển tính TL.
Theo N.K.Krupxkaia [7] tính TL được hình thành ngay từ tuổi mầm non.
Bà quan tâm đến sự phát triển và hình thành tính TL của trẻ thông qua lao động.
Bà nhấn mạnh, lao động phát triển tính TL của trẻ nhiều hơn cả so với các dạng
hoạt động khác của trẻ.
Tóm lại: Các nhà tâm lí, giáo dục học đã đi sâu nghiên cứu bản chất của
tính TL, khẳng định rõ vị trí quan trọng của phẩm chất TL trong cấu trúc nhân
cách, sự thành cơng trong việc hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách này
phụ thuộc rất nhiều vào sự giáo dục và giúp đỡ của người lớn đối với trẻ. Họ
cũng khẳng định muốn hình thành tính TL cho trẻ, người lớn phải tạo điều kiện
cho trẻ tự thực hiện những nhiệm vụ vừa sức phù hợp với trẻ.
1.1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước
Hiện nay ở Việt Nam, đã có một số cơng trình nghiên cứu về tính TL của
trẻ 5-6 tiêu biểu như:
Tác giả: Nguy n Thanh Huyền [12] Luận án tiến sĩ: “Các biện pháp giáo
dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thơng qua chế độ sinh hoạt tại trường mầm non”.
Tác giả đã cho rằng chế độ sinh hoạt ở trường mầm non là sự luân phiên các
hoạt động của trẻ trong một ngày với những yêu càu cụ thể là điều kiện cơ bản
giúp trẻ hình thành tính TL.
8
Tác giả Nguy n Hồng Thuận [13] Luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp
tác động của gia đình nhằm phát triển tính TL cho trẻ 5-6 tuổi” và luận văn
thạc sĩ: “Một số biện pháp tác động của gia đình nhằm phát triển tính TL
cho trẻ 5-6 tuổi” của Đỗ Thị Hồng Hạnh, [14] đã chứng minh được vai trị
của cha mẹ trong việc giáo dục tính tự lực cho trẻ 5-6 tuổi, cách sử dụng có
hiệu quả các biện pháp giáo dục sẽ góp phần hình thành và pháp triển tính
TL cho trẻ nhằm phát triển tồn diện nhân cách của trẻ. Tác giả Nguy n
Hồng Thuận đã đề xuất và TN có kết quả các nhóm biện pháp tổ chức hoạt
động, hình thành ở trẻ kỹ năng hoạt động một cách độc lập, nhóm biện pháp
hình thành ý TL và nhóm biện pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh ứng
xử ở trẻ.[5]
Tác giả Nguy n Thị Kim Ngân [15]Luận văn thạc sĩ: “Một số biện
pháp giáo dục tính TL cho trẻ 24-36 tháng trong hoạt động với đồ vật”. Tác
giả đã đề xuất và TN có kết qua một số biện pháp giáo dục nhằm pháp triển
giáo dục tính TL cho trẻ. Tác giả cũng cho rằng nếu có biện pháp hướng dẫn
trẻ trong hoạt động với đồ vật phù hợp thì tính tự lực của trẻ sẽ được hình
thành và trên thuận lợi. Tác giả Nguy n Thị Kim Ngân và Nguy n Hồng
Thuận cho rằng: Tính TL có nhiều nét tương đồng với tính tự lực có biểu
hiện thiên xu hướng thiên về khía cạnh hành vi.[8]
Trong luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu tính tự lực của trẻ 5 tuổi tại
trường mầm non Bé Ngoan, Phường Đa Kao, Quận 1, TP.HCM ” của
Nguy n Thị Thu Dung [16] đã cho thấy trẻ 5 tuổi có biểu hiện tính TL trong
các hoạt động trường mầm non nhưng 11 chưa cao tác giả đã đề xuất và TN
có kết quả một số biện pháp giáo dục tính TL của trẻ 5 tuổi tại trường mầm
non Bé Ngoan.
Một số nhà nghiên cứu gắn trong quá trình giáo dục cơ bản có chức
năng hướng dẫn trẻ rèn luyện mình trong lao động, nhằm giúp trẻ nắm được
một số kỹ năng, kỹ xảo lao động đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị
cho trẻ sau này d tham gia vào đời sống lao động. Đồng thời giúp trẻ hiểu
9
được vai trị của lao động, có tình cảm trong sáng đối với lao động: như yêu
thích lao động, quý trọng người lao động.
Như vậy, tại Việt Nam đã có một số cơng trình nghiên cứu về tính TL
và tính tự lực của trẻ 5-6 tuổi. Các tác giả đã khái quát hóa những vấn đề lý
thuyết, đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục phẩm chất này trong các
hoạt động khác nhau.
Tuy nhiên chưa có những nghiên cứu đi sâu, cụ thể về các biện pháp giáo
dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thơng qua hoạt động lao động. Vì vậy cần phải
nghiên cứu đưa ra các biện pháp hữu hiệu để giáo dục phẩm chất này của trẻ.
Tóm lại: Tác giả đã đề cập đến phẩm chất hoạt động lao động. Tuy nhiên
chưa nghiên cứu hoạt động lao động cho trẻ 5-6 tuổi về GDTTL là một vấn đề
rộng và phức tạp, trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ xin tập trung đi sâu vào một
vấn đề quan trọng, chưa được giải quyết trong lý luận và thực ti n giáo dục mầm
non Việt Nam. Đó là nghiên cứu một số biện pháp GDTTL cho trẻ 5-6 tuổi
thông qua hoạt động thông qua hoạt động lao động.
1.1.2. Giáo dục tính TL cho trẻ 5-6 tuổi
1.1.2.1. Khái niệm về tính TL
Trong cuốn đại từ điển Tiếng Việt (1999) do tác giả Nguy n Như Ý chủ
biên có định nghĩa về tính TL như sau: TL là tự sức mình làm lấy, khơng dựa
dẫm nhờ vả vào người khác. [10]
Từ điển Việt – Anh (Tác giả Đặng Chấn Liêu và Lê Khả Kế) (1987) giải
thích: “TL” (Independent) có nghĩa là độc lập trong hành động. [11]
Các nhà giáo dục đều khẳng định tính TL là phẩm chất ổn định của nhân
cách, có ý nghĩa rộng lớn đối với sự phát triển của con người, có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Theo chúng tơi: “Tính TL là một phẩm chất quan trọng của nhân cách
được hình thành trong quá trình hoạt động của cá nhân với các sự vật hiện
tượng, với người khác và với bản thân. Nó đặc trưng cho thái độ tự tin vào khả
năng của bản thân , thể hiện khả năng tự đặt mục đích, nhiệm vụ hành động, tự
10
điều khiển, điều chỉnh bản thân, sử dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, có sự nỗ
lực cao về trí tuệ, thể lực để đạt mục đích đã đề ra”.
1.1.2.2. Đặc điểm tính TL cho trẻ 5-6 tuổi
Các nhà tâm lí – giáo dục học nghiên cứu về tính TL của trẻ lứa tuổi
mầm non như: N.M. acxarina [7] B.G Ananhiep [1], N Gôđina [13], M.I
Lixina…[7] Đều khẳng định rằng: Tất cả mọi đứa trẻ bình thường cả về tâm lí
và sinh lí đều có nhu cầu và có cố gắng tự thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào người
lớn trong một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày.
Ở trẻ 5-6 tuổi tính chủ định của các q trình tâm lí đã phát triển mạnh
mẽ, trẻ có khả năngTL trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Chính ý thức về bản thân, nhu cầu muốn khẳng định mình là nguồn gốc làm nảy
sinh những ý muốn và hành động độc lập.
Như vậy tính TL của trẻ 5-6 tuổi là một phẩm chất nhân cách được hình
thành trong quá trình hoạt động của cá nhân với các sự vật hiện tượng với người
khác và với bản thân, khả năng hoạt động TL, tự đặt mục đích, lựa chọn phương
tiện, cách thực hoạt động, tự đánh giá, kiểm tra bản thân, có sự nỗ lực cao về trí
tuệ, thể lực, ý chí trong q tình hoạt động.
Đến trẻ 5-6 tuổi, tính TL biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng tự
khẳng định mình trong tập thể, ở những dấu hiệu TL trên bình diện rộng và sâu
hơn. Những biểu hiện đặc trưng về tính TL của trẻ 5-6 tuổi thể hiện qua các hoạt
động bằng các dấu hiệu sau:
a. Tính chủ động trong các ý định của mình (có nghĩa là xuất hiện khả năng TL
kế hoạch hành động)
Ở giai đoạn 5-6 tuổi, tính chủ định của các q trình tâm lí đã phát triển,
khả năng TL trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, tự tổ chức quá trình
hoạt động đạt kết quả bước đầu: trẻ đã có các kĩ năng tự đặt mục đích và nhiệm
11
vụ hoạt động , tự điều khiển bản thân, huy động toàn bộ sức mạnh về vật chất,
tinh thần để đạt được mục đích.
Kĩ năng này được thể hiện rất rõ nét tính TL trong hoạt động lao động. Khi tham
gia vào lao động này trẻ được thỏa mãn nguyện vọng là sống và hoạt động như người
lớn, trong khi lao động, trẻ tái tạo lại đời sống xã hội xung quanh và qua đó biết điều
chỉnh hành vi của mình phù hợp với chuẩn mực xã hội.
Nhiệm vụ của người lớn trong việc giáo dục tính TL cho trẻ ở giai đoạn
này là sự giúp đỡ tế nhị.
b. Sự quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đặt ra
Đặc điểm này thể hiện sự mong muốn đạt được kết quả mong đợi, chứ
khơng phải là kết quả bất kì. Trẻ trở nên TL, linh hoạt, kiên trì, tự giác những
hành động khơng có kết quả khơng làm tan ý định, khơng làm trẻ từ bỏ ý định
mà buộc trẻ tập trung chú ý hơn nữa vào hành vi của mình.
Sự quyết tâm của trẻ được kích thích bởi những mong muốn (có suy xét)
đạt mục đích đã được hình dung một cách rõ ràng.
Sự động viên giúp đỡ của người lớn có vai trị rất quan trọng trong cả hai
tình huống trên, nhằm giúp trẻ có sự say mê kiên trì, nỗ lực ý chí để hồn thành
nhiệm vụ.
Q trình hoạt động TL đòi hỏi ở trẻ sự căng thẳng của hoạt động trí tuệ
và thể lực, kĩ năng vượt khó khăn bên trong và bên ngoài để đạt được mục đích.
Ý chí của trẻ thể hiện sức mạnh tinh thần và thể lực giúp trẻ tạo dựng những giá
trị vật chất và tinh thần, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Nếu khơng có sự nỗ lực của
ý chí, trẻ khó thành cơng trong việc đạt mục đích ở những hồn cảnh khác nhau.
Vì vậy sự nỗ lực ý chí là biểu hiện cơ bản tính TL của trẻ 5-6 tuổi, thể hiện ở kĩ
năng biết vượt khó khăn để đạt được mục đích.
c. Sự tự tin
Tự tin là sự kết tinh những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với
mình và ý chí của mình, là sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành
động. Niềm tin tạo cho trẻ nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan
12
điểm của bản thân, tạo cho trẻ tính kiên định khi hành động, giúp trẻ có nhu
cầu trạng thái hành động dưa trên năng lực của bản thân, tin tưởng yêu quý,
trân trọng mình. Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá
trình hành động.
d. Khả năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động và đánh giá bản thân
như một chủ thể hành động
Tự kiểm tra và tự đánh giá khơng chỉ hồn thành giai đoạn hình thành
tính TL như một cấu trúc trọn vẹn của nhân cách, mà còn thay đổi cơ bản tự ý
thức của trẻ và những hiểu biết, thái độ của trẻ đối với bản thân.
Trong giai đoạn này người lớn cần tạo cơ hội để trẻ trải nghiệm những
cảm xúc thỏa mãn khi trẻ thành công trong công việc một cách TL, không
bỏ qua những thành công dù là nhỏ nhất của trẻ. Chính bằng cách đó hình
thành ở trẻ thói quen TL thực hiện các hành động. Đồng thời cô giáo cần kết
hợp giữa việc khen thưởng những thành cơng của trẻ, hoặc phê bình trách
phạt khi trẻ phạm sai lầm với việc phân tích cho trẻ thấy động cơ hay quá
trình thực hiện hành động của chúng đã tốt hay chưa, tốt ở chỗ nào. Dần dần
trẻ trẻ bắt đầu biết tự đánh giá bản thân thơng qua hoạt động của mình, biết
tự kiểm sốt từng hành vi của mình và chúng có thể biết tự điều chỉnh.
e. Có biểu hiện mang tính sáng tạo
Tính TL của trẻ nhỏ được thể hiện thông qua một số những biểu hiện
mang tính sáng tạo. Đó là những biểu hiện tìm tịi, sáng kiến tạo nên những
cái mới, cái độc đáo trong hoạt động dựa trên những kiến thức, kĩ năng mà trẻ
đã có.
Ở trẻ 5-6 tuổi tính TL đã phát triển, có những dấu hiệu đặc trưng riêng
biệt thể hiện qua các hoạt động xác định sự trưởng thành về nhân cách.
Tuy nhiên ở trẻ 5-6 tuổi tính sáng tạo của trẻ dừng lại ở mức độ kiến
thức kinh nghiệm mà trẻ đã có sẵn. Trẻ khơng thể tự hoạt động trong những
điều kiện thay đổi nhiều hay trong những tình huống hồn cảnh mới.
13
Như vậy, tính TL của trẻ bao giờ cũng là sản phẩm của sự tuân theo
những yêu cầu của người lớn và đồng thời là sản phẩm của những sáng kiến
riêng của trẻ. Trẻ càng nắm vững các kĩ năng, các quy tắc ứng xử thì trẻ
càng trở nên độc lập, sáng tạo hơn.
1.1.2.3. Vai trị của tính TL đối với nhân cách trẻ
Tính TL có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách
của trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng. Vai trị của tính TL thể hiện
ở một số mặt cụ thể sau:
a. Tính TL tạo điều kiện phát triển trí tuề và xúc cảm của trẻ
Trong những năm gần đây, ở nhiều nước phương tây người ta quan tâm
nghiên cứu tới vấn đề xúc cảm ở con người và sự giáo dục xúc cảm cho mọi
người, đặc biệt là lớp trẻ. Hiện nay người ta chứng minh được rằng trí thơng
minh xúc cảm có vai trị to lớn cho những thành tích xuất sắc, sự thăng tiến nghề
nghiệp trong cuộc đời mỗi người.
Tính TL có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến trí thơng minh xúc cảm của
trẻ. Xét trên bình diện tâm lí học, trong q trình hoạt động TL, trẻ tự nhận biết xúc
cảm của mình, có lòng tự tin và khả năng tự điều khiển, kiểm sốt cảm xúc của
mình.
b. Tính TL ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hình thành những chuẩn mực và
hành vi đạo đức ở trẻ
Trẻ 5-6 tuổi thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như là
những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân. Tính TL sẽ điều
chỉnh hành vi của trẻ cho phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội,
từ đó mà hành vi của trẻ mang tính chủ động rõ nét hơn. Tính TL sẽ giúp trẻ đạt
mục đích cho hành động và lập kế hoạch để thực hiện hành động. Tính TL ở trẻ
5-6 tuổi được coi như một biểu hiện rõ nhất của ý thức khiến cho nhân cách của
trẻ được khẳng định.
c. Tính TL liên quan trực tiếp đến q trình phát triển tính tích cực sáng tạo của trẻ
14
Tính TL liên quan chặt chẽ đến tính tích cực. Tính tích cực và tính TL là
hai tính cách có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ.
Nhiều nhà khoa học đã nhận định: Nhờ có tính TL mà giáo viên hướng trẻ hoạt
động tích cực hơn. Tích cực là một trong những chỉ số và điều kiện của việc
phát huy tính TL của trẻ. Q trình phát triển tính TL được hình thành bằng
con đường tích cực hóa cá nhân. Vì vậy hai tính cách này của trẻ liên quan
chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhân cách trẻ phát triển.
d. Tính TL thúc đẩy nhanh q trình chuẩn bị vào lớp 1 của trẻ
Bước vào trường phổ thông là một bước ngoặt trong đời sống của trẻ
với những điều kiện hoạt động mới và một địa vị mới trong xã hội. Trong
quá trình học tập, để chiếm lĩnh tri thức khoa học đòi hỏi học sinh lớp 1
phải biết làm việc một cách tự giác, độc lập... Điều đó địi hỏi trẻ phải có
tính TL cao.
Tính TL sẽ giúp cho trẻ có tính chủ động, bền bỉ và sự nỗ
lực của ý chí trong q trình hoạt động. Tn theo nội quy của nhà trường
và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra. Tính
TL giúp trẻ có niềm tin vào bản thân để kiên trì theo đuổi mục đích học tập
và tiếp nhận những tri thức khoa học có hệ thống. Đặc biệt tính TL khơi
dậy sự sáng tạo, lịng ham hiểu biết, thích khám phá những điều mới trong
thế giới tự nhiên và cuộc sống xã hội.
Như vậy trẻ 5-6 tuổi là giai đoạn trẻ rất nhạy cảm với vấn đề đạo đức.
Giáo viên mầm non cần hiểu rõ sự phát triển của trẻ để sử dụng các biện pháp
giáo dục đúng đắn nhằm hình thành tính TL cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt
động lao động ở trường mầm non.
1.1.3. Lao động là phương tiện giáo dục tính tự lập cho trẻ 5-6 tuổi
1.1.3.1. Khái niệm lao động
Lao động là một q trình giáo dục cơ bản có chức năng hướng dẫn trẻ
rèn luyện mình trong lao động, nhằm giúp trẻ nắm được một số kỹ năng, kỹ
xảo lao động đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và chuẩn bị cho trẻ sau này d
tham gia vào đời sống lao động. Đồng thời giúp trẻ hiểu được vai trò của lao
15
động, có tình cảm trong sáng đối với lao động: như yêu thích lao động, quý
trọng người lao động.
1.1.3.2. Bản chất của lao động
Lao động là một hoạt động đặc trưng của con người, trong đó con người
sử dụng những năng lực bản chất và những phương tiện nhất định để tác động
lên đối tượng nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần đáp ứng nhu
cầu sống và phát triển của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội.
Khác với hành vi bản năng của con vật, hoạt động của con người bao giờ
cũng có mục đích, có kế hoạch. Trước khi bắt tay vào cơng việc bao giờ con
người cũng xác định rõ mục đích của lao động (để làm gì), phương pháp,
phương tiện để đạt được mục đích (làm như thế nào). Trong q trình lao động
của con người, phối hợp lao động cơ bắp với lao động trí óc để tạo ra sản phẩm.
Sản phẩm lao động của con người vừa có tính vật chất vừa có tính tinh thần.
Ở trẻ 5-6 tuổi, hoạt động khơng có ý nghĩa sản xuất ra của cải vật chất cho
xã hội, mà thông qua việc tổ chức cho trẻ những công việc lao động vừa sức và
cần thiết. Chúng ta có điều kiện tốt để giáo dục và phát triển tốt để giáo dục và
phát triển toàn diện cho trẻ.
Lao động của trẻ 5-6 tuổi chủ yếu là lao động tự phục vụ mang tính bắt
chước. Trẻ tự phục vụ việc ăn uống, vệ sinh, bắt chước công việc mà người lớn
làm: bắt chước quét nhà, quét sân, giặt quần áo, tưới cây...
Động lực thúc đẩy trẻ tham gia hoạt động lao động thỏa mãn thú vui của
trẻ và nhu cầu tự khẳng định của mình. Trẻ muốn tự làm lấy mọi việc (tự ăn
cơm, uống nước, mặc quần áo,..) không muốn người lớn can thiệp, giúp đỡ.
Hoạt động lao động của trẻ có mỗi quan hệ mật thiết với hoạt động vui
chơi và hoạt động học tập. Thường động cơ chơi chi phối, thúc đẩy trẻ lao động:
lao động vui chơi, thỏa mãn nhu cầu được làm như người lớn, trẻ lao động để
mà chơi và chơi để tham gia vào một công việc lao động xã hội của người lớn.
Qua lao động trẻ học được một số kĩ năng sử dụng công cụ lao động, hiểu
hơn đối tượng lao động. Ngược lại, nhờ có hoạt động học tập mà trẻ có những kĩ
năng lao động cần thiết để thực hiện các công việc lao đông.
16
1.1.3.3. Đặc điểm lao động của trẻ 5-6 tuổi
Để thực hiện các nhiệm vụ giáo dục lao động cho trẻ 5-6 tuổi cần xem xét
tất cả các yếu tố tạo nên bản chất của quá trình lao động của trẻ.
a. Tính mục đích trong hoạt động lao động của trẻ 5-6 tuổi
Lao động của trẻ 5-6 tuổi phải phục tùng các mục đích dạy học và giáo dục.
Trong q trình lao động, lúc đầu, giáo viên phải đặt ra mục đích cho trẻ. Song ở
lứa tuổi mẫu giáo lại thường gặp những hành động theo trình tự. Khác với hành
động có mục đích, nó có thể được nhắc lại nhiều lần mà không theo đuổi một
nhiệm vụ nhất định, trẻ hành động vì thích thú với bản chất q trình hành động.
Tính chất hợp lí của các hành động (có đặc tính hành động với đồ vật) xuất hiện
trên cơ sở bắt chước. Ngay từ đầu, sự bắt chước đã mang tính chất trí tuệ “bản thân
q trình bắt chước đòi hỏi phải hiểu rõ ý nghĩa hành động của người khác. Quả
vậy, trẻ mà khơng hiểu thì khơng thể bắt chước người lớn. Bản thân sự bắt chước là
một q trình phức tạp địi hỏi phải có sự hiểu biết bước đầu”. (S. Vưgốtxki) - Hiểu
hành động là một điều kiện của bắt chước, là điều kiện quan trọng đối với hành
động định hướng đơn giản đầu tiên.
Hành động với đồ vật khi trẻ biết tên các đồ vật, hiểu cơng dụng và cách sử
dụng nó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhân cách của trẻ, giúp trẻ
hiểu khả năng của mình (tuy chưa đầy đủ và hình xác) và muốn độc lập với
người lớn (trẻ thường nói để nó tự làm).
Những hành động của trẻ từ 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi như tự mặc và bởi quần
áo, đi giày dép, ăn uống, chải đầu, rửa ráy, tuy cịn thơ sơ nhưng ý nghĩa của chúng
lại rất lớn và phần lớn trường hợp trẻ đạt được mục đích do hồn thành hành động
này. Đây khơng cịn là chơi nữa, nó là mầm mống của hoạt động lao động và sau
này khi 3-4 tuổi đó là một hình thức lao động trong gia đình, lao động tự phục vụ
và lao động thủ công. Việc tiếp tục phát triển hành động với đồ vật và hoạt động
định hướng đầu tiên sẽ dẫn trẻ đến trò chơi, chủ yếu với những đồ chơi giống vật
thật.
Mục đích hoạt động lao động của trẻ thường do giáo viên đặt ra và yêu
cầu trẻ thực hiện.
17
Trẻ 2 đến 3 tuổi thường khó thực hiện được mục đích lao động mà người
lớn đặt ra cho trẻ. Chỉ có trẻ từ 6-7 tuổi mới hiểu rõ những mục đích xa (trồng
cây để sau này lấy quả, củ, lá …), muốn thực hiện được mục đích cần phải tổ
chức hoạt động chung theo nhóm (2 hay 3 em).
Cũng cần phát triển ở trẻ khả năng tự đặt mục đích và thực hiện mục đích.
Trẻ mẫu giáo nhỡ và lớn có thể đặt mục đích trong những cơng việc quen thuộc
hằng ngày như xếp gọn đồ chơi lên giá, thu dọn các vật liệu xây dựng, chăm sóc
vật ni v.v… Trong những hình thức lao động mà trẻ thu được kết quả bằng vật
chất: trồng hoa, trồng rau, làm đồ chơi bằng giấy, gỗ. Ở lứa tuổi này, hoạt động
có mục đích của trẻ rất bền vững vì đã có động cơ mang ý nghĩa xã hội.
b. Tính kế hoạch trong hoạt động lao động của trẻ 5-6 tuổi
Trong lao động, tính tích cực sáng tạo của trẻ có ý nghĩa quan trọng: suy
nghĩ đến công việc sắp làm: chọn các vật liệu, dụng cụ cần thiết, khắc phục khó
khăn để đạt kết quả đề ra. Đó là việc “xây dựng kế hoạch” hoạt động.
Lúc đầu, giáo viên thường giúp trẻ xây dựng kế hoạch. Khả năng xây
dựng kế hoạch hoạt động được hình thành dần dần từ những hành động đơn giản
được thực hiện theo trình tự lơgic.
Ví như: trẻ mẫu giáo bé có thể đề ra yêu cầu hành động có tổ chức trong
q trình sinh hoạt. Lúc đầu làm gì, sau đó làm gì, vì sao làm theo trình tự này
chứ khơng theo một trình tự khác (đi rửa mặt, cởi khuy áo, xắn tay áo, mở vòi
rửa tay, xát xà phòng, rửa sạch, lau tay v.v…).
Sang đến tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn, cơ giáo cần khích lệ trẻ tự
xác định trình tự cơng việc cần làm sao cho hợp lí, nhằm mang lại kết quả tốt
đẹp. Đó là cơ sở ban đầu để hình thành kế hoạch hành động – một yêu cầu quan
trọng trong hoạt động lao động sau này.
Cần tạo ra tình huống đặt trẻ vào điều kiện bắt buộc phải suy nghĩ sơ bộ
về kế hoạch hành động. Việc hoàn thiện kỹ năng xây dựng kế hoạch di n ra
trong cơng việc hằng ngày (làm trực nhật, chăm sóc góc thiên nhiên…).
c. Kết quả lao động
18
Hoạt động lao động bao giờ cùng nhằm đạt một kết quả. Kết quả là thành
phần bắt buộc của lao động. Nhưng trong trường mẫu giáo, không thể coi là
nhiệm vụ chính của hoạt động. Việc đạt kết quả trước hết có ý nghĩa như một
yếu tố có tác dụng giáo dục cho trẻ hứng thú lao động; giúp trẻ biết đánh giá
đúng kết quả lao động, so sánh với thành tích của bạn. Do vậy, trong q trình tổ
chức lao động cho trẻ 5-6 tuổi, cô giáo cần giúp trẻ thấy được thành tích của
mình; phải ln nhận xét, xác nhận những thành tích của trẻ. Q trình tổ chức
lao động đúng đắn sẽ đem lại cho trẻ niềm vui, sự hứng thú trong lao động, từ
đó, trẻ hình thành thái độ đúng đắn đối với lao động.
d. Lao động và trò chơi
Lao động của trẻ 5-6 tuổi gắn liền với trò chơi. Mối liên hệ qua lại này thể
hiện ở các hình thức khác nhau: Hành động của trẻ thường nhằm mơ tả q trình
lao động của người lớn, các yếu tố của hành động lao động được thể hiện trong
trò chơi, hoạt động lao động phục vụ …
Khi trẻ tham gia lao động, động cơ thúc đẩy trẻ tích cực, tự giác thường
do động cơ chơi chi phối: được làm bác cấp dưỡng bày bàn ăn, chia cơm canh
cho các bạn; được trở thành người làm vườn tưới nước cho cây; dọn bàn ghế, cất
đồ chơi thật nhanh để thắng bạn… Do vậy, khi tổ chức cho trẻ lao động cần
quán triệt phương châm: “Làm mà chơi, chơi mà làm”. Nghĩa là giờ lao động
của trẻ phải di n ra nhẹ nhàng như là chơi vậy, hay ít ra cũng cần đưa yếu tố
chơi để kích thích tính tích cực, tự giác của trẻ.
1.1.3.4. Nội dung giáo dục lao động cho trẻ 5-6 tuổi
Tìm hiểu những kiến thức về hoạt động lao động:
Giúp đỡ trẻ tìm hiểu lao động của người lớn và giáo dục lòng yêu quý
người Iao động và sản phẩm của người Iao động.
Giáo dục các kĩ năng lao động đơn giản, như tự phục vụ bản thân, lao
động trong sinh hoạt tập thể, chăm sóc vật ni, cây trồng làm đồ dùng, đồ chơi
đơn giản bằng vật liệu thiên nhiên.
Giáo dục trẻ hứng thú lao động, lòng yêu lao động, giáo dục động cơ lao
động vì tập thể, tính độc lập và kĩ năng lao động trong tập thể, vì tập thể.
19
Ở trường mẫu giáo, trong gia đình và mơi trường xã hội, trẻ được tiếp xúc
với lao động của người lớn và những kết quả do lao động mà có. Lúc đầu, trẻ
mới chú ý đến bản thân hành động lao động, các thao tác lao động, việc sử dụng
các công cụ lao động, sự vận động của các cơ chế máy móc hấp dẫn, lơi cuốn
trẻ. Đó chỉ là những yếu tố bên ngoài của lao động, về sau, do sự tích luỹ kinh
nghiệm bản thân và sự giải thích của cơ giáo, trẻ dần dần hiểu biết được lao
động của người lớn, ý nghĩa xã hội và lợi ích của lao động. Từ những hiểu biết
đó hình thành ở trẻ lịng tơn trọng đối với lao động của người lớn và thái độ giữ
gìn kết quả của lao động. Đó là những nhân tố sơ đẳng, ban đầu về lao động mà
trẻ cần hiểu biết.
Song, việc tổ chức cho trẻ trực tiếp tham gia các hình thức lao động phù
hợp với sức khoẻ và tâm lí lứa tuổi có ý nghĩa giáo dục thực sự, trẻ mới cảm
thấy lao động là khó khăn và sự cần thiết phải lao động, phải có sự nỗ lực hồn
thành cơng việc được giao. Việc dạy cho trẻ biết lao động hợp lí là cơ sở của
việc tổ chức lao động. Điều đó thể hiện ở việc giáo dục cho trẻ những kĩ năng và
kỹ xảo lao động đơn giản (kĩ năng, kĩ xảo lao động trong sinh hoạt, trong thiên
nhiên, lao động thủ công …). Tuỳ theo sự phát triển và trưởng thành của trẻ mà
nâng dần yêu cầu đối với chất lượng, trình độ tổ chức, khối lượng lao động và
nhịp độ cơng việc.
Trong q trình dạy các kĩ năng lao động, giáo viên hình thành ở trẻ
nguyện vọng tự thực hiện các thao tác vừa sức trẻ, chỉ cần đến sự giúp đỡ khi
thật cần thiết. Cần hình thành cho trẻ niềm tin vào sức mình, niềm vui đối với
kết quả lao động, động viên mọi ý định thể hiện tính độc lập của trẻ. Lao động
phải mang đến niềm vui cho trẻ. Từ đó hình thành lịng u lao động.
Trường mẫu giáo cịn có nhiệm vụ hình thành cho trẻ kĩ năng lao động
trong tập thể. Việc lao động trong tập thể (nhóm) hình thành ở trẻ khái niệm về
tinh thần trách nhiệm chung đối với công việc được giao, kĩ năng lao động phối
hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động.
1.1.3.5. Ý nghĩa của giáo dục lao động cho trẻ 5-6 tuổi