BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM MINH ĐẠI
TƯ TƯỞNG NHÂN CỦA KHỔNG TỬ
TRONG TÁC PHẨM “LUẬN NGỮ” VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
PHẠM MINH ĐẠI
TƯ TƯỞNG NHÂN CỦA KHỔNG TỬ
TRONG TÁC PHẨM “LUẬN NGỮ” VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH
: CHÍNH TRỊ HỌC
MÃ SỐ
:34.11.008
CHUYÊN NGÀNH
:GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN VÂN HẠNH
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ TÁC PHẨM “LUẬN
NGỮ” ................................................................................................................ 5
1.1 Về cuộc đời, sự nghiệp của Khổng Tử.............................................................. 5
1.2. Về tác phẩm “Luận Ngữ” của Khổng tử.......................................................... 7
1.3. Vị trí của Nhân hệ thống quan điểm về chính trị - xã hội của Nho giáo....... 8
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN CỦA KHỔNG TỬ
TRONG TÁC PHẨM “LUẬN NGỮ” ......................................................... 16
2.1. Nhân là chính đạo.............................................................................................16
2.2. Nhân trong việc phân loại các hạng người ....................................................27
2.3. Nhân trị (Đường lối trị nước bằng đạo đức) ..................................................39
CHƯƠNG 3: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN CỦA
KHỔNG TỬ VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM ..................................................... 47
3.1. Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam........................................................47
3.2. Ảnh hưởng tích cực của chữ Nhân đối với xã hội Việt Nam.......................48
3.3. Ảnh hưởng tiêu cực của chữ Nhân đối với xã hội Việt Nam.......................53
3.4. Giá trị của đức Nhân trong thời đại ngày nay................................................57
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 64
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phương Đông trong cái nhìn của lồi người là một thế giới huyền bí,
thậm chí là cịn nhiều bí ẩn. Triết học và tơn giáo là một trong những lĩnh vực
được quan tâm khai thác, nghiên cứu hàng đầu. Và một trong những nhà hiền triết
có sức ảnh hưởng lớn ở khu vực lẫn trên thế giới có thể kể đến đó là Khổng Tử.
Ông là người sáng lập Nho giáo, đồng thời đưa ra nhiều thuyết và tư tưởng về
luân lý, đạo đức, chính trị và xã hội. Nho giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI TCN,
dưới thời Xuân Thu. Những sách được coi là kinh điển của Nho gia gồm Tứ thư
(Luận Ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh ( Thư, Thi, Lễ, Dịch,
Xuân Thu). Đứng đầu Tứ thư là sách “Luận Ngữ”, được phổ biến từ thời Tiên
Tần. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “Luận Ngữ” đáng được xem là Kinh, bởi nó
là tập hợp của nhiều phương diện quan trọng như: văn, sử, triết, nhân sinh, giáo
dục và các phương diện khác trong đời sống.
Đặc biệt, trong “Luận Ngữ”, chữ Nhân được xem là trọng tâm. Nhân
khơng chỉ là lịng thương người, mà cịn là đạo làm người. “Thân thể khỏe mạnh”
và “tư tưởng lành mạnh” là hai điều hạnh phúc lớn nhất trong cuộc sống. Sức
khỏe và tâm hồn xưa nay luôn được con người đề cao rèn luyện và trau dồi. Tuy
nhiên trên thực tế, có rất nhiều người lại sẵn sàng đánh đổi hai thứ ấy để có được
vật chất phù phiếm. Cuộc sống càng hiện đại, người ta càng chạy đua thực hiện
những thứ sẽ sản sinh ra vật chất và quyền lực. Những giá trị đẹp đẽ về tinh thần,
về nhân cách sống đang dần bị lãng quên và lợi dụng vào những mục đích trục lợi
cá nhân. Nhà cao tầng, máy móc và thế giới ảo giờ đây làm cho người ta hài lòng
hơn là con người thực thụ. Với một thời đại như hiện nay, tư tưởng Nhân trong
“Luận Ngữ” của Khổng Tử vô cùng giá trị trong việc xây dựng đời sống tinh thần,
cải tạo lại đạo đức xã hội một cách hiệu quả và có chọn lọc.
Vì những lý do trên tác giả chọn đề tài “Tư tưởng nhân của Khổng Tử
trong tác phẩm “Luận Ngữ” và ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Học thuyết của Khổng Tử được cho là có sức ảnh hưởng rộng rãi ở
phương Đông. Việt Nam là một quốc gia tiêu biểu như thế. Từ khi Nho giáo
xuất hiện ở nước ta, gần như nó trở thành con đường sáng nhất mà chế độ
phong kiến tìm thấy. Dù trải qua bao nhiêu thời kì, biến đổi và suy thối,
nhưng cho đến tận ngày nay, Nho giáo vẫn còn giữ được vị trí của nó trong
các vấn đề xã hội và chính trị, đạo đức. Vì thế, các nhà nghiên cứu vẫn khơng
ngừng tìm tịi, khai thác ở Nho giáo những phương diện cũ lẫn mới. Khi nhận
được đề tài, người viết đã cố gắng tìm đọc những tài liệu có liên quan. Tuy
chưa được phong phú và sát với đề tài một cách tuyệt đối, nhưng cũng làm
cho người viết có thêm cơ sở để củng cố bài viết của mình.
Tài liệu sau:
Trong quyển “Khổng Phu Tử và Luận Ngữ” (Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, in năm 2004) của tác giả Phạm Văn Khối, phần 1.2 ở chương II,
có nêu đến sự ảnh hưởng của Nhân đến gốc rễ đạo đức của người quân tử,
Nhân là cơ sở để phân biệt giữa tiểu nhân và quân tử.
Sau đó, trong phần 2.2, tác giả có đề cập đến Nhân trong mối quan hệ xã
hội của con người. Phạm Văn Khoái cho rằng: “Được coi là có Nhân xét
trong mối quan hệ với người khác, biết xem xét, trơng ngóng người khác, biết
liệu chừng mà hành động. Tự chiến thắng các tính bị coi là xấu như: hiếu
thắng, kiêu căng, oán giận, ham muốn,…có thể đó là những việc khó làm,
nhưng chưa có thể được xem là nhân.”
Khổng học đăng là một tác phẩm biên khảo của Sào Nam Phan Bội
Châu (Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2010). Trong quyển này, Phan
Bội Châu có nghiên cứu về chữ Nhân trong phần Khổng học đăng thượng
thiên – “Luận Ngữ” trích lục diễn giải. Các phần gồm:
- Chương V: Chữ Nhân trong Khổng học
- Chương VI: Các bộ phận và các chi tiết ở trong chữ Nhân
- Chương VII: Phản diện với phụ diện chữ Nhân ở trong Khổng học
3
- Chương VIII: Nhân với Trí, Dũng
- Chương IX: Cơng dụng của đức Nhân chứng nghiệm vào việc người
đời xưa
- Chương X: Kết luận chữ Nhân.
Nguyễn Hiến Lê cũng đã đề cập nhiều đến Nhân trong quyển Khổng Tử
(Nhà xuất bản Văn hóa Thơng tin phát hành năm 2006). Ơng nói đến Nhân
trong các chương V, VI, VII. Tuy khơng tập trung vào chữ Nhân, nhưng rải
đều ở các chương, Nhân luôn được đặt làm nền tảng.
Một bài viết khác, cũng có nguồn từ mạng truyền thơng là “Mạn bàn chữ
“Nhân” trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử” trên bantinsom.com. Bài viết
này đề cập đến Nhân trong “Luận Ngữ”. Tác giả nhận định: “Trong quan
niệm của Khổng Tử, "Nhân" không chỉ là "u người", "thương người", mà
cịn là đức hồn thiện của con người, và do vậy, "nhân chính" là đạo làm
người - sống với mình vả sống với người, đức nhân là cái bền vững như núi
sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắt nguồn từ đạo
trung hồ, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ" và đạo
đức, luân lý con người là "Nhân", người có đạo nhân là bậc qn tử, nước có
đạo nhân thì bền vững như núi sông.”
“Tư tưởng Nhân của Khổng Tử và Mạnh Tử” là tên một bài viết của
Tâm Bình trên trang tongiaovadantoc.com, được đăng vào ngày 29/06/2011.
Bài viết ngoài khái quát được triết học Nho gia, giới thiệu vài nét về Khổng
và Mạnh Tử, nó cịn so sánh, đưa ra những nét dị biệt và tương đồng trong tư
tưởng Nhân giữa hai thầy trò triết gia này. Tuy sưu tầm chưa được nhiều tài
liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài, nhưng những bài viết và tác phẩm kể
trên vô cùng quý giá để người viết tổng hợp, phân tích và kết luận vấn đề một
cách sâu sắc hơn. Với biển kiến thức mênh mông, người viết hy vọng sẽ thu
nhặt được nhiều kiến thức bổ ích và hồn thành tốt đề tài của mình.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của khóa luận
Mục đích của khóa luận là nghiên cứu tư tưởng Nhân trong tác phẩm
“Luận Ngữ” của Khổng Tử, sự ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam. Từ đó
đưa ra các giá trị và hạn chế cần vận dụng kế thừa và loại bỏ của thế hệ người
Việt đối với tư tưởng Nhân của Nho giáo
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát về Nho giáo tác phẩm “Luận Ngữ”
Thứ hai, tìm hiểu tư tưởng nhân của Khổng tử trong tác phẩm “Luận Ngữ”
Thứ ba, đánh giá được sự ảnh hưởng của tư tưởng Nhân đối với xã hội
Việt Nam
4. Đối tương và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm “Nhân” và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ tìm hiểu về chữ
Nhân trong tác phẩm “Luận Ngữ”
5. Phương pháo nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là các
phương pháp sau:
Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin ( phương pháp luận biện
chứng và phương pháp duy vật lịch sử)
Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp diễn dịch quy nạp, so
sánh, phương pháp đọc tài liệu
6. Kết cấu khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung
khóa luận gồm 3 chương, 8 tiết.
5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO
VÀ TÁC PHẨM “LUẬN NGỮ”
1.1 Về cuộc đời, sự nghiệp của Khổng Tử
Nhà minh triết phương Đông lỗi lạc Khổng Tử là người nước Lỗ, sinh tại
ấp Trâu vào năm 551 TCN, mất năm 479 TCN. Tương truyền, Vi tử - là thủy
tổ của ơng vì căm ghét thói hung bạo, hoang dâm của Trụ vương nên bỏ nước
ra đi nhằm bảo vệ gia tộc.
Thân phụ của Khổng Tử là Thúc Lương Ngột - một quan võ ở nước Lỗ,
có chút chiến cơng nhưng gia cảnh khơng khá giả. Ơng có ba người vợ, vợ cả
chỉ sinh toàn con gái, sau cưới thêm một vợ thứ, sinh được người con trai tên
Mạnh Bì. Nhưng Mạnh Bì tàn tật. Lúc 60 tuổi, ơng cưới thêm một thiếu nữ,
và người này sinh ra Khổng Tử, đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni.
Vài năm sau khi Khổng Tử ra đời thì thân phụ của ơng lâm chung. Từ đó
Khổng Tử sống bên mẹ. Khi cịn nhỏ, ơng đã thích chơi trị tế lễ và rất ham
học hỏi. Khổng Tử cưới vợ năm 19 tuổi, sinh một con trai tên là Lí, tự là Bá
Ngư. Người con gái sau của ông được gả cho Công Dã Tràng.
Khổng Tử từng làm chức lại cho quý tộc họ Quí, thời đó họ Q uy
quyền nhất ở Lỗ. Sau đó ông qua Tề, Tống, Vệ, nhưng đi tới đâu cũng bị xem
nhẹ và ganh ghét. Cuối cùng ông trở về Lỗ bắt đầu dạy học từ năm 22 tuổi, và
trở thành bậc đại sư năm 30 tuổi. Ông từng cùng mơn sinh Nam Cung Kính đi
qua nước Chu để học về lễ theo sự chấp thuận của vua Lỗ.
Sau khi từ Chu trở về, tên tuổi Khổng Tử ngày càng được biết đến rộng
rãi, thế là học trò ngày một đông. Vào năm 516, nước Lỗ loạn lạc, vua Chiêu
Công lánh sang Tề. Khổng Tử cũng theo qua Tề, được nghe nhạc Thiều và rất
tâm đắc, khen là “tận mĩ, tận thiện”. Thế nhưng, ở Tề, ông không được trọng
dụng và bị ganh ghét. Trong những năm ấy, có thể ông đã nghiên cứu các
Kinh, Thi, Thư.
6
Vào năm 502, Khổng Tử được Công Sơn Phất Nhiễu mời về giúp, nhưng
ơng khơng đi vì nghe lời trị Tử Lộ khuyên can. Không lâu sau, Định công
mời ông làm Trung Đô Tể, coi ấp Trung Đô, thuộc Kinh Đô của Lỗ. Trung
Đô được lập lại trật tự, kỉ luật, trở thành một trấn tiêu biểu chỉ trong vòng một
năm. Rồi năm sau, ông được lên chức Tư không, sau lãnh chức Đại Tư khấu.
Nhờ giúp vua Lỗ tránh được nạn khi tiếp vua Tề mà Khổng Tử được phong
làm Á tướng. Khi Q Hồn Tử nhận đồn nữ nhạc của Tề mà bỏ bê lễ Giao,
Khổng Tử và học trò cùng rời khỏi Lỗ.
Từ năm 496 đến 484 TCN, Khổng Tử cùng học trò đi sang các nước
như: Vệ, Khuông, Trần, Thái, Sở để truyền bá đạo học của mình nhưng đều
thất bại. Và rồi ơng trở về Lỗ, nhưng chỉ được dụng làm cố vấn. Khổng Tử
qua đời vào tháng 4 năm 16, đời vua Ai Công, hưởng thọ 71 tuổi.
Trong suốt cuộc đời mình, Khổng Tử đã cống hiến nhiều cho nước Lỗ về
chính trị - xã hội. Đồng thời, ông cũng biên soạn lại nhiều quyển sách cổ có
giá trị. Những sách kinh điển mà ông biên soạn được biết đến là Kinh Thi
(chép về thơ ca dân gian thời trước), Kinh Thư (chép các biến cố xảy ra trong
các đời vua trước), Kinh Lễ (chép các lễ nghi tế tự trong triều), Kinh Nhạc
(chép về các nhạc khí và nhạc lý xưa), Kinh Dịch (chép về hệ thống triết học
Đông phương cổ đại dựa trên thuyết Âm Dương, Bát quái – có thuyết cho
rằng Kinh Dịch có nguồn gốc Bách Việt) và Kinh Xuân Thu (là một bộ sử
biên niên nước Lỗ chép lại các sự kiện xảy ra từ 722 – 481 TCN).Trừ Kinh
Nhạc đã bị thất lạc,5 bộ kinh còn lại được lưu truyền đến nay gọi là Ngũ
Kinh,cùng với Tứ thư (Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử) coi như
là 9 bộ sách kinh điển gối đầu của Nho Gia. Khổng Tử cũng là người đầu tiên
lập được tổ chức một nhóm người có cùng chí hướng, có chính sách rõ ràng.
Phong trào đi du thuyết khắp nơi cũng là do ơng tiên phong. Tuy vậy, thời đó
các vua chư hầu cịn đặt nặng chính sách bá đạo và quyền lợi của các đại phu,
nên thuyết của ông đi đến đâu cũng không được trọng dụng.
7
Từ ngày cịn thơ, ơng đã thích lễ nghĩa, chăm chỉ học hành, cho nên tư
tưởng của ơng vì thế rất khn thước, chuẩn mực nhưng khá gị bó và quy củ.
Nho giáo cũng xuất phát từ những thuyết của ông mà ra, cho nên dễ dàng
nhận thấy tính chất nặng nề, khó mà ứng dụng được rộng rãi của nó cho đến
ngày nay.
Mặc dù có rất nhiều ý kiến phản biện đối với những học thuyết của
Khổng Tử, song chúng ta cũng khơng thể phủ nhận những đóng góp to lớn
của ông đối với nền triết học phương Đông và nhân loại.
1.2. Về tác phẩm “Luận Ngữ” của Khổng tử
“Luận Ngữ” là cuốn sách về những câu nói, những hoạt động của Khổng
Tử mà môn sinh của ông đã kì cơng chép lại. Luận là bàn bạc, xem xét, phân
tích. Ngữ là lời nói bằng miệng; nói, nói chuyện, bàn luận.
“Luận Ngữ” là một tập hợp những lời trao đổi của Đức Khổng Tử với các
học trò của Ngài. Trong đó, đa số ghi lại lời của Đức Khổng Tử, một số ít là lời
học trị của Đức Khổng Tử, và của người cầm quyền lúc bấy giờ. Bản “Luận
Ngữ” đầu tiên phổ biến năm nào, hiện nay chưa tìm được. Cịn bản xưa nhất
được khai quật năm 1973 là một bản tre có niên đại 55 TCN. Thời nhà Tây Hán,
trong khoảng thời gian từ 51-07 TCN, hai bản văn “Luận Ngữ”, một của nước
Lỗ, một của nước Kỷ - một nước nhỏ thời nhà Chu, được hợp nhất lại, chương
tiết thì theo của bản nước Lỗ, và là bản có hình thức gần như ngày nay.
Về việc tạo tác “Luận Ngữ” cũng có nhiều ý kiến khác nhau như:
- Theo giáo sư Jonh Makeham (Đại Học Úc) thì hình thức “Luận Ngữ”
sắp xếp theo hình thức hiện tại ít nhất cũng phải sau năm 150 TCN.
- Hai học giả E.Bruce và Taeko thì quan điểm chương 4 đến chương 11
là được ghi trước tiên, trong đó chương 9 đến chương 11 do thế hệ đệ tử thứ
hai ghi, còn các chương khác được ghi chép trong các thời điểm khác nhau.
- Trong khi đó, học trị của Tăng Tử thì tin rằng người có cơng nhiều
nhất trong việc tập hợp lời dạy của Đức Khổng Tử chính là Tăng Tử (505436 TCN).
8
Dù khơng phải do chính Đức Khổng Tử ghi lại, nhưng theo các nhà nghiên
cứu thì bên cạnh Tiểu Sử Đức Khổng Tử ghi trong Sử Ký Tư Mã Thiên thì
“Luận Ngữ” là một tài liệu phản ảnh được cuộc đời và tư tưởng của Đức Khổng
Tử một cách trung thực nhất. Và trong đề tài này, người viết thiên theo xu hướng
ghi chép lịch sử của Tư Mã Thiên để làm nền tảng nghiên cứu cho mình.
“Luận Ngữ” ra đời vào thời Xuân thu Chiến quốc. Thời ấy Trung Hoa
chia ra thành hơn một trăm nước chư hầu, loạn lạc, chém giết xảy ra ở khắp
nơi. Bấy giờ, dân Trung Hoa đã biết trồng trọt, nấu sắt, làm thủy lợi, vài
người đã trở nên giàu có nhờ bn bán.
Thời Xuân Thu, người dân đã cải thiện chữ viết, họ khắc lên thẻ tre
những việc cần ghi nhớ. Sau này họ biết cách nhúng cây nhọn vào sơn, rồi
viết lên thẻ tre hoặc lụa để tiết kiệm thời gian và cơng sức. Vì vậy, có thể
thấy, lúc “Luận Ngữ” ra đời thì việc ghi chép, lưu giữ đã có phần tiện lợi hơn
xưa. Tuy nhiên, tác phẩm này cũng vướng phải rất nhiều hạn chế. Do tác
phẩm đã xuất hiện khá lâu, truyền qua nhiều đời, nên có thể đã dị bản đi phần
nào, cộng với có nhiều chỗ từ ngữ khó hiểu, ghi nhầm. Ở từng chương, khơng
có sự thống nhất về chủ đề, do đó gây rắc rối cho người muốn nghiên cứu.
Thế nhưng, tác phẩm “Luận Ngữ” cho đến nay vẫn khẳng định được giá trị to
lớn của nó. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “Luận Ngữ” mới đáng là Kinh của
Khổng giáo. Nó là bộ sách tập hợp được những gì tinh túy nhất của học thuyết
Khổng Tử trên nhiều lĩnh vực như: chính trị, xã hội, đạo đức, triết học, lịch sử, văn
hóa,…Và vì thế, khi nghiên cứu về Nho giáo hay Khổng Tử, người ta vẫn dựa vào
“Luận Ngữ” là nhiều bởi tính chính xác và trung thực của nó.
1.3. Vị trí của Nhân hệ thống quan điểm về chính trị - xã hội của
Nho giáo
1.3.1. Khái niệm Nhân trong tác phẩm “Luận Ngữ” của Khổng Tử
“Nhân” trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử là một trong những khái niệm
nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho “Nhân” là nội
dung cơ bản của “Luận Ngữ” và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người
9
lại cho rằng “Lễ” mới là nội dung cơ bản của tác phẩm và có người cịn coi cả
“Nhân” và “Lễ” đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Quan niệm coi “Nhân”
là nội dung cơ bản của “Luận Ngữ”, là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử - đó là
quan niệm chính xác, đúng đắn. Người viết đồng ý với quan niệm này không
phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm “Nhân” được nhắc tới nhiều lần trong
tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc lúc
bấy giờ. Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà chiến tranh là phương thức phổ
biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời. Trong thời đại
của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh
giành quyền lợi; mặt khác, sử dụng chiến tranh để lơi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ
bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình.
Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để
cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suốt
cuộc đời mình, Khổng Tử ln quan tâm tới vấn đề này. Ơng nói: “Ta mười
lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục
lễ, cứ theo điều lễ mà làm); bốn mươi tuổi khơng nghi hoặc nữa (tức có trí
đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết
được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi
đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lòng muốn của mình mà khơng
vượt ra ngồi khn khổ đạo lý”[14;tr.39 – 40]. Với một con người suốt đời
“học không chán, dạy người không mỏi”, lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo
của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lịng
nhân rộng lớn biết bao.
Trong “Luận Ngữ”, khái niệm “Nhân” được Khổng Tử nhắc tới nhiều
lần và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà “Nhân” được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất “nhân” là một nguyên tắc đạo đức
trong triết học Khổng Tử. “Nhân” được ông coi là cái quy định bản tính con
người thơng qua “Lễ”, “Nghĩa”; quy định quan hệ giữa người và người từ
trong gia tộc đến ngồi xã hội. “Nhân” có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù
10
đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất
quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức
trong triết học Khổng Tử như những vịng trịn đồng tâm thì “Nhân” là tâm
điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. “Nhân”
cũng có thể hiểu là “trung thứ”, tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo
đối với mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trị Khổng Tử đã
nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ mà thông suốt cả. Về điều này, Tăng Tử - một
học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là “trung thứ”. “Trung” ở
đây là làm hết sức mình, cịn “thứ” là suy từ lịng mình ra mà biết lịng người,
mình khơng muốn điều gì thì người cũng khơng muốn điều đó. “Trung thứ” là
sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người.
Dù trong “Luận Ngữ” có nhiều sự giải thích khác nhau về “Nhân”, song
sự giải thích trong thiên “Nhan Uyên” là có tính chất bao qt hơn cả. Có thể
nói, ở đây “Nhân” trong quan niệm của Khổng Tử là “yêu người” . Nếu nhìn
tồn bộ tư tưởng của ơng, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều
“Nhân”. “Nhân” là “yêu người”, nhưng người nhân cũng còn phải biết “ghét
người”. Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết “yêu người” và
“ghét người”. Khổng Tử nói: “Duy có bậc nhân mới thương người và ghét
người một cách chính đáng mà thơi”.
Có người cho rằng, “Nhân” (người) trong “ái nhân” (yêu người) là chỉ
con người trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ
là yêu người trong giai cấp phong kiến. Thực ra, khái niệm “Nhân” (người)
mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với “cầm thú”. Do đó, đi liền với “Nhân”
(người) là các khái niệm “thiện nhân”, “đại nhân”, “thành nhân”, “nhân
nhân”, “thánh nhân”, “tiểu nhân”, v.v.. Các khái niệm này nhằm chỉ những
con người có tính cách khác nhau, trình độ đạo đức khác nhau. “Thánh nhân”
là người có đạo đức cao siêu, “tiểu nhân” là người có tính cách thấp hèn,...
“Nhân” ở đây là chỉ con người nói chung và “ái nhân” là yêu người, yêu bất
cứ người nào, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội của họ.
11
Trong “Luận Ngữ”, có chỗ Khổng Tử khơng dùng khái niệm “Nhân”
(yêu người), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao
cả. Qua những trường hợp sau có thể thấy rõ. Có lần một học trò của Khổng
Tử là Tử Du hỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: “Điều hiếu ngày nay chỉ có
nghĩa là có thể ni cha mẹ. Nhưng đến lồi chó ngựa cũng đều được ni,
nếu khơng có lịng kính thì làm thế nào phân biệt được”[16;tr.56]. “Hiếu” ở
đây vừa có ý nghĩa là ni nấng, chăm sóc cha mẹ, vừa phải có lịng kính u
cha mẹ, u thương rất mực đối với cha mẹ. Lại một lần khác, Khổng Tử
xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câu đầu tiên ơng hỏi
là: có ai bị thương khơng và khơng nói gì tới ngựa cả. Điều đó cho thấy, ông
quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là sự
sống còn của ngựa (tức là của cải). Tư tưởng “Nhân” là “yêu người” của ông
thực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc.
Coi “Nhân” là “yêu người”, trong “Luận Ngữ”, Khổng Tử đã dành
khơng ít lời để nói về đạo làm người. Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về
“Nhân”, Khổng Tử đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân. Ngày nào cũng khắc kỷ
phục lễ, ngày đó mọi người trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức
nhân. Vậy nhân là do mình, chớ há do người sao?” [15;tr.56]. Trọng Cung một học trò khác của Khổng Tử hỏi về “Nhân”, Khổng Tử cho rằng, những
cái gì mà mình khơng muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức
hạnh của người nhân. Cịn khi Phàn Trì hỏi về “Nhân”, Khổng Tử giảng giải
rằng, “khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung; khi làm việc thì thi hành
một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người thì giữ dạ trung thành. Dẫu có đi
đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức
nhân” [15;tr.89]. Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là người
phải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ. Năm điều đức
hạnh đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Ơng nói: “Nếu mình nghiêm trang
cung kính thì chẳng ai dám khinh mình. Nếu mình có lịng rộng lượng thì thu
phục được lịng người. Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình.
Nếu mình cần mẫn, siêng năng thì làm được cơng việc hữu ích. Nếu mình thi
12
ân, bố đức, gia huệ thì mình sai khiến được người”[15;tr.120]. Khơng chỉ thế,
người nhân, theo Khổng Tử, cịn là người mà “trước hết phải làm điều khéo,
rồi sau mới đến thu hoạch kết quả”[15;tr.150]. Với Khổng Tử, chỉ có người
nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lịng nhân của mình và
dẫu có ở vào hồn cảnh nào, cũng có thể n ổn, thanh thản. Do vậy, theo
ông, người nhân bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong
một bữa ăn. Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội
vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân.
Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, “Nhân” không chỉ
là “yêu người”, “thương người”, mà cịn là đức hồn thiện của con người, và
do vậy, “nhân chính” là đạo làm người - sống với mình và sống với người,
đức nhân là cái bền vững như núi sông. Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất
là sinh thành, bắt nguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý
con người là “trung thứ” và đạo đức, luân lý con người là “Nhân”, người có
đạo nhân là bậc quân tử, nước có đạo nhân thì bền vững như núi sơng. Tuy
nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán
chữ “Nhân” (yêu người) của Khổng Tử. Có người cho đó là giả dối, có người
cho đó là nói sng, có người lại cho đó là nguồn gốc của bất nhân, bất
nghĩa...Thế nhưng khơng phải vì thế mà tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử
khơng đi vào lịng của nhiều người đương thời, gây cho họ biết bao sự xúc
động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ. Thực tế cho chúng ta
thấy, “từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độc tôn,
Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu khơng đúng. Nó thực tế
hơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia”[15;tr.19]. Cũng
cần phải nói thêm rằng, trong “Luận Ngữ”, tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử
còn bao gồm nhiều đức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối).
1.3.2. So sánh quan điểm Nhân của Nho giáo với Kiêm ái của Mặc Tử
Để hiểu rõ hơn về tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử cần so sánh nó với tư
tưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Nếu tư tưởng Kiêm
ái của Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân
13
của mình, khơng phân biệt riêng tư thì “Nhân” phân biệt mình và người, lấy
mình làm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt
người tốt, kẻ xấu. Người Nhân trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo
đức, chú ý phần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú
trọng đến sự cứu giúp vật chất, chú ý đến”giao tương lợi”. Tư tưởng “Nhân”
của Khổng Tử cũng khác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật. Phật thương người
và thương cả vạn vật. Lịng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn
cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thốt mọi sinh linh ra khỏi vịng
sinh, lão , bệnh, tử. Cịn đạo Khổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một
cuộc sống vui vẻ hơn, có nghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần
chứ không phải ở trên cõi niết bàn. Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi,
cứu khổ, cứu nạn của Phật giáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh
thần của con người Đông Á thì nó cũng khơng thể thay thế được vai trị của
đạo Khổng. Có thể nói “Nhân” của Khổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa
tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ở phía đơng của châu Á này.
Có thể nói, chế độ phong kiến Đơng Á kéo dài được mấy nghìn năm một
phần là nhờ tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử. Nhờ có đường lối “nhân nghĩa”
của Khổng - Mạnh mà xã hội đó được ổn định, con người với con người có
quan hệ hịa hợp, cịn xã hội trở thành một khối bền vững. Sự trì trệ của xã hội
phong kiến đó ở giai đoạn sau là do nguyên nhân khác, chứ không phải do
nguyên nhân ở tư tưởng “Nhân” của Khổng Tử.
Có thể nói, phạm trù “Nhân” của Khổng Tử đã ra đời trong thời đại
phong kiến, mang sắc thái của xã hội phong kiến, có những điều khơng cịn
phù hợp với ngày nay, nhưng việc tìm hiểu và rút ra được “hạt nhân hợp lý”
của nó vẫn là việc chúng ta nên làm, cần làm.
1.3.3. Nhân giữ vị trí trung tâm trong hệ thống quan điểm chính trị xã
hội của Nho Giáo
Phạm trù Nhân giữ vị trí trung tâm trong triết thuyết Nho giáo. Bản thân
phạm trù này vốn đã mang tính đa diện, phong phú. Tùy vào những điều kiện,
14
hoàn cảnh khác nhau mà Nhân được bộc lộ dưới những nội dung và tầng bậc
ý nghĩa khác nhau.
“Nhân” trong “Luận ngữ” của Khổng Tử là một trong những khái niệm
nhận được nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Có người cho “Nhân” là nội
dung cơ bản của “Luận ngữ” và là tư tưởng chủ đạo của Khổng Tử. Có người
lại cho rằng “Lễ” mới là nội dung cơ bản của tác phẩm và có người cịn coi cả
“Nhân” và “Lễ” đều là nội dung cơ bản của tác phẩm. Theo người viết, quan
niệm coi “Nhân” là nội dung cơ bản của “Luận ngữ", là tư tưởng chủ đạo của
Khổng Tử - đó là quan niệm chính xác, đúng đắn. Đồng ý với quan niệm này
không phải là đồng ý với nghĩa là khái niệm “Nhân” được nhắc tới nhiều lần
trong tác phẩm, mà chính là vì xuất phát từ hiện thực lịch sử của Trung Quốc
lúc bấy giờ. Trung Quốc khi đó là thời kỳ mà Chiến tranh là phương thức phổ
biến để giải quyết mâu thuẫn và quyền lợi, địa vị đương thời. Trong thời đại
của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiến tranh để tranh
giành quyền lợi; mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ, sai khiến họ
bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ cho mình.
Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn dùng đạo của mình để
cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Suốt
cuộc đời mình, Khổng Tử ln quan tâm tới vấn đề này. Ơng nói: “Ta mười
lăm tuổi để chí vào việc học (đạo); ba mươi tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục
lễ, cứ theo điều lễ mà làm); bốn mươi tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí
đức nên hiểu rõ ba đức nhân, nghĩa, lễ); năm mươi tuổi biết mệnh trời (biết
được việc nào sức người làm được, việc nào không làm được); sáu mươi tuổi
đã biết theo mệnh trời; bảy mươi tuổi theo lịng muốn của mình mà khơng
vượt ra ngồi khn khổ đạo lý”[14;tr.39-40]. Với một con người suốt đời
“học không chán, dạy người không mỏi”, lúc nào cũng chỉ muốn đem cái đạo
của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người có lịng
nhân rộng lớn biết bao.
15
Trong Luận ngữ, khái niệm “Nhân” được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần
và tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà “Nhân” được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Theo nghĩa sâu rộng nhất “nhân” là một nguyên tắc đạo đức trong
triết học Khổng Tử. “Nhân” được ông coi là cái quy định bản tính con người
thơng qua “Lễ”, “Nghĩa”; quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia
tộc đến ngồi xã hội. “Nhân” có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức
khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán,
chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong
triết học Khổng Tử như những vịng trịn đồng tâm thì “Nhân” là tâm điểm,
bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người. “Nhân” cũng có
thể hiểu là “trung thứ”, tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với
mình nữa. Trong một cuộc nói chuyện với các học trị Khổng Tử đã nói: Đạo
của ta chỉ có một lẽ mà thơng suốt cả. Về điều này, Tăng Tử - một học trò của
Khổng Tử cho rằng, Đạo của Khổng Tử là “trung thứ”. “Trung” ở đây là làm
hết sức mình, cịn “thứ” là suy từ lịng mình ra mà biết lịng người, mình
khơng muốn điều gì thì người cũng khơng muốn điều đó. “Trung thứ” là sống
đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người.
Tiểu kết chương 1
Nho giáo là một trong những học thuyết có sức sống mãnh liệt và lâu dài
trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Nó đã vượt qua nhiều thử thách của không
gian và thời gian để trường tồn cho đến tận ngày nay. Những tư tưởng của Nho
giáo đã được cả thế giới biết đến và quan tâm nghiên cứu. Hệ tư tưởng Nho
giáo là hệ tư tưởng thống trị xã hội phong kiến Trung Quốc trong hầu hết các
giai đoạn phát triển của quốc gia phong kiến này. Khổng Tử tự cho mình là
người thuật lại đạo thánh hiền mà không sáng tạo, song trong suốt cuộc đời
mình, trải qua hoạt động lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Và tư tưởng
Nhân với vị trí trung tâm trong hệ thống quan điểm chính trị xã hội của Nho
Giáo có nội dung như thế nào thì người viết sẽ đi nghiên cứu sâu hơn ở
Chương II Nội dung tư tưởng nhân của khổng tử Trong tác phẩm “luận ngữ”.
16
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG NHÂN CỦA KHỔNG TỬ
TRONG TÁC PHẨM “LUẬN NGỮ”
2.1. Nhân là chính đạo
2.1.1. Nhân là gốc của đạo làm người
Tư tưởng Nhân trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử là phạm trù được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả. Nó được cho là trung tâm của học thuyết
Khổng Tử trong “Luận Ngữ”. Trước kia có nhiều thuyết cho rằng, Nhân trong
“Luận Ngữ” chỉ nói về lòng nhân ái. Nhưng về sau, người ta cho rằng Nhân là
chỉ chung cho đạo làm người. Riêng người viết cho thấy rằng thuyết sau đúng
hơn, bởi trong “Luận Ngữ”, nhiều câu của Khổng Tử cho thấy Nhân là gốc rễ,
là nguồn của nhiều đức tính khác. Tuy nhiên, thuyết về Nhân là nhân ái cũng
không hẳn sai. Nếu hiểu cho sâu hơn, nhân ái còn gọi là thương người, đã
thương người, thì bản thân phải ráng tu tập sao cho đạo đức hồn chỉnh để
giúp người và khơng phương hại đến người nào. Thế mới là nhân ái. Như vậy,
nhân ái cũng gần như đạo làm người rồi.
Ở chương Vệ Linh Công của sách “Luận Ngữ”, bài thứ 23 có bàn:
“Tử Cống vấn viết: “Hữu nhất ngơn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả
hồ?” Tử viết: “Kì thứ hồ! Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân.”
Dịch - Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào suốt đời làm theo được khơng?”
Khổng Tử đáp: “Có lẽ là “thứ” chăng? Cái gì mình khơng muốn thì đừng làm
cho người khác.” [14;tr.262]
Câu nói này của Khổng Tử thể hiện quan điểm xun suốt của ơng về
tiêu chí làm người, gọi là trung thứ. Chuyện gì mình khơng muốn thì chớ nên
làm cho người khác, đó là điều nên đeo đuổi cả đời. Vì những điều ta tránh, ắt
hẳn là điều bất lợi hay không tốt, mà ta cũng tránh làm điều đó cho người, ấy
là thể hiện tinh thần Nhân ái, tôn trọng và đạo đức cơ bản với người và với
chính mình. Có làm được cái gọi là trung thứ, cộng đồng con người mới hịa
hợp, khơng có điều ghen ghét, chiến tranh hay bạo loạn xảy ra. Nếu ai cũng
được như lời Khổng Tử dạy, quả thật thiên hạ sẽ thái bình.
17
Ở chương Nhan Uyên và chương Công Dã Tràng cũng có nhắc đến đức
ấy, lần lượt ở bài 2 và 11:
“Trọng Cung vấn nhân. Tử viết: “Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như
thừa đại tế. Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tại bang vơ ốn, tại gia vơ ốn.”
Trọng Cung viết: “Ung tuy bất mẫn thỉnh sự tư ngữ hĩ.”
Dịch - Trọng Cung hỏi về đức nhân. Khổng Tử đáp: “Ra khỏi cửa thì
(phải nghiêm trang) như gặp khách q; sai khiến dân thì phải thận trọng như
trong một cuộc tế lớn, cái gì mình khơng muốn thì đừng làm cho người.
Trong nước khơng ai ốn mình, trong “nhà” một đại phu khơng ai ốn mình.”
Trong Cung thưa: “Ung con tuy không minh mẫn nhưng cũng xin theo lời
thầy dạy.” [14;tr.196]
Và “Tử Cống viết: “Ngã bất dục nhân chi gia chư ngã dã, ngô diệt dục
vô gia chư nhân”. Tử viết: “Tứ dã, phi nhĩ sở cập dã.”
Dịch - Tử Cống nói: “Điều gì (xấu) tơi khơng muốn người ta làm cho tơi
thì tơi cũng khơng muốn làm cho người.”
Khổng Tử bảo: “Tứ, anh không được như vậy đâu.” [14;tr.92]
Hai bài này khơng chỉ có bàn đến đức trung thứ, mà còn chỉ ra được cái
bao quát, rộng lớn của đức Nhân trong “Luận Ngữ”. Với Khổng Tử hay các
mơn sinh của ơng, Nhân chính là nguồn gốc của mọi đức tính tốt đẹp khác.
Khổng Tử cho rằng người Nhân không những phải biết lễ, biết trị dân mà cịn
phải biết trung thứ, là người khơng gây điều ốn trách cho bất kì ai.
Bài 27 trong chương Tử Lộ có viết:
“Tử viết: “Cương nghị, mộc mạc, cận nhân.”
Dịch - Khổng Tử nói: “Cương nghị, quả cảm, chất phát, ăn nói chậm
chạp thì gần với đức nhân.” [14;tr.226]
Hay trong bài “Hiến vấn sĩ. Tử viết: “Bang hữu đạo, cốc; bang vô đạo,
cốc, sỉ dã” – Khắc, phạt, oán, dục bất thành yên, khả dĩ vĩ nhân hĩ?” Tử viết:
“Khả dĩ vi nan hĩ, nhân tắc ngộ bất tri dã.”
18
Dịch - Hiến hỏi thế nào là điều xấu hổ. Khổng Tử đáp: “Nước có đạo
(chính trị tốt) thì có thể làm quan được; nước vơ đạo (chính trị xấu) mà làm
quan thì xấu hổ. (Hiến lại hỏi) “Hiếu thắng, khoe khoang, ốn hận, tham dục,
những việc đó khơng làm thì có thể gọi là nhân được chứ?” Khổng Tử đáp:
“Như vậy là làm được những việc khó, cịn nhân hay khơng thì ta chưa biết.”
[14;tr.229]
Nhân là đạo lớn, thành ra muốn thực hành được nó khơng phải là dễ.
Trong hai bài vừa dẫn trên, Khổng Tử có bàn đến những điều gần được Nhân
và những việc khó. Người nào có được lịng cương nghị, quả cảm, giữ được lễ
trong giao tiếp hàng ngày thì gần với Nhân. Từ bỏ được những toan tính, nhục
cảm trong con người thì đó là những việc khó chứ chưa là Nhân được. Vậy ra,
điều Nhân là một “bàn tay lớn”, nó giữ trọn và linh hoạt nắm hay bng các
đức tính khác nhằm hoàn thiện nhân cách con người.
Trong sách “Luận Ngữ”, ở chương III, bài số 3 có ghi:
“Tử viết: “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân, như nhạc hà?”
Dịch - Khổng Tử nói: “Người khơng có đức nhân thì lễ mà làm gì?
Người khơng có đức nhân thì nhạc mà làm gì?” [14;tr.56]
Khổng Tử cho rằng, người nào khơng có đức Nhân thì cho dù có biết lễ
nghĩa, biết nhạc thì cũng bằng khơng. Điều này quả thật đúng. Làm người,
trước tiên phải có lịng Nhân, rồi mới có thể rèn các tính khác. Giả sử, người
biết lễ, am tường về nhạc mà không trọn đạo Hiếu, khơng giữ được chữ Trung
thì sao mà thành người được? Cái nhìn rộng mở của đức Khổng Tử về chữ
Nhân cho thấy sự uyên bác và tính nhân văn sâu sắc của ông trong việc đặt
nền tảng đạo đức cho xã hội, mà cho đến ngày nay, những giá trị tốt đẹp của
nó vẫn cịn được tơn vinh, gìn giữ và thực thi.
Nhân trong “Luận Ngữ” là vấn đề trung tâm, là nền tảng của Nho giáo
xưa nay. Tư tưởng này của Khổng giáo phổ biến nhằm xây dựng một xã hội
mà ở đó đạo đức con người được đặt lên hàng đầu. Chữ Nhân trong tiếng Hán
tuy có hình thức đơn giản, nhưng ý nghĩa và nội dung của nó chính là cả một
19
q trình tu dưỡng, phát triển và hồn thiện cả về nhân cách bên trong lẫn ứng
xử bên ngoài của một con người. Đó cũng chính là nét đẹp, là tinh hoa trong
học thuyết Nho gia.
2.1.2. Nhân lấy Hiếu, Trung làm gốc
Trong “Luận Ngữ”, Nhân được nhắc đến rất nhiều lần, cho thấy nó quan
trọng đến nhường nào. Vậy những yếu tố nào được Khổng Tử và môn sinh
lấy làm nền tảng cho Nhân? Đó là Hiếu và Trung.
Ngay từ chương đầu tiên - Học Nhi, chữ Hiếu đã được dẫn trong bài số
hai theo lời của Hữu Nhược:
“Hữu tử viết: “Kì vi nhân dã hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ.
Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu giã. Quân tử vụ bản,
bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ đã giả, kì vi nhân chi bản dư?”
Dịch - Hữu tử nói: “Làm người, có nết hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề
trên. Khơng thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có.
Người qn tử chăm chú vào việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu,
đễ là cái gốc của đức nhân đấy chăng?” [14;tr.26]
Trong bài trên, ta có thể thấy rõ được tâm ý của học trò Hữu Nhược khi
nhắc đến chữ Hiếu trong cốt cách của một con người. Người có Hiếu có vẻ
giống như một ngôi nhà đã xây nền vững chắc, rồi từ nền đó mà dựng nhà cao
lên thì khó mà khơng có nhà tốt được. Cũng như con người, đã biết Hiếu hẳn
sẽ biết tôn ti, trật tự, biết giữ gìn và thực hành các quy tắc đạo đức chuẩn mực
nhất định mà một con người đúng nghĩa cần phải có. Nhân lấy Hiếu làm gốc
chính là như thế.
“Mạnh Ý tử vấn hiếu. Tử viết: “vơ vi”.
Phàn Trì ngự, tử cáo chi viết: “Mạnh tôn vấn hiếu ư ngã, ngã đối viết:
“vơ vi”.
Phàn Trì viết: “Hà vị dã?” Tử viết: “Sinh, sự chi dĩ lễ; tử, táng chi dĩ lễ,
tế chi dĩ lễ”.
20
Dịch - Mạnh Ý tử hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Khơng trái”. (Một
hơm) Phàn Trì đánh xe (cho Khổng tử). Khổng tử bảo: “Mạnh Tôn hỏi ta về
đạo hiếu, ta đáp: “khơng trái”. Phàn Trì hỏi: “Thầy đáp như vậy nghĩa là gì?”
Khổng tử đáp: “Cha mẹ sống thì phụng sự cho hợp lễ, mất rồi thì tống táng
cho hợp lễ, cúng tế cho hợp lễ.”[14;tr.40]
Ở đây nói về mối liên hệ giữa Hiếu và Lễ. Hiếu đi đôi với Lễ, hai bên tác
động lẫn nhau như vậy, có thể thấy sức ảnh hưởng rộng của chữ Hiếu là như
thế nào. Không trái đạo Hiếu tức là phải thi hành Lễ, Lễ với cha mẹ khi còn
sống cho đến khi qua đời. Giữ trọn được đạo Hiếu là điều nên và phải làm
nhưng không dễ, không phải ai cũng làm được. Lễ cũng là một yếu tố quan
trọng trong chữ Nhân, thế nên Hiếu gắn với Lễ lại cịn tơn thêm nét đẹp vốn
có của đức Nhân.
Cũng trong chương II – Vi Chính, “Luận Ngữ” có nhắc đến quan niệm
về Hiếu song song với kính và hịa lần lượt ở hai bài số 7 và 8.
“Tử Du vấn hiếu. Tử viết: “Kim chi hiếu giả, thị vị năng dưỡng. Chí ư
khuyển mã giai năng hữu dưỡng, bất kính hà dĩ biệt hồ?”.
Dịch - Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Ngày nay người ta hiếu là
có thể ni cha mẹ, nhưng đến chó, ngựa kia, người ta cũng ni, nếu khơng
kính cha mẹ thì có khác gì?” [14;tr.42]
Và: “Tử Hạ vấn hiếu. Tử viết: “Sắc nan. Hữu sự, đệ tử phục kì lao, hữu
tửu thực, tiên sinh soạn, tằng thị dĩ vi hiếu hồ?”
Dịch - Tử Hạ hỏi về đạo hiếu. Khổng tử đáp: “Khó ở chỗ giữ được nét
mặt vui vẻ. Khi cha có việc, con phải khó nhọc (để giúp cha), hoặc khi có
cơm rượu, mời cha ăn uống, như vậy là hiếu chăng?” [14;tr.43]
Đã muốn trọn đạo Hiếu, con cái phải biết kính trọng cha mẹ, ơn hịa, tạo
niềm vui an lạc cho cha mẹ. Có làm được điều Hiếu cho thành, mới mong là đạt
tới những đức cao đẹp khác. Bởi nếu ngay cả đối với cha mẹ mà mình cịn khơng
trọn đạo, thì cịn sống dung hịa được với ai? Làm sao thành Nhân được cho cam?
21
Khổng Tử từ nhỏ đã sống với mẹ, thấu hiểu được nổi cơ cực của đấng sinh thành,
nên ông đề cao chữ Hiếu trong Nhân âu cũng là hiển nhiên.
Ngoài ra, chữ Hiếu còn gắn với trực. Trong chương Tử Lộ, bài 18 có chép:
“Diệp cơng ngứ Khổng Tử viết: “Ngơ đảng hữu Trực Cung giả, kì phụ
nhương dương nhi tử chứng nhi.” Khổng Tử viết: “Ngô đảng chi trực giả dị ư
thị. Phụ vị tử ẩn, tử vị phụ ẩn, trực tại kì trung hĩ.
Dịch - Quan lệnh Dỗn huyện Diệp nói với Khổng Tử: “Làng tơi có một
người ngay thẳng tên là Trực Cung, cha bắt trộm cừu, con đi tố cáo. Khổng
Tử nói: “Người ngay thẳng làng tôi khác vậy. Cha dấu tội cho con, con dấu
tội cho cha, sự ngay thẳng ở trong đó.” [14;tr.220-221]
Khổng Tử cho rằng, người con có hiếu phải biết trung hịa giữa hiếu và
trực đúng lúc và đúng việc. Phận con khơng được đi tố cáo cha mình, như thế
là bất hiếu. Qua bài này cho thấy, tư tưởng về Hiếu của Khổng Tử là phải
nhất nhất tận tâm, tận lực phụng dưỡng cha mẹ, không được trái ý, không
được làm bất cứ điều chi mà tổn hại đến cha mẹ của mình. Đây cũng là biểu
hiện của Trung ở trong Hiếu. Điều này có phần hơi cứng nhắc quá! Thân phụ
của ta khơng phải lúc nào cũng đúng, có khi sự phục tùng thái quá như vậy sẽ
làm phương hại đến cha mẹ chứ khơng được lợi gì. Mà xét lại, nếu vì chữ
Hiếu mà để cha mẹ làm điều xấu với người khác, phạm đến quyền lợi của
người khác, hay là khơng giữ được Nhân của chính mình, vậy là khơng trịn
đức trung thứ rồi. Sao có thể thành Nhân được? Điều này người viết sẽ bàn
thêm ở chương kế tiếp.
Như đã nêu ở trên, ngồi Hiếu, Nhân cịn có nguồn gốc từ chữ Trung.
Trung ở đây là đạo với vua, với cha xét trong giới hạn của sách “Luận Ngữ”.
Tử Hạ viết: “Hiền hiền dị sắc, sự phụ mẫu năng kiệt kì lực, sự qn năng
trí kì thân, dữ bằng hữu giao, ngơn nhi hữu tín, tuy viết vị học, ngô tất vị chi
học hĩ”.
22
Dịch - Tử Hạ nói: “Tơn trọng người hiền, coi thường sắc đẹp, hết lòng
thờ cha mẹ, liều thân thờ vua, giao thiệp với bạn bè thì ăn nói thật tình, (người
như vậy) tuy chưa hề học, tơi cũng cho rằng đã học rồi.” [14;tr.29]
Cho thấy việc đề cao đạo Trung với vua chúa ngang bằng với đạo Hiếu,
chứng tỏ Nho gia rất coi trọng đức tính này. Bản tính con người vốn thích tự
do, vì lẽ đó, Nhân lấy Hiếu và Trung làm gốc là để kìm hãm lại cái bản ngã
của con người, giúp con người đi vào khn khổ, dần dần tự khắc chế được
tính ngơng cuồng mà tránh được việc hại cho đạo trị nước và trị gia.
“Định công vấn: “Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà? Khổng tử đối
viết: “Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung”.
Dịch - (Vua Lỗ là) Định công hỏi: “Vua khiến bề tôi, bề tôi thờ vua, phải
như thế nào?”. Khổng tử đáp: “Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua
phải trung (hết lòng).” [14;tr.65]
Lại liên quan đến Lễ, chữ Trung cũng phụ thuộc vào Lễ khơng kém gì
Hiếu. Vua phải ứng xử, trị nước làm sao cho bề dưới nể phục mà giữ Lễ,
ngược lại, bề dưới phải một mực trung thành hết lòng với vua. Làm như vậy
là giữ được kỉ cương, hưng thịnh của đất nước.
Tạm kết rằng, Hiếu và Trung chiếm một vị trí quan trọng trong việc cấu
thành nên đức Nhân trong “Luận Ngữ” của Khổng Tử. Nhân lấy Hiếu và
Trung làm gốc, làm chuẩn để thể hiện và rèn luyện các đức tính cịn lại. Hiếu
và Trung đã tạo nên những chuẩn mực đạo đức xã hội khó lay chuyển, bởi
tính thiết thực và nhân đạo của nó cịn mãi được bảo tồn và phát triển cho đến
nhiều đời sau dù khơng cịn giữ được ngun bản.
2.1.3. Các đức tính khác của Nhân
Trong đức Nhân, cịn có vơ số tính khác ngồi Hiếu, Lễ và Trung như:
Nghĩa, Tín, Dũng, Cương cường, Trực, Kiệm,…
“Tử viết: “Quân tử chi ư thiên hạ dã, vơ thích (có sách đọc là địch) dã,
vô mạc dã, nghĩa chi dữ tỉ”.