1
TRƢỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƢƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM NON
-----------------------
ĐÀO HUYỀN THANH
HÌNH TƢỢNG BÁC HỒ TRONG
CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2020
15
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Hình tƣợng Bác Hồ trong chƣơng trình Tiếng Việt ở Tiểu
học” hồn thành là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu của ngƣời thực hiện
cùng với sự hƣớng dẫn tận tình của q thầy, cơ và sự giúp đỡ của gia đình,
bạn bè.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy,
ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn tơi trong suốt q trình nghiên cứu và hồn thành
khóa luận. Tơi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Giáo dục Tiểu học
và Mầm non, cùng tồn thể các thầy cơ trong khoa đã rất quan tâm, tạo mọi
điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
Đồng thời tôi xin tỏ lịng biết ơn tồn thể gia đình, ngƣời thân, bạn bè
đã ln ủng hộ, động viên để tơi hồn thành khóa luận của mình.
Mặc dù bản thân đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành, song do thời gian và
năng lực có hạn nên khóa luận cịn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tơi kính mong
nhận đƣợc sự chỉ bảo của q thầy cơ và các bạn để khóa luận đƣợc hồn
thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày…...tháng…....năm 2020
Ngƣời viết
Đào Huyền Thanh
16
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn....................................................................... 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
6. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
7. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 4
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................. 5
1.1. Cơ sở lí luận ........................................................................................................ 5
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. ........................................................................... .5
1.1.2. Thể loại tác phẩm................................................................................. .......... 6
1.1.3. Hình tƣợng nghệ thuật.................................................................................. 16
1.1.4. Một số vấn đề về năng lực cảm thụ văn học.................................................. . 22
1.2. Cơ sở thực tiễn (Thực trạng dạy và học cảm thụ văn học qua hình tƣợng nghệ
thuật ở trƣờng Tiểu học hiện nay) ............................................................................ 29
1.2.1. Thực trạng của dạy học cảm thụ văn học ở Tiểu học ..................................... 29
1.2.2. Thực trạng của hoạt động cảm thụ văn học của HS Tiểu học .............. 29
1.2.3. Đánh giá chung ..................................................................................... 31
1.3. Thống kê và khảo sát các tác phẩm trong chƣơng trình Tiếng Việt ở Tiểu học
viết về hình tƣợng Bác Hồ ........................................................................................ 31
1.3.1. Thống kê .......................................................................................................... 31
1.3.2. Nhận xét ................................................................................................ 33
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 34
CHƢƠNG 2: ĐẶC SẮC HÌNH TƢỢNG BÁC HỒ TRONG CHƢƠNG
TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC .............................................................. 35
2.1. Đặc sắc về nội dung hình tƣợng Bác Hồ ................................................. 35
2.1.1. Yêu thƣơng và bao dung ....................................................................... 35
17
2.1.2. Giản dị và cao cả ................................................................................... 43
2.1.3. Quan tâm và gần gũi ............................................................................ 47
2.2. Đặc sắc về nghệ thuật của hình tƣợng Bác Hồ ....................................... 54
2.2.1. Ngơn ngữ hàm súc, biểu cảm ................................................................ 54
2.2.2. Biện pháp tu từ đặc sắc, đa dạng ........................................................... 58
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 60
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁCH CẢM THỤ MỘT SỐ TÁC PHẨM VỀ
HÌNH TƢỢNG BÁC HỒ TRONG CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU
HỌC................................................. ......... ..................................................... 61
3.1. Định hƣớng cảm thụ tác phẩm văn học ................................................... 61
3.1.1. Phát hiện và tái hiện hình tƣợng ........................................................... 61
3.1.2. Xác định biện pháp nghệ thuật và phân tích hiệu quả nghệ thuật ........ 63
3.1.3. Tìm hiểu cách dùng từ, đặt câu sinh động ............................................ 64
3.1.4. Đọc diễn cảm có tính sáng tạo .............................................................. 66
3.2. Minh họa trên một số tác phẩm cụ thể trong chƣơng trình Tiếng Việt ở
Tiểu học ........................................................................................................... 69
3.2.1. Tác phẩm “Ai ngoan sẽ đƣợc thƣởng” – Tiếng Việt 2(tập 2 trang 100)
......................................................................................................................... 69
3.2.3. Tác phẩm “Cháu nhớ Bác Hồ” – Tiếng Việt 2(tập 2 trang 105) .......... 74
3.2.3. Tác phẩm “Luôn nghĩ đến miền Nam” - Tiếng Việt 3(tập 1 trang 100)
......................................................................................................................... 77
3.2.4. Tác phẩm “ Ngƣời công dân số Một” – Tiếng Việt 5(tập 2 trang 4) .... 81
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3.................................................................................. 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Hình tƣợng Bác Hồ trong chƣơng trình Tiếng Việt ở Tiểu
học” hồn thành là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu của người thực hiện
cùng với sự hướng dẫn tận tình của q thầy, cơ và sự giúp đỡ của gia đình,
bạn bè.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy,
người đã tận tình hướng dẫn tơi trong suốt q trình nghiên cứu và hồn thành
khóa luận. Tơi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Giáo dục Tiểu học
và Mầm non, cùng tồn thể các thầy cơ trong khoa đã rất quan tâm, tạo mọi
điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
Đồng thời tôi xin tỏ lịng biết ơn tồn thể gia đình, người thân, bạn bè
đã ln ủng hộ, động viên để tơi hồn thành khóa luận của mình.
Mặc dù bản thân đã cố gắng, nỗ lực để hoàn thành, song do thời gian và
năng lực có hạn nên khóa luận cịn nhiều hạn chế, thiếu sót. Tơi kính mong
nhận được sự chỉ bảo của q thầy cơ và các bạn để khóa luận được hồn
thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, ngày…...tháng…....năm 2020
Ngƣời viết
Đào Huyền Thanh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ..................................6
1.1. Cơ sở lý luận ....................................................................................................... 6
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ................................................................................6
1.1.2. Thể loại tác phẩm ..............................................................................................7
1.1.3. Hình tượng nghệ thuật.....................................................................................17
1.1.4. Một số vấn đề về năng lực cảm thụ văn học ...................................................23
1.2. Cơ sở thực tiễn (thực trạng dạy học cảm thụ văn học ở Tiểu học thơng qua hình
tượng nghệ thuật) ..................................................................................................... 30
1.2.1. Thực trạng của dạy học cảm thụ văn học ở Tiểu học .....................................30
1.2.2. Thực trạng của hoạt động cảm thụ văn học của học sinh Tiểu học ................30
1.2.3. Đánh giá chung ...............................................................................................32
1.3. Thống kê và khảo sát các tác phẩm trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
về hình tượng Bác Hồ .............................................................................................. 32
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ....................................................................................................35
CHƢƠNG 2: ĐẶC SẮC HÌNH TƢỢNG BÁC HỒ TRONG ........................................36
CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC ...........................................................36
2.1. Đặc sắc về nội dung hình tượng Bác Hồ ........................................................... 36
2.1.1. Yêu thương và bao dung .................................................................................36
2.1.2. Giản dị và cao cả .............................................................................................44
2.1.3. Quan tâm và gần gũi .......................................................................................48
2.2. Đặc sắc trong nghệ thuật thể hiện hình tượng Bác Hồ ..................................... 55
2.2.1. Ngơn ngữ hàm súc, biểu cảm ..........................................................................55
2.2.2. Biện pháp tu từ đặc sắc, đa dạng .....................................................................59
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ....................................................................................................61
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁCH CẢM THỤ MỘT SỐ ..................................................62
TÁC PHẨM VỀ HÌNH TƢỢNG BÁC HỒ TRONG CHƢƠNG TRÌNH TIẾNG
VIỆT Ở TIỂU HỌC ...........................................................................................................62
3.1. Định hướng cảm thụ tác phẩm văn học ............................................................ 62
3.1.1. Phát hiện và tái hiện hình tượng......................................................................62
3.1.2. Xác định biện pháp nghệ thuật và phân tích hiệu quả nghệ thuật...................64
3.1.3. Tìm hiểu cách dùng từ, đặt câu sinh động ......................................................65
3.1.4. Đọc diễn cảm có tính sáng tạo ........................................................................67
3.2. Minh họa trên một số tác phẩm cụ thể trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
.................................................................................................................................. 70
3.2.1.Tác phẩm “Ai ngoan sẽ được thưởng” – Tiếng Việt 2 ....................................70
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ....................................................................................................88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...........................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................................91
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho dân tộc ta một sự nghiệp cách mạng
vĩ đại, mà còn để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản cao quý, đó là tấm
gương sáng ngời về phẩm chất đạo đức cao đẹp, suốt đời hy sinh phấn đấu
quên mình cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Trong con người Hồ Chí
Minh có đầy đủ phẩm chất hội tụ của một lãnh tụ thiên tài, đồng thời Người
còn là hiện thân của một lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: Vĩ đại mà không cao
xa; thanh cao mà vô cùng giản dị, gần gũi, thân thiết và gắn bó với quần
chúng; hết lòng, hết sức chăm lo cho sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất
đất nước; mong muốn xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh; nhân dân ta
có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người thường xuyên giáo dục cán bộ, Đảng
viên phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân dân và
chính bản thân Người là tấm gương tiêu biểu.
Người đã dành trọn cuộc đời, tâm huyết của mình cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Dù Bác đã mãi đi xa nhưng hình ảnh về
một lãnh tụ vĩ đại và đáng kính thì mãi vĩnh hằng trong trái tim mỗi chúng ta.
Bác Hồ – một con người giản dị, nhưng toát lên linh hồn của cả một dân tộc.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cả thế giới trước đây và sau này có lẽ chưa
từng có vị lãnh tụ nào được yêu mến và ca ngợi nhiều như Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Tài năng và nhân cách của con người vĩ đại này đã là niềm cảm hứng
bất tận cho rất nhiều nhà văn nhà thơ Việt Nam và quốc tế suốt thế kỷ XX.
Đúng như nhà thơ Felix Pita Rodriguez(Cu Ba) đã viết “Hồ Chí Minh tên
người là cả một niềm thơ” .
Sử dụng các câu chuyện về Bác Hồ để giáo dục, hình thành các chuẩn
mực hành vi đạo đức cho học sinh là một cách làm nhẹ nhàng mà hiệu quả.
Bởi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có phong cách sống, phong cách quản
lý, phong cách đối xử giao tiếp đầy chất nhân văn, nhân ái, nhân đạo. Người
2
kết hợp sâu sắc cái chân, cái thiện, cái mỹ trong hành vi cử chỉ của mình. Tầm
tư tưởng của Người thì vĩ đại, song đời sống của Người thì vơ cùng giản dị, trí
tuệ của Người thì un bác, song sự đối xử lại khiêm tốn tự nhiên. Phong
cách sống của Người là sự kết hợp phương châm sống mà Nho gia chân chính
đề ra: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ...(Cung kính, Khoan dung, Trung tín, Cần
mẫn, Huệ ái) với phương châm sống mà Lênin - lãnh tụ giai cấp vô sản từng
nhấn mạnh: “Khoan dung hơn, chân thực hơn, lễ độ hơn, quan tâm hơn đến
các đồng chí của mình, tính khí ít thất thường hơn”. Chính vì lẽ đó mà khơng
phải ngẫu nhiên trong chương trình tiếng Việt ở Tiểu học có rất nhiều bài Tập
đọc hay câu chuyện kể về Bác Hồ.
Thế hệ trẻ chúng ta không ai may mắn được gặp Bác Hồ, nói chuyện
với Bác nhưng hình ảnh về Bác thì thật gần gũi, gần gũi như chính những
người ruột thịt, những người máu mủ của chúng ta vậy. Bất cứ khi nào, thời
điểm nào, tên gọi Bác Hồ, hình ảnh về một vị lãnh tụ, người đã mở đường cho
chúng ta đi, vẫn mãi sát cánh bên chúng ta, dìu dắt, động viên và răn dạy
chúng ta. Để có được những tình cảm và suy nghĩ như vậy là bởi các em học
sinh đã được tiếp xúc những bài học và câu chuyện về Bác Hồ ngay từ khi
còn nhỏ: đến trường học sinh biết đến Năm điều Bác Hồ dạy, tìm hiểu các câu
chuyện thông qua các bài Tập đọc, hay giờ Kể chuyện, các mẩu truyện nhỏ
trong chương trình Tiểu học nói chung và trong bộ mơn Tiếng Việt nói riêng.
Thấy được các tác phẩm viết về hình tượng Bác Hồ có vai trò to lớn
trong việc giáo dục đạo đức và nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học
sinh, khóa luận đi sâu vào nghiên cứu: “ Hình tượng Bác Hồ trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học”. Đề tài mong muốn sẽ làm rõ hơn các giá trị về
nội dung và nghệ thuật mà các tác giả đã gửi gắm thơng qua hình tượng Bác
Hồ. Qua đó khơng chỉ giúp học sinh bồi dưỡng tình cảm yêu mến, biết ơn,
kính trọng của các em với Bác Hồ mà cịn giúp các em hình thành những thói
quen, phẩm chất tốt đẹp nhờ noi theo tấm gương của Bác.
3
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Khóa luận nghiên cứu một cách hệ thống các tác phẩm viết về Bác Hồ
trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận sẽ ứng dụng thiết thực đối với việc
dạy học tác phẩm văn học nghệ thuật trong nhà trường Tiểu học.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Khẳng định vẻ đẹp của hình tượng Bác Hồ thơng qua một số tác phẩm
trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học. Từ đó bồi dưỡng tình cảm u q,
biết ơn, kính trọng của học sinh với Bác Hồ và nâng cao năng lực cảm thụ văn
học cho các em, đồng thời nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hình tượng Bác Hồ.
- Nghiên cứu những tác phẩm viết về hình tượng Bác Hồ, đặc biệt là
những tác phẩm được giảng dạy trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
nhằm nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các tác phẩm thơ, truyện ngắn viết về Bác Hồ
trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học. Bên cạnh đó khóa luận cũng
nghiên cứu một số tác phẩm ngồi chương trình Tiểu học để có cái nhìn tồn
diện về hình tượng Bác Hồ.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Tìm hiểu các tác phẩm viết về hình tượng Bác Hồ trong nước.
+ Làm rõ đặc sắc nội dung và nghệ thuật các tác phẩm viết về hình
tượng Bác Hồ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học.
+ Làm rõ ý nghĩa giáo dục của các tác phẩm viết về hình tượng Bác Hồ
đối với học sinh Tiểu học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp về mặt lý luận
6.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
4
Phương pháp này phân tích những vấn đề lí luận, tổng quan hình tượng
Bác Hồ và đưa ra những hiểu biết ban đầu về nét đặc sắc của những tác phẩm
đó trong mơn Tiếng Việt ở nhà trường Tiểu học.
6.1.2. Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại giúp sắp xếp các tài liệu khoa học thành một hệ thống logic,
chặt chẽ theo từng mặt, từng nhóm kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng
bản chất, cùng một hướng phát triển. Hệ thống hóa giúp sắp xếp các tri thức
khoa học thành hệ thống trên cơ sở một mơ hình lý thuyết làm cho sự hiểu
biết về hình tượng Bác Hồ được đầy đủ và sâu sắc.
6.2. Phương pháp về mặt thực tiễn
6.2.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Khóa luận sẽ đi sâu vào phân tích đặc sắc của hình tượng Bác Hồ trong
các tác phẩm của chương trình Tiểu học.
Trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu tôi tiến hành khái quát tổng
hợp lại vấn đề trong một cái nhìn tồn vẹn nhất về hình tượng Bác Hồ trong
chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
6.2.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Khóa luận sử dụng phương pháp này để so sánh về các tác phẩm và
kết quả phân tích các vấn đề đã nghiên cứu về tác phẩm trong chương trình
tiếng Việt ở Tiểu học. Ngồi ra, so sánh đối chiếu với các tác phẩm khác
cùng đề tài.
6.2.3. Phương pháp khảo sát – thống kê
Phương pháp này giúp tôi thống kê các tác phẩm viết về đề tài Bác Hồ
trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Đặc sắc hình tượng Bác Hồ trong chương trình Tiếng Việt ở
Tiểu học
5
Chương 3: Đề xuất cách cảm thụ một số tác phẩm về hình tượng Bác
Hồ trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong nhiều thập kỷ qua, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho hoạt động sáng tạo của các thế
hệ văn nghệ sĩ, ở mọi loại hình nghệ thuật như văn học, âm nhạc, hội họa,
điêu khắc, sân khấu, điện ảnh. Chỉ tính riêng văn học viết về Bác đã hình
thành một dịng chảy lớn - ở mọi thể loại thơ, văn xuôi, nghiên cứu phê bình đã làm sáng tỏ thêm chân dung vĩ đại Hồ Chí Minh, đồng thời cho thấy lịng
kính u sâu sắc, niềm ngưỡng mộ không bao giờ vơi cạn của giới văn
chương Việt Nam đối với Bác. Việc nghiên cứu, tìm hiểu và sáng tạo tác
phẩm về cuộc đời và sự nghiệp của Bác vừa là niềm say mê tự nguyện, vừa
là bổn phận thiêng liêng của khơng ít người cầm bút xưa nay.
Viết về Hồ Chí Minh, các tác phẩm văn học đều hướng tới tôn vinh, ca
ngợi vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ, tình cảm của Người, khẳng định tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh và công lao trời biển của Người trong sự
nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Trong các thể loại văn học, có thể nói
thể loại tập trung cảm hứng ngợi ca hình tượng Bác Hồ một cách phong phú,
sâu sắc và xúc động nhất chính là thơ. Từ những thập niên 1950, 1960 khi
Bác còn sống cho đến hiện nay, từ những tên tuổi lớn trong nền thi ca Việt
Nam hiện đại cho đến hàng trăm, hàng ngàn nhà thơ và người làm thơ vô
danh khác trong quần chúng, đều đã có thơ về Bác. Có thể kể đến những tác
giả, tác phẩm như Sáng tháng Năm, Bác ơi, Theo chân Bác...(Tố Hữu), Bữa
cơm thường trong bản nhỏ, Người đi tìm hình của nước (Chế Lan Viên), Ảnh
Cụ Hồ, Thơ dâng Bác Hồ, Thăm Pắc Bó, Đi theo Bác Hồ...( Xuân Diệu), Nén
hương nhớ Bác(Huy Cận), Đọc thơ Bác(Hồng Trung Thơng), Đêm nay Bác
không ngủ(Minh Huệ), Đẹp nhứt(Bảo Định Giang), Cháu nhớ Bác Hồ(Thanh
Hải), Trăm năm nhớ một chuyến đò(Thanh Tịnh), Viếng lăng Bác(Viễn
7
Phương ), Thấm trong Di chúc(Vũ Quần Phương ), Con đã về nơi Bác ở ngày
xưa(Anh Thơ), Ảnh Bác, Em gặp Bác Hồ(Trần Đăng Khoa), Giếng nước Bác
Hồ(Phan Thị Thanh Nhàn), Trăng Tân Trào(Hữu Thỉnh), Vầng trăng và cánh
rừng(Ngọc Bái), Ngọn lửa Bác nhen(Cao Xuân Thái), Cây bụt mọc trong
vườn Bác(Nguyễn Hưng Hải), Con về thăm Bác mùa thu(Giang Nam), Chùm
thơ dâng Bác(Đàm Chu Văn), Người vạch đường Kách mệnh(Phạm
Quyết), Bác Hồ và người chiến sĩ(Lê Huy Quang)... Gần đây, tháng 12/2019,
nhà viết kịch hơn 90 tuổi Nguyễn Thế Kỷ đã cho xuất bản một thiên sử thi về
Hồ Chí Minh gồm 12.668 câu lục bát với nhan đề “Một người - thơ - tên
gọi”. Đây là tập trường ca đồ sộ nhất viết về Bác từ trước tới nay.
Trong văn xuôi, số lượng các tác phẩm viết về Bác tuy ít hơn và ra đời
muộn hơn so với thơ nhưng đã có những thành tựu nổi bật về tư tưởng và
nghệ thuật, tập trung chủ yếu ở tiểu thuyết. Sự dịch chuyển của thi pháp, đề
tài, chủ đề... từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư - thế sự trong văn học
sau 1975 đã hướng các nhà văn vào khía cạnh đời thường, do đó hình tượng
Bác Hồ trong văn học đương đại cũng được soi chiếu ở góc nhìn đời tư, bình
dị mà gần gũi hơn. Nhà văn Sơn Tùng với hai Tiểu thuyết “Búp sen
xanh “(1981) và “Bông sen vàng” (2000) không chỉ khắc họa những khía
cạnh vĩ đại, cao cả của Bác mà cịn làm nổi bật những chi tiết đời thường ở
cậu bé Nguyễn Sinh Côn khi sống ở làng Sen. Nếu “Búp sen xanh”,“Bông
sen vàng” viết về quãng đời ấu thơ nơi làng Sen của Bác thì Tiểu thuyết “Cha
và con” (2007) của Hồ Phương viết về cuộc đời của Bác ở giai đoạn vị thành
niên. Trong bộ ba Tiểu thuyết “Mặt trời Pác Bó” (2010), “Giải
phóng” (2013), “Trơng vời cố quốc” (2017) của Hồng Quảng Un, hình
tượng Hồ Chí Minh lại càng ngời sáng với vẻ đẹp vừa cao cả vừa bình dị,
vừa lộng gió bốn phương vừa thấm đẫm tinh thần dân tộc.
1.1.2. Thể loại tác phẩm
1.1.2.1. Quan niệm về thơ và đặc trưng của thơ
a. Quan niệm về thơ
8
Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của lồi người. Chính vì
vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn
học. Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết
đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật khơng dễ.
Có rất nhiều quan niệm về thơ như sau:
Thơ là một loại hình văn học sớm nhất của nhân loại. Thơ ca là sản
phẩm của nhận thức, tưởng tượng và sáng tạo nhờ đó mà ngơn ngữ được phát
triển(lời thơ nảy sinh vào thời xa xưa của mỗi dân tộc lúc đó ngơn ngữ cịn
chưa hình thành, phải nhờ có thơ ca ngơn ngữ mới được phát triển – theo Mĩ
học của Heghen). Thơ gắn với nhạc và hoạ: “thi trung hữu hoạ”, “thi trung
hữu nhạc”.
Thơ, thơ ca hay thi ca, là khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần
điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cơ đọng. Một bài văn cũng có
thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho
người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường cịn mang
tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc
tính trong bài. Thơ thường dùng như hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình,
hoặc tình cảm xúc động trước hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi
người ta đứng trước phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước thảm cảnh. Sự
tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà
người ta muốn bày tỏ với một sự chắt lọc, tinh khiết, khơng rườm rà, song có
mức thơng tin cao, đột phát. Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có
một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa
những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây. Trong nền lý
luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm “Thơ là gì?” đã được đề cập đến
từ rất sớm. Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long, Lưu
Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ là tình
cảm, ý nghĩa (tình văn), ngơn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn). Kế
thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các yếu
tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: “Cái cảm hố được lịng
9
người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngơn ngữ,
chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ, gốc
là tình cảm, mầm lá là ngơn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa”. Quan niệm
này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn
chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, mầm lá, hoa, quả
gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động. Đây có
thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền lý luận văn
học cổ điển Trung Hoa.
Các nhà Cấu trúc chủ nghĩa Châu Âu lại thay thế câu hỏi “Thơ là gì?”
bằng một câu hỏi khác: “Tính thơ là gì và nó được thể hiện ra như thế nào?”
Trong Tiểu luận “Thơ là gì?”, Jacobson viết: “Nhưng tính thơ được biểu hiện
ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không
phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những
từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong và bên
ngồi của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà cịn có
trọng lượng riêng, giá trị riêng”. Tiếp tục triển khai lý thuyết tự qui chiếu,
Jacobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn ngữ là
tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: “Chức năng thi ca đem nguyên lý
tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp”. Mặc dù có lưu ý ít
nhiều đến hoạt động ngun lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong tư duy
nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi
tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu
trúc có tính chất khép kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý
nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp. Bởi trong thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của
thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản.
Ở Việt Nam, khái niệm “Thơ là gì?” cũng đã được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải
về bản chất của thơ, các tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: “Thơ là một
cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu”. Cịn nhà thơ Tố Hữu thì
quan niệm: “Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống”. Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà
10
nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức
quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính
hình thức ngơn ngữ này”. Định nghĩa này của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa
được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các
trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua. Đặc biệt, đã gợi
ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng
ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một
phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này. Lịch sử nghiên cứu và phê bình
văn học đã được chứng kiến rất nhiều định nghĩa về thơ. Theo tơi, cách định
nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong
cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” có thể xem là chung nhất: “Thơ là hình
thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc
mạnh mẽ bằng ngơn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”.
Định nghĩa này đã định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả nội dung và hình
thức nghệ thuật. Đặc biệt, đã khu biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ
thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác.
Hiện nay, thơ trở thành hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến.
Khơng ai đã từng thơng qua q trình giáo dục mà khơng biết vài câu thơ.
Thơ cịn trở nên hình thức để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của
con người. Có thể nói, sự tồn tại của thơ đi song song với sự tồn tại của ngơn
ngữ. Cịn ngơn ngữ tức là cịn thơ.
b. Đặc trưng của thơ
* Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức:
Tình cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thơ, là sinh mệnh của thơ.
Thơ không miêu tả sự vật bên ngồi, khơng kể các sự việc xảy ra mà chỉ biểu
hiện các xúc động nội tâm những tình cảm, cảm nhận của con người trước sự
việc, giúp ta hiểu con người chủ thể ở bên trong.
Vai trị của tình cảm trong thơ đã được nhiều nhà thơ cổ kim phương
Đông cũng như phương Tây nhận biết và đề cao: Lê Q Đơn cho rằng “Thơ
khởi phát tự trong lịng người ta”; Ngơ Thì Nhậm nhận xét: “Hãy xúc động
11
hồn thơ cho ngịi bút có thần”; “Thơ là người thư kí trung thành của những
trái tim”(Đuy Belây); “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm”(Gcki);
Thiếu tình cảm thơ khơng cịn là thơ nữa mà chỉ là sự ghép vần như Jose
Marti(nhà thơ Cu Ba) nói “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm
những câu có vần, chứ khơng làm được nhà thơ”.
Song tình cảm trong thơ khơng phải là thứ tình cảm hời hợt, nơng cạn
mà phải là sự rung động mãnh liệt ở bên trong, sự giày vò chấn động trong
tâm hồn. “Thơ sinh ra từ tình u hay lịng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay
giọt nước mắt đắng cay”. Có nghĩa là nhà thơ phải sống rất sâu vào tâm hồn
mình, lắng nghe những xao động trong tâm hồn mình, đau đớn sướng vui với
những gì trong đấy. Tình cảm mãnh liệt là điều kiện hàng đầu của thơ.
Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng khơng phải
là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển mà là q trình tích tụ
những cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên.
Khơng có cuộc sống thì khơng có thơ(nhà thơ chính là con ong hút nhuỵ từ
những bơng hoa của đời sống). Phải có những sự kiện, sự việc hoàn cảnh làm
chấn động tâm hồn nhà thơ thì tình cảm thơ mới nảy sinh như Nguyễn Đình
Thi từng khẳng định “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm
hồn khi động chạm đến cuộc sống. Tóe lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và
ngoại vật trước hết ở cảm xúc” (Đắm mình trong cuộc đời nhà thơ rung động
mãnh liệt trước vẻ đẹp của thiên nhiên hay con người, đau nỗi đau của kiếp
người, trăn trở day dứt trước những số phận éo le. Những rung động đó tạo
nên cảm hứng buộc nhà thơ phải cầm bút và dịng thơ tn chảy). Thơ chỉ
tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thật đầy (Tố Hữu).
Thiếu tình cảm thì khơng thể có thơ nhưng thơ khơng phải là sự bộc lộ
tình cảm một cách bản năng, trực tiếp. Tình cảm trong thơ là tình cảm được ý
thức, được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ gắn liền với khoái cảm của sự tự ý
thức về mình và về đời. Nhà thơ khơng bị tình cảm mãnh liệt của mình chi
phối, trái lại ý thức nhà thơ làm chủ tình cảm của mình bằng một tư tưởng.
12
Tình cảm, cảm xúc trong thơ trữ tình vừa mang tính cá thể hố vừa
mang tính khái qt hố. Nó là nỗi niềm riêng của nhân vật trữ tình nên nó
mãnh liệt, nồng cháy như Hàn Mặc Tử từng viết “Khi tơi sáng tác là tơi phản
bội lại những gì mà máu tơi và hồn tơi giấu kín” nhưng từ tình cảm riêng tư
phải nói được nỗi niềm của số đơng “Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng cảm, đồng
tình”.
Tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, đẹp đẽ, cao thượng, thấm
nhuần bản chất nhân văn, chính nghĩa. Tình cảm tầm thường khơng làm nên
thơ. Có người nói “Một cơ gái có thể hát ca về tình u đã mất của mình, cịn
một kẻ keo kiệt thì khơng thể hát ca về món tiền đã mất”. Plekhanov giải
thích “Đó là vì tình u của cơ gái là tình u cao thượng, có thể khiến mọi
người cảm động, cịn tình cảm bị mất tiền thì tầm thường, chỉ gây sự buồn
cười”. Do đó tình cảm trong thơ phải gắn với tình cảm của nhân dân, nhân
loại mới có sức vang động trong tâm hồn người.
Như vậy, một tình cảm mãnh liệt được ý thức, siêu thốt, khơng lệ
thuộc vào đối tượng miêu tả cụ thể, làm cho thơ trở thành nghệ thuật đẹp,
nghệ thuật tự do nhất trong các nghệ thuật.
* Thơ - Nghệ thuật của trí tưởng tượng:
Tưởng tượng trong thơ chủ yếu là liên tưởng; giả tưởng; huyễn tưởng.
Nó mở rộng thế giới thực để người đọc có thể cảm nhận đến nhiều phạm vi
rộng rãi hơn, bao la hơn của hôm qua, hôm nay và ngày mai. Tố Hữu có lần
nói “Thơ phải chăng là điều ấy mơ ở trong thực, cái vơ hình trong cái hữu
hình. Những màu trong thơ không sáng cũng không tối, lờ mờ nhưng lại rõ,
cái chính xác của sự mơ hồ, cái bảng lảng có thể nói như vậy khi người ta là
thi sĩ”.
Tưởng tượng mở thêm nhiều năng lực mới, ý hướng mới tạo cho nhà
thơ có thể tiếp cận với cuộc sống bằng nhiều khả năng kì lạ và từ đó bài thơ
cũng bộc lộ nhiều phẩm chất mới “Cái lĩnh vực phong phú ít được biết nhất,
cái lĩnh vực có một chiều rộng khơng bờ là tưởng tượng, vì vậy khơng có gì lạ
nếu người ta đã dành danh hiệu nhà thơ chủ yếu là cho những người đi tìm
13
nhưng niềm vui mới rải rác trên những không gian đồ sộ của sự tưởng tượng”
(Apôline)
Tuy nhiên mọi tưởng tượng trong thơ đều phải bắt nguồn từ sự sống.
Bản thân đời sống thực tế ở những mặt tiêu biểu, tính chất nên thơ đã góp
phần trực tiếp tạo nên những tưởng tượng đẹp cho thơ và những tưởng tượng
ấy lại được chắp cánh thêm qua tâm hồn thơ bay bổng.
* Nhân vật trữ tình:
Nhân vật trữ tình là người trực tiếp thổ lộ những suy nghĩ và cảm xúc
trong bài thơ. Nhân vật trữ tình khơng có diện mạo, tiểu sử, hành động, lời
nói, quan hệ cụ thể nhưng được thể hiện qua giọng điệu, cảm xúc, cách cảm,
cách nghĩ.
* Chất thơ của thơ:
Chất thơ nằm ở ngoài lời(ý tại ngơn ngoại). Thơ khơng nói ở những
điều nó viết ra mà nói ở những chỗ trống khơng viết ra, ở chỗ trắng, chỗ im
lặng giữa các chữ, các lời. Cái ý nghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngồi lời, ngồi
hình ảnh do chính lời và hình ảnh gợi lên.
* Tính cá thể hố của tình cảm trong thơ:
Thơ bao giờ cũng tự biểu hiện cái tôi tác giả của nó, dù nhà thơ có ý
thức điều đó hay khơng. Thơ là gương mặt riêng của mỗi con người vì thế
mới có một Tú Xương trào phúng quyết liệt, sâu cay; một Nguyễn Khuyến
trào phúng nhẹ nhàng mà thâm thúy; một Huy Cận ảo não; một Nguyễn Bính
quê mùa; một Nguyễn Nhược Pháp trong sáng; một Huy Thông hùng tráng;
một Xuân Diệu thiết tha rạo rực...; qua từng trang thơ, dòng thơ người đọc
như được tiếp xúc với một cá tính, một cuộc đời một tâm hồn.
Trong thực tiễn sáng tác, cuộc đời nhà thơ và thơ ln gắn bó với nhau:
cuộc đời từng trải và tấm lòng nhân ái của Nguyễn Du cũng thống nhất với
những điều trông thấy mà đau đớn lịng trong thơ ơng; hay “Nhật kí trong tù”
là những ghi chép bằng thơ phản ánh chân thực cuộc đời và tình cảm của Hồ
Chí Minh trong cảnh tù đày; thơ Hồ Xuân Hương chính là cuộc đời ba chìm
14
bảy nổi và cá tính phóng khống táo bạo của bà…Vì thế khơng thể tách rời và
đối lập giữa cuộc đời nhà thơ và thơ.
Mỗi nhà thơ đều có một quan niệm về mối liên hệ giữa thơ và cuộc đời
mình và một con đường đi riêng để đến với thơ: Tố Hữu đã có lần phát biểu
“Chính vì lí tưởng cộng sản, vì sự nghiệp vĩ đại của Đảng mà tơi u thơ”;
các nhà thơ mới tìm đến với thơ như một lời chia sẻ, một nơi gửi gắm tình
cảm lãng mạn cơ đơn. Nhà thơ nào cũng đặt nhiệm vụ đi tìm và biểu hiện cái
tơi: tơi là con nai bị chiều đánh lưới; tôi là một cô hồn; tơi là chiếc thuyền say;
tơi là kẻ lạc lồi…
* Ngơn ngữ:
Ngơn ngữ thơ trữ tình giàu cảm xúc: Bởi lời thơ là lời đánh giá trực
tiếp, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể với cuộc đời. Sự lựa chọn từ ngữ,
phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng làm cho cảm xúc thái độ đánh giá,
sự đồng cảm hay phê phán của chủ thể trở nên nổi bật.
Ngơn ngữ thơ giàu nhạc tính: với những âm thanh luyến láy, những từ
trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm.
Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm.
Thế giới nội tâm của nhà thơ khơng chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà
còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nếu như trong văn xi, các
đặc tính thanh học của ngơn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ...) không
được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một
cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều
mà từ ngữ khơng nói hết. Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng
chủ yếu mang tính loại biệt rõ nét của ngôn ngữ thơ ca.Theo các nhà nghiên
cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt cơ bản. Đó là: sự cân đối,
sự trầm bổng và sự trùng điệp.
Sự cân đối là sự tương xứng hài hồ giữa các dịng thơ. Sự hài hồ đó
có thể là hình ảnh, là âm thanh. Cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng
ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất
ngôn bát cú. Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không khắt khe. Tuy vậy, nhà
15
thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ
của mình.
Sự trầm bổng của ngơn ngữ thơ thể hiện ở cách hồ âm, ở sự thay đổi
độ cao giữa hai nhóm thanh điệu. Âm thanh, nhịp điệu trong thơ khơng đơn
thuần là hình thức mà là những yếu tố góp phần biểu hiện những khía cạnh
tinh vi của đời sống tình cảm con người.
Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và
điệp cú. Chúng có tác dụng như một phương tiện kết dính các dịng thơ lại với
nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa
tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ.
Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngơn ngữ thơ.
Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác, một số người có xu hướng bỏ
vần để tạo cho câu thơ sự tự do hoá triệt để. Nhưng nếu khơng có một nhạc
điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp
điệu của câu thơ thì khơng cịn là ngơn ngữ thơ nữa.
Ngơn ngữ thơ có nhịp điệu: sự phân dịng góp phần tạo nhịp điệu. Tùy
vào số chữ (tiếng) trong dịng thơ mà thơ có nhịp điệu khác nhau.
Ngơn ngữ thơ khơng có tính liên tục mà có tính nhảy vọt gián đoạn tạo
thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa. Ngơn ngữ thơ khơng phải ngơn ngữ
tuyến tính mà là ngơn ngữ phức hợp. Vì thế đọc thơ là phải thả hồn theo cảm
xúc, chứ đừng chỉ tìm mạch lơgíc, mạch chữ của lời thơ. Do đặc điểm này mà
thơ sử dụng nhiều phép tu từ ẩn dụ, nhiều tỉnh lược, nhiều định ngữ.
1.1.2.2. Quan niệm về truyện ngắn và đặc trưng của truyện ngắn
1.1.2.2.1. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là một khái niệm phức tạp, khó định nghĩa. Vì thế, nhận
diện thể loại truyện ngắn ln là một nỗ lực liên tục của cả người sáng tác và
giới nghiên cứu lý luận hàng thế kỉ từ trước đến nay. Người ta đã đưa ra
những cách định nghĩa khu biệt. Mỗi người một phách, tiếng nói chung cịn
mờ nhạt. Nếu thống kê đầy đủ, dễ có đến hàng trăm định nghĩa. Có người cho
rằng: “Truyện ngắn chính là cách ta lấy một khúc đời sống”(Tơ Hồi). Có
16
người lại đề xuất: “Truyện ngắn là một tác phẩm nghệ thuật có bề sâu nhưng
lại khơng được dài”(T.Capơtê). Quả thật, nếu đi tìm một định nghĩa truyện
ngắn chuẩn xác, được tất cả mọi người công nhận và ứng cho mọi trường
hợp trong thực tế sáng tác văn học là điều rất khó, nếu khơng muốn nói là
khơng thể làm được. Theo tơi, việc nhận diện có thể dựa vào hai tiêu chí
chính là dung lượng và thi pháp.
Về dung lượng: truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ (nhân
vật khơng nhiều lắm, tình tiết khơng nhiều lắm, số trang không dài lắm...),
chủ yếu được viết bằng văn xi. Nghĩa là phải ngắn, thậm chí cực ngắn
(truyện mini).
Về thi pháp, ngồi những yếu tố ln có biến đổi như cốt truyện, nhân
vật, lối trần thuật, nhịp độ phát triển, giọng điệu, ngơn ngữ.v.v... thì tình
huống truyện được xem là hạt nhân trong cấu trúc nội tại của thể loại truyện
ngắn. Trong hai tiêu chí, dung lượng là điều kiện cần nhưng phụ và thứ yếu,
vì trên thực tế có khơng ít truyện ngắn nhưng khơng ngắn. Cịn thi pháp mới
là điều kiện đủ và chủ yếu. Vì đây mới là điều căn bản để phân biệt một
truyện ngắn với những tác phẩm tự sự thuộc thể truyện nói chung. Bởi thế có
thể chấp nhận định nghĩa: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ mà nội dung
thường chỉ xoay quanh một tình huống truyện chủ chốt nào đó.
1.1.2.2.2. Đặc trưng thể loại truyện ngắn
Đặc trưng bao trùm nhất, riêng biệt, nổi bật nhất của thể loại truyện
ngắn đã hàm chứa đầy đủ trong chính tên gọi của thể loại : Truyện ngắn phải
ngắn gọn, cô đúc, kiệm lời, dung lượng nhỏ nhưng sức chứa lớn. Đặc trưng
bao trùm này đã bao quát và chi phối các đặc điểm cụ thể của thể loại truyện
ngắn: nhân vật, cốt truyện, tình huống,...
a, Nhân vật truyện ngắn
Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu của các thể loại này. Một tác
phẩm hay tất phải có nhân vật sống động, sắc nét, có ý nghĩa sâu sắc.
Nhân vật thường biểu hiện qua các phương diện sau:
17
Việc miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố, ngơn ngữ của
nhân vật nhằm thể hiện tính cách và số phận con người. Ngoại hình của nhân
vật thường được giới thiệu trong tác phẩm.
Mối quan hệ của các nhân vật, giữa nhân vật với hoàn cảnh xung
quanh. Các quan hệ này bộc lộ địa vị, tính cách và số phận của nhân vật.
Ý nghĩa của nhân vật trong tác phẩm. Nhà văn sáng tạo nhân vật để
gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời. Do đó, phân
tích tính cách nhân vật chưa phải là mục đích cuối cùng, mà cịn phải tìm đến
ý nghĩa sâu xa mà nhà văn gửi gắm trong đó.
b, Tình huống truyện ngắn
Tình huống truyện là một sự kiện đặc biệt trong đó chứa đựng một tình
thế bất thường của quan hệ đời sống. Trong tác phẩm tự sự nói chung và nói
riêng trong truyện ngắn, tình huống truyện có một vai trị hết sức quan trọng.
Tình huống thể hiện rõ nhất đặc trưng phong cách của thể loại truyện ngắn.
Nó là yếu tố quyết định sự sống còn của truyện ngắn, là hạt nhân của cấu trúc
thể loại này.
c, Cốt truyện truyện ngắn
Truyện ngắn thường chỉ tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của
đời sống, các sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định, nói
như nhà văn Nguyễn Kiên: “Truyện ngắn thường chỉ phản ánh một khoảnh
khắc, một mẩu nhỏ nào đó của cuộc sống”. Trong các yếu tố của cốt truyện
ngắn các nhà văn đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của chi tiết, của đoạn mở
đầu và của đoạn kết. Chi tiết là các tiểu tiết của tác phẩm nghệ thuật văn xi
tự sự, có khả năng biểu hiện tình cảm và cảm xúc. Nhiều khi, truyện ngắn
sống tồn tại được là nhờ vào những chi tiết hay, chi tiết phát sáng, chi tiết đắt
giá.
1.1.3. Hình tƣợng nghệ thuật
1.1.3.1. Quan niệm về hình tượng nghệ thuật
Tác phẩm nghệ thuật là đơn vị tồn tại của nghệ thuật, trong đó hình
tượng nghệ thuật được coi như là "Tế bào” của tác phẩm. Khơng có hình
18
tượng nghệ thuật thì khơng có cơ sở để tạo nên nội dung và hình thức của tác
phẩm nghệ thuật.
Khái niệm hình tượng nghệ thuật, nói lên phương thức nhận
thức và sáng tạo lại hiện thực theo cách riêng biệt, độc đáo và chỉ có ở nghệ
thuật. Bất cứ một sự vật, hiện tượng khách quan nào có trong đời sống hiện
thực, nếu được mô phỏng lại một cách sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật đều
trở thành hình tượng nghệ thuật. Nhìn chung, hình tượng thường được hình
thành trong mối quan hệ giữa thế giới hiện thực khách quan với nhận thức chủ
quan của con người. Song hình tượng khơng là bản sao chép máy móc theo
đúng ngun mẫu của thế giới hiện thực, bởi vì nó thuộc về thế giới của tinh
thần – thế giới của sự sáng tạo. Hình tượng khơng chỉ phản ánh hiện thực mà
cịn khái qt hóa, điển hình hóa tồn bộ thế giới hiện thực, nhằm tìm ra được
những yếu tố cốt lõi nhất của hiện thực khách quan. Nhưng, hình tượng khơng
giống với các khái niệm mang tính trừu tượng, mà nó mang tính biểu hiện hết
sức sinh động và độc đáo để làm nên tác phẩm nghệ thuật.
Trước thế kỷ 19, phạm trù hình tượng chưa xuất hiện trong lý luận mỹ
học ở Việt Nam. Lý luận về hình tượng nghệ thuật mới được tiếp nhận vào
giữa thế kỷ 20, từ nguồn mỹ học Châu Âu, trước hết là của học thuật Xô Viết.
So với các khái niệm tương đương của phương Tây thì khái niệm hình
tượng (obraz) của mỹ học Xơ viết cịn rất đa nghĩa - vơ số tính hình tượng cịn
thiếu sự phân hố trong cách sử dụng. Xu hướng chung là thường nghiên cứu
về tính điển hình trong hình tượng nghệ thuật và cho đó là “đặc trưng duy
nhất” của nghệ thuật.
Ngược lại với học thuật Nga Xô viết, mỹ học Anh - Mỹ quan
niệm: “Thuật ngữ “image”(hình ảnh, hình tượng) có nghĩa hẹp và mang tính
chun biệt(ví dụ khơng có “image” của thế giới và con người, chỉ
có “image” của chi tiết sự vật, tình tiết mơ tả hoặc “image” như một ẩn dụ).
Tồn bộ các hàm nghĩa “hình tượng” trong thuật ngữ Nga được thể hiện bằng
một loạt thuật ngữ Anh - Mỹ: “Symbol”(mang nghĩa hình tượng nói chung,
nhưng nhấn mạnh yếu tố ước lệ nghệ thuật); “copy”(sao chụp, nói về tính