TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM NON
-----------------------
TỐNG LAN ANH
CHỦ ĐỀ TỔ QUỐC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2021
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-----------------------
TỐNG LAN ANH
CHỦ ĐỀ TỔ QUỐC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Giáo dục Tiểu học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN THỊ THU THỦY
Phú Thọ, 2021
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Chủ đề Tổ quốc trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học”, đến nay đề tài đã hồn thành. Với tình cảm
chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô trong ban lãnh đạo nhà trường, các
thầy cô giáo, cán bộ trường Đại học Hùng Vương, đã tư vấn, tạo điều kiện tốt
nhất cho tơi trong q trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Đặc biệt tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới Ths. Nguyễn Thị Thu
Thủy - giảng viên trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo, động viên giúp đỡ tơi trong
suốt q trình nghiên cứu và hồn thiện khóa luận này.
Tơi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình, người thân đã ủng hộ, động
viên, tạo điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu để hồn thành khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh
nhất, song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như
hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên khơng thể tránh được những thiếu
sót mà bản thân tôi chưa thể thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý
của thầy, cơ giáo để khóa luận của tơi được hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
Phú Thọ, tháng năm 2021
SV thực hiện
Tống Lan Anh
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Th.s. Nguyễn Thị Thu Thủy. Những kết quả và số
liệu trong đề tài này là trung thực và chưa cơng bố dưới bất kỳ hình thức
nào.
Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Phú Thọ, ngày tháng năm 2021
Người thực hiện đề tài
Tống Lan Anh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn .................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 4
7. Cấu trúc khóa luận...................................................................................... 6
PHẦN NỘI DUNG ....................................................................................... 7
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .............. 7
1.1. Tổng quan nghiên cứu ............................................................................. 7
1.1.1. Nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học
sinh Tiểu học .................................................................................................. 7
1.1.2. Nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ qua hình tượng nói
chung và hình tượng Tổ quốc trong chương trình Tiểu học nói riêng. ............ 9
1.2. Cơ sở lí luận .......................................................................................... 11
1.2.1. Thể loại tác phẩm ............................................................................... 11
1.2.1.1. Quan niệm về thơ và đặc trưng của thơ ............................................ 11
1.2.1.2. Truyện ngắn và đặc trưng của truyện ngắn ...................................... 16
1.2.2. Hình tượng nghệ thuật ........................................................................ 18
1.2.3. Năng lực cảm thụ văn học .................................................................. 23
1.2.3.1. Cảm thụ văn học .............................................................................. 23
1.2.3.2. Năng lực cảm thụ văn học ............................................................... 25
1.2.4. Thống kê và khảo sát các tác phẩm trong chương trình Tiếng Việt ở
Tiểu học viết về hình tượng Tổ quốc ............................................................ 27
1.3. Cơ sở thực tiễn (Thực trạng dạy và học cảm thụ văn học ở trường Tiểu
học hiện nay) ................................................................................................ 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1............................................................................. 31
CHƯƠNG 2: ĐẶC SẮC HÌNH TƯỢNG TỔ QUỐC TRONG CHƯƠNG
TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC ........................................................ 32
2.1. Đặc sắc nội dung của hình tượng Tổ quốc trong chương trình Tiếng Việt
ở bậc Tiểu học .............................................................................................. 32
2.1.1. Tổ quốc nhìn từ phương diện địa lí ..................................................... 32
2.1.2. Tổ quốc trong chiều dài lịch sử dân tộc .............................................. 39
2.1.3. Tổ quốc kết tụ trong bề dày truyền thống, văn hóa ............................. 50
2.1.4. Tổ quốc gắn liền nhân dân, Tổ quốc là nhân dân ............................... 62
2.2. Đặc sắc về nghệ thuật của hình tượng Tổ quốc trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học............................................................................................. 68
2.2.1. Đặc sắc nghệ thuật hình tượng Tổ quốc trong thể loại trữ tình (thơ) ... 68
2.2.1.1. Giọng điệu tha thiết, trữ tình ........................................................... 68
2.2.1.2. Biện pháp tu từ đa dạng và đặc sắc ................................................ 70
2.2.2. Đặc sắc nghệ thuật hình tượng Tổ quốc trong thể loại tự sự (truyện) .. 73
2.2.2.1. Cốt truyện ........................................................................................ 74
2.2.2.2. Nhân vật .......................................................................................... 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2............................................................................. 78
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁCH CẢM THỤ MỘT SỐ TÁC PHẨM VIẾT
VỀ TỔ QUỐC TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC ...................... 79
3.1. Cách cảm thụ tác phẩm văn học ............................................................ 79
3.1.1. Phát hiện các biện pháp nghệ thuật .................................................... 79
3.1.2. Cách đặt câu, sử dụng từ sinh động .................................................... 80
3.1.3. Nâng cao năng lực đọc - hiểu trong giờ Tập đọc ................................ 82
3.1.4. Đọc - kể diễn cảm ............................................................................... 89
3.1.5. Bộc lộ cảm nghĩ qua một đoạn viết ngắn ............................................ 93
3.2. Hướng dẫn cảm thụ trên một số tác phẩm cụ thể trong chương trình Tiếng
Việt .............................................................................................................. 95
3.2.1. Bài thơ “Lượm”- SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 2, trang 130, Chủ điểm
Nhân dân. ..................................................................................................... 95
3.2.2. Truyện ngắn “Người liên lạc nhỏ”- SGK Tiếng Việt lớp 3 tập 1, trang
112, Chủ điểm Anh em một nhà .................................................................. 100
3.2.3. Tác phẩm “Tre Việt Nam”- SGK Tiếng Việt lớp 4 tập 1, trang 41, Chủ
điểm Măng mọc thẳng. ............................................................................... 102
3.2.4. Tác phẩm “Đất nước” - SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2, trang 94, chủ điểm
Nhớ nguồn. ................................................................................................. 105
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3........................................................................... 112
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................. 113
1. Kết luận .................................................................................................. 113
2. Kiến nghị................................................................................................ 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO………....……………………………………..115
PHỤ LỤC
STT
1
2
3
4
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết thường
Chữ cái viết tắt
Học sinh
HS
Giáo viên
Sách giáo khoa
Học sinh Tiểu học
GV
SGK
HSTH
1
1. Lí do chọn đề tài
PHẦN MỞ ĐẦU
Thơ ca hay truyện ngắn là thể loại văn học gần gũi với tâm hồn mỗi
con người, nhất là với trẻ thơ bởi tính chất ngắn gọn, dễ hiểu và dễ gây cảm
xúc đối với các em - dễ nhớ dễ thuộc. Sự nhạy cảm tinh tế của tâm hồn được
hình thành từ thời thơ ấu. Trên thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của
văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, cao hơn là cách xây dựng
nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ.
Đất nước Việt Nam là dải đất cong cong hình chữ S nhưng chứa trong
đó biết bao nhiêu cảnh vật đặc sắc. Hình ảnh Tổ quốc Việt Nam không những
luôn ở trong tim mỗi chúng ta mà cịn hiện hữu trong các loại hình nghệ thuật,
trong thơ ca, nhạc họa, là nơi ln có niềm tin và sức mạnh, là cội rễ của mọi
di sản văn hóa thiêng liêng và tinh hoa của dân tộc Việt Nam.
Tổ quốc là gì? Hai tiếng Tổ quốc rung lên trong tim chúng ta nghe
thiêng liêng biết nhường nào. Thực ra Tổ quốc được lí giải rất đơn giản đó là
đất mẹ, là mảnh đất của cha. Tổ quốc chính là đất nước mình được gọi tên
một cách trân trọng, thân thương. Tổ quốc vang vọng trong câu ca hùng tráng,
Tổ quốc nằm gói gọn trong trái tim con người.
Viết về Tổ quốc là đề tài quen thuộc trong thơ ca hàng ngàn năm nay.
Hình tượng Tổ quốc xuất hiện rất sớm gắn với sự thành bại của các vương
triều qua nhiều thời kì dựng nước. Hình thành nên Tổ quốc n bình ngày
hơm nay được hiện lên từ những áng thơ, nhưng câu chuyện được nhiều tác
giả đã cảm nhận kể lại sự hình thành của Tổ quốc: là những anh hùng lịch sử
hi sinh vì đất nước, là sự vững chắc, kiên cường của người lính biển là những
con người nông dân Việt Nam mưu sinh trên những mảnh đất khô cằn sỏi đá
nhưng lại luôn cần mẫn, chăm chỉ, một nắng hai sương với nhiều khát vọng
ấm no, hạnh phúc. Hình tượng Tổ quốc là hình tượng thiêng liêng trên diễn
đàn văn học và thi ca Việt Nam đã khắc họa thật sống động những màu sắc
rất riêng với những địa danh, phong tục, lễ hội để con người ta được khám
2
phá, tìm hiểu. Ở đó cịn có biết bao vị quê: vị mặn mòi của biển, mùi thơm
của lúa rạ, là mát ngọt bát chè xanh, cánh cò trắng muốt lượn lờ trên cánh
đồng vàng mùa gặt, có cành diều chao nghiêng trên cánh gió thổi vi vu.
Những hình ảnh gản dị, thân thương ấy cứ như dòng suối nhỏ, mát ngọt, là
mạch nguồn ni dưỡng tâm hồn, tình cảm cuộc sống ấm no, đủ đầy.
Qua hình tượng thiêng liêng của Tổ quốc được khắc họa qua văn học
và thi ca, ta lại cảm nhận Tổ quốc ta luôn đẹp và hùng vĩ đến thế. Hình ảnh
Tổ quốc bao giờ cũng là hình ảnh thiêng liêng, cao quý. Đặc biệt, hình tượng
Tổ quốc được đưa vào các tác phẩm thơ, truyện trong chương trình Tiểu học
để giúp các em cảm nhận, thấm thía được được tình u q hương, đất nước
và viết lên nhưng trang sử mới.
Việc giáo dục cho học sinh tình u q hương, đất nước có thể thông
qua nhiều con đường khác nhau, song thông qua các tác phẩm thơ, truyện viết
cho thiếu nhi để giáo dục tình yêu quê hương, sự hình thành đất nước cho học
sinh Tiểu học sẽ giúp các em hiểu biết hơn về lịch sử nước nhà, mỗi câu
chuyện hay bài thơ viết cho thiếu nhi lại cung cấp cho các em những tri thức
và thông tin ở một số lĩnh vực nhất định. Qua nội dung phản ánh của các tác
phẩm sẽ tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của bạn đọc không
những giúp các em hiểu biết và cảm nhận được nội dung tác phẩm mà còn
biết trân quý những giá trị thiêng liêng của đất nước, lịch sử dân tộc ngàn đời
mà tiền nhân đã để lại. Nghiên cứu “Chủ đề Tổ quốc trong chương trình
Tiếng Việt ở Tiểu học”, đề tài mong muốn sẽ làm rõ hơn những giá trị nội
dung và nghệ thuật mà các tác giả đã gửi gắm trong những tác phẩm của
mình, đồng thời làm rõ được những đặc sắc của hình tượng Tổ quốc. Qua đó
thấy được giá trị của các tác phẩm văn học viết về đề tài Tổ quốc, khẳng định
được ý nghĩa của tác phẩm với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học luôn coi nhiệm vụ bồi dưỡng
năng lực cảm thụ văn cho học sinh Tiểu học là nhiệm vụ quan trọng và cần
thiết nhằm bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt. Dưới sự dẫn dắt, gợi mở của thầy
3
cô giáo, những câu chuyện bài thơ hay đã giúp các em hình thành thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt. Những bài thơ, bài văn hay
trong sách giáo khoa sẽ đem đến biết bao điều kỳ thú, hấp dẫn.
Hiện nay, các bài thơ, câu chuyện nói về hình tượng Tổ quốc là một
mảng lớn được đưa vào chương trình SGK bậc Tiểu học chủ yếu trong giờ
Tập đọc. Trong các bài Tập đọc học sinh được tìm hiểu về hình tượng này
chủ yếu ở phần tìm hiểu bài qua việc trả lời câu hỏi trong SGK. Chính vì vậy
tơi muốn chọn các tác phẩm thơ, truyện chủ đề về Tổ quốc trong các bài Tập
đọc, giúp giáo viên đưa ra cách tiếp cận tác phẩm đồng thời nâng cao năng
lực cảm thụ tác phẩm văn học ở học sinh Tiểu học.
Từ những định hướng trên, tôi nhận thấy hướng khai thác các tác phẩm
thơ, truyện về Tổ quốc trong chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nhằm
phát triển năng lực cảm thụ các tác phẩm cho học sinh Tiểu học là một hướng
đi quan trọng, cần thiết và thiết thực.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận về vấn đề cảm thụ văn học trong chương trình
tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú kho tàng lý
luận về năng lực cảm thụ cho học sinh Tiểu học trong chương trình tiếng Việt
bậc Tiểu học.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Phân tích, cảm nhận về hình tượng Tổ quốc trong chương trình tiếng
Việt ở Tiểu học lớp 2-5 nhằm làm rõ các phẩm chất, nghệ thuật của các tác
phẩm để từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao năng lực cảm thụ cho học sinh
Tiểu học.
Đề tài là tài liệu tham khảo cần thiết, hữu ích đối với giáo viên nhằm
phục vụ trong giảng dạy.
4
Giúp học sinh cảm nhận được nét đặc sắc, giá trị của hình tượng Tổ
quốc trong các tác phẩm, được phát huy năng lực cảm thụ tác phẩm, tăng
cường vốn từ ngữ, biết sử dụng các biện pháp tu từ,… trong bài Tập làm văn
của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, phát hiện vẻ đẹp của hình tượng Tổ quốc trong chương trình
Tiếng Việt Tiểu học để thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm,
đồng thời giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp quê hương khắp mọi miền đất nước,
hiểu được sự hi sinh của các thế hệ cha anh đi trước vì hịa bình, bồi dưỡng
truyền thống uống nước nhớ nguồn, trân trọng lịch sử dân tộc, có ý thức xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thống kê, khảo sát các bài thơ, truyện viết về hình tượng Tổ quốc trong
chương trình Tiếng Việt để tìm hiểu giá trị, sức hấp dẫn của hình tượng Tổ
quốc.
Đề xuất cách thức cảm thụ tác phẩm nhằm nâng cao năng lực cảm thụ
tác phẩm cho học sinh Tiểu học.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Các tác phẩm thơ, truyện viết về Tổ quốc trong chương trình Tiếng
Việt ở bậc Tiểu học.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 2-5.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp nghiên cứu lí luận là phương pháp tiếp cận hệ thống lí
luận về thể loại theo quan điểm của giáo trình lí luận văn học (tập 1, nhà văn,
5
bạn đọc, tiếp nhận). Đây là cơng cụ lí thuyết vừa là phương pháp luận để triển
khai nghiên cứu các vấn đề tổng quan.
Phương pháp này giúp chúng tôi phân tích được những vấn đề lí luận,
tổng quan về các tác phẩm về đề tài Tổ quốc và đưa ra những hiểu biết ban
đầu về những nét đặc sắc của những tác phẩm đó trong mơn Tiếng Việt ở nhà
trường Tiểu học. Đồng thời phương pháp nghiên cứu lí thuyết cũng có vai trị
quan trọng trong việc xác định cơ sở lí thuyết để triển khai đề tài. Trên cơ sở
đó, tiến hành nghiên cứu, phân tích chương trình sách giáo khoa để có thêm
hiểu biết về những tác phẩm về đề tài Tổ quốc.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu so sánh
Phương pháp này sử dụng ở đề tài nhằm có sự liên kết, đối chiếu, so
sánh những điểm giống và khác nhau những bài thơ nói về hình tượng Tổ
quốc trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học từ lớp 2 - lớp 5.
6.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê các tác phẩm thơ, truyện viết về chủ đề Tổ quốc trong phân
môn Tập đọc từ lớp 2 - lớp 5
Phương pháp phân loại tổng hợp nhằm có những đánh giá, nhận thức
mới phục vụ cho đề tài.
6.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp phân tích là thao tác phân tài liệu lí thuyết thành các đơn
vị kiến thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên
trong của lí thuyết. Từ đó nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức và
toàn bộ vấn đề ta nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích ta lại tổng hợp kiến thức
để tạo ra hệ thống, thấy được mối quan hệ tác động biện chứng giữa chúng, từ
đó hiểu đầy đủ, tồn diện, sâu sắc lí thuyết.
Đối với đề tài chúng tơi nghiên cứu, viêc sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp là hồn tồn cần thiết, nó làm nổi bật đặc điểm hình tượng Tổ
6
quốc được xác định trong đề tài. Từ đó chúng tơi có thể thấy được đặc sắc nội
dung và nghệ thuật về hình tượng Tổ quốc.
7. Cấu trúc khóa luận
Ngồi phần mở đầu, mục lục, kết luận kiến nghị và tài liệu tham khảo,
phụ lục, danh mục viết tắt, phần nội dung gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
+ Chương 2: Đặc sắc hình tượng Tổ quốc trong chương trình Tiếng
Việt ở Tiểu học.
+ Chương 3: Đề xuất cách cảm thụ một số tác phẩm về chủ đề Tổ quốc
trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ
văn học.
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học
sinh Tiểu học
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn Vẻ đẹp ngôn ngữ qua các bài tập
đọc 4, 5 (NXB Giáo dục - 1996) đã chú ý khai thác ngôn ngữ của các bài văn,
bài thơ. Cuốn sách chia làm hai phần: Phân tích vẻ đẹp ngơn ngữ trong các
bài Tập đọc và cung cấp một số kiến thức cơ bản về phân tích các biện pháp
tu từ mà học sinh thường gặp để làm cơ sở, làm chỗ dựa vào việc vận dụng,
phân tích thơ văn của HSTH
Trong chuyên luận Một số vấn đề về phương pháp dạy - học văn trong
nhà trường (NXB Giáo dục - 2001), Đặng Hiền trong bài Dạy học theo hướng
phát triển tư duy cho rằng một trong những thao tác tư duy cần rèn luyện cho
học sinh là “năng lực cảm thụ văn học” [8,76]. Tác giả còn đề xuất một số
biện pháp rèn luyện năng lực cảm thụ văn học cho HS, đó là đọc cảm thụ, đặt
câu hỏi với “những từ đắt, chữ thần, những nốt bấm nghệ thuật, những quan
hệ, những dấu lặng nghệ thuật…” [8,76], sử dụng rộng rãi các thao tác so
sánh trong cảm thụ nghệ thuật.
Cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn học (Theo thể loại) của
Nguyễn Viết Chữ (NXB Đại học Quốc gia - 2001) cũng đã đề cập đến tới vấn
đề: “Lý thuyết câu hỏi cảm thụ tác phẩm văn chương và sự vận dụng trong
dạy học theo thể loại như một phương diện thiết yếu”. Ở đây cơng trình này
tác giả xây dựng cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề câu hỏi khá hồn
thiện. Từ đó tác giả đã đưa ra các u cầu có tính nguyên tắc khi xây dựng hệ
thống câu hỏi cảm thụ để dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường Việt
Nam.
Cuốn Luyện tập về cảm thụ văn học ở Tiểu học của Trần Mạnh Hưởng
(NXB Giáo dục - 2001) đã đưa ra một số yêu cầu về rèn luyện cảm thụ văn
8
học ở Tiểu học, giúp học sinh nắm được những yêu cầu biện pháp rèn luyện
cụ thể về cảm thụ văn học cho bản thân. Cuốn sách đưa ra một hệ thống bài
tập về cảm thụ văn học ở tiểu học và những gợi ý, giải đáp và tham khảo.
Tác giả Lê Phương Nga trong cuốn Dạy Tập đọc ở Tiểu học (NXB
Giáo dục - 2002) đã đi sâu vào phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn của việc
dạy học tích cực, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân mơn Tập
đọc.
Nguyễn Trọng Hồn trong cuốn Rèn kĩ năng cảm thụ văn học cho học
sinh Tiểu học (NXB Giáo dục - 2002) đã đề cập đến những kĩ năng cảm thụ
văn và nêu một số y cầu và sự chuản bị đối với người cảm thụ thơ văn, nêu
một số phương hướng cảm thụ thơ văn trong chương trình và sách giáo khoa
Tiểu học.
Nhóm tác giả Tạ Đức Hiền, Nguyễn Việt Nga, Phạm Đức Minh đã đề
cập tới Cảm thụ văn Tiểu học lớp 4, Cảm thụ văn Tiểu học lớp 5 (NXB Giáo
dục - 2003) dựa vào các văn bản Tập đọc lớp 4, 5 để gợi ý hướng dẫn theo
một hệ thống câu hỏi, giúp các em đọc hiểu bài đọc. Đối với những bài văn,
bài thơ hay thì có thêm phần “nêu cảm nhận” hoặc “nêu cảm nghĩ”.
Nhóm tác giả Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hồn, Giang Khắc Bình cũng
đã gặp nhau ở lí tưởng, mục đích nhằm nâng cao năng lực cảm thụ cho HSTH
nên đã cho ra đời cuốn sách viết chung: Tìm hiểu vẻ đẹp ở bài thơ tiểu học
(NXB Đại học Quốc gia - 2007). Nội dung cuốn sách gợi ra các bài thơ trong
chương trình, chỉ ra mốt số đặc điểm cần lưu ý khi đọc và tìm hiểu các bài thơ
trong chương trình đồng thời giải nghĩa một số từ ngữ, hướng dẫn cho các em
cách thưởng thức vẻ đẹp của tác phẩm.
Khi nghiên cứu một trong các nhân tố một trong các nhân tố của cảm
thụ văn học, thạc sỹ Bùi Minh Đức trong bài Một số biện pháp tổ chức cho
học sinh tái hiện hình tượng văn học trong giờ học tác phẩm văn chương (Tạp
chí dạy và học ngày nay số 8 năm 2008) có đề xuất biện pháp “Giáo viên yêu
9
cầu học sinh thực hiện một số bài tập tái hiện” [5,23], nhằm phát huy trí
tưởng tượng của học sinh khi cảm thụ văn học.
Bài viết Nâng cao khả năng cảm thụ văn học cho học sinh trong giờ
học hiểu mơn văn của Phan Thanh Vân (Tạp chí số 8, ngày 22 -10- 2012) đã
đề ra một số biện pháp nhằm tạo hứng thú học văn và nâng cao khả năng cảm
thụ văn học cho học sinh, hình thành thói quen trực tiếp văn bản, rèn kĩ năng
đọc diễn cảm và sử dụng lời bình.
Bài viết Phương pháp dạy - học tác phẩm văn học của Đào Ngọc Đệ
(Trường Đại học Hải Phòng - 2012) đã đề xuất bốn điều cơ bản để dạy và học
tốt tác phẩm văn học. Giáo viên và học sinh phải đọc kĩ tác phẩm văn học,
giảng dạy theo thể loại tác phẩm văn học, giáo viên phải là nhà khoa học sư
phạm và học sinh phải tích cực chủ động khám phá các giá trị của tác phẩm
văn học.
Qua nghiên cứu các cơng trình, những bài viết trên đều tập trung đề cập
đến các biện pháp rèn luyện kĩ năng cảm thụ văn học cho học sinh, giữa các
bài viết có mơt số ý kiến tương đồng. Nhưng bên cạnh đó, chúng tơi thấy mỗi
tác giả, mỗi bài viết đề cập đến nhiều khía cạnh, phương diện khác nhau về
cảm thụ văn học giúp người dạy văn, học văn xác định được phương hướng
đúng đắn, có giá trị làm tiền đề cho chúng tơi triển khai đề tài.
1.1.2. Nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng năng lực cảm thụ qua hình tượng
nói chung và hình tượng Tổ quốc trong chương trình Tiểu học nói riêng.
Hình tượng nghệ thuật là phương diện đặc thù của nghệ thuật để phản
ánh hiện thực khách quan. Nó phản ánh tính khái quát, tính quy luật của hiện
thực qua hình thức cá thể, độc đáo. Hình tượng nghệ thuật có thể là đồ vật,
một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội cảm nhận. Nhưng nói đến
hình tượng nghệ thuật, người ta thường nghĩ tới hình tượng con người với
những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú.
Các biện pháp để bồi dưỡng năng lực cảm thụ qua hình tượng đã có
một số cơng trình nghiên cứu đáng chú ý. Chuyên luận Cảm thụ văn học và
10
giảng dạy văn học của giáo sư Phan Trọng Luận, (NXB Giáo dục-1983).
Chuyên luận này đã cung cấp một số hiểu biết khoa học về tính đặc thù của
cảm thụ văn chương, tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng tạo của tiếp
nhận, mối quan hệ thẩm mỹ của bạn đọc đối với tác phẩm… Theo tác giả,
“Thực chất của việc phát huy chủ thể học sinh là phát triển một cách cân đối
hài hịa về tư duy hình tượng và tư duy logic trong văn học, là khơi dậy phát
triển tâm lí cảm thụ văn học nhằm từng bước hình thành nhân cách học sinh
một cách hiệu quả”[15,233].
Chuyên luận Cơng nghệ dạy văn của Phạm Tồn (NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội - 2001) cho rằng “thao tác tưởng tượng - tạo dựng hình tượng”,
“thao tác liên tưởng - tìm ý của hình tượng” nên đã đề cập đến một số biện
pháp để tạo dựng hình tượng và cuối cùng phải “đi từ nghĩa đến tìm ý của
hình tượng” [20,88].
Khi nghiên cứu một trong các nhân tố một trong các nhân tố của cảm
thụ văn học, thạc sỹ Bùi Minh Đức trong bài Một số biện pháp tổ chức cho
học sinh tái hiện hình tượng văn học trong giờ học tác phẩm văn chương (Tạp
chí dạy và học ngày nay số 8 năm 2008) có đề xuất biện pháp “Giáo viên yêu
cầu học sinh thực hiện một số bài tập tái hiện” [5,23], nhằm phát huy trí
tưởng tượng của học sinh khi cảm thụ văn học.
Ngoài ra, ở chương trình Trung học cơ sở và Trung học Phổ Thơng
cũng có những bài học, những chun đề tìm hiểu về hình tượng Tổ quốc
nhưng chỉ ở mức độ tổng quát chưa đi sâu vào vấn đề. Có những nhà thơ tiêu
biểu cũng đã cảm nhận về đất nước, mỗi nhà thơ lại có cách cảm nhận riêng
của mình đối với hình tượng Tổ quốc. Đối với đất nước trong thơ Nguyễn
Đình Thi, những vẫn thơ của ơng là thi phẩm đại diện đặc sắc nhất của thơ ca
kháng chiến thời chống Pháp, dựng lên một tượng đài Tổ quốc anh hùng bất
khuất. Hay trong thơ của Trần Đăng Khoa nhà thơ lại tập chung viết những
cảm nhận của riêng mình để khắc họa lên hình ảnh gần gũi, quen thuộc nhất
11
của người nơng dân. Hình ảnh người nơng thơn bình dị, chịu nhiều vất vả,
lam lũ khơng quản những khó nhọc, hi sinh. Hình tượng Tổ quốc được các
nhà thơ tìm hiểu, nghiên cứu ở một mức độ nhất định và chưa kết hợp được
khả năng cảm thụ cho học sinh Tiểu học.
Trong đề tài nghiên cứu này, một mặt chúng tôi tiếp tục kế thừa kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, mặt khác, trên cơ sở đó chúng tơi
đề xuất các biện pháp cụ thể thơng qua chủ đề hình tượng Tổ quốc trong
chương trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học nhằm nâng cao năng lực cảm thụ tác
phẩm văn học cho HSTH.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Thể loại tác phẩm
1.2.1.1. Quan niệm về thơ và đặc trưng của thơ
1.2.1.1.1. Quan niệm về thơ
Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của lồi người. Chính vì
vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn
học. Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết
đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ.
Trong nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa, khái niệm “thơ là gì?”
đã được đề cập đến từ rất sớm. Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn
tâm điêu long, Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên
một bài thơ là tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngơn ngữ (hình văn) và âm thanh
(thanh văn). Kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư Dị
đã nêu lên các yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: “Cái cảm
hố được lịng người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước
được ngơn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý
nghĩa. Với thơ, gốc là tình cảm, mầm lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là
ý nghĩa”. Quan niệm này không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu
thành tác phẩm mà cịn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc
12
rễ, mầm lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hồn chỉnh và
sống động. Đây có thể coi là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong
nền lý luận văn học cổ điển Trung Hoa.
Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể
bắt đầu từ nhà triết học người Hy-Lạp Aristotle (384–322 TCN). Ở Việt Nam,
thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ
như Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm được đúc kết
thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại,
truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để
truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống,
sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành hình
thức văn nghệ, giải trí.
Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác
nhau về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được tất cả mọi đặc
trưng của thể loại này. Quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức
sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm
xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”
(Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG, 1999).[6,48]
Thơ, thơ ca hay thi ca, là khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần
điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cơ đọng. Một bài văn cũng có
thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho
người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường cịn mang
tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc
tính trong bài. Thơ thường dùng như hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình,
hoặc tình cảm xúc động trước hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi
người ta đứng trước phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước thảm cảnh. Sự
tương tác giữa tình cảm con người và hồn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà
người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà,
song có mức thơng tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và khúc chiết. Muốn làm
13
được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát
hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những
gì vốn có trước đây.
Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và
sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lơgíc
nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người
đọc, người nghe.Tứ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ,
hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cơ đọng,
truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hồn chỉnh
trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài
thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cơ đọng trong số lượng từ, tính tượng hình
và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc
đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
1.2.1.1.2. Đặc trưng của thơ
Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự,
kịch). Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn
thơng qua hình tượng thơ, đặc biệt thơng qua ngơn ngữ nghệ thuật, qua dòng
thơ, qua vần điệu, tiết tấu... Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp
của ngơn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngơn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo
điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời
sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của
tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà
thơ.
Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ
tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng,
tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau,
nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trị cốt lõi trong
tác phẩm.
14
Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim
trước cuộc đời. Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người
ta”, hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc
sống đã thật đầy”. Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con
người và cuộc sống khách quan. Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của
thơ có được cịn do ngơn ngữ thơ cơ đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc
điệu. Sự phân dòng, và hiệp vần của lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh
điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu của ý thơ. Bàn về đặc điểm
này, nhà thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao q ngơn
ngữ đặc biệt. Sự sắp xếp các dòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một
hình thức có tính tạo, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể
hiện sự nồng cháy trong lịng. Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một
cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng
những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu
khác thường”.
Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tơi trữ tình) là người
trực tiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện. Nhân
vật trữ tình là cái tơi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình
cảm của nhà thơ. Tuy vậy, khơng thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả.
Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc hình. Đồng thời, sự hiệp vần,
xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóa tạo nên tính
nhạc điệu. Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyến láy của
văn bản thơ. Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngơn
ngữ hình ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường
không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu,
hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên. Do đó ngơn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa
các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ khơng liên tục gợi ra nhiều
nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thử nghiệm
thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong.
15
Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận
bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh chóng này tương tự
như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với
nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn ngữ, giúp con
người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các
từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của
ngơn ngữ thúc đẩy sự tìm tịi các từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm
người viết muốn truyền, đồng thời tìm tịi những từ mới. Tính âm nhạc cịn
thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như “rì rào”, “vi vút”, “ầm
ầm”, “lanh canh”,... Chính vì tính chất này, việc làm thơ nhiều khi tương tự
như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự, mà bài tốn hay
kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ là phép
toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh chóng
tìm ra phương pháp biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cơ đọng,
hợp lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa
nhanh chóng, người làm thơ thường phải kinh qua một quá trình luyện tập lâu
dài, bằng cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu
chữ ngắn gọn, đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được
dùng. Thơ cịn địi hỏi tính phân tích các từ ghép và cơ đọng từ. Chính vì thế,
nhiều khi do làm thơ, người làm thơ dễ rơi vào tình trạng liên tưởng giữa từ
của nghĩa này sang từ của nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta còn
gọi là sự “chơi chữ”.
Tính hội họa trong thơ, hay cịn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ
bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta
gọi là “cảm hứng”. Trong tình trạng này, các hình ảnh thu được trong trí nhớ,
có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được, liên kết với
nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh có thể rõ đến mức người ta gần
như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị, thấy sự
chuyển động của vật thể, thấy màu sắc v.v. Người làm thơ sẽ sống trong thế
giới ấy trong khi họ đang nghĩ về bài thơ, họ sẽ đi lại, vào các góc của thế
16
giới của mình, nhìn rõ hơn các vật cảnh, liên kết thêm những màu sắc, những
chuyển động, những dãy liên tiếp của các sự kiện xảy ra, hay nói cách khác,
họ xa rời cái thế giới mà họ đang sống. Chính vì hiện tượng này, người ta có
câu nói đùa, chỉ các nhà thơ là thơ thẩn, nằm mơ hay mơ mộng như người ở
trên cung trăng. Đây là một hiện trạng có thật. Sự hưng phấn do được sống
trong thế giới riêng của mình, được sắp đặt nó theo ý riêng của mình, được
thêm thắt, chắt lọc, được cho các vật chuyển động, xoay quanh các vật, chiêm
ngưỡng chúng, cảm giác chúng v.v. gây nên sự ham mê, thôi thúc người làm
thơ tiếp tục sống và diễn tả lại chúng bằng từ ngữ. Không những quan sát và
diễn tả khơng thơi, họ cịn phải nâng sự quan sát của họ lên đến một mức độ
nhạy bén, hoa mỹ, không tầm thường - đây chính là sự khác biệt giữa thơ và
truyện hay với các loại hình nghệ thuật khác
1.2.1.2. Truyện ngắn và đặc trưng của truyện ngắn
1.2.1.2.1. Quan niệm về truyện ngắn
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện
ngắn bao trùm hầu hết các phương diện đời sống: đời tư, thế sự, sử thi, nhưng
cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một
mạch, đọc một hơi không nghỉ.
Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt
truyện ngắn với các thể loại tự sự khác. Trong văn học hiện đại, có nhiều tác
phẩm rất ngắn, nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại. Truyện
ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa. Các hình thức
truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại lại càng
không phải truyện ngắn.
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời,
một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Cho nên truyện
ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học. Truyện ngắn
là thể loại gần gũi với đời sống hằng ngày, súc tích, dễ đọc, lại thường gắn
liền với hoạt động báo chí, do đó có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời
17
sống. Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta đã đạt tới đỉnh cao của sự
nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng những truyện ngắn xuất sắc của
mình. Truyện ngắn xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỉ XIX, phát
triển lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào Nga Chekhov
và trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỉ XX.
Mặc dù thuật ngữ truyện ngắn ra đời muộn (khoảng cuối thế kỉ XIX)
nhưng bản thân truyện ngắn đã xuất hiện và tồn tại ngay từ buổi bình minh
của nhân loại, khi con người biết sáng tác văn chương. Trải qua hàng ngàn
năm, với bao biến cố thăng trầm của thể loại, ngày nay truyện ngắn đã chiếm
lĩnh được vị trí quan trọng trên văn đàn trong kỉ nguyên hiện đại, hậu hiện
đại, khi con người bị dồn ép về mặt thời gian hơn bao giờ hết. Con người
khơng có đủ thời gian cho những bộ tiểu thuyết đồ sộ như: Tây du kí, Tam
quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Hồng Lâu mộng, Những người khốn khổ,
Chiếntranh và hịa bình, Sơng Đơng êm đềm.... Truyện ngắn là tác phẩm tự sự
loại nhỏ, đơn giản là lối trần thuật khiến “độc giả có thể đọc liền một mạch”.
Truyện ngắn tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống, một biến cố, một hành
động, một trạng thái nào đó trong cuộc đời nhân vật, thể hiện một khía cạnh
của tính cách hay một mặt nào đó của cuộc sống xã hội.
Với “diện mạo” của truyện ngắn, người ta dễ thống nhất ở quan niệm:
“Đối với truyện ngắn hay, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó là bảo vệ cho
được tính xác định về mặt thể loại. Truyện ngắn cần phải cô đọng đến mức
cao nhất. Vấn đề số một đối với nó là vấn đề dung lượng - “tất cả trong một”.
Nhà văn có tài, có phẩm chất sáng tạo chính là người chấp nhận tự nguyện và
thoải mái những nguyên tắc sắt đá của thể loại. Trong q trình chấp nhận lề
luật đó, chính là anh ta đã làm cho những nguyên tắc sắt đá đó trở nên hoàn
mỹ. Thể loại càng đẹp, càng tinh xảo, tư tưởng càng sâu sắc, càng lớn. Khác
với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống với toàn bộ sự đầy đặn và tồn
vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng đến khắc họa một hiện tượng, phát
hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con
người.