Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

(SKKN 2022) vận dụng một số trò chơi trong dạy học các tiết thực hành tiếng việt ngữ văn 6 ở trường THCS thị trấn lang chánh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (205.32 KB, 19 trang )

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”,
ngày 8-9-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải vơ cùng
lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, q trọng nó,
làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp". Câu nói của Bác khẳng định vai trị
của tiếng nói - tài sản q báu của dân tộc. Lời Bác dạy có ý nghĩa vơ cùng sâu
sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngơn ngữ sao cho đúng, chuẩn
xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa,
góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa nước nhà trong xu thế
hội nhập và phát triển.
Hiểu được tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, chính vì thế, trong suốt q
trình xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà, Bộ Giáo dục và Đạo tạo đã
rất chú trọng tới việc dạy tiếng Việt trong chương trình các cấp. Đối với chương
trình giáo dục THCS, ngồi phân mơn Văn học, Tập làm văn, thì đã có riêng
thời lượng để dạy phân mơn Tiếng Việt với mục đích giúp học sinh (HS) nắm
vững câu từ để biết cách vận dụng vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng
như tạo lập văn bản, từ đó góp phần giữ gìn, phát huy sự trong sáng, giàu đẹp
của tiếng Việt, cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.
Để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh việc chú trọng đổi mới phương pháp
dạy học, lấy người học làm trung tâm của hoạt động dạy và học, Bộ Giáo dục và
Đào tạo còn chú trọng đổi mới nội dung sách giáo khoa (SGK) theo hướng tăng
khả năng vận dụng, thực hành của HS. Chính vì thế, mà Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã xây dựng lộ trình thay đổi sách giáo khoa (SGK) một cách rất cụ thể, khoa
học: Năm học 2020-2021 đối với lớp 1; Năm học 2021-2022 là với lớp 2 và lớp
6; Năm học 2022-2023 đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10; Năm học 2023-2024 đối
với lớp 4, lớp 8 và lớp 11 và 2024-2025 là đối với lớp 5, lớp 9 và lớp 12. Trong
quá trình thay đổi SGK, chương trình giáo dục phổ thơng mới cũng khơng nằm
ngồi mục tiêu đó. Trong đó, năm học 2021-2022 HS lớp 6 đã chính thức tiếp
cận chương trình SGK mới, gồm 3 bộ sách phát hành song song: bộ sách Cánh
diều, bộ sách Chân trời sáng tạo, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Đối với


tỉnh Thanh Hóa, tồn tỉnh đã thống nhất chọn bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống.
Đây là một bộ sách rất hay, có sự kết nối, vận dụng một cách thiết thực
giữa tri thức học được với cuộc sống hằng ngày. Trong đó, chương trình SGK
mới cũng dành một thời lượng lớn cho phân môn Tiếng Việt.
Trong quá trình giảng dạy lớp 6 theo chương trình mới, khi đến các tiết
Thực hành Tiếng Việt, tôi nhận thấy các tiết học đều rất khó, đơn vị kiến thức
mới, khơng có lý thuyết, chỉ có thực hành, dẫn đến học sinh rất khó hiểu, ngại
học, chán học. Tiết học thường trơi qua rất căng thẳng. Nếu khơng có sự thay
đổi về cách dạy, phương pháp dạy, dần dần các em sẽ nảy sinh tâm lý sợ học,
không tập trung học, khơng có hứng thú, sẽ dẫn đến kết quả khơng nắm vững
kiến thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc dùng từ, diễn đạt trong lời ăn tiếng
nói cũng như tạo lập văn bản cũng như ảnh hưởng tới chất lượng của nhiều mơn.
Đứng trước vấn đề đó, là một giáo viên giảng dạy nhiều năm, tôi luôn băn
khoăn tự hỏi: làm thế nào để các tiết Thực hành Tiếng Việt các em dễ hiểu nhất,


2

học tập sơi nổi nhất, có hứng thú nhất để có thể nâng cao chất lượng giáo dục bộ
mơn? Qua q trình trăn trở, tơi nhận thấy ngồi việc tích cực đổi mới phương
pháp dạy học, tăng cường ứng dụng CNTT trong mỗi tiết học thì vận dụng các
trị chơi trong các tiết Thực hành Tiếng Việt sẽ là một trong những biện pháp
hiệu quả nhất giúp khơi gợi hứng thú học tập của các em, đúng theo tinh thần
"Học mà chơi, chơi mà học" rất phù hợp với lứa tuổi HS lớp 6.
Từ những lí do trên, tơi đã chọn đề tài “Vận dụng một số trò chơi trong
dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị trấn
Lang Chánh” để nghiên cứu và bước đầu thu được những kết quả rất đáng mừng.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tơi muốn góp phần tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả đối
với các tiết Thực hành Tiếng Việt ở lớp 6 mới để các em thích học, có hứng thú

học tập, nâng cao chất lượng bộ môn, giảm tỉ lệ học sinh chưa đạt; đồng thời
giúp các em nắm vững tiếng Việt để biết cách vận dụng trong lời ăn tiếng nói
hằng ngày, cũng như biết cách dùng từ, diễn đạt trong quá trình tạo lập văn bản,
như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Khơng sợ tiếng ta nghèo, chỉ sợ
chúng ta không biết dùng tiếng ta
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Các trị chơi có thể vận dụng vào dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt
Ngữ văn lớp 6 nói riêng, Ngữ văn THCS nói chung.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc, nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phân tích, so sánh.
- Phương pháp thống kê.
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học luôn là một trong những vấn đề được quan
tâm hàng đầu, hướng tới học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của các hoạt động
để phát huy vai trị tích cực của học sinh. Bên cạnh đó, trong chương trình mơn
Ngữ văn THCS, phân mơn Tiếng Việt giữ vai trị "Mơn học cơng cụ" giúp học
sinh tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy ở nhà
trường. Nói cách khác, học sinh muốn thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, trước hết
phải nghiên cứu và rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt - chìa khóa của
nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ. Thiếu quan tâm đúng mức đến
việc rèn luyện năng lực tiếng Việt, học sinh không thể hồn thành tốt các nhiệm
vụ học tập các mơn khoa học đó. Cho nên, việc chú trọng giúp các em có hứng
thú trong việc học phân mơn này là rất cần thiết, nhất là đối với học sinh đầu cấp
khi tiếp cận chương trình mới.
Muốn vậy, trong quá trình dạy, người GV cần phải chú ý đổi mới phương
pháp, sử dụng linh hoạt các phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp,

nêu vấn đề, gợi mở... và đặc biệt để tạo một giờ học phong phú, sinh động, khơi


3

gợi được hứng thú học tập của học sinh trong các tiết Thực hành tiếng Việt thì
việc lồng ghép tổ chức các trị chơi trong q trình giảng dạy sẽ giúp sinh hiểu
bài và có hứng thú học tập hơn.
Trị chơi học tập là một phương tiện giáo dục trí tuệ, nó giúp học sinh phát
triển những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác,…, chính xác hóa những
hiểu biết về các sự vật và hiện tượng xung quanh, phát triển thơng minh, sự
nhanh trí, ngơn ngữ… dần dần học sinh sẽ hình thành nhu cầu nhận thức của thế
giới xung quanh- mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên xã hội. Vì vậy ta có thể tổ
chức trị chơi ở thời điểm thích hợp trong một khoảng thời gian nhất định của
tiết học.
Trị chơi khơng chỉ là một “cơng cụ” dạy học mà nó cịn là con đường sáng
tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh. Phương pháp tổ chức trị chơi
khơng chỉ là sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trị mà nó cịn
tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy,
tưởng tượng của học sinh. Dạy kết hợp với tổ chức trị chơi chính là việc giáo
viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của con người mới: Con
người Xã hội chủ nghĩa.
Nhận thấy điều đó, chính vì thế, trong năm học vừa qua, tơi đã tiến hành áp
dụng một số phương pháp vào việc tạo hứng thú trong giờ học Ngữ văn 6 trong
đó việc “Vận dụng một số trò chơi trong dạy học Thực hành Tiếng Việt Ngữ
văn 6 ở trường THCS Thị Trấn Lang Chánh” và đã đạt được kết quả như
mong đợi.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
Về phía giáo viên: đa số giáo viên còn lúng túng trong quá trình dạy SGK
lớp 6 theo chương trình mới, đặc biệt là các tiết dạy Thực hành Tiếng Việt.

Về phía học sinh: Năm học 2021-2022 là năm đầu tiên trường THCS Thị
Trấn Lang Chánh I và Trường THCS Thị Trấn Lang Chánh II sát nhập thành
một trường, lấy tên Trường THCS Thị Trấn Lang Chánh, nhiều học sinh ở xa, đi
lại khó khăn cũng đã ảnh hưởng khơng nhỏ tới quá trình học tập; nhiều em tư
duy chưa cao, chưa có ý thức học, cịn lười học, nhác học, nhác soạn bài.
Về phía phụ huynh: nhiều phụ huynh đi làm ăn xa, gửi cháu cho ơng bà,
chính vì thế thiếu sự quan tâm sát sao tới việc học của các con.
Thực tế những năm gần đây cho thấy học sinh nói chung và học sinh
trường THCS Thị Trấn Lang Chánh nói riêng thường khơng ham thích học văn,
nhất là học các tiết phân môn Tiếng Việt.
Về SGK: Bản chất khi dạy các tiết tiếng Việt đã rất khó, khơ khan, cứng
nhắc, kiến thức khoa học địi hỏi sự chính xác, hiểu tốt mới có thể nắm vững
được kiến thức, bởi như cha ơng ta đã từng nói: Phong ba bão táp khơng bằng
ngữ pháp Việt Nam. Trong khi đó, so với chương trình SGK cũ, SGK lớp 6 mới
có nhiều sự thay đổi lớn trong thiết kế giảng dạy cả 3 phân môn, nhất là phân
môn Tiếng Việt.
Nếu SGK cũ thiết kế rất cụ thể, chi tiết, dễ hiểu, dễ học, dễ nghiên cứu đối
với việc khám phá các đơn vị kiến thức Tiếng Việt (gồm 2 phần, phần I: hình
thành khái niệm, đi từ việc tìm hiểu, phân tích ví dụ đến rút ra kết luận theo lối


4

quy nạp; phần II: từ việc nắm vững kiến thức lý thuyết, học sinh vận dụng vào
làm các bài tập đi từ nhận diện đến nâng cao để khắc sâu lý thuyết) thì SGK
chương trình mới lại khơng có phần lý thuyết mà đi vào thực hành luôn - thiết kế
này chung cho cả 3 bộ sách - điều đó đã gây ra rất nhiều khó khăn cho GV và
HS trong quá trình dạy và học, đây cũng là một vấn đề đã được dư luận rất quan
tâm trong thời gian vừa qua.
Trong SGK bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, nội dung kiến thức được chia

thành 10 bài, mỗi một bài đều được sắp xếp, phân bổ lượng thời gian thích hợp
cho dạy các tiết Thực hành Tiếng Việt. Cụ thể:
Bài
Bài 1

Tên bài
Tôi và các bạn

Bài 2

Gõ cửa trái tim

Bài 3

Yêu thương và chia sẻ

Bài 4

Quê hương yêu dấu

Bài 5

Những nẻo đường xứ sở

Biện pháp tu từ; Dấu câu, Biện pháp tu
từ.

Bài 6

Truyện kể về những người

anh hùng
Thế giới cổ tích
Khác biệt và gần gũi

Nghĩa của từ, Từ ghép và từ láy, Cụm
từ, Biện pháp tu từ.

Bài 7
Bài 8

Nội dung kiến thức tiếng Việt
Từ đơn, từ phức; Nghĩa của từ; Biện
pháp tu từ; Từ ghép, từ láy.
Nghĩa của từ; Biện pháp tu từ; Biện
pháp tu từ, Dấu câu, Đại từ.
Cụm danh từ; Cụm động từ và cụm
tính từ;
Từ đồng âm, từ đa nghĩa; Biện pháp tu
từ, Nghĩa của từ.

Dấu câu, Nghĩa của từ, Biện pháp tu từ.

Trạng ngữ, Nghĩa của từ; Lựa chọn từ
ngữ, Lựa chọn cấu trúc câu.
Bài 9 Trái đất - ngôi nhà chung
Văn bản và đoạn văn; Từ mượn.
Bài 10 Cuốn sách tơi u
Khơng có tiết Thực hành Tiếng Việt mà
nằm trong tiết Ôn tập tổng hợp (nhắc
lại các kiến thức tiếng Việt đã học)

Nhìn vào bảng hệ thống nội dung kiến thức trong các tiết Thực hành tiếng
Việt ta có thể thấy: kiến thức có kế thừa và lặp lại, nâng cao. Trong đó, đặc biệt
chú trọng tới đơn vị kiến thức: nghĩa của từ và các biện pháp tu từ - đây đều là
những kiến thức rất khó, liên quan nhiều đến lời ăn tiếng nói và diễn đạt trong
q trình tạo lập văn bản, cảm thụ các văn bản giúp nuôi dưỡng tâm hồn các em.
Tuy kiến thức khó, nhưng sách lại khơng có phần khai thác hình thành lý
thuyết mà trực tiếp đi vào thực hành ln. Trong khi đó, học sinh lớp 6 vừa mới
ở bậc Tiểu học lên, kiến thức Tiếng Việt của bậc tiểu học mới ở mức độ cơ bản,
phù hợp với lứa tuổi HS. Chính vì thế, khi dạy - học các tiết Thực hành Tiếng
Việt là một khó khăn lớn đối với cả cơ lẫn trị. Kiến thức khó, trừu tượng, khoa
học đã dễ làm cho các em nảy sinh tâm lý ngại học, chán học, sợ học.
Tôi đã tiến hành khảo sát hứng thú học tập và tiến hành một bài kiểm tra
kiến thức 15 phút (khi chưa áp dụng kinh nghiệm), kết quả đạt được cụ thể:


5

Bảng 1: Khảo sát hứng thú học tập với câu hỏi: Em thích học các tiết Thực hành
Tiếng Việt khơng?
Tổng số
Thích học
Khơng thích
Khơng quan tâm
SL
%
SL
%
SL
%
133

34
25,6
61
45,8
38
28,6
Bảng 2: Kết quả kiểm tra:
Tổng số
Tốt
Khá
Đạt
Chưa đạt
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
133
6
4,4
38
28,6
65
48,8
24
18,0
Nhìn vào hai bảng khảo sát, có thể thấy, hầu như các em cảm thấy khơng

thích học hoặc khơng quan tâm học đối với các tiết Thực hành Tiếng Việt (99 hs,
chiếm 74,4%), chỉ có 34 em là cảm thấy u thích (25,6%). Chính vì khơng có
hứng thú học tập, nên kết quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nắm vững kiến
thức của các em, tỉ lệ điểm Tốt - Khá hạn chế, điểm Chưa đạt (24/133 HS, chiếm
18,0 %). Đây là một thực trạng đáng lo ngại, đáng báo động. Nếu không thay
đổi phương pháp dạy học để tạo hứng thú cho học sinh trong các tiết dạy Thực
hành Tiếng Việt thì các em sẽ dần ngày càng mất gốc kiến thức, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới kết quả học tập bộ môn cũng như chất lượng giáo dục của các
bộ môn khác trong nhà trường.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, đứng trước thực trạng đó, tơi
đã rất băn khoăn và trăn trở làm thế nào giúp các em ham học hơn, thích học
hơn, có hứng thú học hơn trong các tiết Thực hành Tiếng Việt để các em tiến bộ
và đạt được kết quả cao hơn. Nếu cứ duy trì tình trạng dạy và học như thế này
thì chắc chắn sẽ khơng cải thiện được mà thậm chí cịn làm cho HS ngày càng sa
sút hơn, nhàm chán hơn khi học.
Trên cơ sở đó, tôi đã đề xuất phương pháp “Vận dụng một số trò chơi
trong dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị
Trấn Lang Chánh” để tạo hứng thú học văn cho HS.
2.3. Các giải pháp đã thực hiện
2.3.1. Giáo viên cần nắm vững những yêu cầu, nguyên tắc, cách thức tổ chức
trò chơi.
* Nắm vững nguyên tắc tổ chức trò chơi
- Xác định rõ mục tiêu dạy học – giáo dục của mỗi trò chơi: cần làm rõ
những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống chơi, và bên cạnh đó
những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống dạy học - giáo dục.
- Trò chơi cần được xem như mơi trường hoạt động của người học, để học
chính nội dung của bài học thông qua ứng xử, xử lý, thực hiện, hành động với
các đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống chơi.
- Trị chơi phải có quan hệ chặt chẽ với nội dung học tập và nội dung cần
phù hợp với thực tế tổ chức trò chơi.

- Chỉ lựa chọn những yếu tố, vấn đề quan trọng, cần thiết và thích hợp với
phương thức chơi để đưa vào trị chơi với phán đốn rằng trị chơi sẽ mang lại
hiệu quả cao hơn so với giờ học bài bản.


6

- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo để có khả năng giải đáp những thắc mắc
của HS, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể trị chơi theo
đúng thể loại đặc thù của nó.
- Các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gị bó
và được người học hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành trò chơi.
- Cần có sự thảo luận và tổng kết sau trị chơi về 2 điều: nội dung và mục
tiêu học tập đạt đến đâu, người học học được cái gì bổ ích theo yêu cầu dạy học
và ngoài yêu cầu dạy học.
* Nắm vững yêu cầu của 1 trò chơi trong học tập
- Thứ nhất: Là một tình huống học tập của học sinh, một trị chơi học tập,
về hình thức là một trò chơi, còn về nội dung chơi là nội dung học tập. Nói cách
khác, trị chơi là tình huống dạy học được ủy thác.
- Thứ hai: Trò chơi nào cũng phải có luật chơi. Luật chơi trong trị chơi học
tập chính là những điều kiện, phương tiện để học sinh triển khai việc học tập
thông qua hoạt động chơi. Luật chơi phải được mọi người biết và chấp nhận.
- Thứ ba: Trò chơi khác với các phương pháp dạy học khác ở chỗ sự tự
giác, tích cực tham gia chơi của học sinh. Vì vậy, trị chơi học tập theo đúng
nghĩa của nó phải là một tình huống học tập có tính tự giác cao. Nếu trong khi
chơi, người chơi bị cưỡng bức, sẽ khơng cịn là trị chơi theo đúng nghĩa của nó.
- Thứ tư: Bất kì trị chơi nào cũng cần phải có động lực kích thích, thúc đẩy
người chơi. Động lực của trị chơi có thể nằm trong chính nội dung chơi, cũng
có thể ở bên ngồi trị chơi (các trị chơi có thưởng). Yếu tố củng cố (phần
thưởng) trong các trò chơi học tập phải được coi là quan trọng, kích thích và

thúc đẩy người chơi.
- Thứ năm: Một trị chơi học tập phải có sự xác nhận của giáo viên. Kết
thúc một trò chơi, người chơi thu nhận được kiến thức, kĩ năng và phương pháp
hành động v.v. Nhưng những tri thức đó chưa thể trở thành của chính người
chơi, họ chưa thể đưa vào trong hệ thống kinh nghiệm của họ, nếu chưa được sự
xác nhận của giáo viên.
* Nắm vững các nguyên tắc thiết kế trị chơi học tập.
- Đảm bảo tính chất của hoạt động chơi: Mỗi trò chơi học tập phải là trị
chơi đích thực, thực sự hấp dẫn, kích thích tính tích cực, tự lập, sáng tạo của học
sinh. Những trị chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập cho học sinh phải tạo
cơ hội cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trị chơi, tích cực vận dụng
vốn hiểu biết và năng lực trí tuệ của mình để giải quyết nhiệm vụ học tập trong
những hoàn cảnh chơi sinh động với yếu tố thi đua lẫn nhau.
- Đảm bảo tính hệ thống và tính phát triển: Các trò chơi được sắp xếp từ
đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, tạo thành một hệ thống gồm các nhóm trị
chơi nhằm nâng cao năng lực phát triển trí tuệ của học sinh.
- Đảm bảo tính đa dạng: Các trò chơi hệ thống phải đa dạng, phong phú tạo
cơ hội cho học sinh thực hành, vận dụng vốn hiểu biết thuộc các đơn vị kiến
thức đã học, đã tiếp cận khác nhau và khả năng tư duy để giải quyết nhiệm vụ
học tập trong những tình huống chơi đa dạng, phong phú.


7

* Nắm vững cách thức thực hiện trò chơi: Việc tổ chức trò chơi được giáo
viên tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị trị chơi
- Thơng báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến học sinh.
- Cử người đều khiển trò chơi (Giáo viên hoặc học sinh).
- Ổn định tổ chức, bố trí đội chơi: tùy thuộc vào đặc điểm mỗi trò chơi mà

giáo viên chia đội cho hợp lí (Nếu chơi theo đội)
- Phân cơng nhiệm vụ cho lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều kiện
phương tiện cho cuộc chơi.
- Giáo viên giới thiệu trò chơi phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếp thu,
dễ thực hiện, bao gồm các nội dung sau:
+ Thơng báo tên trị chơi, chủ đề chơi;
+ Nêu mục đích và các u cầu của trị chơi;
+ Nói rõ cách chơi và luật chơi.
Bước 2: Tiến hành trò chơi
- Các đội tham gia trò chơi
- Dùng khẩu lệnh bằng lời, chuông, để điều khiển cuộc chơi.
Bước 3: Kết thúc trò chơi
- Đánh giá kết quả trò chơi: GV cơng bố kết quả cuộc chơi khách quan,
cơng bằng, chính xác giúp HS nhận thức được ưu điểm và tồn tại để cố gắng ở
những trò chơi tiếp theo.
- Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyên dương,
khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất, tạo khơng khí vui vẻ, phấn khởi và để
lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể HS về cuộc chơi.
2.3.2. Giáo viên cần biết cách chọn lựa các trò chơi phù hợp với các hoạt
động dạy học.
2.3.2.1. Hoạt động khởi động (kích thích học tập).
Hoạt động khởi động trong giờ dạy có một vai trị đặc biệt quan trọng trong
việc tổ chức các hoạt động trên lớp giúp học sinh định hướng nội dung bài học,
bước đầu giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học. Chính vì thế việc sử dụng trò
chơi trong hoạt động khởi động sẽ kích thích tính tị mị, sự hứng thú...
Các trị chơi: Ai nhanh hơn, đóng vai, tiếp sức...
2.3.2.2. Hoạt động hình thành kiến thức:
Là hoạt động chính, quan trọng của bài học. Giúp học sinh tự chiếm lĩnh
kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập/nhiệm vụ. Sử dụng trò chơi trong
hoạt động này nhằm củng cố, vận dụng ngay những kiến thức vừa học và kết nối

những kiến thức liên quan trong các bài học trước giúp học sinh hiểu sâu kiến
thức hơn. Các trị chơi có thể vận dụng: Đuổi hình bắt chữ, tiếp sức, hái sao, hái
hoa dân chủ..
2.3.2.3. Hoạt động luyện tập- vận dụng, tìm tòi - mở rộng:
Hoạt động này yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học
được ở hoạt động hình thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ
thể. Trong phần này giáo viên có thể linh hoạt tổ chức các trò chơi phù hợp với
các bài tập để tạo hứng thú cho học sinh, giúp giờ học sơi nổi, tích cực hơn mà


8

vẫn rèn được các kĩ năng cần thiết của bài học. Các trị chơi có thể vận dụng:
Đuổi hình bắt chữ, Tiếp sức, Đường lên đỉnh Olympia, Hộp quà bí mật..
2.3.2.4. Hoạt động củng cố kiến thức:
Đây là phần kết thúc của bài dạy, chốt lại các nội dung kiến thức cơ bản
cần ghi nhớ trong bài học. Sử dụng trò chơi trong họat động này giúp học sinh
hệ thống kiến thức một cách nhẹ nhàng khơng khơ khan, gị bó. Trong phần này
tơi thường sử dụng trị chơi mở hình nền hoặc trị chơi giải ơ chữ. Đây là những
trị chơi tơi thấy có thể vừa hệ thống kiến thức vừa kiểm tra kiến thức vừa học
một cách hiệu quả mà vẫn tạo được sự hứng thú cho học sinh. Các trị chơi có
thể vận dụng: Trị chơi ơ chữ, Ai nhanh hơn..
2.3.3. Một số trò chơi được vận dụng vào dạy học các tiết Thực hành Tiếng
Việt Ngữ văn lớp 6:
2.3.3.1. Trò chơi: Đường lên đỉnh Olympia.
* Đặc điểm: trò chơi phát hiện tri thức, rèn các kĩ năng nhận diện, thông
hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao các đơn vị kiến thức được học trong bài
thông qua các phần thi trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận, thơng qua trị
chơi rèn khả năng tự học, khai thác kiến thức từ mạng Internet của học sinh ở nhà.
* Vận dụng: Có thể vận dụng linh hoạt được trong tất cả hoạt động.

Ví dụ: Tiết 22: Thực hành Tiếng Việt (Phần biện pháp tu từ ẩn dụ)
* Mục tiêu:
+ Vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết các tình huống trong thực tế.
+ Thay đổi hình thức vận dụng, củng cố, tạo hứng thú học tập cho học sinh
+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động
* Các bước tiến hành: Tổ chức hoạt động theo 4 phần thi
- Phần 1: Khởi động thực hiện ở phần khởi động giới thiệu kiến thức mới.
- Phần 2: Phần tăng tốc: thực hiện sau khi hình thành kiến thức về ẩn dụ
Phần 3: Vượt chướng ngại vật: GV tổ chức cho các đội đặt câu có sử dụng
phép tu từ ẩn dụ.
Phần 4: Về đích: Học sinh các đội vận dụng viết đoạn văn có sử dụng phép
tu từ ẩn dụ.
Bước 1: Thực hiện trò chơi.
*Gv tổ chức 2 đội thi, mỗi đội 5 thành viên (có nam và nữ)
- Nhóm 1: Dãy 1+2
- Nhóm 2: Dãy 3+4
- Bạn thư kí: Tổng hợp, ghi điểm cho 2 đội chơi.
*Thành lập Ban Giám khảo, Ban thư kí, Người dẫn
* Cố vấn: GV
* Thơng báo thể lệ cuộc thi
Vịng 1: Khởi động
Nội dung: Có 16 từ chỉ vật, người. Nhiệm vụ của các đội chơi là tìm những
từ chỉ sự vật được đối chiếu với nhau dựa trên nét tương đồng. Trong vòng 3
phút, đội nào ghi được nhiều hơn, nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
1. Bác Hồ
5. Trẻ em
9. Người cha mái tóc 13. đốm lửa
bạc



9

2. mặt trời
6. chùm phượng vĩ 10. đàn kiến vỡ tổ
14.chùm khế ngọt
3. quê hương 7.học sinh ùa ra 11.những chiếc ô
15.gã nghiện
sân trường
khổng lồ
thuốc phiện
4. Dế Choắt 8. hàng cây đầu phố 12. quả trứng thiên nhiên 16. Búp trên cành
Vòng 2: Vượt chướng ngại vật:
- Phần thi gồm 4 câu hỏi trắc nghiệm. Mỗi câu hỏi đúng được 10 điểm.
Thành viên đội nào trả lời đúng, đủ và nhanh nhất sẽ giành chiến thắng giành
cho đội chơi.
Câu 1: Điền từ vào chỗ trống để tạo thành phép ẩn dụ?. Giọng nói của chị
ấy…
Câu 2: Câu tục ngữ, ca dao nào dưới đây có sử dụng phép tu từ ẩn dụ?
1.Chị ngã em nâng.
3. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
2. Trẻ em như búp trên cành
4.Tấc đất, tấc vàng.
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan.
Câu 3: Hình ảnh “mặt trời” nào trong câu thơ sau đây là hình ảnh ẩn dụ
mặt trời (1) của bắp thì nằm trên đồi – mặt trời (2) của mẹ, em nằm trên lưng”
Câu 4: Tìm ẩn dụ trong ví dụ dưới đây. “Thuyền về có nhớ bến chăng?/Bến
thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Vịng 3: Tăng tốc.
Luật chơi: Đặt câu chứa hình ảnh ẩn dụ với sự vật ở trong bức ảnh (khơng
được nhắc đến tên của sự vật, hình ảnh đó). Mỗi câu đúng được 10 điểm.

Vịng 4: Về đích. Hãy viết đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) miêu tả ngơi
trường của em . Trong đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ (Gạch chân
dưới biện pháp ẩn dụ đó)
Bước 2: Tổng kết, trao thưởng.
- Thư kí tổng kết và công bố kết quả. GV trao thưởng (có thể bằng điểm
hoặc bằng hiện vật: sách vở, đồ dùng học tập, bánh kẹo)
* Ưu điểm
+ Về tinh thần, thái độ: thay đổi hình thức củng cố, vận dụng truyền thống,
giúp học sinh có tinh thần học tập tích cực, hào hứng hơn, chủ động hơn.
+ Về kiến thức, kĩ năng: Học sinh được vận dụng kiến thức giải quyết các
bài tập rèn các kĩ năng: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao.
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh có năng lực tự học, tự chủ; năng lực
giao tiếp, hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo. Qua trò chơi cũng rèn
được cho các em phẩm chất tự tin ,tinh thần trách nhiệm, tinh thần đồng đội.
2.3.3.2.Trị chơi đuổi hình bắt chữ.
* Đặc điểm: Trò chơi này nhằm phát triển năng lực hợp tác, sáng tạo, sử
dụng ngôn ngữ của học sinh. Để thực hiện trò chơi này, trước tiên GV xác định
xem sẽ đưa ra những kiến thức nào phù hợp với bài dạy. Sau đó tìm những tranh
ảnh có thể giúp học sinh liên tưởng đến những đối tượng ấy. Hình ảnh có thể tìm
ở trên mạng Internet hoặc có thể để học sinh hoạt động nhóm tự vẽ tranh hoặc
tự sưu tầm tranh ảnh rồi tự giải đố với nhau bằng các hình ảnh và từ khóa liên
quan đến bài học.
Ví dụ: Tiết 38: Thực hành Tiếng Việt (Phần cụm động từ)


10

* Mục tiêu:
+ Củng cố, vận dụng, khắc sâu kiến thức vừa học
+ Tạo hứng thú học tập cho học sinh

+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động.
* Các bước tiến hành
Khi dạy đơn vị kiến thức Cụm động từ tơi sẽ vận dụng trị chơi “Nhìn hình
đốn chữ” trong hoạt động hình thành kiến thức. Sau khi hình thành kiến thức
về động từ tơi cho học sinh chơi trò chơi để củng cố kiến thức.
- Bước 1: Chuẩn bị những bức tranh có các hoạt động khác nhau của người,
động vật.
- Bước 2: Nêu luật chơi: Học sinh nhìn vào tranh và tìm các động từ chỉ các
hoạt động tương ứng của nhân vật trong tranh. Thêm các từ đằng trước, đằng sau
để tạo thành cùm động từ, đặt câu với cụm động từ vừa tìm được.
- Bước 3: Thực hiện chơi :
+ GV chiếu các bức tranh sau đó yêu cầu học sinh nhận diện các hoạt động
trong tranh và tìm các động từ tương ứng và thêm các từ để tạo thành cụm từ.
Đặt câu với cụm động từ đó
+ Nhận xét cụm động từ và câu học sinh vừa đặt.
- Bước 4: Kết thúc:
+ Nhận xét, đánh giá thái độ tham gia trò chơi của học sinh
+ Khen thưởng, động viên khích lệ học sinh bằng tinh thần, bằng điểm hoặc
bằng các phần quà nhỏ.
* Ưu điểm
+ Về tinh thần, thái độ: học sinh hào hứng tham gia vào hoạt động học tập,
giờ học sôi nổi không nhàm chán.
+ Về kiến thức, kĩ năng: Học sinh nhận diện được các cụm động từ và biết
vận dụng trong ngữ cảnh cụ thể.
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh được rèn các năng lực: tự học, ngôn
ngữ, giao tiếp và khả năng tư duy, óc phán đốn, phản ứng nhanh, tinh thần hợp tác
2.3.3.3.Trị chơi: Chuyền bóng.
* Đặc điểm của trị chơi: Trò chơi này sẽ giúp các em luyện tập phản ứng
nhanh về ngôn ngữ, đồng thời sẽ giúp các em hiểu hơn về bài một cách nhanh
nhất. Phần chuẩn bị rất đơn giản chỉ cần một quả bóng nhỏ hoặc một vật gì đó

để ném (tung) và bắt. Trị chơi này có thể vận dụng linh hoạt ở nhiều hoạt động
dạy học.
Ví dụ: Tiết 45. Thực hành Tiếng Việt (Phần từ đồng âm, từ đồng nghĩa)
* Cách thức tiến hành:
- u cầu: Tìm từ có nghĩa giống hoặc gần giống với từ được nêu; hoặc
từ giống âm thanh nhưng khác nhau về nghĩa.
- Người chơi đứng thành vòng tròn (hoặc hai hàng dọc). Một người cầm
quả bóng ném cho một người khác đồng thời hô to lên một từ. Người được bạn
mình ném bóng tới phải bắt quả bóng đồng thời trong khoảng 5 giây (người ném
bóng dùng cách đến từ 1 đến 5 để ước lượng thời gian) phải nói lên được từ có
nghĩa giống hoặc gần giống (hoặc có âm thanh giống nhau mà khác nhau về


11

nghĩa) với từ mà bạn mình vừa nêu lên. Sau đó người thứ hai này lại ném quả
bóng cho người thứ ba và hơ to lên một từ khác. Ví dụ:
+ Người thứ nhất: Quả! (Chuyền quả bóng cho một người nào đó).
+ Người thứ hai: Trái! (Chuyền quả bóng cho người thứ ba)
+ Người thứ ba: Bức tranh! (Chuyền quả bóng cho người thứ tư)
+ Người thứ tư: Tranh cãi! (Chuyền quả bóng cho người thứ năm)
+ Người thứ năm: Phụ nữ ( Chuyền quả bóng cho người thứ sáu)
......
- Trò chơi cứ như thế tiếp tục, nhưng các từ nêu ra phải không lặp lại. Nếu
từ nêu ra bị lặp lại, người nêu sẽ bị trừ một điểm. Người đến lượt mình mà
khơng tìm được thì mỗi trường hợp đều bị trừ đi một điểm. Người nào bị trừ ba
điểm thì bị loại khỏi cuộc chơi (hoặc bị bắt phạt làm một điều gì đó rồi mới
được tiếp tục chơi). Khi chấm dứt cuộc chơi, những người nào bị trừ ít điểm
nhất sẽ thắng.
- Nếu lớp học đơng, có thể tổ chức lớp thành hai đội thi đấu với nhau. Hai

đội xếp hàng, đứng đối diện nhau, quả bóng được chuyền cho người đối diện.
Đội nào ít lỗi hơn sẽ thắng.
* Ưu điểm :
+ Về tinh thần, thái độ: Với trò chơi trên khi vận dụng vào phần khởi động
vừa tạo được tâm thế hào hứng vừa kích thích tính tị mị, sự hứng thú cho học
sinh ngay từ đầu tiết học.
+ Về kiến thức, kĩ năng: khi trả lời các câu hỏi học sinh đã phần nào hiểu
được kiến thức của bài một cách nhanh chóng từ thực tế các từ các bạn đã tìm.
+ Về năng lực, phẩm chất: tham gia trò chơi sẽ rèn cho học sinh năng lực tư
duy, óc phán đốn, liên tưởng, sự phản ứng nhanh.
2.3.3.4. Trị chơi: Đóng vai.
* Đặc điểm: Luyện tập kĩ năng thực hành kiến thức tiếng Việt đã học để
vận dụng xây dựng cuộc thoại, đóng vai các tình huống hội thoại, thơng qua đó
học sinh khắc sâu kiến thức đã học. Dễ thực hiện, dễ vận dụng, học sinh tăng
khả năng vận dụng kiến thức đã học trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, khám phá,
phát triển được các năng lực khác của bản thân.
* Vận dụng: Có thể vận dụng vào tất cả các hoạt động học tập trong tiết học.
* Cách thức tiến hành:
- Giáo viên yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức Tiếng Việt đã học, xây
dựng cuộc thoại, đóng vai
- GV hướng dẫn, định hướng cho HS về ngôn ngữ, cách diễn xuất, phối
hợp, bài trí cảnh sân khấu, đạo cụ, ...
Ví dụ: Tiết 69: Ơn tập Học kì I (Phần tổng kết Tiếng Việt)
- Chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm xây dựng một kịch bản cuộc thoại, có
các đơn vị kiến thức Tiếng Việt đã học.
- Các nhóm lên trình bày phần tình huống của mình, đóng vai diễn lại kịch
bản ngắn đã xây dựng.


12


- Sau khi các nhóm trình bày phần thi của mình, các nhóm khác sẽ có
nhiệm vụ phát hiện xem nhóm trên đã vận dụng những đơn vị kiến thức Tiếng
Việt nào đã học. Nhóm nào phát hiện đúng nhất, diễn xuất hay nhất sẽ thắng.
- Sau đó giáo viên nhận xét, tổng kết, đánh giá, khen thưởng và hệ thống lại
kiến thức Tiếng Việt đã học.
* Lưu ý:
+ Để tiết học hiệu quả hơn, GV nên hướng dẫn HS từ tiết học trước để các
em có thời gian chuẩn bị.
+ HS có thể tham khảo trên internet (youtube.com) hoặc Chuyên mục Nhà
biên kịch trẻ (Báo Văn học và Tuổi trẻ).
+ Cần xác định trước thời gian diễn cho học sinh.
* Ưu điểm:
+ Về tinh thần, thái độ: Học sinh thích thú, hào hứng, sơi nổi, tích cực.
+ Về kiến thức, kỹ năng: Học sinh tăng khả năng thực hành tiếng Việt vào
trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. - Học sinh được trải nghiệm kiến thức tiếng
Việt thực tế, sẽ dễ nhớ và hiểu kiến thức đã học hơn.
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh được khám phá những năng lực của
bản thân: năng lực ngôn ngữ, năng lực diễn xuất.
2.3.3.5.Trò chơi tiếp sức.
* Đặc điểm: Là trò chơi học sinh vận dụng ngay kiến thức kĩ năng của
mình vào q trình tham gia trị chơi. Trị chơi tiếp sức nhằm phát huy năng lực
giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, sự nhanh nhẹn về thể chất cũng như tinh
thần. Củng cố kiến thức kĩ năng đă học sau khi học các bài mới và các bài luyện
tập, ơn tập. Rèn luyện tinh thần đồn kết, tinh thần đồng đội.
* Vận dụng: Có thể vận dụng trị chơi này trong nhiều hoạt động học tập.
Ví dụ 1: Sử dụng trị chơi trong hoạt động hình thành kiến thức.
Tiết 75: Thực hành Tiếng Việt ( Phần Từ ghép, Từ láy)
* Mục tiêu:
+ Củng cố, vận dụng, khắc sâu kiến thức vừa học.

+ Tạo hứng thú học tập cho học sinh.
+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động.
* Các bước tiến hành:
- Sau khi hình thành kiến thức và rút ra ghi nhớ tơi sử dụng “trò chơi tiếp
sức” để củng cố kiến thức lí thuyết vừa học.
- Bước 1: Xác định nội dung kiến thức thực hiên trò chơi: Từ ghép, từ láy
- Bước 2: Nêu luật chơi: Chia lớp làm 2 nhóm, mỗi nhóm cử 5 bạn tham
gia đội chơi, mỗi bạn lên bảng chỉ được viết 1 từ sau đó trở về đưa phấn cho bạn
tiếp theo. Cứ hết 5 bạn thì lại tiếp tục vịng tiếp cho đến hết 2 phút... Đội nào tìm
được đúng nhiều từ đội đó sẽ thắng.
- Bước 3: Thực hiện chơi: Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy tìm các từ ghép, từ
láy chỉ người, đồ dùng, trang phục học sinh trong lớp học?
+ Các đội chơi thực hiên nội dung thi tiếp sức của mình trong thời gian 2P
đội nào tìm được nhiều từ nhất sẽ được thưởng;
- Sau khi HS làm xong, GV sẽ cho học sinh phân biệt từ ghép với từ láy.


13

Từ ghép
quần áo, sách vở, tóc tai...

Từ láy
xinh xinh, trăng trắng, lênh khênh..

* Ưu điểm
+ Về tinh thần, thái độ: học sinh hào hứng tham gia vào hoạt động học tập,
giờ học sôi nổi không nhàm chán.
+ Về kiến thức, kĩ năng: Học sinh hiểu được từ ghép, từ láy. Bên cạnh đó
giáo viên cần lưu ý cho học sinh cách sử dụng từ ghép, từ láy cần hợp với ngữ

cảnh giao tiếp
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh được rèn các năng lực: tự học, ngôn
ngữ, giao tiếp và khả năng tư duy, óc phán đốn, phản ứng nhanh, tinh thần hợp tác.
Ví dụ 2: Vận dụng trị chơi trong hoạt động luyện tập - tìm tịi - mở rộng.
Tiết 20: Thực hành Tiếng Việt (So sánh, nhân hóa, điệp ngữ).
* Mục tiêu:
+ Vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết các tình huống trong thực tế.
+ Thay đổi hình thức luyện tập, tạo hứng thú học tập cho học sinh
+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động
* Các bước tiến hành:
- Thực hiện phần luyện tập của bài này tôi vận dụng trò chơi “Tinh thần
đồng đội” để củng cố kiến thức, rèn các kĩ năng cơ bản cho học sinh: kĩ năng
nhận diện, thông hiểu, vận dụng thấp kiến thức về phép so sánh.
- Bước 1: Xác định nội dung kiến thức thực hiên trò chơi : Trong tiết học
này tơi sử dụng trị chơi “ Tinh thần đồng đội” trong phần luyện tập - vận dụng tìm tịi - mở rơng. Trước hết GV xác định mục đích của trò chơi là để học sinh
vận dụng các kiến thức về phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ để thực hành nhận
diện, tìm, đặt câu có sử dụng phép tu từ so sánh. Sau đó, GV thiết kế 2 gói câu
hỏi, mỗi gói gồm 5 câu hỏi.
- Bước 2: Nêu luật chơi: Chia lớp làm 2 nhóm, mỗi nhóm chọn 5 học sinh
đánh số từ 1 đến 5. Cử đại diện chọn gói câu hỏi. Mỗi bạn trả lời 1 câu hỏi, nếu
bạn nào khơng trả lời được thì nhường quyền trả lời cho bạn khác. Trả lời xong
5 câu hỏi trong thời gian 2 phút
+ Cử thư kí trị chơi. (Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm)
Bước 3: Thực hiện chơi:
- Đại diện các đội chọn gói câu hỏi, sau đó các thành viên trong đội thi thực
hiện trả lời các câu hỏi của đội mình. Thư kí ghi lại điểm cho các đội.
Gói câu hỏi 1:
1/ Tìm một ví dụ có sử dụng so sánh? Đáp án: Cô giáo như mẹ hiền.
2/ Viết tiếp vào chỗ trống để tạo thành một phép nhân hóa?
Khi đi qua khu vườn,....gió khẽ lướt qua. (Chị)

3/ Đặt một câu văn có sử dụng phép so sánh tương ứng với bức tranh sau?
(Bức tranh em bé). Đáp án: Em bé có làn da trắng như trứng gà bóc.
4/ Xác định biện pháp tu từ trong câu sau: Người cha mái tóc bạc/Đốt lửa
cho anh nằm (Ẩn dụ)


14

5/ Tìm một câu văn có hình ảnh so sánh trong văn bản “Bài học đường đời
đầu tiên”, phân tích tác dụng.
Gói câu hỏi 2:
1/ Tìm một ví dụ có sử dụng so sánh vật với vật? Đáp án: Trên trời mây
trắng như bông.
2/ Viết tiếp vào chỗ trống để tạo thành một phép nhân hóa?. .......ong đang
đi tìm mật ( Chú, Chị...)
3/ Đặt một câu có sử dụng hình ảnh so sánh tương ứng với bức tranh sau?
(Bức tranh hình ảnh mặt trời) . VD: Mặt trời như quả cầu lửa đang từ từ nhơ
lên phía đằng đơng.
4/ Xác định biện pháp tu từ trong khổ thơ sau:
Cháu chiến đấu hơm nay
Vì tình u tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi cũng vì bà
Ổ trứng gà tuổi thơ.
(Tiếng gà trưa, Xuân Quỳnh)
Đáp án: Điệp ngữ
5/ Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ sau:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng.
Đáp án: Biện pháp ẩn dụ -> Ca ngợi tình u thương vơ bờ bến của mẹ

dành cho con.
- Bước 4: Tổng kết trị chơi.
+ Thư kí cơng bố kết quả của các đội
+ GV nhận xét, đánh giá kết quả của hai đội thi. Rút ra ưu điểm, hạn chế
cần khắc phục, thưởng cho đội chơi chiến thắng.
2.3.3.6. Trò chơi hái hoa dân chủ.
* Đặc điểm: Trò chơi dễ thực hiện, học sinh huy động được kiến thức đã
học để phản ứng nhanh trước các câu hỏi.
* Vận dụng: Vận dụng chủ yếu trong hoạt động hình thành kiến thức hoặc
củng cố, vận dụng kiến thức đã học.
Ví dụ: Tiết 105: Thực hành Tiếng Việt (Phần Trạng ngữ)
* Mục đích: cho học sinh nhận diện, khắc sâu kiến thức đã học về trạng
ngữ, nghĩa của từ.
* Cách chơi:
Cho các em chơi trong lớp. Lần lượt từng em lên hái hoa. Em nào hái được
hoa thì đọc to yêu cầu cho cả lớp cùng nghe. Sau đó suy nghĩ trong vịng 30 giây
rồi trình bày câu trả lời trước lớp. Em nào trả lời đúng thì được khen và được
nhận một phần thưởng.
Gv xây dựng hệ thống câu hỏi, ghi vào tờ giấy, gấp lại, kẹp trên các cành
cây (cây cảnh) hoặc tận dụng các bình hoa của các lớp.
Hệ thống câu hỏi:


15

Câu 1: Xác định trạng ngữ trong câu sau, cho biết vị trí của trạng ngữ
trong câu:
Hơm nay, trời nắng quá. (Hôm nay, đứng đầu câu)
Câu 2: Trạng ngữ trong câu sau có chức năng gì?
Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ, nhiều người đã cãi nhau. (Chỉ nguyên nhân)

Câu 3: Xác định trạng ngữ, chỉ rõ chức năng của trạng ngữ trong câu: Để
bố mẹ vui, em phải cố gắng học tập tốt. (Để bố mẹ vui - trạng ngữ chỉ mục đích)
Câu 4: Giải thích nghĩa của thành ngữ sau: Mẹ muốn tơi giống người khác,
thì người khác trong mắt mẹ nhất định phải là người "Mười phân vẹn mười".
(Chỉ người hồn hảo, khơng có khiếm khuyết, hạn chế gì)
Câu 5: Thêm trạng ngữ cho câu: Hoa đã bắt đầu nở. (Đêm qua, hôm nay....)
Câu 6: Trạng ngữ trong câu sau bổ sung cho câu ý nghĩa gì?
Giờ đây, tơi đã hiểu những gì mẹ dạy, tơi càng u quý mẹ hơn. (Thời gian)
Câu 7. Một bạn xác định cụm từ trong vườn trong câu Trong vườn, mẹ
trồng nhiều lồi cây ăn quả em rất thích là trạng ngữ chỉ mục đích, đúng hay
sai? (sai)
Câu 8. Tìm thành ngữ thích hợp điền vào câu sau, giải thích nghĩa của
thành ngữ ấy: Cô ấy đẹp.....(Nghiêng nước nghiêng thành -> chỉ sắc đẹp lộng lẫy
của người phụ nữ có thể làm khuynh đảo thiên hạ)
Câu 9: Thêm trạng ngữ cho câu sau, cho biết trạng ngữ thêm vào câu nhằm
mục đích gì?
Những cánh chim đang bay. (Trên trời -> chỉ địa điểm)
Câu 10: Đặt câu có trạng ngữ.
* Ưu điểm:
+ Về tinh thần, thái độ: Học sinh háo hức, thích tham gia.
+ Về kiến thức, kỹ năng: Học sinh biết cách huy động kiến thức đã học,
phản ứng nhanh trước yêu cầu học tập.
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh phát huy tinh thần tập trung, tích cực,
phát huy được các năng lực khác của bản thân.
2.3.3.7. Trò chơi: Hộp q bí mật.
* Đặc điểm: Đây là trị chơi địi hỏi sự phản ứng nhanh, biết huy động, vận
dụng những kiến thức đã học được để trả lời; đồng thời với những phần q bất
ngờ dễ kích thích sự tị mò, hứng thú, hào hứng của học sinh.
* Vận dụng: Có thể vận dụng linh hoạt ở phần khởi động, phần củng cố,
vận dụng, tìm tịi.

* Cách tiến hành:
- Giáo viên xác định các đơn vị kiến thức liên quan tới bài học, hoặc các
đơn vị kiến thức cần củng cố, vận dụng, thực hành.
- Giáo viên xây dựng các câu hỏi (có thể từ 5 đến 10 câu hỏi ngắn, tùy mức
độ bài học) liên quan đến các đơn vị kiến thức.
- Chuẩn bị những phần quà: có thể là những phần quà về mặt tinh thần,
điểm số (9,10), có thể là những phần quả nho nhỏ: cái bút, cuốn vở...để tăng sự
kích thích, hứng thú cho học sinh.


16

- Giáo viên nêu luật chơi: Hộp quà bí mật gồm có bao nhiêu câu hỏi; mỗi
học sinh được quyền tham gia một lần, trả lời đúng sẽ được phần quà tương ứng
được ẩn giấu trong hộp quà của câu hỏi đó; trả lời sai thì học sinh khác được
tham gia. Tiến hành lần lượt cho đến câu hỏi - hộp quà cuối cùng.
- Sau khi tổ chức trò chơi xong, giáo viên nhận xét nhanh thái độ khi chơi
của học sinh, tổng hợp kiến thức liên quan.
Ví dụ: Tiết 110,111: Thực hành Tiếng Việt (Lựa chọn từ ngữ, lựa chọn
cấu trúc câu)
Tôi đã vận dụng trong phần khởi động bằng trị chơi Hộp q bí mật, với 4
câu hỏi:
Hình ảnh học sinh hào hứng tham gia chơi
* Ưu điểm:
+ Về tinh thần, thái độ: Học sinh háo hức, hào hứng, thích thú giúp tạo tâm
thế thoải mái trước khi vào phần hình thành kiến thức.
+ Về kiến thức, kỹ năng: Học sinh biết vận dụng những gì mình đã học, đã
hiểu để phản ứng nhanh trước câu hỏi. Đồng thời, với những gì đã biết, thơng
qua trị chơi, với những câu hỏi phần nào liên quan đến kiến thức bài mới đã
giúp các em bước đầu tiếp cận và hình dung được những đơn vị kiến thức chuẩn

bị học trong tiết học mới.
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh phát huy tinh thần tập trung, tích cực,
phát huy được các năng lực khác của bản thân.
2.3.4. Một số lưu ý khi vận dụng trò chơi vào các tiết dạy Thực hành Tiếng
Việt lớp 6.
- Từ nhiệm vụ cụ thể của tiết học mà giáo viên lựa chọn trò chơi nào cho
phù hợp để truyền tải kiến thức tốt nhất, trị chơi khơng q phức tạp mang tính
đánh đố học sinh.
- Trò chơi cũng cần phù hợp với thời gian và khơng gian lớp học. Thực
hiện trị chơi nào giáo viên cần lựa chọn nội dung câu hỏi, tranh ảnh….. Hoặc
hướng dẫn học sinh chuẩn bị cụ thể, khuyến khích sự sáng tạo của các em.
- Nội dung trị chơi phải nằm trong chương trình có mở rộng, củng cố và
vận dụng kiến thức, vừa phải có tác dụng gây hứng thú học tập, kích thích tinh
thần học tập và phát huy năng lực chuyên biệt về bộ môn Ngữ văn nói chung,
phân mơn Tiếng Việt nói riêng.
- Trị chơi phải mang đầy đủ các tính chất của trị chơi thơng thường: có
luật chơi, hình thức chơi, có sự thi đua và gây hứng thú giữa các cá nhân, nhóm.
Sau mỗi một trị chơi giáo viền đều chốt lại những kiến thức, kĩ năng quan
trọng cần ghi nhớ cho học sinh.
- Gv có nhận xét về thái độ, kỹ năng, khen thưởng, động viên, khích lệ để
các em tích cực trong các hoạt động học tập.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Thơng qua q trình áp dụng một số trò chơi trong các tiết Thực hành
Tiếng Việt Ngữ văn lớp 6, tôi nhận thấy một số hiệu quả nhất định như sau:


17

Đối với giáo viên: không mất quá nhiều thời gian chuẩn bị, thời gian của
tiết dạy mà GV và HS vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức bài học, hoàn thành

được bài tập SGK.
Đối với học sinh: Các em khơng cịn biểu hiện của sự mệt mỏi nhàm chán
mà thay vào đó là sự sơi nổi hơn, u thích hơn với các tiết Thực hành Tiếng
Việt nói riêng, Ngữ văn nói chung. Đặc biệt với những em khả năng chưa nhanh,
cũng có sự hào hứng hơn. Chất lượng mơn Ngữ văn nhờ đó mà tăng lên đáng kể.
Các em được phát huy năng lực của bản thân trong quá trình tham gia các
trị chơi: năng lực hợp tác với bạn, năng lực trình bày, năng lực giải quyết vấn
đề, đặc biệt là năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực phản ứng nhanh.. và nhiều
phẩm chất đạo đức như tình đồn kết, thân ái, lịng trung thực, tinh thần cộng
đồng trách nhiệm
Bảng 1: Khảo sát sự húng thú học tập của các em đối với các tiết Thực
hành Tiếng Việt.
Thời điểm Tổng số
Hứng thú Không hứng thú Không quan tâm
Đầu năm
133
34 (25,6%)
61 (45,8%)
38 (28,6%)
Cuối năm
133
105 (78,9%)
28 (21,1%)
0
Bảng 2: Kết quả học tập:
Thời điểm
Tổng
Tốt
Khá
Đạt

Chưa đạt
số
SL
%
%
SL
%
SL
%
SL

Đầu năm
Cuối năm

133

3

2,3

38

28,6

68

51,1

24


18,0

133

25

18,8

71

53,4

35

26,3

2

1,5

So sánh với kết quả đầu năm, trước khi chưa áp dụng SKKN, tôi nhận thấy
rằng việc học tập của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt. Nhiều em trước đây học còn
Đạt hoặc Chưa đạt thì nay có sự tiến bộ rất nhiều. Nếu như trước khi áp dụng
theo điều tra mức độ hứng thú đối với các tiết Thực hành Tiếng Việt là 34% thì
sau khi áp dụng cũng câu hỏi điều tra ấy cho kết quả là 78,9% học sinh hứng thú
hơn, thích học hơn. Từ việc có hứng thú học tập, thích học, khơng cịn sợ sệt,
các em hào hứng, chờ đón, tích cực trong học tập đã nâng cao kết quả học tập
của các em, từ 17,3 % tỉ lệ học sinh Chưa đạt đã giảm còn 1,5%; đặng biệt, tỉ lệ
học sinh Tốt - Khá nâng cao rõ rệt (từ 30,9 % lên 72,2%). Từ việc hiểu bài, nắm
vững kiến thức tiếng Việt, sẽ giúp các em biết cách dùng từ, diễn đạt, biết cách

trình bày, từ đó khơng chỉ nâng cao chất lượng bộ mơn Ngữ Văn mà còn nâng
cao chất lượng giáo dục ở các bộ mơn khác, đồng thời, từ đó các em cũng biết
cách linh hoạt ứng xử trong đời sống, góp phần giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp
của tiếng Việt. Đây là mộ kết quả rất đáng mừng.


18

Đặc biệt, tơi nhận thấy, vận dụng trị chơi khơng chỉ là một phương pháp
dễ thực hiện, dễ vận dụng, góp phần nâng cao hiệu quả đối với bộ mơn Ngữ văn,
mà có thể áp dụng giải pháp này cho nhiều mơn học sẽ giúp làm thay đổi khơng
khí lớp học, giảm sự đơn điệu, tăng hứng thú học tập cho học sinh nhờ đó việc
dạy và học sẽ thêm hiệu quả góp phần phát huy được các năng lực, phẩm chất
của học sinh trong học tập ở các bộ mơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Vận dung trò chơi trong giờ học các tiết Thực hành Tiếng Việt đã giúp cho
các em có cơ hội phát triển tri thức, năng lực và phẩm chất, biết vận dụng lí
thuyết vào thực hành; biết chủ động sáng tạo trong hoạt động học. Như vậy, Giờ
học không khô khan nhàm chán mà sôi nổi, hấp dẫn, lôi cuốn các em vào hoạt
động học giúp các em năm kiến thức một cách tự nhiên khơng gị bó, thụ động.
Trị chơi trong dạy và học ở trường THCS là trò chơi học tập, có tác
dụng mở rộng và củng cố hiểu biết kiến thức, rèn luyện các kỹ năng môn Ngữ
văn của học sinh, tạo hứng thú học tập, niềm tin và tình cảm của học sinh được
nâng cao, giúp các em u thích mơn Ngữ văn hơn
3.2. Kiến nghị
Với đề tài “Vận dụng một số trò chơi trong dạy học các tiết Thực hành
Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị Trấn lang Chánh” đã một phần gây
hứng thú hơn trong tiết học, HS đã có sự chuyển biến hơn tích cực giao lưu với

thầy cơ hơn, trong mỗi giờ học tất cả HS đều muốn tham gia vào quy trình dạy
học, các em khơng cịn thụ động ngồi nghe GV giảng bài mà cảm thấy hứng thú
hơn, hăng say phát biểu bài hơn. Tuy nhiên đây chưa phải là phương pháp tối ưu
nhất bởi vì cũng khơng phải tiết dạy văn nào chúng ta cũng áp dụng được các trị
chơi một cách hiệu quả. Chính vì vậy khi dạy bất kì một tiết học nào, Gv cũng
cần kết hợp rất nhiều các phương pháp khác nhau để đạt hiệu quả cao trong quá
trình giảng dạy của mình.
Hệ thống các trị chơi có thể vận dụng vào trong q trình dạy học là vơ
cùng phong phú, đa dạng, GV cần có sự lựa chọn phù hợp, hiệu quả. Vận dụng
trị chơi có rất nhiều ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế riêng, vì thế cần
linh hoạt trong quá trình giảng dạy.
Nhà trường, Phịng Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức thêm các hội thảo để
giáo viên có cơ hội trao đổi, thảo luận học hỏi, rút kinh nghiệm về dạy học
chương trình SGK mới, nhất là dạy các tiết Thực hành Tiếng Việt để GV bớt
lúng túng và dạy - học hiệu quả hơn.
Thanh Hóa, ngày 08 tháng 04 năm 2022
Tôi cam đoan SKKN này là của cá
nhân, không coppy của tác giả khác.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

Người thực hiện


19

ĐƠN VỊ

Nguyễn Thị Nga




×