TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
-------***-------
TÀI CHÍNH HÀNH VI ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI: THIÊN KIẾN NỘI BỘ
Hà Nội, tháng 05 năm 2021
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ THIÊN KIẾN NỘI BỘ................................................4
1.1
Định nghĩa Thiên kiến nội bộ.............................................................................4
1.2
Nguồn gốc của thiên kiến nội bộ.........................................................................4
1.3
Ảnh hưởng của thiên kiến nội bộ.......................................................................7
1.4
Hạn chế tác động của thiên kiến nội bộ.............................................................8
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN KIẾN NỘI BỘ ĐẾN THỊ TRƯỜNG TÀI
CHÍNH............................................................................................................................. 10
2.1 Phân tán dự báo của nhà phân tích......................................................................10
2.2 Thiên kiến nội bộ và phản ứng của thị trường....................................................10
KẾT LUẬN...................................................................................................................... 12
2
LỜI MỞ ĐẦU
Thiên kiến nhận thức là một dạng sai lệch có hệ thống so với chuẩn mực hoặc tính
hợp lý trong phán đoán, mà hậu quả thường là gây "nhiễu" q trình tư duy, phản hồi, và
xét đốn để đưa ra quyết định của một người. Thiên kiến nhận thức tồn tại trong mỗi
chúng ta, ảnh hưởng đến cách chúng ta nhìn nhận thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng,
con người có khuynh hướng dễ dàng chấp nhận những thơng tin thuận theo quan điểm sẵn
có của họ hơn là những thông tin chống lại quan điểm ấy. Một ví dụ về thiên kiến trong
mơi trường nghiên cứu là hiện tượng sai lệch trong quan sát (observer bias), xảy ra khi kết
quả nghiên cứu bị biến đổi do yếu tố chủ quan từ phía người làm nghiên cứu. Những tác
động này đều rất tinh tế, thậm chí vơ tình, nhưng nó ảnh hưởng đến cách nhà nghiên cứu
tương tác với những đối tượng tham gia thí nghiệm, cũng như trong điều người quan sát
chọn để “thấy”.
Trong môi trường tài chính, thiên kiến nhận thức cũng là nguyên nhân gây nên
những sai lệch trong dự báo và đưa quyết định đầu tư. Tuy nhiên, nếu nắm được bản chất
của các thiên kiến nhận thức, các nhà đầu tư có thể tận dụng để đưa ra lựa chọn sáng suốt.
Do vậy, trong phạm vi bài tiểu luận này, em lựa chọn đề tài “Những điều cần biết về thiên
kiến nội bộ”. Bài tiểu luận bao gồm hai phần:
Chương I: Giới thiệu về thiên kiến nội bộ
Chương II: Ảnh hưởng của thiên kiến nội bộ trên thị trường tài chính
Do những hạn chế về kiến thức và quá trình ứng dụng chưa lâu, bài tiểu luận
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm,
đóng góp ý kiến của các thầy, cơ giáo để tiểu luận thêm hoàn chỉnh.
Xin chân thành cảm ơn!
3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ THIÊN KIẾN NỘI BỘ
1.1 Định nghĩa Thiên kiến nội bộ
Thiên kiến nội bộ (còn được gọi là thiên vị trong nhóm) cho rằng con người có xu
hướng giúp đỡ và có thái độ tích cực hơn đối với các thành viên trong cùng nhóm so với
các thành viên của một nhóm khác.
Được phát hiện lần đầu tiên vào đầu những năm 1900, thiên kiến nội bộ xảy ra do
hành vi điển hình của con người là hình thành các nhóm và nhận dạng nhóm. Ví dụ thực
tế về các nhóm này bao gồm dân tộc, hệ tư tưởng chính trị, tín ngưỡng tơn giáo và bản sắc
địa lý. Thiên kiến nội bộ cũng xuất hiện trong mơi trường phịng thí nghiệm nhân tạo - khi
những người tham gia được tách ngẫu nhiên thành các nhóm tùy ý, họ có nhiều khả năng
hỗ trợ và giúp đỡ các thành viên trong nhóm của họ hơn các thành viên của các nhóm
khác.
Tư cách thành viên trong nhóm có thể thay đổi theo thời gian vì vậy thiên kiến nội
bộ thường có tính chất 'lên xuống' theo thời gian. Ví dụ trong một cuộc bầu cử, ban đầu,
các thành viên trong một đảng chính trị thường tranh luận với nhau và chia thành các phe
phái ủng hộ các ứng cử viên khác nhau trong cùng một đảng. Họ có thể bộc lộ tư duy rập
khn và hành vi tiêu cực đối với nhóm kia. Nhưng theo thời gian, sau khi một ứng cử
viên được chọn để tranh cử, thông thường các thành viên của đảng hợp nhất lại thành một
nhóm ủng hộ ứng cử viên của đảng mình và thiên kiến nội bộ của họ chuyển sang ứng cử
viên của đảng đối lập.
1.2 Nguồn gốc của thiên kiến nội bộ
Tất cả chúng ta đều thích nghĩ rằng chúng ta công bằng, hợp lý. Hầu hết chúng ta
cảm thấy tự tin rằng chúng ta (không giống như những người khác) khơng có thành kiến
và định kiến, và cách chúng ta nhìn nhận và đối xử với người khác đều công bằng. Tuy
nhiên, trong những năm qua, nghiên cứu về thiên kiến nội bộ đã chỉ ra rằng tư cách thành
viên nhóm ảnh hưởng đến nhận thức của chúng ta ở mức độ rất cơ bản - ngay cả khi mọi
người được sắp xếp vào các nhóm dựa trên các tiêu chí hồn tồn vơ nghĩa.
Một nghiên cứu kinh điển minh họa sức mạnh của sự thiên vị này đến từ các nhà
tâm lý học Michael Billig và Henri Tajfel. Trong một thí nghiệm năm 1973, những người
tham gia bắt đầu bằng cách xem các cặp tranh và đánh dấu xem họ thích bức tranh nào
hơn. Tại thời điểm này, một số người tham gia được thông báo rằng họ đã được chỉ định
4
vào một nhóm cụ thể dựa trên lựa chọn bức tranh của họ, trong khi những người khác
được cho biết họ được chỉ định vào một nhóm bằng cách tung đồng xu ngẫu nhiên. (Như
một sự kiểm soát, những người tham gia khác không được thông báo bất cứ điều gì về
việc tham gia một nhóm và chỉ được chỉ định một số mã.)
Sau đó, mỗi người tham gia vào một buồng, nơi họ được thơng báo rằng họ có thể
trao tiền thật cho những người tham gia khác bằng cách đánh dấu nó vào một tập sách
nhỏ. Những người tham gia khác được liệt kê theo mã số, vì vậy danh tính của họ bị che
giấu; tuy nhiên, số mã cho biết họ đã được chỉ định vào nhóm nào trong số hai nhóm.
Nghiên cứu này được thiết kế để các nhà nghiên cứu có thể phân biệt các nguyên
nhân có thể gây ra sự thiên vị trong nhóm. Mọi người sẽ hào phóng hơn với các thành
viên trong nhóm của họ ngay cả khi họ được thơng báo rằng các nhóm đã được quyết
định một cách ngẫu nhiên? Hay hiệu ứng này chỉ xuất hiện khi những người tham gia
được cho biết rằng các nhóm dựa trên sở thích vẽ tranh để mọi người cảm thấy rằng họ có
điểm chung với bạn cùng nhóm?
Kết quả cho thấy rằng mọi người đã đưa nhiều tiền hơn cho các thành viên trong
nhóm của họ bất kể lý do tại sao nhóm đó được thành lập ngay từ đầu: mọi người hào
phóng hơn với những người trong nhóm của họ, ngay cả khi họ được chỉ định bằng cách
tung đồng xu. Các thử nghiệm tuân theo cùng một phác thảo cơ bản này, được gọi là mơ
hình nhóm tối thiểu (Minimal Group Paradigm - MGP), đã được lặp đi lặp lại hết lần này
đến lần khác, chứng tỏ rằng chủ nghĩa thiên vị mà mọi người thể hiện cho nhóm của họ
khơng cần phải thiết lập bất cứ điều gì đặc biệt có ý nghĩa.
Tuy nhiên, thiên kiến nội bộ có thể gây tổn hại cho nhóm bên ngồi của chúng ta.
Một nghiên cứu nổi tiếng khác minh họa cho sự thiên vị trong nhóm là nghiên cứu của
Robbers Cave, được thực hiện bởi Muzafer Sherif. Trong thí nghiệm này, 22 cậu bé 11
tuổi được đưa đến trại hè giả và được chia thành hai đội, Eagles và Rattlers. Các đội được
tách ra và chỉ tương tác khi họ đang cạnh tranh trong các hoạt động khác nhau. Hai đội
ngày càng thể hiện thái độ thù địch với nhau, cuối cùng leo thang thành bạo lực (khiến
một số người gọi cuộc thử nghiệm là “Chúa tể của những con ruồi ngoài đời thực”). Mặc
dù có một số vấn đề xảy ra với cuộc thử nghiệm, bao gồm một Môi trường khắc nghiệt có
thể khiến các cậu bé lo lắng và hung dữ hơn so với những gì họ đã làm, nghiên cứu của
Sherif thường được coi là một minh chứng về cách bản sắc nhóm có thể trở thành nền
tảng cho xung đột.
Một phát hiện đáng lo ngại khác là thiên kiến nội bộ, và định kiến đi cùng với nó,
xuất hiện ở con người từ rất sớm. Trẻ em dưới ba tuổi thể hiện sự thiên vị đối với nhóm
của chúng và nghiên cứu ở trẻ lớn hơn một chút (từ năm đến tám tuổi) cho thấy, cũng
5
giống như người lớn, trẻ em thể hiện sự thiên vị này bất kể nhóm của chúng được chỉ định
ngẫu nhiên hay dựa trên điều gì đó mang nhiều ý nghĩa hơn.
Tư cách thành viên nhóm là cơ sở định vị cá nhân
Có nhiều lý thuyết nói về lý do tại sao thiên kiến nội bộ lại xảy ra, nhưng một
trong những lý thuyết nổi bật nhất được biết đến là lý thuyết bản sắc xã hội. Cách tiếp cận
này dựa trên một thực tế cơ bản về con người: chúng ta thích phân loại mọi thứ, bao gồm
cả bản thân chúng ta. Quan niệm của chúng ta về định vị bản thân một phần dựa trên các
nhóm xã hội mà chúng ta thuộc về. Các danh mục này có thể liên quan đến khá nhiều
thuộc tính - ví dụ: giới tính, quốc tịch và đảng phái chính trị. Khơng phải tất cả các danh
mục này đều quan trọng như nhau, nhưng chúng đều góp phần định vị chúng ta là ai và
chúng ta đóng vai trị gì trong xã hội. Quá trình phân loại cũng buộc chúng ta phải sắp xếp
mọi người vào nhóm này hay nhóm khác.
Một sự thật cơ bản khác về con người: con người có nhu cầu cảm thấy tích cực về
bản thân và thường lạc quan quá mức về mức độ đặc biệt của bản thân đối với người
khác. Những quá trình tự nâng cao này khiến con người phân loại bản thân và những
người khác, đồng thời dựa vào những khuôn mẫu coi thường người ngồi nhóm và ủng hộ
người trong nhóm. Tóm lại, bởi vì danh tính của con người phụ thuộc rất nhiều vào các
nhóm mà chúng ta thuộc về, một cách đơn giản để nâng cao hình ảnh của chúng ta về bản
thân là mang lại vẻ đẹp sáng bóng cho những người trong nhóm của chúng ta - và làm
ngược lại với nhóm ngồi của chúng ta.
Nghiên cứu ủng hộ lý thuyết bản sắc xã hội đã phát hiện ra rằng lịng tự trọng thấp
có liên quan đến thái độ tiêu cực về những người thuộc nhóm ngoại lai. Trong một nghiên
cứu ở Ba Lan, những người tham gia đã hoàn thành một số bảng câu hỏi, bao gồm một
bảng câu hỏi về lòng tự trọng, một bảng về lòng tự ái tập thể, một bảng về sự hài lịng
trong nhóm và một bảng về sự thù địch với những người ngồi nhóm. (Lịng tự ái tập thể
và sự hài lịng trong nhóm đều liên quan đến việc nắm giữ những ý kiến tích cực của một
nhóm mà một người thuộc về, nhưng trong lòng tự ái tập thể, tư cách thành viên trong
nhóm đó là then chốt đối với quan niệm về bản thân của một người; trong khi đó, sự hài
lịng trong nhóm khơng nhất thiết có nghĩa thuộc về một nhóm rất quan trọng đối với
danh tính của một người nào đó.)
Kết quả cho thấy lịng tự trọng có tương quan thuận với sự hài lịng trong nhóm và
tương quan nghịch với lịng tự ái tập thể. Nói một cách khác, đối với những người có lịng
tự trọng thấp, thành viên nhóm có nhiều khả năng trở thành yếu tố cố định chính trong
danh tính của họ. Lịng tự trọng thấp cũng có liên quan đến sự hạ bệ của những người
ngồi nhóm. Tổng hợp lại, những kết quả này cho thấy rằng những người có lòng tự trọng
6
thấp cảm thấy nhu cầu cấp thiết hơn để nâng cao nhóm của họ về những người khác bởi
vì một phần lớn hơn về bản sắc của họ phụ thuộc vào niềm tin của họ rằng nhóm của họ
tốt hơn.
Sự mong đợi việc đáp lại từ những người khác
Lý thuyết bản sắc xã hội được đưa ra bởi Billig và Tajfel, những nhà nghiên cứu đã
phát minh ra mơ hình nhóm tối thiểu, và là cách giải thích thường được chấp nhận cho sự
thiên vị trong nhóm. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lập luận rằng nghiên cứu của
Billig và Tajfel khơng tính đến một chuẩn mực xã hội quan trọng: chuẩn mực có đi có lại,
yêu cầu chúng ta phải đền đáp lòng tốt mà những người khác đã làm cho chúng ta.
Trong một nghiên cứu, Yamagishi et al. (1998) sao chép một trong những nghiên
cứu MGP ban đầu của Billig và Tajfel, với một sửa đổi: một số người tham gia được
người thử nghiệm trả một số tiền cố định, thay vì nhận tiền mà những người tham gia
khác đã trao cho họ. Điều này làm cho những người tham gia này thấy rõ rằng các quyết
định mà họ đưa ra về cách phân bổ tiền sẽ không liên quan đến phần thưởng mà bản thân
họ nhận được khi kết thúc thử nghiệm. Như các nhà nghiên cứu đã dự đốn, nhóm này
khơng đưa ra bất kỳ bằng chứng nào về sự thiên vị trong nhóm: họ chia đều số tiền của họ
cho các thành viên trong nhóm và ngồi nhóm.8
Những kết quả này mâu thuẫn với kết luận được các nhà nghiên cứu khác rút ra
rằng thiên kiến nội bộ xuất phát từ việc chỉ thuộc về một nhóm. Thay vì tự động phát triển
ở bất cứ nơi nào một nhóm được thành lập, có thể là trường hợp thiên vị nhóm chỉ xảy ra
khi mọi người kỳ vọng rằng những việc làm tốt của họ sẽ được các thành viên trong nhóm
đền đáp. Nói cách khác, việc có một người trong nhóm để thuộc về dường như làm phát
sinh “kinh nghiệm nhóm” - sự mong đợi có đi có lại từ các thành viên trong nhóm, nhưng
khơng nhất thiết là các thành viên ngồi nhóm.
1.3 Ảnh hưởng của thiên kiến nội bộ
Đối với cá nhân
Thiên kiến nội bộ có thể gây hại cho mối quan hệ của cá nhân với những người
không thuộc cùng một nhóm với chúng ta. Xu hướng ưu ái các thành viên trong nhóm của
chúng ta có thể khiến chúng ta đối xử không công bằng với người khác và khiến chúng ta
nhận thức những hành vi giống nhau giữa những người khác nhau rất khác nhau tùy thuộc
vào nhóm của họ. Chúng ta thậm chí có thể cảm thấy được biện minh khi thực hiện các
hành động vô đạo đức hoặc khơng trung thực, miễn là chúng có lợi cho nhóm của chúng
ta.
7
Đối với xã hội
Thiên kiến nội bộ là một thành phần lớn của định kiến và phân biệt đối xử, khiến
mọi người mở rộng thêm đặc quyền cho những người trong nhóm của mình trong khi từ
chối sự lịch sự đó với những người khác. Điều này tạo ra kết quả khơng bình đẳng cho các
nhóm khác nhau. Ví dụ, trong các tịa án hình sự, thiên kiến nội bộ đối với nhóm dân tộc
có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các thẩm phán về việc có bắt giữ một nghi
phạm hay không.
1.4 Hạn chế tác động của thiên kiến nội bộ
Thiên kiến nội bộ rất khó khắc phục hồn tồn, bởi vì phần lớn thời gian khi nó tự
khẳng định mình, nó khơng rõ ràng; nó hoạt động bên dưới bề mặt ý thức của chúng ta.
Điều đó nói rằng, nghiên cứu chỉ ra một số chiến thuật có thể giúp giảm sự thiên vị trong
nhóm.
Tận dụng lợi ích cá nhân của mọi người
Mặc dù nghe có vẻ phản trực giác, nhưng một số nhà nghiên cứu đã cố gắng khai
thác lợi ích cá nhân của mọi người để giảm thành kiến trong nhóm của họ. Một nghiên
cứu đã so sánh hai trò chơi, được gọi là trò chơi độc tài (DG) và trò chơi tối hậu thư (UG).
Trong cả hai trò chơi, người chơi quyết định cách chia một khoản tiền giữa mình và người
nhận. Trong trò chơi độc tài, một khi người chơi quyết định đã đưa ra quyết định, người
nhận khơng có lựa chọn nào khác ngồi việc thực hiện nó. Tuy nhiên, trong trị chơi tối
hậu thư, người nhận có thể chọn chấp nhận hoặc từ chối đề nghị của người chơi đầu tiên.
Nếu họ từ chối nó, cả hai người chơi đều khơng nhận được gì.
Trong nghiên cứu này, những người tham gia chơi trò chơi độc tài hoặc trò chơi tối
hậu thư và được cho biết rằng đối tác của họ (người không thực sự tồn tại) chia sẻ quan
điểm của họ về việc phá thai hoặc có quan điểm ngược lại. Khi những người tham gia
chơi trò chơi độc tài, họ thể hiện sự thiên vị trong nhóm đáng kể, cung cấp nhiều tiền hơn
cho các thành viên trong nhóm so với các thành viên ngồi nhóm. Tuy nhiên, trong trò
chơi tối hậu thư, sự thiên vị này đã biến mất hoàn toàn. Những kết quả này cho thấy rằng
các biện pháp khuyến khích cụ thể để đối xử bình đẳng với mọi người có thể là một chiến
lược hiệu quả để giảm sự thiên vị trong nhóm.
Tạo mục tiêu chung để tăng gắn kết cho các nhóm
Bạn có nhớ nghiên cứu về Robbers Cave, nơi các cậu bé được chia thành các đội
và đọ sức với nhau không? Sau khi biến Eagles và Rattlers trở thành kẻ thù khơng đội trời
chung, Sherif và các đồng nghiệp của mình đã có thể giảm bớt sự thù địch giữa hai đội
8
bằng cách buộc họ hợp tác với nhau. Để đạt được điều này, các nhà nghiên cứu đã cắt
nguồn cung cấp nước uống của trại một cách giả tạo và nói với các cậu bé rằng tất cả họ
sẽ phải làm việc cùng nhau để sửa chữa nó. (Đó là những năm 1950, vì vậy bạn được
phép đưa trẻ em vào một khu rừng và lấy đi nước của chúng, vì khoa học.) Thơng qua bài
tập này và một số bài tập khác mà các đội được giao một mục tiêu chung, các nhóm cuối
cùng đã trở lại thân thiện với nhau. điều kiện.
Nhiều bằng chứng gần đây đã ủng hộ ý tưởng rằng sự hợp tác giữa các nhóm có
thể làm giảm sự thiên vị trong nhóm. Bằng cách tương tác với những người ngồi nhóm,
danh sách những người khác có thể mở rộng để đưa các thành viên ngồi nhóm vào danh
tính nhóm mới, đặc biệt. Và mặc dù Sherif đã đưa ra giả thuyết rằng điều cốt yếu là hai
nhóm của ơng ấy phải chia sẻ số phận chung và kết quả của mỗi nhóm phụ thuộc vào
nhóm kia, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng điều này thực sự không cần thiết: tương tác
với nhau là đủ, khi đó, cố gắng khuyến khích sự hợp tác giữa các nhóm là một chiến lược
hữu ích.
9
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN KIẾN NỘI BỘ ĐẾN THỊ TRƯỜNG TÀI
CHÍNH
2.1 Phân tán dự báo của nhà phân tích
Đối với thị trường tài chính, thiên kiến nội bộ dẫn đến những đánh giá sai lệch của
các nhà phân tích. Các nhà phân tích có xu hướng đánh giá thấp về các công ty được quản
lý bởi những người khơng cùng nhóm với họ (giới tính, dân tộc, hệ tư tưởng chính trị, tín
ngưỡng tơn giáo, bản sắc địa lý…). Kết quả này phù hợp với các đặc điểm nhân khẩu học
khác nhau của các người điều hành doanh nghiệp có thể dễ dàng quan sát được và do đó
có khả năng gây ra hiệu ứng thiên vị.
Theo các nghiên cứu tính tốn mức độ phân tán của các đánh giá tài chính giữa các
nhà phân tích nữ và nam và mức độ phân tán của các đánh giá tài chính giữa các nhà phân
tích nước ngồi và trong nước.
Mức độ phân tán của các đánh giá tài chính giữa các nhà phân tích
nữ và nam: Có ít sự sai lệch giữa các nhà phân tích nữ so với các nhà phân tích
nam đối với các cơng ty do nữ CEO đứng đầu. Do đó, sự thiên vị trong nhóm
khiến các nhà phân tích nam khơng chỉ đưa ra ước tính thu nhập thấp hơn mà cịn
dẫn đến sự phân tán ý kiến của họ về khả năng của các nữ CEO.
Mức độ phân tán của các đánh giá tài chính giữa các nhà phân tích
nước ngồi và trong nước: Có ít sự phân tán dự báo hơn giữa các nhà phân tích
nước ngồi so với các nhà phân tích trong nước đối với các cơng ty do các CEO
nước ngoài đứng đầu.
2.2 Thiên kiến nội bộ và phản ứng của thị trường
Trong phần này, chúng tôi kiểm tra xem liệu những người tham gia thị trường
chứng khốn có biểu hiện sự thiên vị trong nhóm hay khơng. Đối với phân tích này, điều
quan trọng là phải phân biệt lại giữa nhóm trong và nhóm ngồi. Để tìm ra hiệu ứng tổng
thể, chúng ta cần đưa ra các giả định về nhóm cổ phiếu giao dịch thống trị nào trên thị
trường vốn. Nhiều khả năng các nhà đầu tư nam và nhà đầu tư trong nước là những nhóm
thống trị trên thị trường này. Tương tự như các nhà phân tích, các nhà đầu tư trên thị
trường chứng khốn cũng thể hiện sự thiên vị trong nhóm, họ sẽ có thể dự đốn chính xác
hơn thu nhập của các cơng ty do các CEO thuộc chính trong nhóm của họ đứng đầu. Cụ
thể, nếu thị trường bị chi phối bởi các nhà đầu tư nam, phản ứng của giá cổ phiếu đối với
10
các thông báo thu nhập của các công ty do nữ CEO đứng đầu sẽ mạnh hơn (về mặt tuyệt
đối) so với các công bố về thu nhập của các công ty do các CEO nam đứng đầu.
Trong trường hợp trên thị trường có tin tức cực, khiến cho thu nhập của hầu hết các
doanh nghiệp đều tăng lên thì cả cổ phiếu của các công ty do nữ và nam đứng đầu đều có
lợi nhuận bất thường dương. Tuy nhiên, mức lợi nhuận bất thường này cao hơn đối với
các công ty do nữ đứng đầu. Mặt khác, khi thị trường trải qua những bất ngờ về thu nhập
âm, cổ phiếu của các công ty do nữ và nam đứng đầu đều có mức lợi nhuận âm bất
thường, một lần nữa với các công ty do nữ đứng đầu lại có tác động mạnh hơn. Điều này
cho thấy rằng các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán thực sự đánh giá thấp các nữ
CEO, dẫn đến phản ứng mạnh hơn trên thị trường chứng khoán trước những bất ngờ về
thu nhập tích cực đối với các cơng ty do nữ CEO đứng đầu.
11
KẾT LUẬN
Thiên kiến nội bộ là một trong những khía cạnh chính của hành vi con người. Có
nhiều tài liệu chứng minh rằng các cá nhân có cái nhìn tích cực về các thành viên trong
nhóm hơn so với những người ngồi nhóm. Thiên kiến này có thể gây ra những hậu quả
xã hội đáng kể vì nó có thể là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến thành kiến xã
hội như phân biệt đối xử. Trong thị trường tài chính, thiên kiến nội bộ cũng tồn tại, gây ra
những đánh giá sai lệch về tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Dựa trên các đặc điểm nhân khẩu học riêng biệt, các nghiên cứu đều cho thấy rằng
các nhà phân tích thể hiện sự thiên vị trong nhóm. Các nhóm người tham gia thị trường
đều ủng hộ các doanh nghiệp được quản lý bởi những người lãnh đạo thuộc cùng nhóm
với họ. Do vậy, hiểu biết về hành vi của nhà phân tích và phản ứng của thị trường chứng
khốn đối với các dự báo của nhà phân tích có thể cải thiện khả năng đưa ra dự đốn và
quyết định đầu tư chính xác hơn.
Do những hạn chế về kiến thức và quá trình ứng dụng chưa lâu, bài tiểu luận
khơng thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm,
đóng góp ý kiến của các thầy, cơ giáo để tiểu luận thêm hoàn chỉnh.
Xin chân thành cảm ơn!
12