Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

Đề tài: quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (221.28 KB, 18 trang )

Đề tài: Phân tích và bình luận quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy
phán quyết trọng tài.
Danh mục cụm từ viết tắt
1. TTTM: Trọng tài thương mại
2. THADS: Thi hành án dân sự
3. PQTT: Phán quyết trọng tài


A.MỞ ĐẦU:
Trong nền kinh tế thị trường đạo đức kinh doanh không phải lúc nào
cũng được các bên tôn trọng, đặc biệt là việc giữ chữ tín với bạn hàng. Vì lợi
nhuận họ sẵn sàng có những hành động cố tình vi phạm hợp đồng, hoặc lừa đào
khách hàng... làm thiệt hại cho đối tác. Bản thân mục tiêu lợi nhuận khơng mang
tính đạo đức nhưng cách thức để đạt được lợi nhuận thì có và tranh chấp phát
sinh, trong trường hợp này thuộc về lý do chủ quan. Rõ ràng trong nền kinh tế
thị trường quan hệ kinh tế trở lên sống động, đa dạng và phức tạp. Mục đích
nhằm tối đa hố lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia
quan hệ kinh tế thương mại. Bên cạnh đó, hiểu biết về pháp luật thương mại
không sâu sắc, chi tiết nên cũng không thể tránh khỏi sai lầm của các doanh
nghiệp. Trong điều kiện đó, tranh chấp là một vấn đề tất yếu, khơng thể tránh
khỏi, địi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng của các cơ quan
có thẩm quyền đối với các bên. Điều này vừa là một yêu cầu nghiêm ngặt của
nguyên tắc pháp chế vừa là một đòi hỏi bức xúc của quan hệ kinh tế nói chung
và quan hệ thương mại nói riêng.Vì vậy pháp luật về thương mại nước ta cũng
đã được xây dựng và hoàn thiện qua việc ban hành các luật thương mại, luât
doanh nghiệp….
Ở góc độ khái quát chung, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh chính là
việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải toả các mâu thuẫn, bất
đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích mà các
bên có thể chấp nhận được. Về các hình thức giải quyết tranh chấp, Luật thương
mại đã quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa


giải các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn
làm trung gian hòa giải, hầu hết tất cả chúng ta cũng đã từng nghe qua các hình
thức giải quyết tranh chấp này và khá giống với các tranh chấp dân sự. Tuy
nhiên khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài
thương mại vẫn cịn khá lạ lẫm với nhiều người.Vì vậy “Phân tích và bình luận
quy định pháp luật Việt Nam về thi hành và hủy phán quyết trọng tài” là vấn
đề cần được nghiên cứu.



B.NỘI DUNG
I. Khái quát chung về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài
thương mại:
1. Tranh chấp thương mại:
Theo luật thương mại, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoản 1 Điều 3 Luật thương
mại). Vậy tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hoặc xung đột)
về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động
thương mại.
Về các hình thức giải quyết tranh chấp, Điều 317 Luật thương mại 2005 có
quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp bao gồm:
“1. Thương lượng giữa các bên.
2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các
bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được
tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.”
2. Khái niệm trọng tài thương mại:
Theo quy định của K1 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 thì “Trọng

tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và
được tiến hành theo quy định của Luật này”. Ở đây trọng tài thương mại được
hiểu là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn với sự tham gia của bên thứ
ba nhằm chấm dứt xung đột, mâu thuẫn phát sinh giữa các bên bằng việc đưa ra
phán quyết có tính chất bắt buộc đối với các bên.
Đặc điểm: Hình thức giải quyết này có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một tổ chức phi Chính phủ, hoạt động
theo pháp luật và quy chế về trọng tài thương mại. Nhà nước không can thiệp
sâu vào các hoạt động của cơ quan trọng tài, nhưng sẽ thực hiện vai trò quản lý


của mình thơng qua hệ thống các quy định pháp luật, cũng như những tác động
khác như tham gia điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất…
pháp luật của nhiều nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam đều ghi
nhận sự hỗ trợ của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài thương
mại. Tòa án hỗ trợ trọng tài về các nội dung như thông qua trình tự, thủ tục cơng
nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài thương mại, lựa chọn trọng tài
viên..
Thứ hai, trọng tài là sự kết hợp của hai yếu tố thỏa thuận và tài phán.
Trước tiên, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên
thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của pháp luật về trọng tài. Một trong
những nguyên tắc cơ bản của trọng tài đó là thẩm quyền được hình thành từ ý
chí thỏa thuận của các bên tranh chấp.
Thứ ba, đây là phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên
thứ ba (Hội đồng trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất) do các bên tranh chấp
thỏa thuận lựa chọn. Trọng tài là bên trung gian, độc lập với các bên và có quyền
ra phán quyết có tính chất ràng buộc các bên tranh chấp. Thứ tư, trọng tài
thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản đó là trọng tài vụ việc và trọng tài
quy chế. Thứ năm, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể
kháng cáo trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào. Trọng tài chỉ xét xử một lần, phán

quyết có giá trị chung thẩm, và nếu khơng bị hủy thì phán quyết sẽ được chuyển
sang Cơ quan thi hành án.
3. Các hình thức trọng tài:
Như trên đã đề cập thì trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ
bản đó là trọng tài vụ việc và trọng tài quy chế.
- Trọng tài quy chế ( trọng tài thường trực)
Ở Việt Nam, Khoản 6 Điều 3 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định:
“Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một trung tâm trọng
tài theo quy định của luật này và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.
Hiện nay, tại Việt Nam có 7 trung tâm trọng tài đang hoạt động có thể kể đến là


trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), Trung tâm trọng tài thương mại
thành phố Hồ Chí Minh…
Trung tâm trọng tài có các đặc điểm sau:
(1) là tổ chức phi chính phủ, khơng nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước:
Các trung tâm trọng tài không phải do nhà nước thành lập mà được thành lập
theo đề nghị của các sáng lập viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cho phép, khơng được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước,
trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực Nhà
nước mà nhân danh bên thứ ba độc lập ra phán quyết.
(2) có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập nhau: Trung tâm trọng tài có tư
cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định. Giữa các
trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc cấp trên, cấp dưới như hệ
thống tịa án. Bộ máy quản lý gồm có Ban điều hành và Ban thư ký. Ban điều
hành gồm có Chủ tịch, một hoặc các phó chủ tịch, có thể có tổng thư ký do
Trung tâm trọng tài cử.
(3) Có tổ chức và quản lí gọn nhẹ, đơn giản: Cơ cấu tổ chức của trung tâm
trọng tài gồm có ban điều hành và các trọng tài viên của trung tâm.
(4) Hoạt động xét xử được tiến hành bởi các trọng tài viên của trung tâm

trọng tài.
(5) Tự quyết định về lĩnh vực hoạt động phù hợp khuôn khổ pháp luật và có
quy tắc tố tụng riêng.
- Trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc): Trọng tài vụ việc “là hình thức giải
quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thỏa
thuận” (K7 Điều 3 Luật TTTM 2010). Như vậy trọng tài vụ việc chỉ được thành
lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh
chấp. Bản chất của trọng tài vụ việc được thể hiện qua cá đặc điểm sau:
(1) chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động
khi giải quyết xong các tranh chấp.
(2) khơng có trụ sở thường trực, khơng có bộ máy điều hành và khơng có
danh sách trọng tài viên riêng. Vì trọng tài vụ việc chỉ được thành lập để giải


quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên). Trọng tài viên được các
bên chỉ định hoặc chọn, có thể là người có tên hoặc khơng có tên trong danh
sách trọng tài viên của các tổ chức trọng tài bất kì nào.
(3) khơng có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. Các quy tắc tố tụng có
thể do các bên tự soạn thảo hoặc giao cho hội đồng trọng tài soạn thảo hoặc thỏa
thuận sử dụng bộ quy tắc của tổ chức trọng tài có uy tín.
Có thể thấy so với trọng tài thường trực thì trọng tài vụ việc đảm bảo tối đa
quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp như có quyền thỏa thuận quy tắc tố
tụng, lựa chọn trọng tài viên mà không bị giới hạn bởi danh sách có sẵn; Giải
quyết tranh chấp nhanh chóng hơn vì các bên có thể bỏ qua một số thủ tục tố
tụng không cần thiết; chi phí thấp hơn vì khơng phải trả các phí hành chính cho
trung tâm trọng tài. Tuy nhiên các bên có thể gặp khó khăn trong việc lựa chọn
trọng tài viên, quy tắc tố tụng do khơng có sẵn như trung tâm trọng tài, không
nhận được sự hỗ trợ trong quá trình tố tụng cũng như việc giải quyết tranh chấp
có thể bị kéo dài nếu một bên khơng thiện chí.
II. Quy định của pháp luật về thi hành và hủy phán quyết trọng tài

1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Theo quy định tại Điều 2 Luật TTTM 2010, trọng tài có thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp sau.
a) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
Có thể nói đây là loại tranh chấp phổ biến nhất thuộc thẩm quyền trọng
tài. Cụ thể các bên tranh chấp là các thương nhân khi ký kết các hợp đồng mua
bán hàng hóa, hợp đồng cung úng dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh
doanh…có thể vi phạm quyền, nghĩa vụ và phát sinh tranh chấp và nếu lựa chọn
trọng tài thì họ phải có thỏa thuận đưa ra trọng tài giải quyết. Chỉ cần được các
bên lựa chọn thông qua thỏa thuận trọng tài, thỏa thn đó khơng vơ hiệu và có
thể thực hiện được trên thực tế, trọng tài sẽ có thẩm quyền giải quyết.
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài chỉ phụ thuộc
vào loại tranh chấp (phát sinh trong hoạt động thương mại) và sự lựa chọn của
các bên tranh chấp (có thỏa thuận trọng tài); khơng phụ thuộc vào lãnh thổ (trụ


sở, nơi cư trú của bị đơn), không phụ thuộc cấp xét xử vì trọng tài khơng chia
thành các cấp xét xử, cũng không phụ thuộc vào sự lựa chọn của một bên. Đây
cũng là một ưu điểm của giải quyết tranh chấp thương mại trọng tài so với giải
quyết tranh chấp thương mại tại tòa.
b) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt
động thương mại.
Đây là điểm mới của Luật TTTM 2010 so với Pháp lệnh trọng tài thương
mại 2003 và Nghị định 25/2004/NĐ-CP ngày 15/1/2004 quy định chi tiết thi
hành một số điều của pháp lệnh trọng tài thương mại vì theo các văn bản trên
trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các bên là cá nhân kinh
doanh, tổ chức kinh doanh. Như vậy nhiều tranh chấp phát sinh từ hoạt động
thương mại nhưng chỉ có 1 bên là thương nhân hay tranh chấp phát sinh từ quan
hệ đầu tư góp vốn của các tổ chức,cá nhân khơng có đăng kí kinh doanh sẽ
khơng thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại, làm hạn chế thẩm quyền giải

quyết tranh chấp của trọng tài.
c) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng Trọng tài.
Trọng tài theo luật TTTM 2010 cịn có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
khác giữa các bên mà pháp luật có quy định được giải quyết bằng trọng tài.Đây
là điểm mới đáng ghi nhận của Luật TTTM 2010 so với các văn bản trước,
khiến trọng tài có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp hơn.
2. Việc thi hành phán quyết trọng tài
Vấn đề thi hành phán quyết của trọng tài thương mại được quy định tại
Chương X (từ Điều 65 đến Điều 67) Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (Luật
TTTM năm 2010); Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ
sung năm 2014(Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014) và Điều 67 Luật
TTTM năm 2010 thì Phán quyết trọng tài được thi hành theo quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự và trách nhiệm thi hành phán quyết, quyết định của
Trọng tài thương mại thuộc trách nhiệm của cơ quan THADS.


Khi các bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài về việc giải quyết, Trọng
tài sẽ thụ lý giải quyết theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Kết thúc quá
trình giải quyết tranh chấp, TTTM sẽ đưa ra quyết định giải quyết cuối cùng gọi
là phán quyết Phánquyết Trọng tài là văn bản có giá trị pháp lý chung thẩm, các
bên tranh chấp phải có nghĩa3vụ thi hành, không thể kháng cáo trước bất kỳ một
tổ chức, Tịa án nào và cũng khơng thểbị cơ quan nào kháng nghị, do đó, khơng
có lý do gì nó khơng được thi hành. Thi hành phán quyết trọng tài là hành vi tự
nguyện thực hiện phán quyết trọng tài của các bên tranhchấp hoặc hành vi của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc các bên tranh chấp phảithực hiện phán
quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc thi hành phán quyết
này thông thường sẽ diễn ra theo hai chiều hướng.
2.1. Trường hợp các bên tự nguyện thi hành

Trường hợp này khơng cần có sự can thiệp của bất kì cá nhân, cơ quan, tổ
chức nào. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp nhận thấy rằng phán quyết
đó là hợp lý, hợp tình, phù hợp với nguyện vọng của các bên do bản thân họ
muốn duy trì quan hệ làm ăn lâu dài hoặc đơn giản vì thấy việc phản đối phán
quyết trọng tài là phi thực tế. Hành động tự nguyên thi hành phán quyết trọng tài
không chỉ là mong muốn của các bên tranh chấp và các tổ chức trọng tài mà
cũng là chủ trương, mong muốn của Đảng và Nhà nước trong việc khuyến khích
các tổ chức, cá nhân tự giác chấp hành pháp luật, hạn chế tối dda phải áp dụng
quyền lực Nhà nước, phù hợp với quy định "Nhà nước khuyến khích các bên tự
nguyện thi hàh phán quyết trọng tài"1
2.2. Bên phải thi hành không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu
hủy phán quyết.
Nếu hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hành phán quyết không tự
nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thì Điều 66
luật TTTM quy định rõ bên được thi hành phán quyết trong TTTM có quyền làm
đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài nếu
hết thời “hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi hành
1 Điều 32 Luật trọng tài thương mại 2010.


không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phán quyết theo quy định
tại Điều 69”
2.2.1 Thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài
Khoản 1 Điều 8 Luật TTTM quy định: “Cơ quan THADS có thẩm quyền
thi hànhphán quyết trọng tài là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương nơi Hộiđồng trọng tài ra phán quyết”. Theo quy định đó thì cơ quan có
thẩm quyền ra phán quyếttrọng tài là cơ quan THADS tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nơi Hội đồng trọng tàira phán quyết. Điều 14 Luật THADS năm
2008 quy định cơ quan THADS cấp tỉnh cónhiệm vụ hết sức quan trọng, thể
hiện đặc thù của ngành THADS là “trực tiếp tổ chức thi4hành bản án, quyết định

theo quy định tại Điều 35” của Luật THADS. Cụ thể đó là cácbản án, “quyết
định của Trọng tài thương mại”.
2.2.2. Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài thương mại
Điều 66 Luật Trọng tài thương mại quy định rõ bên được thi hành phán
quyết trọngtài thương mại có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS có thẩm
quyền thi hành phánquyết trọng tài nếu “hết thời hạn tự nguyện thi hành phán
quyết trọng tài mà bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và
cũng không yêu cầu hủy phán quyết trọng tàitheo quy đinh tại Điều 69 của Luật
này”. Theo quy định đó thì có thể hiểu điều kiện để bênđược thi hành phán
quyết trọng tài yêu cầu cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành phán quyết
trọng tài là: bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng
khôngyêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật. Pháp luật
quy định rõ phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong các trường hợp
sau:- Khơng có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu:Thỏa thuận
trọng tài là “thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tàitranh chấp
có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (Khoản 2 Điều 3 Luật TTTM).
Như vậy, các bên có thể thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi tranh chấp
thương mại phát sinh. Nếu khơng có thỏa thuận trọng tài thì tranh chấp thương
mại đó khơng thể giải quyết bằng phương thức trọng tài, và đương nhiên phán
quyết trọng tài nếu có cũng sẽ bị hủy bỏ.Ngồi ra, có một số trường hợp vẫn có


thỏa thuận trọng tài nhưng thỏa thuận đó vẫn bị vô hiệu: (1) Thành phần Hội
đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thỏa thuận củacác
bên tranh chấp hoặc trái với quy định của Luật TTTM; (2) Vụ tranh chấp không
thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, trường hợp phán quyếttrọng tài có nội
dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thi nội dung đó bị hủy bỏ;
(3) Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài có căn cứ vào đó để ra
phán quyết làgiả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác
của một bên tranh cháplàm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán

quyết trọng tài; (4) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam (Điều 68 LuậtTTTM).Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận
được phán quyết trọng tài, nếu một bên cóđủ căn cứ chứng minh được rằng Hội
đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong những trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 68 của Luật TTTM thì có quyền làm đơn gửi Tịa án có thẩm
quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọngtài
phải kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hủy phán quyết trọng
tài là có 5 căn cứ và hợp pháp. Trường hợp gửi đơn quá hạn vì sự kiện bất khả
kháng thì thời gian có sự kiện bất khả kháng khơng được tính vào thời hạn yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài(Điều 69 Luật TTTM).
Như vậy, hết thời hạn tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài mà người
phải thi hànhphán quyết trọng tài không tự nguyện thi hành, đồng thời hết thời
hạn u cầu hủy phán quyết trọng tài mà khơng có bên nào làm đơn gửi Tịa án
có thẩm quyền hủy phán quyết thìbên được thi hành phán quyết trọng tài có
quyền làm đơn yêu cầu cơ quan THADS cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra phán
quyết thi hành phán quyết trọng tài theo quy định củapháp luật. Phán quyết của
trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Đây là
sự hỗ trợ vô cùng cần thiết và hiệu quả của Nhà nước, thể hiện rõ nét nhất sự hỗ
trợ của Nhà nước đối với hoạt động trọng tài.
Từ đó có thể thấy Luật TTTM 2010 đã khắc phục được nhiều thiếu sót của
Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003. Tuy nhiên vẫn còn một số quy định hanj
chế. Các quy định về thi hàh phán quyết của Tòa án cũng như TTTM còn nhiều


vướng mắc làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thi hành các phán quyết,
khiến cho số lượng vụ việc khơng thi hành được cịn tồn đọng.
3. Hủy phán quyết trọng tài
Việc yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài được quy định tại Chương XI Luật
TTTM năm 2010 (Từ Điều 68 đến Điều 72) và Điều 14 Nghị Quyết số
01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân

tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTTM năm 2010, trong đó
quy định cụ thể về căn cứ, trình tự thủ tục yêu cầu và xem xét hủy Phán quyết
trọng tài.
Như chúng ta đã biết, phán quyết trọng tài sau khi được tuyên sẽ có giá trị
chung thẩm, các bên phải tự nguyện thi hành mà khơng có kháng cáo, kháng
nghị. Tuy nhiên, do những lý do khách quan, chủ quan, phán quyết trọng tài có
thê có sai sót vì thế có thể bị tun hủy bởi Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã
tuyên phán quyết trọng tài.
Phán quyết trọng tài bị hủy khi thuộc một trong các trường hợp sau 2: (1)
Khơng có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu; (2) Thành phần
Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của
các bên hoặc trái với các quy định của Luật này; (3) Vụ tranh chấp không thuộc
thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có nội dung
khơng thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ; (4)
Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán
quyết là giả mạo; Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của
một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán
quyết trọng tài; (5) Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam
Các trường hợp này không liên quan đến nội dung phán quyết mà liên quan
đến thỏa thuận trọng tài và thủ tục tố tụng trọng tài.
Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo trình tự, thủ tục quy
định lại Điều 71 Luật TTTM 2010. Cụ thể Tịa án khơng xem xét lại nội dung
2 điều 68 Luật TTTM 2010


tranh chấp cũng như trình tự, thủ tục tố tụng mà chỉ xem phán quyết trọng tài đã
tuyên bố thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 68 Luật TTTM. Nếu
thuộc một trong các trường hợp đó, Tịa án ra quyết định hủy phán quyết trọng
tài, nếu không thuộc một trong các trường hợp đó Tịa án sẽ khơng hủy phán

quyết trọng tài. Quyết định không hủy phán quyết trọng tài khiến phán quyết
trọng tài có hiệu lực, bên phải thi hành có nghĩa vụ thi hành hoặc bị cơ quan thi
hành án cưỡng chế thi hành. Như vậy, việc tòa án hỗ trợ trọng tài trong việc hủy
hay khơng hủy phán quyết khơng biến Tịa án trở thành cơ quan cấp trên của
trọng tài.Tòa án và trọng tài vẫn là một hình thức giải quyêt tranh chấp độc lập,
cạnh tranh lẫn nhau để thu hút các nhà kinh doanh.
Luật TTTM 2010 quy định: bên không đồng ý với quyết định trọng tài có
quyền làm đơn gửi Tịa án yêu cầu hủy quyết định trọng tài. thủ tục hủy không
phải là thủ tục xét xử lại vụ kiện, không giống như thủ tục phúc thẩm trong
TTDS. Khi nhận được đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài đối với vụ trah chấp
đã được trọng tài giải quyết Tòa án có thẩm quyền khơng xét xử lại vụ tranh
chấp mà chỉ xem xét về mặt thủ tục tố tụng là chủ yếu. Quy định này góp phần
khắc phục những sai phạm ( nếu có) của Hội đồng trọng tài khi giải quyết tranh
chấp, làm cho vụ tranh chấp được giải quyết khách quan, công bằng, đúng pháp
luật.
II. Thực trạng và kiến nghị về thi hành và hủy phán quyết trọng tài
1. Thực trạng và một số hạn chế còn tồn tại
Theo báo cáo số 74/BC-BTP ngày 08/4/2016 của Bộ Tư pháp sơ kết 04
năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm 2010, số phán quyết trọng tài được
thi hành mới đạt 60% trong tổng số đơn yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành
phán quyết trọng tài. Số vụ việc phán quyết trọng tài được thi hành chưa cao do
cịn khó khăn trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành tại nhiều địa
phương đặc biệt khi các tổ chức cá nhân là người nước ngoài; một số phán quyết
trọng tài tuyên không cụ thể, rõ ràng cũng gây vướng mắc trong quá trình thi
hành án; hiện tượng bên phải thi hành lợi dụng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
tại tịa án để có thời gian tẩu tán tài sản vẫn khá phổ biến khiến cho số vụ thi


hành phán quyết trọng tài còn khiêm tốn3. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật
về việc thi hành phán quyết trọng tài vẫn cịn có nhiều điểm bất cập, có thể kể

đến một số bất cập như sau:
Một là, về chủ thể yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài: Theo quy định tại
Khoản 1 Điều 31 Luật THADS sửa đổi bổ sung năm 2014 thì quyền yêu cầu thi
hành án thuộc về “đương sự” bao gồm người được thi hành án và người phải thi
hành án. Trong khi đó Luật TTTM năm 2010 chỉ quy định bên được thi hành
phán quyết có quyền làm đơn yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài[4]. Do đó
trong trường hợp bên phải thi hành phán quyết muốn yêu cầu thi hành phán
quyết trọng tài khi bên được thi hành phán quyết chưa u cầu thì hiện nay pháp
luật vẫn chưa có quy định cụ thể.
Hai là, Thời gian qua, bên được thi hành PQTT gặp khó khăn trong việc
nộp tài liệu chứng minh bên phải thi hành án không yêu cầu hủy PQTT (quy
định tại Điều 69 của Luật trọng tài thương mại), cụ thể là xác nhận của tòa án có
thẩm quyền, vì một số tịa án chậm hoặc khơng xác nhận. Điều này dẫn đến việc
chậm hoặc không thể nộp đơn yêu cầu thi hành án. Thực tế hiện nay một số bản
án, quyết định của tòa án khi tuyên có sai sót, khó thi hành, chẳng hạn như thiếu
sót trong đánh giá tài liệu hồ sơ, thiếu thống nhất giữa phần nhận định và phần
quyết định… Điều này dẫn đến có một số bản án, quyết định khơng thi hành
được nên cơ quan thi hành án dân sự đã kiến nghị xem xét lại theo thủ tục giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm. Mặc dù PQTT chưa có việc tun khơng rõ khó thi
hành án, nhưng trọng tài viên nên lưu ý để tránh xảy ra trường hợp này; hoặc
nếu có thì cần phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để xử lý kịp thời nhằm
đảm bảo PQTT thi hành hiệu quả.4
Ba là, việc yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài: Pháp luật cịn chưa có quy
định rõ ràng buộc trách nhiệm trong trường hợp một bên yêu cầu hủy phán quyết
trọng tài nhưng không được Tịa án cơng nhận và việc kéo dài thời gian thi hành
phán quyết gây ra thiệt hại đối với bên được thi hành phán quyết. Điều này dẫn
3 Báo cáo số 74/BC-BTP ngày 08/4/2016 của Bộ Tư pháp sơ kết 04 năm thi hành Luật Trọng tài thương mại năm
2010.
4 Lê Thị Lệ Duyên Trưởng phòng nghiệp vụ Cục Thi hành án dân sự TP.HCM, Nâng cao hiệu quả thực thi phán
quyết trọng tài, Kênh thông tin điện tử trung tâm hòa giải Việt Nam



đến bên phải thi hành phán quyết trọng tài thường tìm mọi cách để đưa ra yêu
cầu phản đối để phán quyết bị bác bỏ, dẫn đến tốn kém thời gian và chi phí cho
bên được thi hành phán quyết. Do đó cần quy định chặt chẽ hơn nữa về việc yêu
cầu hủy phán quyết trọng tài và có những quy định ràng buộc trách nhiệm đối
với bên yêu cầu hủy phán quyết nhằm hạn chế tối đa việc lợi dụng quyền yêu
cầu hủy Phán quyết Trọng tài để kéo dài thời gian thi hành án.5
2. Kiến nghị
Thứ nhất, Để tạo điều kiện thuận lợi cho bên được thi hành PQTT, sau khi
nhận đơn từ yêu cầu của người được thi hành PQTT, Cục Thi hành án dân sự TP
chủ động gửi văn bản đề nghị tòa án, nơi hội đồng trọng tài ra phán quyết, có
thẩm quyền nhằm xác nhận PQTT có bị hủy hay khơng. Khi nhận được văn bản
về việc người phải thi hành PQTT không yêu cầu hủy PQTT hoặc nhận được
quyết định không hủy PQTT thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ thơng báo nhận
đơn yêu cầu và thụ lý thi hành án. Ngược lại, trường hợp tịa án thơng báo đã thụ
lý đơn yêu cầu hủy PQTT của người phải thi hành PQTT thì cơ quan thi hành án
dân sự sẽ trả lại đơn yêu cầu, hướng dẫn người được thi hành PQTT chờ kết quả
giải quyết của tòa án. Đối với phán quyết của trọng tài vụ việc, bên thi hành án
làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành PQTT sau
khi phán quyết được đăng ký theo quy định tại Điều 62 của Luật Trọng tài
thương mại.6
Thứ hai, Xây dựng quy chế phối hợp, tuyên truyền: Khi giải quyết vụ việc
tranh chấp, trọng tài viên nên hướng dẫn cho đương sự quyền yêu cầu áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời để PQTT đảm bảo thi hành án đạt kết quả. Trọng tài
viên phân tích và giải thích quy định pháp luật và tạo điều kiện để các bên lựa
chọn cách thức thỏa thuận, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
Khuyến khích các bên hợp tác tốt và cung cấp đầy đủ thông tin cho trọng tài.
Thêm nữa, rất cần xây dựng quy chế phối hợp giữa trọng tài thương mại với tịa
5 Ths.Hồng thị Thanh Hoa - Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, Hà Nội, Thi hành phán quyết của Trọng tài

thương mại - một số bất cập và kiến nghị hồn thiện, Trang thơng tin điện tử Cục thi hành án dân sự thành phố
Hà Nội.
6 Lê Thị Lệ Duyên Trưởng phòng nghiệp vụ Cục Thi hành án dân sự TP.HCM, Nâng cao hiệu quả thực thi phán
quyết trọng tài, Kênh thông tin điện tử trung tâm hòa giải Việt Nam


án trong việc đăng ký PQTT vụ việc, xác nhận PQTT không bị hủy hoặc người
phải thi hành PQTT không yêu cầu hủy, phối hợp trong việc thực hiện áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời… Quy chế phối hợp này nhằm tổng hợp những
vướng mắc, tìm nguyên nhân và đề ra giải pháp để PQTT đảm bảo thi hành đạt
kết quả cao, nâng cao chất lượng PQTT.
Thứ ba, Đối với quyền yêu cầu thi hành án và tham gia quá trình tổ chức
thi hành án, thì khi hết thời hạn thi hành phán quyết trọng tài mà bên phải thi
hành phán quyết không tự nguyện thi hành và cũng khơng u cầu huỷ phán
quyết trọng tài thì bên được thi hành PQTT có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài. Quá trình thi
hành án, bên được thi hành PQTT hợp tác giải quyết cũng như cung cấp thông
tin về người phải thi hành cũng như tài sản, điều kiện thi hành án của người phải
thi hành để chấp hành viên có cơ sở xác minh xử lý thi hành theo quy định. Trên
hết, yếu tố đẩy mạnh tuyên truyền về hoạt động, tính ưu điểm của PQTT cần
được thực hiện thường xuyên, liên tục để người dân, doanh nghiệp hiểu, chọn
trọng tài thương mại để giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền.


C.KẾT LUẬN
Tóm lại, Thi hành phán quyết và hủy phán quyết Trọng tài Thương mại đều
là những chế định quan trọng có ý nghĩa khơng chỉ trong việc đảm bảo quyền và
lợi ích của các chủ thể tham gia tranh chấp mà cịn có ý nghĩa quan trọng trong
việc tạo một mơi trường kinh doanh bình đẳng cho các chủ thể tham gia kinh
doanh, cải thiện môi trường đầu tư và góp phần phát triển nền kinh tế. Chính vì

vậy việc hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành phán quyết, quyết định
của Trọng tài Thương mại là vô cùng cần thiết.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật trọng tài thương mại 2010
2. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại, Nxb Chính trị quốc
gia
3. Lê Thị Lệ Duyên Trưởng phòng nghiệp vụ Cục Thi hành án dân sự
TP.HCM, Nâng cao hiệu quả thực thi phán quyết trọng tài, Kênh thơng tin điện
tử trung tâm hịa giải Việt Nam
4. Ths.Hoàng thị Thanh Hoa - Chi cục THADS huyện Phú Xuyên, Hà Nội,
Thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại - một số bất cập và kiến nghị
hoàn thiện, Trang thông tin điện tử Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.



×