BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
----
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MƠN: LUẬT DOANH NGHIỆP
Chủ đề: ĐÁNH GIÁ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH CƠNG
TY HỢP DANH TẠI VIỆT NAM
Giảng viên
Sinh viên thực hiện
MSSV
Lớp
:
:
:
:
Ts. Trần Huỳnh Thanh Nghị
Vũ Thị Huyền Vy
33201025035
K23.3 LA01
Hồ Chí Minh, Tháng 5 năm 2022
MỤC LỤC
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là hoàn
toàn trung thực. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện tiểu luận này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong tiểu luận đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả tiểu luận
Vũ Thị Huyền Vy
3
LỜI MỞ ĐẦU
Công ty hợp danh là một trong những loại hình doanh nghiệp lâu đời nhất trên
thế giới. Ở Việt Nam Công ty hợp danh được các nhà lập pháp quy định trong các
phiên bản Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014, 2020. Có thể thấy cơng ty hợp
danh khơng phải là một loại hình doanh nghiệp mới. Nhưng số lượng công ty hợp
danh đang hoạt động hiện nay chiếm tỉ lệ khá thấp so với các loại hình công ty khác,
kể từ khi được quy định trong Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ thì mơ hình này
khơng được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn . Theo số liệu của Cục quản lý đăng ký
kinh doanh, Bộ Kế hoạch đầu tư (2017) thì số lượng các nhà đầu tư thực hiện đăng ký
thành lập công ty hợp danh mới chiếm tỉ lệ rất thấp (0.03%) trên tổng các loại hình
doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ việc khung pháp lý về công ty hợp danh vẫn tồn
tại một số điểm hạn chế, bất cập chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn hoạt động đầu tư kinh
doanh của nhà đầu tư và tạo sự tương thích với thơng lệ quốc tế. Vậy thực tế tình hình
phát triển của loại hình cơng ty hợp danh Việt Nam hiện nay như thế nào, nguyên nhân
nào dẫn đến tình trạng như hiện tại? Tác giả sẽ làm rõ trong bài tiểu luận "Đánh giá về
sự phát triển loại hình cơng ty hợp danh tại Việt Nam" với mong muốn phân tích
những ưu điểm và hạn chế cần khắc phục của loại hình doanh nghiệp này. Qua đó đưa
ra những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về công ty hợp danh.
4
1.
1.1
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY HỢP DANH
Khái niệm
Pháp luật các nước trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cơng ty hợp
danh, nhưng nhìn chung cơng ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp mang bản
chất đối nhân. Các thành viên hợp danh trong công ty chịu trách nhiệm vơ hạn bằng
tồn bộ tài sản của mình đối vào cơng ty, các thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu
hạn trong phần vốn góp của mình.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam Điều 177 Luật doanh nghiệp 2020 có quy
định: “Cơng ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất 02 thành viên là
chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên
hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các
nghĩa vụ của cơng ty”.
1.2 Đặc điểm
Theo quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam công ty hợp danh mang những
đặc điểm như sau:
-
Giống như các công ty hợp danh trên thế giới, công ty hợp danh tại Việt
-
Nam cũng mang bản chất đối nhân.
Trong công ty hợp danh có hai loại thành viên: Thành viên chịu trách nhiệm
hữu hạn được gọi là thành viên góp vốn. Thành viên chịu trách nhiệm vô
-
hạn được gọi là thành viên hợp danh.
Theo quy định pháp luật công ty hợp danh phải có tối thiểu hai thành viên
-
hợp danh.
Cơng ty hợp danh Việt Nam có tư cách pháp nhân, là chủ thể độc lập trước
pháp luật, nhưng lại không có sự tách bạch giữa tài sản của cơng ty với tài
sản của thành viên hợp danh, do đó cơng ty hợp danh không độc lập trong
-
2.
việc chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty.
Công ty hợp danh Việt Nam cũng phải hoạt động dưới tên gọi riêng.
Công ty hợp danh khơng có quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 VỀ CƠNG
TY HỢP DANH
Luật doanh nghiệp 2020 đã có nhiều thay đổi so với luật Doanh nghiệp năm
2014. Đây được xem là bước tiến để Luật doanh nghiệp phù hợp hơn với tình hình
5
phát triển thực tế của đất nước ta hiện nay. Đối với những quy định về công ty hợp
danh, bộ luật đã có những điểm mới cụ thể như sau
2.1
Thêm trường hợp chấm dứt tư cách thành viên hợp danh
Theo khoản 1 Điều 185 Luật Doanh nghiệp 2020, “thành viên hợp danh bị chấm
dứt tư cách trong trường hợp sau đây:
- Tự nguyện rút vốn khỏi công ty;
- Chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi;
- Bị khai trừ khỏi công ty;
- Chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định theo quy định của pháp luật;
- Trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.”
So với Luật Doanh nghiệp 2014, thêm trường hợp "có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi" và "chấp hành hành phạt tù hoặc bị Tòa án cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định theo quy định của pháp luật".
2.2
Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành cơng ty hợp danh
Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ quy định về trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp tư
nhân thành công ty TNHH.
Theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp 2020, “doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển
đổi thành cơng ty TNHH, cơng ty CP hoặc công ty hợp danh theo quyết định của chủ
doanh nghiệp tư nhân nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Doanh nghiệp được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 27 của Luật này;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng
toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán
đủ số nợ khi đến hạn;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp
đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các
hợp đồng đó;
- Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn
bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của
doanh nghiệp tư nhân.”
6
Như vậy, Luật doanh nghiệp 2020 đã mở rộng hơn về loại hình doanh nghiệp
được phép chuyển đổi thành cơng ty hợp danh.
Về phương thức triệu tập họp hội đồng thành viên
2.3
Khoản 2 điều 183 205 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: Thơng báo mời họp
Hội đồng thành viên có thể gửi bằng giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện
tử hoặc phương thức khác do Điều lệ công ty quy định. Thơng báo mời họp phải nêu
rõ mục đích, yêu cầu và nội dung họp, chương trình và địa điểm họp, tên thành viên
yêu cầu triệu tập họp.
Trong khi Luật doanh nghiệp 2014 quy đinh “Thông báo mời họp có thể bằng
giấy mời, điện thoại, fax hoặc phương tiện điện tử khác”.
Như vậy, phương thức mời họp khơng cịn bị hạn chế bởi quy định của pháp luật,
nhưng sẽ được quy định rõ ràng và đầy đủ tại điều lệ cơng ty theo ý chí của chủ sở
hữu, đồng thời, các thành viên công ty cũng sẽ nắm được quy định này. Tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình thông tin liên lạc, những vẫn đảm bảo quyền lợi của các chủ
thể liên quan.
THỰC TRẠNG CÔNG TY HỢP DANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.
Các công ty hợp danh ở Việt Nam hiện nay hoạt động trong khá nhiều lĩnh vực
như: khám và điều trị bệnh, Vận tải công nghệ, mua bán sản phẩm sinh học, thuốc bảo
vệ thực vật, hóa chất như thuốc trừ sâu, thủ cơng mỹ nghệ... nhưng hai ngành nghề chủ
yếu là: Kế toán - kiểm tốn và tư vấn pháp luật.
Loại hình cơng ty hợp danh đã xuất hiện khá lâu đời ở Việt Nam. Tuy nhiên tính
đến thời điểm hiện tại số lượng cơng ty hợp danh chiếm tỉ lệ cực kỳ thấp so với các
loại hình doanh nghiệp khác. Tỉ lệ thành lập mới của loại hình cơng ty hợp danh qua
các năm vơ cùng ít ỏi, và gần như khơng có sự tăng trưởng. Thê hiện cụ thể qua bảng
sau:
Loại hình
doanh nghiệp
Cơng ty TNHH
Số lượng doanh nghiệp thành lập mới
Năm 2015
Năm 2016
Năm 2017
48.362
59.848
73.118
7
một thành viên
Công ty TNHH
25.060
27.685
29.389
hai thành viên
trở lên
Công ty cổ phần
15.971
18.256
21.197
Doanh nghiệp tư
5.345
4.295
3.133
nhân
Công ty hợp
16
16
22
danh
Bảng 1: Số lượng doanh nghiệp thành lập mới năm 2015, 2016, 2017 (Số liệu lấy
từ />Thực tế đã có những cơng ty hợp danh đang hoạt động một cách rất hiệu quả
ngày càng phát triển và mở rộng quy mơ, nhưng với số lượng cịn rất ít. Qua bảng số
liệu trên có thế dễ dàng nhận thấy rằng công ty hợp danh không phải là loại hình
doanh nghiệp được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn ở Việt Nam.
Trên thế giới, công ty hợp danh đã và đang là một loại hình doanh nghiệp phổ
biến và được nhiều nhà đầu tư lựa chon bởi những ưu thế của nó. Nhưng ở Việt Nam
điều này lại ngược lại hồn tồn. Có rất nhiều ngun nhân dẫn đến tình trạng này như
tâm lý e dè của nhà đầu tư trước loại hình kinh doanh mới, mơ hình cơng ty kén chọn
lĩnh vực kinh doanh, những ngun nhân tự thân của loại hình cơng ty đối nhân...
Nhưng ngun nhân dẫn đến mơ hình cơng ty hợp danh chưa thật sự được ưa chuộng
là do sự bất cập của pháp luật hiện hành. Do đó việc phân tích nhưng ưu điểm, hạn chế
trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tế sẽ giúp chúng ta tìm ra giải pháp để khắc
phục tình trạng hiện tại, từ đó thu hút nhà đầu tư đối với loai hình doanh nghiệp công
ty hợp danh, tận dụng tối đa hiệu quả mà nó mang lại có nền kinh tế.
4.
ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA LOẠI HÌNH CƠNG TY HỢP DANH TRONG HỆ
THƠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
4.1. Ưu điểm của công ty hợp danh
Trên thế giới loại hình cơng ty hợp danh rất phát triển, nó là loại hình doanh
nghiệp được các nhà đầu tư khá quan tâm và ưu tiên lựa chọn. Có thể thấy loại hình
doanh nghiệp này có rất nhiều điểm mạnh so với các loại hình doanh nghiệp khác.
Thứ nhất, công ty hợp danh mang đặc điểm là công ty đối nhân điển hình. Các
thành viên hầu như đều có mối quan hệ thân thiết và hiểu biết rõ về nhau, chính vì thế
8
sự tin cậy giữa các thành viên là vô cùng cao. Đây là tiền đề đặc biệt quan trọng trong
quá trình điều hành và phát triển cơng ty.
Thứ hai, đối tác và khách hàng thường có độ tin cậy cao đối với các công ty hợp
danh. Họ luôn cảm thấy được đảm bảo hơn khi giao kết hợp đồng với các công ty này.
Đặc biệt đối với những ngành nghề đặc thù, địi hỏi uy tín và trách nhiệm cao như y tế,
kiểm tốn, tư vấn pháp lý…
Thứ ba, cơng ty hợp danh có hai loại thành viên, trong đó thành viên góp vốn chỉ
chịu trách nhiệm hữu hạn đối với phần vốn góp của mình và thành viên hợp danh chịu
trách nhiệm vô hạn, đặc điểm này giúp các công ty hợp danh dễ thu hút thành viên, các
thành viên tham gia có thể tự do lựa chọn phù hợp với khẩu vị đầu tư và tư duy kinh
doanh của bản thân chủ thể.
Thứ tư, những thành viên trong cơng ty hợp danh thường là người có uy tín, trình
độ chun mơn nghề nghiệp, có bằng cấp, chịu trách nhiệm liên đới vơ hạn do đó cơng
ty rất dễ dàng vay vốn từ các tổ chức cá nhân và cả các ngân hàng.
Thứ năm, cơ cấu tổ chức đơn giản. Luật quy định cơ quan cao nhất trong công ty
hợp danh là Hội đồng thành viên. Trong công ty không lập ra hội đồng quản trị và
không bắt buộc về ban kiểm sốt.
4.2.
Hạn chế của cơng ty hợp danh
Mặc dù có khá nhiều ưu thế so với các loại hình cơng ty khác, Nhưng số lượng
q ít các cơng ty hợp danh so với các loại hình cơng ty khác trong thực tế cho thấy,
mơ hình này vẫn cịn tồn tại khơng ít hạn chế.
Thứ nhất, thành viên hợp danh liên đới chịu trách nhiệm liên đới vô hạn đối với
các khoản nợ của công ty. Điều này dẫn đến nhiều rủi ro cho thành viên khi thành lập
công ty hợp danh cao hơn so với các loại hình công ty khác. Đây là nguyên nhân tự
thân của loại hình cơng ty hợp danh mang bản chất đối nhân. Rủi ro cao và quy định
về chế độ trách nhiệm liên đới vô hạn buộc các nhà đầu tư phải tính tốn cân nhắc kỹ
lưỡng trước khi quyết định trở thành thành viên hợp danh. Hơn nữa, để trở thành thành
viên hợp danh của công ty kinh doanh những ngành nghề có tính chất đặc thù, địi hỏi
trách nhiệm cao của người hành nghề như tư vấn pháp lý, y tế, kiểm tốn… nhà đầu tư
buộc phải có chứng chỉ hành nghề. Để có được những chứng chỉ này khơng hề dễ
dàng. Chẳng hạn để có chứng chỉ hành nghề luật sư “mỗi người phải tốt nghiệp các
trường đào tạo cử nhân luật, tham gia khóa học đào tạo nghề Luật sư của học viện tư
9
pháp trong vòng sáu tháng, đăng ký tập sự tại các văn phòng luật sư trong vòng mười
tám tháng và cuối cùng là trải qua kỳ thi cấp quốc gia do Bộ Tư Pháp tổ chức” (Luật
luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012). Trong thực tế để tìm được một người vừa có
chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, vừa thân thiết, vừa cùng có chun
mơn, lại vừa đồng lịng nhất trí, có chung định hướng kinh đoanh, đồng ý san sẻ rủi ro
trên thực tế khơng hề đơn giản.
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
đang ngày càng hồn thiện tạo tiền đề thuận lợi, đóng vai trò nền tảng giúp các doanh
nghiệp phát triển, phát huy hết tiềm năng trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, các
quy định pháp luật trong mảng công ty hợp danh vẫn còn những quy định chưa hợp lý
khiến cho loại hình này bị thực tiễn từ chối. Đặc biệt là chính sách thuế đối với cơng ty
và thành viên công ty. Chúng ta thấy một khoản thu nhập tư công ty vừa thuộc đối
tượng chịu thuế thu nhập cá nhân vừa phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp do công ty
mang tư cách pháp nhân. nhưng thành viên lại không được hưởng quy chế dành cho
thành viên trong tổ chức có tư cách pháp nhân. Điều này khiến cho các nhà đầu tư
khơng đánh giá cao loại hình cơng ty này.
Thứ ba, Điểm b điều 177 luật doanh nghiệp 2020 quy định “thành viên hợp danh
bắt buộc phải là cá nhân”. Điều này đồng nghĩa với việc pháp nhân không thể tham gia
thành lập hoặc trở thành thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Tại nhiều quốc
gia trên thế giới ví dụ như Pháp, Mỹ thành viên hợp danh có thể bao gồm cả pháp nhân
và pháp nhân. Ưu điểm của quy định này là nó hình thành mơ hình kinh doanh kết
hợp, giúp nhà đầu tư tránh được trách nhiệm vô hạn của cá nhân nhưng vẫn có thể khai
thác được những điểm mạnh mà cơng ty hợp danh mang lại. Lúc này một công ty hợp
danh có thể có một hoặc tồn bộ thành viên hợp danh là pháp nhân nhưng bản chất
việc điều hành công ty do các cá nhân là người đứng đầu pháp nhân thành viên thực
hiện.
Ngồi ra, cơng ty hợp doanh chỉ có thể huy động vốn từ các thành viên hợp danh
và thành viên góp vốn, khơng được phát hành bất kỳ loại chứng khốn nào. Có nghĩa
là, cơng ty hợp danh không thể huy động vốn bằng cách phát hành các loại chứng
khoán như cổ phiếu, trái phiếu… mà chỉ có thể huy động vốn từ các tổ chức tín dụng,
vay từ các tổ chức cá nhân khác, hoặc huy động từ các thành viên góp thêm hoặc kết
10
nạp thêm thành viên mới. So sánh với các loại hình loại hình doanh nghiệp khác thì
cơng ty hợp danh có khả năng huy động vốn thấp hơn rất nhiều.
5.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
Qua việc phân tích những ưu điểm và hạn chế và thực trang của công ty hợp
danh hiện nay ở Việt Nam, tác giả xin đưa ra một số đề xuất, giải pháp nhằm hồn
thiện hệ thống quy định pháp lý của cơng ty hợp danh như sau:
Thứ nhất, nên đưa ra những quy định đặc thù khi nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp hoặc ưu đãi về các khoản chi được khấu trừ đối với công ty hợp danh để các
thành viên hợp danh được đảm bảo về tài chính, từ đó có thể duy trì được cơng việc
kinh doanh. Bên cạnh đó cũng góp phần khuyến khích doanh nghiệp thành lập dưới
hình thức công ty hợp danh.
Thứ hai, nên quy định một số ngành nghề kinh doanh bắt buộc phải thành lập
công ty hợp danh, đặc biệt là việc kinh doanh các dịch vụ địi hỏi uy tín và trách nhiệm
cao. Giải pháp này vừa bảo vệ lợi ích cho người tiêu dùng vừa nâng cao trách nhiệm
nghề nghiệp của các công ty cung cấp dịch vụ, bên cạnh đó cũng làm rõ nét sự tồn tại
của loại hình doanh nghiệp đang rất kém phát triển ở Việt Nam.
Theo điều 22 Luật Công chứng 2014, Văn phịng cơng chứng phải là cơng ty hợp
danh được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật có liên quan đến loại hình
cơng ty này. Văn phịng cơng chứng phải có từ hai cơng chứng viên trở lên và khơng
có thành viên góp vốn. Các thành viên này chịu trách nhiệm với các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của công ty bằng tồn bộ tài sản của mình.
Luật luật sư năm 2006 tại Điều 32 cũng quy định về hình thức tổ chức hành nghề
luật sư bao gồm văn phòng luật sư và công ty luật. Điều 34 luật này quy định công ty
luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Công ty luật
hợp danh khơng có thành viên góp vốn.
Cần phải tăng thêm quy định tương tự ở các ngành nghề khác, trong các văn bản
pháp luật khác.
Thứ ba, luật nên quy định chỉ cần một thành viên hợp danh và ít nhất một thành
viên góp vốn là đủ điều kiện thành lập, thay vì quy định phải có ít nhất hai thành viên
hợp danh mới được thành lập công ty hợp danh như hiện nay. Quy định như vậy sẽ tạo
điều kiện dễ dàng cho những nhà đầu tư độc lập, nhưng vẫn đảm bảo tính chánh nhiệm
liên đới vơ hạn đối với công ty.
11
KẾT LUẬN
Cơng ty hợp danh là một hình thức cơng ty ra đời sớm nhất trong lịch sử lồi
người, ln được nhắc đến trước tiên trong các đạo luật về công ty. Ở Việt Nam công
ty hợp danh cũng không phải là một loại hình cơng ty mới. Tuy nhiên, so với các loại
hình cơng ty khác thì số lượng các công ty hợp danh đang hoạt động vô cùng ít. Nhìn
vào thực tế ở các nước phát triền như Pháp, Mỹ... ta dễ dàng nhận thấy vai trị của
cơng ty hợp danh trong nền kinh kế là vô cùng to lớn. Vậy để công ty hợp danh phát
huy được hết vai trò đối với nền kinh tế trước hết cần phải hồn thiện nền tảng pháp lý
về cơng ty hợp danh. Việc cấp thiết hiện nay là nghiên cứu sửa đổi bổ sung pháp luật
liên quan đến công ty hợp danh để công ty hợp danh thực sự trở thành mảnh đất màu
mỡ hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư, đa dạng hóa các loại hình doanh nghiệp, tạo ra
một cơ chế linh hoạt mềm dẻo phù hợp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của thị
trường. Bài tiểu luận phân tích ưu nhược điểm về mặt pháp lý và sự đánh giá thực tiễn
hoạt động của loại hình cơng ty hợp danh tại Việt Nam để chỉ ra những hạn chế, vướng
mắc trong quy định của pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp cụ thể cho việc hồn thiện
khung pháp lý về doanh nghiệp nói chung và cơng ty hợp danh nói riêng. Mặc dù tác
giả đã rất cố gắng, nhưng do kiến thức còn giới hạn và điều kiện tiếp cận thực tiễn còn
hạn chế, nên bài tiểu luận khó tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong nhận được sự chia
sẻ và đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đọc.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1.
2.
3.
4.
Luật doanh nghiệp 2020
Luật doanh nghiệp 2014
Luật Công chứng 2014
Luật luật sư năm 2006
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Nguyễn Thị Thùy Giang. 2012. Luận văn ThS. “Pháp luật Việt Nam về công ty
hợp danh”. Truy xuất từ
2.
/>Đào Đức Hạnh. 2021. Bình luận các quy định về công ty hợp danh trong Luật
Doanh nghiệp năm 2020. Truy xuất từ: />
3.
cong-ty-hop-danh-trong-luat-doanh-nghiep-nam-20201632327822.html
Vũ Đặng Hải Yến. 2010. “Hồn thiện pháp luật về cơng ti hợp danh ở Việt
4.
Nam”. Tạp chí Luật học. Số 9
Cục quản lý đăng ký kinh doanh (2017). “Số liệu thống kê về tình hình đăng ký
thành lập doanh nghiệp mới”. Truy xuất từ: />
13