TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM NON
-----------------------
LÊ BÍCH NGỌC
HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG
CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Thu Thủy
Phú Thọ, 2020
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT………………………………….ii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... iii
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............. 1
1.1.Cơ sở lí luận ............................................................................................ 1
1.2. Cơ sở thực tiễn (Thực trạng dạy học cảm thụ văn học thơng qua hình
tượng nghệ thuật ở Tiểu học) ....................................................................... 25
1.2.1. Thực trạng của dạy học cảm thụ văn học ở Tiểu học ..................... 25
1.2.2. Thực trạng của hoạt động cảm thụ văn học của HS Tiểu học ........ 25
1.3. Thống kê và khảo sát các tác phẩm trong chƣơng trình Tiếng Việt
ở Tiểu học về hình tƣợng ngƣời lính ........................................................ 27
1.3.1. Thống kê ......................................................................................... 27
1.3.2. Nhận xét .......................................................................................... 28
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ............................................................................... 29
CHƢƠNG 2: ĐẶC SẮC HÌNH TƢỢNG NGƢỜI LÍNH TRONG
CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC. ..................................... 30
2.1. Đặc sắc nội dung hình tƣợng ngƣời lính trong chƣơng trình Tiếng
Việt ở Tiểu học............................................................................................ 30
2.1.1. Người lính kiên cường, dũng cảm với những khó khăn, thiếu thốn.
................................................................................................................... 30
2.1.2. Người lính lạc quan, yêu đời với khát vọng sống mãnh liệt .......... 36
2.1.3. Người lính đồn kết với tình đồng chí, đồng đội............................ 41
2.2. Đặc sắc nghệ thuật hình tƣợng ngƣời lính trong chƣơng trình
Tiếng Việt ở Tiểu học ................................................................................. 47
2.2.1. Đặc sắc nghệ thuật hình tượng người lính trong thơ trữ tình ......... 47
2.2.2. Đặc sắc nghệ thuật hình tượng người lính trong thể loại tự sự ..... 51
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ............................................................................... 53
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁCH CẢM THỤ HÌNH TƢỢNG NGƢỜI
LÍNH TRONG CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC ........... 54
3.1. Cách cảm thụ tác phẩm văn học........................................................ 54
3.1.1. Phát hiện, tái hiện hình tượng ......................................................... 54
3.1.2. Phát hiện và phân tích hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật....... 55
3.1.3. Tìm hiểu cách sử dụng từ, đặt câu sinh động ................................. 57
3.1.4. Đọc diễn cảm có sáng tạo ............................................................... 59
3.1.5. Bộc lộ cảm nghĩ qua một đoạn viết ngắn ....................................... 61
3.2. Minh họa trên một số tác phẩm cụ thể trong chƣơng trình Tiếng
Việt ở Tiểu học............................................................................................ 63
3.2.1. Bài thơ “Lượm”- SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 2, trang 130, Chủ điểm
Nhân dân ................................................................................................... 63
3.2.2. Bài thơ “Chú ở bên Bác Hồ”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 2, trang 16,
................................................................................................................... 66
Chủ điểm Bảo vệ Tổ quốc ........................................................................ 66
3.2.3. Bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính”- SGK Tiếng Việt lớp 4
tập 2, trang 71, Chủ điểm Những người quả cảm..................................... 68
3.2.4. Truyện ngắn “Người liên lạc nhỏ”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 1,
trang 112, Chủ điểm Anh em một nhà ...................................................... 73
3.2.5. Truyện ngắn “Công việc đầu tiên”- SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2,
trang 126, Chủ điểm Nam và nữ ............................................................... 74
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................... 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 85
i
LỜI CẢM ƠN
Đề tài: “Hình tƣợng ngƣời lính trong chƣơng trình Tiếng Việt ở
Tiểu học” hồn thành là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu của người thực
hiện cùng với sự hướng dẫn tận tình của q thầy, cơ và sự giúp đỡ của gia
đình, bạn bè.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy,
người đã tận tình hướng dẫn tơi trong suốt q trình nghiên cứu và hồn thành
khóa luận. Tơi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Giáo dục Tiểu học
và Mầm non, cùng tồn thể các thầy cơ trong khoa đã rất quan tâm, tạo mọi
điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
Đồng thời tôi xin tỏ lịng biết ơn tồn thể gia đình, người thân, bạn bè
đã ln ủng hộ, động viên để tơi hồn thành khóa luận của mình.
Mặc dù bản thân đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành, song do thời gian và
năng lực có hạn nên khóa luận cịn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tơi kính mong
nhận được sự chỉ bảo của q thầy cơ và các bạn để khóa luận được hồn
thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Phú thọ, ngày…tháng…năm 2020
Người viết
Lê Bích Ngọc
ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
HS
Học sinh
2
GV
Giáo viên
3
SGK
Sách giáo khoa
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia được thiên nhiên ưu ái ban tặng vị trí đắc địa,
tài ngun phong phú, khí hậu ơn hòa..., đây vừa là điều kiện thuận lợi để
phát triển vừa là nguyên nhân dẫn đến những cuộc chiến tranh xâm lược của
các nước đế quốc lớn. Chính vì thế, ta đã phải trải qua hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước với mn vàn khó khăn gian khổ. Khơng thể kể hết những
cuộc chiến tranh lớn nhỏ mà dân ta đã đấu tranh để bảo vệ chủ quyền đất
nước, những mất mát hi sinh mà ta đã phải gánh chịu để có đất nước như ngày
hơm nay. Khơng thể đếm hết bao nhiêu anh hùng đã ngã xuống vì độc lập dân
tộc, chỉ biết rằng ý chí quật cường đó đã ngấm vào máu thịt của ta, từ người
già đến trẻ nhỏ, ai cũng sẵn sàng đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. Biết bao
nhiêu con người đã vĩnh viễn ra đi nằm lại nơi chiến trường khốc liệt, biết bao
nhiêu con người đã dành cả tuổi trẻ, cả tính mạng của mình để bảo vệ chính
nghĩa, tồn vẹn lãnh thổ.
Từ thế kỉ II trước công nguyên, ta đã bị nhiều nước phong kiến phương
Bắc nhịm ngó. Sự tồn vong của một dân tộc bị thử thách suốt hơn nghìn năm
đã sản sinh ra tinh thần bất khuất, kiên cường, bền bỉ đấu tranh bảo tồn cuộc
sống, giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa, quyết giành lại độc lập cho dân
tộc của người dân Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mùa xuân năm
40 đã lật đổ nền thống trị của nhà Đơng Hán, chính quyền độc lập Trưng
Vương được thành lập. Năm 938, với chiến thắng vang dội của Ngô Quyền
chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra thời kỳ độc lập cho dân
tộc ta. Hay năm 968 Đinh Bộ Lĩnh lãnh đạo nhân dân đứng lên dẹp loạn 12 sứ
quân thống nhất đất nước. Còn rất nhiều vị anh hùng trong thời kỳ này như Lê
Lợi, Lí Bí, Quang Trung... họ đã có cơng rất lớn trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nước.
Bước sang thế kỷ XX, Việt Nam lại liên tục trở thành thuộc địa của các
nước đế quốc, hàng loạt các cuộc đấu tranh nổ ra chống lại xiềng xích áp bức,
nơ lệ. Một lần nữa, hình ảnh người lính lại hiện lên thật đẹp, tiêu biểu như
iv
Phan Đình Giót, Tơ Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, La Văn Cầu...họ đại diện cho ý
chí, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất, đặt lợi ích của dân tộc bên trên
lợi ích cá nhân.
Những hình tượng ấy đã đi vào văn học Việt Nam, trở thành nguồn
cảm hứng bất tận cho các tác giả. Mỗi cuộc chiến tranh đi qua, người ta lại có
thêm những hiểu biết, những cảm hứng mới bất tận về người lính và nhờ thế
những thi phẩm viết về họ cứ nối tiếp nhau ra đời đặc biệt là từ những năm
1945 đến nay, khi đất nước ta trải qua những năm tháng gian khó mà hào
hùng chống Pháp, Mỹ, rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã lựa chọn hình tượng
người lính làm chất liệu chính trong sáng tác của mình.
Việc giáo dục cho HS hiểu về lịch sử dân tộc cũng như những tấm
gương anh dũng trong chiến tranh chống kẻ thù xâm lược được nhà nước ta
hết sức quan tâm. Từ bậc Tiểu học, các em đã được tiếp xúc với các tác phẩm
về người lính cụ Hồ, từ đó giúp các em có cái nhìn thực tế hơn về lịch sử dân
tộc, về những khó khăn gian khổ mà các anh đã phải trải qua. Từ đó giáo dục
cho các em lịng u nước, lịng tự tơn dân tộc, biết trân trọng nền hịa bình
mà ta có được ngày hơm nay, cố gắng phấn đấu học tập, rèn luyện để xây
dựng đất nước ngày càng phát triển. Nghiên cứu: “Hình tƣợng ngƣời lính
trong chƣơng trình Tiếng Việt ở Tiểu học”, đề tài mong muốn sẽ làm rõ hơn
những giá trị nội dung và nghệ thuật mà các tác giả đã gửi gắm trong những
tác phẩm của mình, đồng thời, làm rõ được tính chất bi hùng trong hình tượng
người lính. Qua đó thấy được giá trị của các tác phẩm văn học viết về đề tài
người lính, khẳng định được ý nghĩa của các tác phẩm với việc giáo dục đạo
đức cho HS Tiểu học.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài là cơng trình khoa học chun biệt nghiên cứu một cách hệ thống
các tác phẩm viết về người lính trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ ứng dụng thiết thực đối với việc dạy học
đọc - hiểu, nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho HS Tiểu học.
v
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, phát hiện vẻ đẹp của người lính trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học. Tăng cường vốn hiểu biết cho HS Tiểu học về các tấm
gương anh hùng trong lịch sử, bổ sung kiến thức về lịch sử dân tộc.
Thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, đồng thời
giáo dục HS kính trọng, biết ơn những người anh hùng đã hi sinh vì độc lập tự
do của tổ quốc, bồi dưỡng truyền thống uống nước nhớ nguồn, trân trọng lịch
sử dân tộc, có ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho HS Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tiến hành đi sâu tìm hiểu hình tượng người lính trong các tác
phẩm nằm trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học thông qua cách thể hiện
đặc sắc của các tác giả. Qua đó, ta thấy được hình tượng người lính cách
mạng hiện lên một cách đầy đủ với nhiều bình diện nhất.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về hình tượng người lính trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên 13 tác phẩm trong chương trình Tiếng Việt Tiểu
học. Ngồi ra, đề tài nghiên cứu, xem xét một số tác phẩm cùng đề tài ngồi
chương trình Tiểu học để làm rõ hơn về hình tượng của người lính trong văn
học Việt Nam.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết là phương pháp tiếp cận hệ thống lí
luận về thể loại. Đây là cơng cụ lí thuyết vừa là phương pháp luận để triển
khai nghiên cứu các vấn đề tổng quan.
Phương pháp này giúp đề tài phân tích được những vấn đề lí luận, tổng
quan về các tác phẩm về đề tài người lính và đưa ra những hiểu biết ban đầu
vi
về những nét đặc sắc của những tác phẩm đó trong môn Tiếng Việt ở nhà
trường Tiểu học. Đồng thời phương pháp nghiên cứu lí thuyết cũng có vai trị
quan trọng trong việc xác định cơ sở lí thuyết để triển khai đề tài. Trên cơ sở
đó, tiến hành nghiên cứu, phân tích chương trình SGK để có thêm hiểu biết về
những tác phẩm về đề tài người lính.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đề tài sẽ đi sâu vào phân tích đặc sắc của hình tượng người lính trong
các tác phẩm của chương trình Tiểu học.
Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu chúng tôi tiến hành khái quát
tổng hợp lại vấn đề trong một cái nhìn tồn vẹn nhất về hình tượng người lính
trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
6.2.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Đề tài sử dụng phương pháp này để so sánh về các tác phẩm và kết quả
phân tích các vấn đề đã nghiên cứu về tác phẩm trong chương trình Tiếng
Việt Tiểu học. Ngồi ra, so sánh đối chiếu với các tác phẩm khác cùng đề tài.
6.2.3. Phương pháp khảo sát – thống kê
Phương pháp này giúp tôi thống kê các tác phẩm viết về đề tài người
lính trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngồi phần mở đầu, mục lục, kết luận kiến nghị và tài liệu tham khảo,
phụ lục, danh mục viết tắt, phần nội dung gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
+ Chương 2: Đặc sắc hình tượng người lính trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học.
+ Chương 3: Đề xuất cách cảm thụ hình tượng người lính trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học.
vii
1
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa
tun ngơn độc lập nhưng nền độc lập đứng trước những thách thức to lớn.
Cũng như bối cảnh xã hội lúc ấy, văn học vừa diễn ra xu hướng hội tụ, vừa
tiếp tục sự phân hóa của các khuynh hướng văn học. Trong bối cảnh đó,
những người sáng tác, trong đó có rất nhiều nhà thơ của phong trào Thơ mới,
những nhà văn hiện thực phê phán băn khoăn với câu hỏi: viết cho ai? viết cái
gì? viết như thế nào? Văn xuôi trong giai đoạn này chủ yếu là truyện ngắn và
ký về đề tài người nơng dân và người lính Vệ quốc qn. Những nhà văn mà
phần nhiều chính là lính Vệ quốc quân đã ghi lại những gì có tính chất thời sự
đang xảy ra trên chiến trường.
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử Việt Nam đã mở sang một
trang hoàn toàn mới. Hịa bình lập lại trên mọi miền tổ quốc, đất nước bước
vào giai đoạn phục hồi và phát triển. Sự thay đổi về kinh tế, xã hội đã dẫn tới
sự thay đổi về tư tưởng, văn hóa, địi hỏi văn học phải đáp ứng kịp thời và
phù hợp. Trong hồn cảnh đó, văn học khơng cịn có thể khốc mãi chiếc áo
ca ngợi hào hùng, chất sử thi lãng mạn dần khiến bức tranh văn chương nhàm
chán và đơn điệu. Độc giả khẩn thiết mong chờ và đón nhận một nền văn học
nhìn vào hiện thực, gắn với đời sống và đa chiều, đa mầu hơn, nhà văn phải
có ngòi bút thế sự, ngòi bút biết đào sâu, biết khám phá mọi mặt của tâm hồn
con người. Sự thay đổi của văn học thể hiện rõ rệt nhất ở sự thay đổi trong
quan niệm về con người – đặc biệt là qua một hình tượng đã xuyên suốt cả
giai đoạn lịch sử đau thương trước đó – người lính cụ Hồ. Hàng loạt các tiểu
thuyết ra đời, nhất là sau năm 1986, gây tiếng vang lớn khi nhìn lại cuộc
chiến, nhìn lại q khứ, khi đặt người lính vào hịa bình cũng như soi chiếu
những góc khuất trong chiến tranh. Sự chuyển mình của văn học trong quan
niệm về con người trở thành một đề tài được bàn luận sôi nổi qua các công
2
trình nghiên cứu, các bài viết, các chuyên đề cũng như được giảng dạy và
phân tích trong các chương trình phổ thông và đại học.
Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài viết “Mấy suy nghĩ xung quanh vấn
đề xây dựng nhân vật ngƣời chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến
tranh (1945-1985)” đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đã nhận xét: Trong
xây dựng nhân vật người chiến sĩ, tiểu thuyết sau 1975 đã có hướng đi sâu
vào miêu tả q trình tâm lý nhằm cá thể hóa nhân vật. Đây là một bài viết
khái quát về những đặc điểm của việc thể hiện hình tượng người chiến sĩ sau
năm 1975 trong tiểu thuyết, đặc biệt tập trung vào tiểu thuyết thời kỳ đổi mới.
Bài viết cho thấy người chiến sĩ sau năm 1975 đã được cá thể hóa, mang
những nét cá nhân riêng biệt cả về tính cách và số phận chứ khơng chỉ nằm
trong vịng nhân dân, cộng đồng và chỉ gánh trên vai nhiệm vụ lịch sử nữa.
Trong các luận văn thạc sĩ gần đây, đề tài thay đổi quan niệm con
người trong văn học đổi mới ít nhiều được nhắc đến ở tầm khái quát hoặc
chuyên sâu trong một chương, ví dụ như luận văn “Hình tƣợng ngƣời lính
sau chiến tranh qua các tiểu thuyết của Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh”
của Nguyễn Ngọc Hưng (2010)….
Bên cạnh đó, có khơng ít các bài nghiên cứu, các luận văn, luận án đi
sâu vào tìm hiểu vấn đề thay đổi quan niệm con người qua hình tượng người
lính trong phạm vi một tác phẩm, một tác giả hoặc một chùm tác giả trong
văn học thời kỳ đổi mới. Ví dụ như “Nhân vật ngƣời lính trong tiểu thuyết
Khuất Quang Thụy” (2008) của Đinh Thanh Hương, ….
Lựa chọn đề tài “Hình tƣợng ngƣời lính trong chƣơng trình Tiếng
Việt ở Tiểu học”, người viết hy vọng tiếp nối và kế thừa những nghiên cứu
của các tác giả đi trước về đề tài này. Trên cơ sở đó, người viết mong muốn
đề tài sẽ là một tài liệu có nội dung chi tiết hơn, tập trung vào hình tượng
người lính và cách cảm thụ về hình tượng người lính trong chương trình
Tiếng Việt ở Tiểu học.
3
1.1.2. Thể loại tác phẩm
1.1.2.1. Thơ và đặc trưng cơ bản của thơ
1.1.2.1.1. Quan niệm về thơ
Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác
nhau về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được tất cả mọi đặc
trưng của thể loại này. Quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức
sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm
xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp
điệu”[12,159].
Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người. Chính vì
vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn
học. Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết
đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thật khơng dễ.
Có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những quan điểm khác nhau về thơ. Thời
cổ đại, thơ có nghĩa rộng, bao hàm toàn bộ văn học. Vào thời cận, hiện đại,
thơ có nghĩa hẹp, chỉ riêng loại hình sáng tác phản ánh đời sống, thể hiện
tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngơn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh,
nhịp điệu.
Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngơn ngữ làm chất liệu, và
sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức logic
nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người
đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ,
hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cơ đọng,
truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh
trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng ngun một mình. Một bài
thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cơ đọng trong số lượng từ, tính tượng hình
và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc
đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
4
Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể
bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp A-rit-tot (384–322 TCN). Ở Việt Nam,
thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ
như “dáng mỡ gà, có nhà thì giữ” vốn là những kinh nghiệm được đúc kết
thông qua sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, truyền từ đời này sang đời
khác, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy.
Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến
thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành hình thức văn nghệ, giải trí.
1.1.2.1.2. Đặc trưng của thơ
Để tạo cơ sở khoa học cho việc đọc – hiểu, thẩm bình thơ, đề tài xin
được tổng hợp và đúc rút ra một số điểm đặc trưng của thể loại này như sau:
- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ
tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng,
tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau,
nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong
tác phẩm.
- Nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình, cái tơi trữ tình) là người trực tiếp
cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện. Nhân vật trữ tình
là cái tơi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà
thơ. Tuy vậy, khơng thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả.
Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác
phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về
cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với
người trên khắp thế gian này.
Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít
nhất một sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn
nhà thơ mà văn bản thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy. Một miếng trầu
đem mời, một cái bánh trơi nước, một tiếng gà gáy canh khuya có thể là
những sự kiện gây cảm xúc cho Hồ
uân Hương; sự kiện Dương Khuê qua
5
đời trong “ hóc Dương huê” (Nguyễn Khuyến); cuộc đời tài hoa mệnh bạc
của nàng Tiểu Thanh trong “Độc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du),…
Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự,
kịch). Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn
thơng qua hình tượng thơ, đặc biệt thơng qua ngơn ngữ nghệ thuật, qua dịng
thơ, qua vần điệu, tiết tấu... Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp
của ngơn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngơn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo
điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời
sống, khiến người đọc phải suy nghĩ để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả
cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.
Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc
sống khách quan. Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của thơ có được
cịn do ngơn ngữ thơ cơ đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Sự phân
dòng, và hiệp vần của lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng
sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu của ý thơ.
Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt. Sự sắp xếp
các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình.
Đồng thời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa
biến hóa tạo nên tính nhạc điệu. Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng,
trầm bổng, luyến láy của văn bản thơ. Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngơn ngữ của
nhân vật trữ tình, là ngơn ngữ hình ảnh, biểu tượng.
nghĩa mà văn bản thơ
muốn biểu đạt thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà
do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên. Do đó ngơn ngữ thơ
thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ khơng
liên tục gợi ra nhiều nghĩa, địi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng
tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong.
a. Thơ là sự bộc lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức.
Tình cảm là sinh mệnh của thơ: Thơ ca khởi phát từ tâm hồn người, đó
là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, là khúc hát của tâm hồn. Nếu các tác phẩm
tự sự (tiểu thuyết, truyện ngắn, kí...) thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả
6
thông qua việc tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống với
những tình huống, sự kiện, diễn biến thì thơ ca – một thể loại tiêu biểu của
loại hình trữ tình lại hướng vào thể hiện thế giới nội tâm, hiện thực bên trong
tâm hồn con người với những rung cảm tinh tế, sâu sắc trước cuộc sống mn
màu. Nói như Diệp Tiếp - nhà phê bình đời Thanh - Trung Quốc thì thơ là
tiếng lịng. Lê Q Đơn lại nói thơ ca khởi phát tự lịng người, cịn Tố Hữu lại
cho rằng thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người. Có thể nói,
tình cảm là yếu tố sinh mệnh của thơ ca, thiếu tình cảm thì có thể trở thành
người thợ làm những câu có vần chứ khơng làm được nhà thơ. Cũng cần lưu
ý, tình cảm mãnh liệt ở đây khơng phải là thứ tình cảm kêu gào, khóc cười ồn
ào bên ngoài mà là sự rung động mạnh mẽ ở bên trong, sự giày vò, chấn động
trong tâm hồn.
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”
(Ca dao Việt Nam)
Bài ca dao là lời than thân của một người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa.
Người phụ nữ ý thức được vẻ đẹp của bản thân nhưng cũng đầy băn khoăn, lo
lắng, trăn trở cho số phận bấp bênh, lệ thuộc của mình, khơng biết dịng đời sẽ
xơ đẩy về đâu.
“Cháu đi liên lạc
Vui lắm chú à
Ở đồn Mang Cá
Thích hơn ở nhà!”
(Lƣợm - Tố Hữu)
Khổ thơ thể hiện niềm vui, hân hoan của Lượm khi được hoạt động cách
mạng, cống hiến cho đất nước. Mặc dù vất vả, hiểm nguy nhưng chú bé vẫn
luôn lạc quan, yêu đời.
Khi tìm hiểu một bài thơ, ta phải đọc được tâm trạng, cảm xúc của tác giả gửi
gắm qua bài thơ đó.
7
Tình cảm trong thơ khơng tự dưng nảy sinh mà được gợi hứng, xuất
phát từ một hồn cảnh, tình huống, sự việc, sự kiện... cụ thể trong cuộc sống.
Thơ không phải là sự bộc lộ tình cảm một cách bản năng, trực tiếp.
Tình cảm trong thơ là tình cảm được ý thức, được siêu thăng, được lắng lọc
qua cảm xúc thẩm mỹ, gắn liền với sự tự ý thức về mình và về đời. Trong thơ,
nhà thơ khơng bị tình cảm mãnh liệt của mình chi phối, trái lại ý thức của nhà
thơ làm chủ tình cảm của mình bằng một tư tưởng.
“Chú ở đâu, ở đâu?
Trường Sơn dài dằng dặc?
Trường Sa đảo nổi chìm?
Hay on Tum Đắk Lắk?
(Chú ở bên Bác Hồ - Dƣơng Duy)
Khổ thơ thể hiện sự thắc mắc của cô cháu gái với sự vắng mặt của người chú,
không biết giờ này chú đang ở đâu? Ở Trường Sơn, Trường Sa hay Kon Tum
Đắk Lắk? Đó là tình cảm, thái độ được thể hiện một cách có ý thức chứ khơng
hề bản năng.
Tình cảm trong thơ là tình cảm lớn, tình cảm đẹp, tình cảm cao thượng,
thấm nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa. Những tình cảm tầm thường
khơng làm nên thơ. Chỉ những tình cảm đẹp, gắn liền với tình cảm của nhân
dân, nhân loại mới có sức vang động trong tâm hồn người, mới làm nên thơ.
Tình cảm trong thơ có sự cá thể hóa. Thơ bao giờ cũng là sự biểu hiện
cái tơi tác giả, dù nhà thơ có ý thức điều đó hay khơng. Tình cảm trong thơ là
tình cảm mang tính cá thể hóa nên qua từng trang thơ, ta như được tiếp xúc
trực tiếp với một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn riêng, không thể trộn lẫn.
Đọc thơ Phạm Tiến Duật, ta thấy một hồn thơ đúng chất “ngơng”.
“ hơng có kính khơng phải vì xe khơng có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Bài thơ về tiểu đội xe khơng kính – Phạm Tiến Duật)
8
Khổ thơ thể hiện tư thế ung dung, hiên ngang của người lính lái xe.
Đây là chất đặc trưng của nhà thơ Phạm Tiến Duật.
Hay đọc thơ của Trần Đăng Khoa ta thấy chất quê được thấm sâu vào
tất cả các yếu tố nghệ thuật, chất q bình dị thơi nhưng có sức ám ảnh với
người đọc, bởi nó được phát hiện, tái tạo từ tình yêu thiết tha của “trái tim thơ
ấu” ( uân Diệu)
“Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sơng inh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy…”
(Hạt gạo làng ta – Trần Đăng Khoa)
Có thể nói, thơ là gương mặt riêng của mỗi người. Vì vậy, việc tìm hiểu
các tính, khí chất, cuộc đời thi nhân có ý nghĩa quan trọng để hiểu nội dung
tác phẩm. Tình cảm mang tính cá thể hóa cũng là yếu tố làm nên diện mạo
riêng không thể trộn lẫn của mỗi hồn thơ.
Cái tôi trong thơ là cái tôi thứ hai của tác giả, không phải cái tôi đời
thường, không trùng khít, đồng nhất với con người ngồi đời của tác giả. Do
sống trong thế giới sáng tạo của nhà thơ nên nhân vật trữ tình được tự do biểu
hiện, ít ràng buộc như tác giả ngồi đời. Ta khơng nên hoàn toàn bám vào tiểu
sử của nhà thơ để cắt nghĩa thơ mà cần lí giải thơ như một giá trị nghệ thuật
độc lập thể hiện trong văn bản.
Tình cảm trong thơ mang tính cá thể hóa nhưng khơng phải là tình cảm
cá nhân mà là tình cảm xã hội, nhân loại. Lời thơ tuy biểu hiện những cảm
xúc, tâm sự riêng tư nhưng lại có ý nghĩa khái quát về con người, xã hội, nhân
loại, có giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân văn sâu sắc, đủ làm nền tảng cho sự
thông cảm lẫn nhau và phát triển đời sống nội tâm phong phú của con người.
b. Ngôn từ thơ được cấu tạo đặc biệt
Ngôn ngữ thơ không chỉ thực hiện chức năng thông báo, cung cấp
thông tin như ngôn ngữ thông thường mà nhằm thực hiện chức năng truyền
9
cảm, biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định. Vì vậy, ngơn ngữ trong thơ
được cách điệu hóa, khơng giống ngơn ngữ thơng thường. Tính cách điệu hóa
của ngơn ngữ có những biểu hiện cụ thể sau:
- Ngơn từ có nhịp điệu: Sự phân dịng của lời thơ nhằm mục đích tạo
thành những đơn vị nhịp điệu. Cuối mỗi dòng đều là chỗ ngừng của nhịp điệu.
Các thể thơ khác nhau lại có cách tạo nhịp điệu khác nhau.
- Ngơn từ thơ khơng có tính liên tục và tính phân tích như ngơn từ văn
xi, ngược lại nó có tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo thành những khoảng lặng
giàu ý nghĩa. Tính nhảy vọt, gián đoạn thể hiện ở chỗ: giữa các dòng thơ, câu
thơ, giữa các khổ thơ bề ngồi tưởng như khơng liên quan trực tiếp đến nhau,
khơng logic nhưng thực chất chúng gắn bó chặt chẽ với nhau theo mạch logic
bề sâu.
- Ngơn từ thơ có tính nhạc với những âm thanh luyến láy, những từ
trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm.
Nhạc tính trong ngơn ngữ thơ được tạo nên từ sự phối hợp thanh điệu bằng
trắc, từ cách gieo vần; yếu tố âm thanh của từ; sự trùng điệp của các từ; cách
ngắt nhịp có giá trị gợi cảm; cảm xúc của nhà thơ.
Trong bài thơ “Trăng ơi từ đâu đến” của Trần Đăng Khoa:
“Trăng ơi từ đâu đến
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
hông bao giờ chớp mi”
(Trăng ơi từ đâu đến – Trần Đăng Khoa)
Khổ thơ trên sử dụng cách ngắt nhịp 2/3, cách ngắt nhịp phổ biến của thể thơ
năm chữ. Qua bài thơ, ta thấy được khả năng quan sát tinh tế của Trần Đăng
Khoa, giọng thơ hồn nhiên, tinh nghịch, tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên
của nhà thơ.
10
c. Tính nhạc và tính hội họa trong thơ
Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận
bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh chóng này tương tự
như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với
nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn ngữ, giúp con
người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các
từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của
ngơn ngữ thúc đẩy sự tìm tịi các từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm
người viết muốn truyền, đồng thời tìm tịi những từ mới. Tính âm nhạc còn
thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như “rì rào”, “vi vút”, “ầm
ầm”, “lanh canh”,... Chính vì tính chất này, việc làm thơ nhiều khi tương tự
như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự, mà bài toán hay
kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ là phép
toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh chóng
tìm ra phương pháp biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cơ đọng,
hợp lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa
nhanh chóng, người làm thơ thường phải kinh qua một quá trình luyện tập lâu
dài, bằng cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu
chữ ngắn gọn, đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được
dùng. Thơ còn đòi hỏi tính phân tích các từ ghép và cơ đọng từ. Chính vì thế,
nhiều khi do làm thơ, người làm thơ dễ rơi vào tình trạng liên tưởng giữa từ
của nghĩa này sang từ của nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta cịn
gọi là sự “chơi chữ”.
Tính hội họa trong thơ, hay cịn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ
bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta
gọi là “cảm hứng”. Trong tình trạng này, các hình ảnh thu được trong trí nhớ,
có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được, liên kết với
nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh có thể rõ đến mức người ta gần
như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị, thấy sự
chuyển động của vật thể, thấy màu sắc ...
11
“Tre, trúc thổi nhạc sáo
Khe suối gảy nhạc đàn
Cây rủ nhau thay áo
hoác bao màu tươi non”
(Ngày hội rừng xanh – Vƣơng Trọng)
Ta có thể tưởng tượng ra bức tranh một khu rừng với những âm thanh
sinh động. Nào là những khóm tre, trúc đu đưa trong gió khiến những chiếc lá
va chạm vào nhau tạo thành tiếng sáo vi vu. Nào là những khe suối chảy róc
rách nghe giống như tiếng đàn. Trong khổ thơ trên, tác giả đã vẽ ra một khung
cảnh thật náo nhiệt, đó chính là tính hội họa trong thơ.
1.1.2.2. Truyện ngắn và đặc trưng cơ bản của truyện ngắn
1.1.2.2.1. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện
ngắn bao trùm hầu hết các phương diện đời sống: đời tư, thế sự, sử thi, nhưng
cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một
mạch, đọc một hơi không nghỉ.
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt
truyện ngắn với các thể loại tự sự khác. Trong văn học hiện đại, có nhiều tác
phẩm rất ngắn, nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại. Truyện
ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa. Các hình thức
truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại lại càng
không phải truyện ngắn.
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời,
một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Cho nên truyện
ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học. Truyện ngắn
là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn
liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời
sống. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự
nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của
mình. Truyện ngắn xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỉ
I , phát
12
triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào Nga Chê-khốp
và trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỉ XX.
Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỉ XIX)
nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh
của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng ngàn
năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm
lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên hiện đại, hậu hiện
đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết. Con người
khơng có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như: Tây du kí, Tam
quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng Lâu mộng, Những người khốn khổ, Chiến
tranh và hịa bình, Sơng Đông êm đềm.... Truyện ngắn là tác phẩm tự sự loại
nhỏ, đơn giản là lối trần thuật khiến “độc giả có thể đọc liền một mạch”.
Truyện ngắn tập trung mơ tả một mảnh của cuộc sống, một biến cố, một hành
động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh
của tính cách hay một mặt nào đó của cuộc sống xã hội.
Với “diện mạo” của truyện ngắn, người ta dễ thống nhất ở quan niệm:
đối với truyện ngắn hay, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó là bảo vệ cho
được tính xác định về mặt thể loại. Truyện ngắn cần phải cô đọng đến mức
cao nhất. Vấn đề số một đối với nó là vấn đề dung lượng. Nhà văn có tài, có
phẩm chất sáng tạo chính là người chấp nhận tự nguyện và thoải mái những
nguyên tắc sắt đá của thể loại. Trong q trình chấp nhận lề luật đó, chính là
anh ta đã làm cho những nguyên tắc sắt đá đó trở nên hồn mỹ. Thể loại càng
đẹp, càng tinh xảo, tư tưởng càng sâu sắc, càng lớn. Khác với tiểu thuyết là
thể loại chiếm lĩnh đời sống với toàn bộ sự đầy đặn và tồn vẹn của nó, truyện
ngắn thường hướng đến khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất
trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người.
1.1.2.2.2. Đặc trưng cơ bản của truyện ngắn
Khác với thơ ca in đậm dấu ấn chủ quan, truyện phản ánh đời sống
trong tính khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được miêu tả
và được kể lại bởi người kể chuyện (trần thuật) nào đó. Ở đây, cốt truyện với
13
một chuỗi các tình tiết, sự kiện, biến cố xảy ra liên tiếp tạo nên sự vận động
của hiện thực được phản ánh, góp phần khắc họa tính cách nhân vật, số phận
từng cá nhân. Nhân vật được miêu tả chi tiết và sinh động trong mối quan hệ
với hoàn cảnh, với mơi trường xung quanh. Truyện khơng bị gị bó về khơng
gian, thời gian, có thể đi sâu vào tâm trạng con người, những cảnh đời cụ thể.
Truyện sử dụng nhiều hình thức ngơn ngữ khác nhau. Ngồi ngơn ngữ
người kể chuyện cịn có ngơn ngữ nhân vật. Bên cạnh lời đối đáp cịn có lời
độc thoại nội tâm. Lời kể khi thì ở bên ngồi khi thì nhập tâm vào nhân vật.
Ngôn ngữ kể chuyện gần với ngôn ngữ đời sống.
1.1.3. Hình tƣợng nghệ thuật
1.1.3.1. hái niệm
Nếu như khoa học sử dụng những khái niệm, định nghĩa để thể hiện
mình thì nghệ thuật lấy hình tượng để diễn tả, tái hiện đối tượng, nội dung mà
nó đề cập. Khái niệm hình tượng nghệ thuật từ lâu đã khơng còn xa lạ với
những ai đã từng tiếp xúc với bất cứ loại hình nghệ thuật nào như: văn học,
hội họa, điêu khắc, ca kịch,…Người nghệ sĩ dùng hình tượng nghệ thuật để
nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, nhờ
những hình tượng đó mà sự vật hiện tượng được tái hiện một cách sinh động
nhưng đồng thời cũng nhờ nó mà cái tâm, cái tài người nghệ sĩ được thể hiện
một cách trịn đầy và vẹn ngun nhất.
Hình tượng là hình thức đặc thù của tư duy nghệ thuật, là sự phản ánh
hiện thực trong tính tồn vẹn, sinh động, cụ thể theo quy luật của cái đẹp.
Hình tượng là cơ cấu hài hòa của những yếu tố chủ quan và khách
quan, cảm tính – lý tính, cụ thể – khái quát, cá biệt – phổ biến; nhưng được
trình bày bằng con đường thơng qua cái khách quan, cái cảm tính, cụ thể, cá
biệt để phát triển cái chủ quan, cái lý tính, cái khái qt, cái phổ biến.
Hình tượng nghệ thuật (Tiếng Anh: Image) là sản phẩm của phương
thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởng tượng,
hư cấu nghệ thuật.
14
Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể
hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc
đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và
thế giới xung quanh. Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ khơng diễn
đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lí, cơng
thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và
gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách
và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể.
Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được
nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật.
Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật.
Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngấm nghía, thưởng ngoạn,
tưởng tượng. Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự
kiện xã hội được cảm nhận. Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất
nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần. Nhưng nói tới hình tượng
nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình
tượng một tập thể người (hình tượng nhân dân hoặc hình tượng Tổ quốc) với
những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú.
1.1.3.2. Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật
1.1.3.2.1. Hình tượng nghệ thuật gắn liền với đời sống
Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép y
nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thơng
qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại
được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác.
Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt khơng
lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại
người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ. Hình tượng
nghệ thuật khơng phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn
bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thế đối với thực tại. Người đọc
không chỉ thưởng thức “bức tranh” hiện thực, mà còn thưởng thức cả nét vẽ,
15
sắc màu, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy. Hình tượng nghệ thuật
thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mỹ của nghệ thuật.
Khi nhắc tới nghệ thuật đôi khi người ta nhầm tưởng nó là hiện thân
của những cái hồn mỹ, diễm lệ, của những thứ lãng mạn, viển vông xa rời
thực tế, nhưng thực chất nghệ thuật luôn đi liền với đời thực, nó bám sát cuộc
sống. Hơn bao giờ hết, nghệ thuật luôn gần gũi với cuộc đời, phát triển theo
nhịp sống của cuộc đời như một người bạn đồng hành tận tụy. Hình tượng
nghệ thuật tái hiện cuộc sống nhưng lại không đơn thuần là sao chép y nguyên
những hiện tượng có thật mà lại tái hiện một cách có chọn lọc, sáng tạo thơng
qua tài năng và trí tưởng tượng của nghệ sĩ, bằng sự khéo léo và tinh tế của
mình, họ biến những sự vật dù tầm thường nhất cũng có thể trở thành các hình
tượng có sức truyền cảm mạnh mẽ, mang những ấn tượng sâu sắc đến với
người cảm thụ.
“Ca lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Như con chim chích
Nhảy trên đường vàng”
(Lƣợm – Tố Hữu)
Trong khổ thơ trên, tác đã tái hiện lại cảnh chú bé Lượm đi làm nhiệm
vụ. Tuy nhiên tác giả không chỉ sao chép y nguyên sự thật mà tái hiện một
cách có chọn lọc, sử dụng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống.
1.1.3.2.2. Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất của cái cụ thể, cá biệt, cảm
tính với cái khái quát
Đây là nét đặc trưng tiêu biểu nhất và là dấu hiệu dễ nhận biết nhất của
hình tượng nhưng đồng thời cũng quan trọng nhất để phân biệt sự khác nhau
giữa hình tượng và khái niệm. Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách
quan đều tồn tại ở dạng riêng biệt, là một cá thể độc lập, cụ thể. Ngay chính
bản thân con người cũng tồn tại là những cá nhân cụ thể, độc đáo, không lặp
lại. Song khơng phải vì thế mà chúng sống tách rời, riêng rẽ, mọi sự vật hiện