HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN CHÍNH TRỊ HỌC
----------------------------------------
TIỂU LUẬN
MƠN: CHÍNH SÁCH CƠNG
PHÂN TÍCH QUY TRÌNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH CƠNG. LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Ở VIỆT NAM
Họ tên học viên: Tran Van A
Mã số học viên: …………….
Lớp: Cao học XDĐ & CQNN, hệ ………………………….
HÀ NỘI – 202…
MỞ ĐẦU:
2
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 03
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................ 03
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .............................................................................
04
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ............................................................ 04
5. Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của tiểu luận .............................................................. 04
6. Kết cấu của tiểu luận .............................................................................................. 04
NỘI DUNG:
Chương 1: QUY TRÌNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH SÁCH CƠNG .................................................................................. 05
1.1. Một số nhận thức chung về chính sách cơng ........................................................
05
1.2. Quy trình thực hiện chính sách cơng .................................................................. 08
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách công ......................... 13
Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH CƠNG Ở
VIỆT NAM ................................................................................................................ 16
2.1. Quan niệm chính sách cơng ở Việt Nam hiện nay .............................................. 16
2.2. Thực trạng thực thi chính sách cơng ở Việt Nam ................................................ 17
2.3. Một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi chính sách
cơng ở nước ta trong thời gian tới ............................................................................. 21
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: ............................................................... 25
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các chế độ chính trị - xã hội có giai cấp và nhà nước, bất kỳ Nhà nước
nào cũng có chức năng quản lý xã hội thông qua việc ban hành và thực hiện các chính
cơng. Mục tiêu ban hành và thực thi các chính sách cơng suy cho cùng là nhằm giải
quyết một hoặc một số vấn đề bức xúc đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo
lợi ích của giai cấp mà mình đại diện. Do đó, chính sách cơng bao giờ cũng mang bản
chất giai cấp và phục vụ lợi ích của giai cấp.
Mỗi chế độ chính trị - xã hội có quy trình hoạch định và thực thi chính sách với
những đặc điểm riêng, nhưng suy cho cùng, tính hiện thực và tính hiệu của các chính
sách cơng được đo lường bởi mức độ đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.
Một chính sách được ban hành mà đông đảo quần chúng nhân đón nhận thì chính sách
đó nhanh chóng đi vào cuộc sống, những ý tưởng của chính sách sẽ thành hiện thực
trong đời sống xã hội. Ngược lại, người dân, trước hết là đối tượng thụ hưởng và bị tác
động bởi chính sách khơng đồng tình, bị bắt buộc phải thực hiện, thậm chí bị một bộ
phận cộng đồng phản đối, thì việc thực thi chính sách đó gặp trở ngại, khó khăn.
Để tìm hiểu quy trình thực thi chính sách nói chung cũng như thựic trạng vấn đề
này ở nước ta hiện nay, tơi chọn chủ đề: “Phân tích quy trình và những nhân tố ảnh
hưởng việc thực thi chính sách công. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam” làm bài tiểu
luận của mình cho mơn học “Chính sách cơng”.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích của tiểu luận: Trên cơ sở khái quát vai trò, đặc điểm chính sách
cơng, tiểu luận phân tích làm rõ nội dung quy trình và những nhân tố ảnh hưởng quá
4
trình thực thi chính sách cơng; đồng thời, liên hệ thực trạng thực thi chính sách cơng ở
Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của tiểu luận: Làm rõ quy trình và những nhân tố ảnh hưởng q
trình thực thi chính sách công; đồng thời, liên hệ thực trạng thực thi chính sách cơng ở
Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu quy trình và những nhân tố
ảnh hưởng quá trình thực thi chính sách cơng; qua đó, liên hệ thực trạng thực thi chính
sách cơng ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quy
trình thực hiện chính sách cơng nói chung và ở ViệtNam nói riêng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Tiểu luận dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa MácLênin, các quan điểm của Đảng về chính sách cơng nói chung để thực hiện nhiệm vụ
của tiểu luận.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đặc biệt là phương
pháp lịch sử, phân tích để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu.
5. Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của tiểu luận
5.1. Ý nghĩa lý luận: Tiểu luận góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng
viên về vai trò, tầm quan trọng của chính sách cơng nói chung và quy trình, các nhân
tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách cơng nói riêng, từ đó có trách nhiệm thực
hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trong tổ chức hiện hiện các chính sách của Nhà
nước tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn: Việc nhận thức đúng ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của
thực thư chính sách cơng, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực
hiện tốt hơn trách nhiệm của mình trong quá trình tổ chức triển khai học tập, quán triệt
và thực hiện các chính sách của Nhà nước tại địa phương, cơ quan, đơn vị mình, góp
5
phần khắc phục những hạn chế, yếu trong các khâu tổ chức thực hiện chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước mà nhiều văn kiện của Đảng, Chính phủ đã chỉ ra.
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung tiểu luận
gồm 2 chương, 6 tiết.
NỘI DUNG
Chương 1
QUY TRÌNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH SÁCH CƠNG
1.1. Một số nhận thức chung về chính sách cơng
1.1.1. Quan niệm về chính sách cơng
Theo tiến trình lịch sử, những quan tâm đầu tiên về chính sách cơng xuất hiện
cùng với sự ra đời của nền dân chủ Hy Lạp, nhưng khoa học chính sách chỉ mới nổi
lên từ giữa thế kỷ XIX, lúc mà khoa học chính trị bắt đầu chuyển trọng tâm nghiên
cứu từ triết học - chính trị sang nghiên cứu các thể chế, cơ cấu tổ chức nhà nước, thái
độ và hành vi ứng xử của các tổ chức và các cá nhân với nhau trong hoạt động kinh tế,
xã hội. Từ đó đã ra đời hàng loạt cách tiếp cận mới, đặt cơ sở nền tảng thúc đẩy nghiên
cứu chính sách cơng, trong đó, đặc biệt dành trọng tâm nghiên cứu cơ sở khoa học của
quy trình ban hành, thực thi các chính sách cơng.
Chính sách công là vấn đề liên quan đến hầu hết mọi người nên càng có rất
nhiều cách hiểu về chính sách công xuất phát từ ý đồ tiếp cận của người nghiên cứu
hay ở khía cạnh đối tượng ảnh hưởng mà chính sách cơng hướng tới. Do đó, khó có
thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng về chính sách cơng. Tuy nhiên, theo cách
hiểu phổ biên nhất, chính sách là chương trình hành động do nhà lãnh đạo, quản lý đưa
ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Theo cách
tiếp cận này, có thể đưa ra khái niệm về chính sách cơng như sau: Chính sách cơng là
kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định
6
có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết
những vấn đề cơng trong xã hội. Hay nói cách khác, chính sách cơng là kết quả ý chí
chính trị của Nhà nước thể hiện qua một tập hợp các quyết định liên quan đến nhau,
gồm các định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề tồn tại trong xã hội
nhằm đạt được các mục tiêu phát triển đất nước; là tập hợp những hành vi ứng xử có
chủ đích của nhà nước trước những yếu tố xã hội phát sinh trong đời sống xã hội nhằm
mục đích mục tiêu thôi thúc xã hội tăng trưởng theo xu thế nhất định.
Khái niệm trên thể hiện mấy nội dung cơ bản: (1) Đặc trưng của chính sách
cơng là do nhà nước chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tượng quản
lý một cách tương đối ổn định; (2) Bản chất của chính sách cơng là cơng cụ định
hướng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nước
trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. (3) Mục tiêu đề ra
chính sách cơng là định hướng hành động của cá nhân và tổ chức theo những mục tiêu
nhất định. (4) Điều kiện tồn tại của một chính sách cơng là tổng hồ những tác động
tích cực của hệ thống thể chế do Nhà nước thiết lập và tinh thần nghiêm túc thực hiện,
tự chủ, sáng tạo của các chủ thể tham gia giải quyết vấn đề chính sách trong một phạm
vi khơng gian và thời gian nhất định. (5) Điều kiện bảo đảm cho sự tồn tại của chính
sách cơng được thể hiện bằng các nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, mơi
trường chính trị, pháp lý, văn hóa xã hội và cả sự bảo đảm bằng nhà nước.
Tóm lại, chính sách cơng là chính sách do nhà nước ban hành nên phản ánh bản
chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồng thời phản ánh ý
chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụ mục đích của đảng, lợi
ích của nhân dân. Do đó, chính sách cơng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây
dựng và phát triển của mỗi quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm, vai trò của chính sách cơng.
Dù có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách cơng, nhưng chúng có những
đặc điểm cơ bản sau về chính sách cơng:
7
Thứ nhất, Chính sách cơng bắt nguồn từ các quyết định do nhà nước ban hành
và bao hàm các quyết định của nhà nước. Nhà nước trong hoạt động quản lý các lĩnh
vực trong đời sống xã hội ngoài việc ban hành các quy định pháp luật, Nhà nước còn
tiến hành đưa ra các chính sách làm cơ sở để quản lý kinh tế vĩ mơ, tạo ra những kích
thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của đảng cầm quyền thành hiện
thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy
nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách
hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân.
Thứ hai, chính sách cơng bao gồm một tập hợp các quyết định (gồm các biện
pháp liên quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau) tác động có mục tiêu, có tính hướng đích
(dù ngắn hạn hay dài hạn) nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Do đó,
chính sách cơng chính là chương trình hành động của nhà nước (phân biệt rõ với
đường lối – chính sách – biện pháp ở mức độ cụ thể hóa).
Thứ ba, chính sách cơng mang tính hệ thống, ổn định và phù hợp với quan điểm
chính trị của chủ thể hoạch định. Nhờ đó tính ổn định cũng như tính hệ thống của
chính sách cơng được đảm bảo.
Thứ tư, chính sách cơng là sản phẩm của q trình thực thi quyền lực chính trị
của Nhà nước, nên có tính hợp pháp. Nhờ đó, giúp phân biệt chính sách cơng với các
chính sách của các tổ chức, cá nhân trong khu vực tư nhân hay của các đảng chính trị,
đồn thể xã hội khơng nắm quyền lực cơng.
Thứ năm, chính sách cơng lấy số đơng (cộng đồng) làm đối tượng, nên huy động
sự tham gia rộng rãi của mọi loại đối tượng trong xã hội.
Thứ sáu, về cơ bản, chính sách cơng được xem là đầu ra của q trình quản lý
nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, thậm chí là của
cả xã hội.
Chính sách cơng có vai trị rất quan trọng đối với sự phát triển phát triển xã hội,
một mặt, nó phản ánh vai trị và hiệu lực lực, hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của Nhà
nước, mặt khác, nó phản ánh nhu cầu và sự phát triển của con người trong xã hội. Do
8
vậy, chính sách cơng là cơng cụ chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và
phục vụ người dân. Ngồi ra, chính sách cơng cịn có vai trị: (1) Định hướng mục tiêu
cho các chủ thể tham gia hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh,
giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn. (2) Tạo
động lực và khuyến khích các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục
tiêu chung. (3) Phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền
kinh tế thị trường thông qua các chính sách trợ cấp, cung ứng dịch vụ cơng cho người
dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp cơng hay các hội, tổ chức phi
chính phủ thực hiện. (4) Khai thác, tạo lập, phân bổ, sử dụng và kiểm soát các nguồn
lực trong xã hội phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
1.2. Quy trình thực hiện chính sách cơng
1.2.1. Sự cần thiết và vai trị của thực thi chính sách cơng
Tổ chức thực thi chính sách cơng là một khâu hợp thành chu trình chính sách, là
tồn bộ q trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện
thực hóa nội dung chính sách cơng một cách hiệu quả. Đây là yêu cầu tất yếu khách
quan để duy trì sự tồn tại của chính sách với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu
quản lý của nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu mà chính sách theo đuổi. Nếu thiếu
vắng cơng đoạn này thì chu trình chính sách khơng thể tồn tại.
Tổ chức thực thi chính sách cơng là trung tâm kết nối các bước trong chu trình
chính sách cơng thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. So với các
khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì
đây là bước hiện thực hố chính sách trong đời sống xã hội. Bởi vì, có chính sách đúng
nếu khơng được thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý
nghĩa, mà cịn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách
(uy tín của nhà nước). Nếu chính sách khơng được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu
tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước. Điều này hồn tồn bất lợi
về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác
9
quản lý. Qua thực hiện mới biết được chính sách có đúng, phù hợp và đi vào cuộc
sống hay khơng. Mặt khác, quá trình thực hiện với những hoạt động thực tiễn sẽ góp
phần điều chỉnh, bổ sung và hồn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng
yêu cầu của cuộc sống. Đồng thời, việc phân tích, đánh giá một chính sách (mức độ
tốt, xấu) chỉ có cơ sở đầy đủ, sức thuyết phục sau khi được thực hiện.
Thực tiễn là chân lý, kết quả thực hiện chính sách là thước đo, là cơ sở đánh giá
một cách chính xác, khách quan chất lượng và hiệu quả của chính sách. Việc đưa
chính sách vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầy biến động, chịu sự
tác động của nhiều yếu tố giúp các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách có
kinh nghiệm để đề ra được các giải pháp hữu hiệu trong thực hiện chính sách. Vì vậy,
có thể khẳng định: thực thi một chính sách cơng tốt khơng những mang lại lợi ích to
lớn cho các nhóm đối tượng thụ hưởng, mà cịn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước
trong q trình quản lý xã hội.
Từ phân tích trên chúng ta thấy, thực thi chính sách cơng có vị trí đặc biệt quan
trọng trong chu trình chính sách cơng, nó là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính
sách cơng. Vai trị của thực thi chính sách cơng trong chu trình chính sách cơng được
thể hiện ở những phương diện sau:
Thứ nhất, từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách cơng. Các mục tiêu
chính sách cơng chỉ có thể đạt được thơng qua q trình thực thi chính sách cơng, bởi
thực thi chính sách cơng bao gồm các hoạt động có tổ chức được thực hiện bởi các cơ
quan nhà nước và các đối tác xã hội hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đã
tun bố trong chính sách cơng. Trong q trình thực thi, các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phải thiết lập các văn bản, hoặc chương trình, dự án để hiện thực hóa các
mục tiêu và mục đích chính sách công; và tiến hành các hoạt động để thực hiện các
văn bản, chương trình, dự án đó.
Thứ hai, khẳng định tính đúng đắn của chính sách cơng. Q trình hoạch định
chính sách cơng cho ra đời một chính sách cơng. Tuy nhiên, chính sách cơng đó có
thực sự đúng đắn hay khơng chỉ có thể được nhận thức đầy đủ hơn trong giai đoạn
10
thực thi chính sách cơng. Thực thi chính sách cơng cung cấp những bằng chứng thực
tiễn về mục tiêu chính sách cơng có thích hợp hay khơng và các giải pháp chính sách
cơng có thực sự phù hợp với vân để mà nó hướng tới giải quyết hay khơng, về phương
diện lý thuyết, một chính sách cơng được ban hành đã phải đáp ứng đầy đủ những tiêu
chuẩn của một chính sách cơng tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban
hành, nhưng khi triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính
sách cơng mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi xã hội và đối tượng thụ hưởng
chính sách cơng.
Thứ ba, thực thi chính sách cơng giúp cho chính sách cơng ngày càng hồn
thiện hơn. Chính sách cơng được ban hành ban đầu hay chính sách cơ sở thường chỉ
mang tính định hướng về mục tiêu và giải pháp để giải quyết vấn đề cơng. Chính sách
cơng này sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể trong quá
trình thực thi của các cơ quan nhà nước các cấp. Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp
chính sách cơng ban đầu, các cơ quan nhà nước các cấp theo thẩm quyền thiết kế và
ban hành các quy định, thủ tục hoặc chương trình, dự án để cụ thể hóa các mục tiêu và
giải pháp cho phù hợp với bối cảnh, điều kiện thực thi chính sách cơng cụ thể. Hơn
nữa, thơng qua thực thi chính sách cơng, những người thực thi đưa ra những đề xuất
điều chỉnh chính sách cơng cho phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và rút ra những
bài học kinh nghiệm cho thiết kế chính sách cơng trong tương lai. Chính vì vậy, nhiều
nhà khoa học cho rằng có một mối quan hệ hữu cơ giữa giai đoạn hoạch định chính
sách cơng và thực thi chính sách cơng, việc phân tách rạch rịi giữa thực thi chính sách
cơng và hoạch định chính sách cơng trước đây đã khơng cịn phù hợp.
1.2.2. Quy trình tổ chức thực hiện chính sách cơng
Do tầm quan trọng của giai đoạn hiện thực hố chính sách, nên các cơ quan quản
lý các cấp cần quan tâm chỉ đạo sát sao công tác tổ chức triển khai thực hiện chính
sách. Để tổ chức, điều hành có hiệu quả cơng tác thực thi chính sách cơng, cần phải
thực hiện nhiều nội dung khác nhau, nhưng chủ yếu cần tuân thủ các bước cơ bản sau
đây:
11
Bước một, xây dựng kế hoạch trển khai thực hiện chính sách:
Một chính sách thường là một chương trình hành động được tiến hành trong một
thời gian tương đối dài nhằm giải quyết một vấn đề trong đời sống xã hội. Do vậy, để
thực hiện cần phải có các lộ trình, kế hoạch cụ thể. Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền
của mình, các cơ quan nhà nước ở các cấp sẽ lập kế hoạch triển khai, gồm các nội
dung:
Một là, lập kế hoạch tổ chức, điều hành. Nội dung phần này cần chỉ rõ cơ quan
chịu trách nhiệm chính trong việc thực thi chính sách; xác định các cơ quan phối hợp
thực hiện và cơ chế phối hợp; quyền lực và trách nhiệm của mỗi bên trong giải trình
đối với những vấn đề cụ thể; nhân lực tham gia vào quá trình này của từng cơ quan; cơ
chế báo cáo và giải trình của cơ quan chủ trì và phối hợp trong thực thi chính sách.
Hai là, xác định kế hoạch cung cấp các nguồn tài lực và vật lực. Nội dung phần
này cần chỉ rõ các nguồn tài chính và vật lực cần cung cấp cho việc triển khai thực
hiện chính sách (Các nguồn lực nào sẽ được cung cấp? Ai cung cấp? Số lượng, chất
lượng, chủng loại như thế nào? Thời gian tiến hành cung cấp? Các thủ tục cần phải
tiến hành là gì?) Tất cả những vấn đề này đều được lên kế hoạch cụ thể, chi tiết.
Ba là, xác định thời gian triển khai thực hiện chính sách. Nghĩa là, cần dự kiến
một lộ trình cụ thể với các bước đi thích hợp để đạt được các mục tiêu của chính sách
(như từ từ tuyên truyền quán triệt chính sách, tổ chức thực hiện chính sách đến tổng
kết rút kinh nghiệm kết quả thực hiện chính sách). Mỗi mốc thời gian cần xác định các
kết quả cần đạt được là gì. Sau mỗi giai đoạn thực hiện chính sách cần tính đến các
phương án sơ kết, rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện.
Bốn là, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát q trình thực hiện. Một chính
sách muốn thực hiện tốt ln cần có sự kiểm tra, giám sát để đảm bảo rằng, việc thực
thi đang từng bước hiện thực hóa các mục tiêu, ý tưởng của các nhà hoạch định chính
sách. Mục đích của việc kiểm tra, giám sát cịn nhằm phát hiện những điểm bất hợp lý
của chính sách, của cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thực hiện, của chế độ giải trình,
báo cáo…v.v. để có thể đưa ra những điều chỉnh kịp thời.
12
Năm là, xây dựng các nội quy, quy chế trong thực thi chính sách cơng, gồm: nội
quy, quy chế tổ chức, điều hành; trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn, cơ chế giải trình
của những cá nhân và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về
các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính
sách ...
Kế hoạch thực thi chính sách ở cấp nào thì do lãnh đạo cấp đó xem xét thơng
qua. Sau khi được quyết định thơng qua, kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị
pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp
có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.
Bước 2, phổ biến, tuyên truyền về chính sách cơng
Để đảm bảo chính sách được thực hiện tốt, một công việc hết sức quan trọng là
tiến hành tuyên truyền chính sách tới người dân và các bên liên quan, những đối tượng
được hưởng lợi hoặc chịu tác động trực tiếp từ chính sách. Vì các chính sách của nhà
nước được ban hành là mang tính cưỡng chế trong quá trình thực hiện, nên việc tuyên
truyền để những đối tượng hưởng lợi hoạc bị ảnh hưởng bởi chính sách là hết sức quan
trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách cơng.
Phổ biến, tun truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi
người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng
đắn của chính sách trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định; và về tính khả thi của chính
sách ... để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước. Đồng thời cịn giúp
cho mỗi cán bộ, cơng chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính
chất, trình độ, quy mơ của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm
kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực
thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao.
Cơng tác tuyên truyền, vận động thực thi chính sách cũng cần được thực hiện
một cách thường xuyên để củng cố niềm tin của người dân và các bên liên quan vào
chính sách. Hình thức tun truyền, vận động có thể được thực hiện một cách trực
tiếp, hoặc gián tiếp; có thể thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, hoặc
13
các hình thức tun truyền khác. Tùy từng chính sách cụ thể, đối tượng vận động cụ
thể mà áp dụng các hình thức tun truyền, vận động thích hợp.
Bước ba, phân cơng, phối hợp thực hiện chính sách
Một chính sách thường được thực thi trên địa bàn rộng lớn, có sự tham gia của
nhiều tổ chức khác nhau. Mặt khác, các hoạt động thực hiện mục tiêu hết sức đa dạng,
phức tạp, đan xen, thúc đẩy lẫn nhau nên cần sự phối hợp giữa các cấp, các ngành. Do
đó, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối
hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham
gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách.
Phần này, cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng chủ thể trong quá trình
thực thi; cơ chế phối hợp giữa các tổ chức tham gia. Cần đảm bảo rằng, tất cả các chủ
thể tham gia đều nắm rõ nội dung cơng việc của mình để tạo ra sự thống nhất trong
hành động giữa các tổ chức tham gia.
Bước bốn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện
Bất cứ việc triển khai một kế hoạch, chương trình hay chính sách nào cũng cần
có sự kiểm tra, theo dõi để đảm bảo rằng, các chính sách này được thực hiện đúng và
sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả. Chủ thể thực hiện nhiệm vụ này là các cơ
quan nhà nước, các cán bộ, công chức được trao thẩm quyền. Nếu quá trình này được
tiến hành một cách thường xuyên, sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nắm bắt được tình
hình thực tế thực thi chính sách, để từ đó có những kết luận, đánh giá chính xác.
Bên cạnh đó, cơng tác kiểm tra cũng giúp cho các đối tượng thực thi chính sách
nhận ra những điểm hạn chế của bản thân trong quá trình thực hiện, trên cơ sở đó có
những điều chỉnh, bổ sung kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Bước năm, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Công đoạn này được tiến hành một cách thường xuyên trong suốt thời gian duy
trì chính sách. Người ta có thể tiến hành đánh giá tồn diện, hay đánh giá một cơng
đoạn, một bộ phận nào đó trong q trình thực thi chính sách. Việc đánh giá có thể
14
hướng tới tính hiệu quả của chính sách, cũng như quá trình thực hiện, sự phối hợp giữa
các bên liên quan trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà
nước, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính
sách cơng, bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính
sách. Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng
với ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện cụ thể.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách cơng
Q trình tổ chức thực thi chính sách cơng diễn ra trong thời gian khá dài và có
liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức và chịu ành hưởng của nhiều yếu tố khác. Nắm
chắc được những yếu tố tác động, người chỉ đạo, điều hành có thể tận dụng những yếu
tố tích cực, ngăn chặn hay hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực đến việc tổ chức
thực thi chính sách cơng. Đồng thời, có thể tạo lập mơi trường thuận lợi cho các yếu tố
đó vận động phù hợp với yêu cầu định hướng.
Quá trình thực thi chính sách thường chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố sau:
1.3.1. Những điều kiện liên quan đến bản thân chính sách
Một chính sách muốn được thực thi một cách hiệu quả thì điều kiện đầu tiên là
chính sách đó phải được hoạch định với chất lượng tốt. Nghĩa là, chính sách đó phải
đảm bảo các mục tiêu được xác định một cách rõ ràng, chính xác và nhất qn. Theo
đó, mục tiêu của chính sách phải cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, không được quá chung
chung, khiến cho người thực thi có thể hiểu nhầm, hoặc hiểu khơng đầy đủ. Nghĩa là,
mục tiêu chính sách phải đo lường được (có thể đánh giá được mức độ thành cơng của
chính sách); phải mang tính khả thi (phải phù hợp với khả năng của người thực hiện,
cũng như phù hợp với điều kiện kinh tế của quốc gia, của địa phương); phải đảm bảo
tính thực tế và được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, người
(cơ quan) thiết kế chính sách phải lường trước tất cả các phương án có thể xảy ra và
xây dựng các kịch bản để ứng phó. Nếu khơng tính đến các phương án này, khi đưa
15
vào thực thi, một loạt các tình huống phát sinh ngồi dự tính sẽ gây cản trở cho q
trình thực thi chính sách.
1.3.2. Các điều kiện liên quan đến các chủ thể và nguồn lực thực hiện, gồm:
(i) Cơ quan được giao nhiệm vụ triển khai phải có đủ nguồn tài chính cho việc
triển khai đó. Nếu một chính sách được hoạch định mà khơng có các kế hoạch tài
chính đi kèm, không được cung cấp một cách đầy đủ thì chính sách vẫn có thể chỉ là
những tun bố văn bản. Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, không ít các chính sách đã bị
phá sản vì khơng đủ nguồn lực tài chính để thực hiện.
(ii) Cơ quan được giao nhiệm vụ triển khai phải có đủ thẩm quyền, chun mơn
để biến các mục tiêu thành các chương trình hành động cụ thể thích hợp.
(iii) Cơ quan được giao nhiệm vụ triển khai cũng phải chịu trách nhiệm giải
trình về các hoạt động triển khai chính sách. Nội dung giải trình bao gồm: Một là, thực
trạng triển khai thực hiện chính sách (thuận lợi, khó, những việc làm được, chưa được,
kiến nghị); Hai là, những việc nảy sinh mới trong thực tiễn đã được giải quyết theo
thẩm quyền (mà khơng được dự kiến trong mục tiêu chính, nhưng khơng quy định của
pháp luật, không trái với chủ trương của đảng chính trị cầm quyền).
1.3.3. Các điều kiện liên quan đến bối cảnh thực hiện:
Tồn bộ q trình chính sách nói chung, q trình thực thi chính sách nói riêng,
sẽ chịu sự tác động của yếu tố môi trường. Môi trường ở đây bao gồm bối cảnh trong
nước và thế giới ảnh hưởng quan trọng đến việc thực thi chính sách cơng. Sự ổn định
chính trị, sự phát triển của nền kinh tế, sự đồng thuận của nhân dân trong nước, trước
hết là những đối hưởng từ chính chính ... là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng. Sự ổn
định chính trị, kinh tế, xã hội trong nước cũng là điều kiện thuận lợi để huy động, khai
thác, phát huy tốt nhất các nguồn lực trong và ngoài nước phục vụ các mục tiêu của
chính sách hướng tới, nhờ đó thúc đẩy kinh tế phát triển, những vấn đề xã hội có điều
kiện được giải quyết tốt hơn, củng cố lòng tin của nhân dân đối với nhà nước và đảng
chính trị cầm quyền.
1.3.4. Năng lực của cơ quan, tổ chức thực hiện chính sách
16
Cơ quan, tổ chức được giao tổ chức triển khai thực hiện chính sách có đủ năng
lực cũng sự phối hợp giữa các tổ chức tham gia thực hiện là nhân tố có ý nghĩa quyết
định sự thành bại của chính sách. Để thực thi một chính sách thường địi hỏi sự phối
hợp tham gia của nhiều tổ chức, cơ quan khác nhau. Bản thân quá trình này cần sự
phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức. Tuy nhiên, các cơ quan hành chính nhà nước các
cấp có thể có sự xung đột về mặt lợi ích và vai trị trong q trình thực thi chính sách.
Mỗi cơ quan có thể theo đuổi những mục đích riêng. Điều này có thể dẫn đến sự phân
tán, thiếu hợp tác trong thực thi chính sách, làm cho kết quả thực thi chính sách bị hạn
chế.
Chương 2
LIÊN HỆ THỰC TIỄN VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH CƠNG Ở VIỆT NAM
2.1. Quan niệm chính sách cơng ở Việt Nam hiện nay.
Quan niệm về chính sách cơng nhìn chung chưa có sự nhất trí về các tính chất,
tiêu chí giúp phân biệt chính sách với đường lối, chiến lược, cũng như khó có thể phân
định được chính sách của Đảng với chính sách của Nhà nước, cho nên, trong nhiều
văn bản hiện hành của Đảng và Nhà nước còn sử dụng phổ biến cụm từ “chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước”. Song, thực tế điều hành đời sống xã hội ở Việt
Nam cho thấy có sự tách biệt chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của
Nhà nước, trong đó chính sách cơng được coi là chính sách của Nhà nước, là việc Nhà
nước thể chế hóa các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược của Đảng thành
chính sách.
Hiến pháp Việt Nam quy định vị trí lãnh đạo tồn diện của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với đất nước và xã hội. Đảng là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị Việt
17
Nam. Do đó, chính sách cơng được hiểu với nghĩa rất rộng là hệ thống các quan điểm,
các quy định thể hiện một thái độ nhất quán, lâu dài của Đảng, Nhà nước, mà thơng
qua đó Đảng, Nhà nước định hướng, quản lý các hoạt động xã hội nhằm đạt đến mục
tiêu xác định. Theo tinh thần đó, chính sách còn thể hiện dưới dạng phi văn bản, như
chỉ thị, mệnh lệnh bằng lời của các quan chức có thẩm quyền. Rất nhiều các chỉ thị,
nghị quyết, … của Đảng, dù khơng có tính pháp lý (tức khơng do cơ quan Nhà nước
ban hành) vẫn có giá trị mệnh lệnh, nên nó cũng có vai trị như chính sách cơng. Song
không thể đánh đồng Đảng với Nhà nước. Giữa hai tổ chức này vẫn có sự khác nhau
về đặc tính pháp lý, về phương thức thực thi quyền lực, … nên trong khái niệm chính
sách hiểu theo nghĩa rộng như trên khơng bao chứa khái niệm chính sách cơng của
Nhà nước, cũng như của các tổ chức phi nhà nước khác. Tuy vậy, thực tiễn q trình
chính sách ở Việt Nam cho thấy: Với tư cách là một hình thức thực thi quyền lực chính
trị, chính sách cơng khơng thể tách rời khỏi hệ thống chính trị. Do đặc điểm này mà
các nghiên cứu chính sách nhà nước ở Việt Nam phải tính đến các chính sách của
Đảng. Vì thế thơng thường nói đến chính sách cơng bao gồm các chính sách của Nhà
nước, cịn các chính sách của Đảng được hiểu là chủ trương, đường lối của Đảng.
Từ những trình bày trên, ta có quan niệm chính sách cơng như sau: Chính sách
cơng là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao
gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội
phát triển theo một định hướng nhất định.
Ở Việt Nam, chính sách cơng là chính sách của nhà nước, do nhà nước ban hành
và tổ chức thực hiện, thể hiện vai trò, chức năng lý xã hội của nhà nước, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản ánh quan điểm, ý chí, nguyện vọng của giai
cấp cơng nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam. Chính sách cơng là
một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách của quốc gia nhằm cụ thể hóa, hiện
thực hóa đường lối, chủ chương của Đảng cầm quyền, đồng thời là công cụ hữu hiệu
để quản lý, điều hành, điều tiết và tạo điều kiện xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội tại
18
những thời điểm nhất định; là những hành động ứng xử của chủ thể tác động tới các
hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động, phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Chính sách cơng ở Việt Nam thường được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm
pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi hành, song nó bao gồm những phương
án hành động khơng mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển.
2.2. Thực trạng thực thi chính sách cơng ở Việt Nam
Chu trình chính sách cơng ở Việt Nam cũng có ba giai đoạn cơ bản: hoạch định,
ban hành chính sách; tổ chức triển khai thực hiện (thực thi) chính sách, đưa chính sách
vào thực tiễn đời sống xã hội; tổ chức đánh giá, tổng kết chính sách. Trong đó, thực thi
chính sách là q trình thực thi quyền lực nhà nước của chủ thể. Bởi trên hết, chính
sách cơng là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền
lực cơng cộng. Nó chính là cái để khẳng định tính chính đáng của quyền lực nhà nước.
Ở nước ta, theo quy định của Hiến pháp, bộ máy quản lý hành chính nhà nước
có sự phân cấp và phối hợp quản lý giữa trung ương (tầm vĩ mô) và địa phương (tầm
vi mô), nên ở phạm vị vĩ mơ, có chính sách quốc gia của Nhà nước, cịn ở phạm vi vi
mơ, có chính sách của địa phương. Trong đó, địa phương có quyền quyết định những
chính sách thuộc thẩm quyền của mình (nhưng khơng trái với chính sách chung của
Nhà nước ở tầm vĩ mô) để phát huy tiềm năng địa phương và giải quyết các vấn đề
kinh tế - văn hóa - xã hội khác có tính đặc thù của địa phương mình. Song, dù ở cấp
nào, việc thực thi chính sách cơng cơng ở nước ta có những kết quả và hạn chế chung
sau đây:
2.2.1. Những kết quả đạt được:
Nhìn chung các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp cũng như các cơ
quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, cơng chức trong hệ thống chính trị đã nhận thức được
ý nghĩa, tầm quan trọng của tổ chức thực hiện chính sách và đề cao trách nhiệm trong
19
tổ chức thực hiện chính sách; các chính sách đã được triển khai khá bài bản, đúng quy
trình, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu. Mỗi khi có chính sách mới
ban hành đều xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện; kịp thời phổ biến, tuyên truyền
chính sách cơng đến đối hưởng lợi cũng nhự bị ảnh hưởng bởi tác động của chính
sách; có sự phân công, phối hợp giữa các ngành, các cấp trong thực hiện chính sách.
Trong q trình tổ chức thực hiện chính sách, nếu gặp khó khăn, các cơ quan, tổ chức
và cán bộ thực thi chính sách đã chủ động xử lý theo thẩm quyền, phạm vị trách nhiệm
được phân công hay đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung khắc phục những
hạn chế, bất cập của chính sách. Đồng thời, đã chú ý đến công tác theo dõi, kiểm tra,
đôn đốc đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện chính sách. Do
việc tổ chức thực hiện tốt nên các chính sách của nhà nước đã kịp thời đi vào cuộc
sống, phát huy được vai trị quan trọng của chính sách trong sự nghiệp xây dựng, bảo
vệ và phát triển đất nước.
2.2.2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những kết quả trên, trong khâu thực thi chính sách cịn bộc lộ những
hạn chế, bất cập, chủ yếu là khơng bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, nhất quán trong tổ
chức thực hiện. Cụ thể là:
(i) Nhận thức về vị trí, vai trị, đặc điểm, tính chất của chính sách cơng cịn đơn
giản, chưa đầy đủ; nhiều người hiểu chính sách cơng đơn giản chỉ là những chủ
trương, chế độ nhà nước ban hành một cách chung chung. Do đó, một số chính sách
chưa được quán triệt và triển khai thực hiện một cách nghiêm túc ngay ở những cơ
quan, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ này.
Điều này làm chậm, thậm chí thực hiện khơng nghiêm túc khi đưa chính sách vào cuộc
sống. Hơn nữa, nếu chính sách khơng được thực hiện đúng với bản chất, ý định chính
trị của chủ thể ban hành thì sẽ trở thành vô nghĩa, chỉ là những khẩu hiệu sng, thậm
chí mang lại hậu quả xấu cho xã hội.
20
Cần nhận thức rằng, việc hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách là chức
năng, nhiệm vụ chủ yếu của nhà nước, của các cơ quan và chính quyền các cấp. Hoạch
định và tổ chức thực hiện chính sách là hai mặt của một vấn đề; chúng có mối liên hệ
tác động qua lại lẫn nhau. Hoạch định để có được chính sách đúng là điều kiện cần, tổ
chức thực hiện đúng là điều kiện đủ để đưa chính sách vào cuộc sống, mang lại lợi ích
cho cộng đồng và xã hội.
(ii) Việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, xây dựng
kế hoạch, chương trình triển khai thực hiện cịn chưa kịp thời. Tình trạng ban hành văn
bản không đồng bộ (luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư...), việc hiểu và hướng
dẫn không thống nhất giữa các bộ, ngành, giữa cơ quan ban hành và cơ quan thực
hiện, không rõ cơ chế phối hợp và trách nhiệm giải trình. Hiện nay vẫn có những chính
sách ở tầm vĩ mơ và vi mơ được ban hành không sát với thực tiễn, chưa mang tính bao
quát chung, thậm chí bị tác động của lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm đã ảnh hưởng đến
việc triển khai và thực thi chính sách, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách
thấp. Một số chính sách thực hiện bị kéo dài, không đảm bảo theo chu trình, thời hạn,
gây khó khăn cho việc tìm nguồn lực để giải quyết; đánh giá tổng kết một số chính
sách chưa nghiêm túc, thiếu đầy đủ, chính xác dẫn đến hiệu lực, hiệu quả của chính
sách khơng cao, khơng rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức, chỉ đạo
thực hiện chính sách.
(iii) Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách chưa chú ý đến các nguồn lực
(con người, kinh phí, điều kiện vật chất, thời gian) để thực hiện chính sách. Những quy
định, thủ tục đề ra trong q trình tổ chức thực thi chính sách thường khơng ổn định.
Thủ tục hành chính cịn rườm rà, phức tạp, gây khó khăn cho việc thực thi chính sách,
như thủ tục thẩm định, phê duyệt các chương trình, dự án; thủ tục cấp phát, chi tiêu tài
chính ... Đặc biệt, khâu phân công, phối hợp thực hiện chính sách chưa hợp lý, cịn
biểu hiện của tính cục bộ, không đề cao trách nhiệm, tinh thần phối, kết hợp giữa các
cơ quan hữu quan trong tổ chức thực hiện chính sách.
21
(iv) Cơng tác tun truyền, phổ biến về mục đích, nội dung, u cầu của chính
sách khơng đầy đủ, rõ ràng, cụ thể, thống nhất và kịp thời đến các đối tượng liên quan
(nhà chức trách, những người thực thi và người dân), thậm chí mâu thuẫn, khơng phù
hợp với các quy định trong chính sách, dẫn đến việc triển khai thực hiện chính sách
khó khăn và khơng chính xác.
(v) Một số cán bộ, công chức, viên chức thực thi chính sách có trình độ năng lực
yếu; nắm và hiểu chính sách cịn hạn chế; tinh thần, thái độ thực thi chính sách thiếu
khách quan dẫn đến hạn chế, bất cập trong thực hiện và làm cho chính sách bị méo mó
khơng đúng với mục tiêu, mục đích ban hành chính sách. Thậm chí, một số cán bộ,
cơng chức một số nơi, do nhận thức hạn chế, chưa phân biệt rạch rịi sự khác nhau
giữa thực hiện chính sách và vận dụng chính sách, đã vận dụng tùy tiện, nên cùng một
chính sách, nhưng mỗi nơi làm một cách, dẫn đến việc thực hiện chính sách khơng
cơng bằng và thống nhất.
(vi) Công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện một số chính sách khơng
được thực hiện thường xun, chưa kịp thời, cịn hình thức, chiếu lệ, thiếu thực chất,
nên không phát hiện kịp thời những hạn chế, bất cập để kiến nghị sửa đổi, bổ sung
hoàn thiện, rút kinh nghiệm kịp thời cho việc tổ chức thực hiện chính sách. Việc xử lý
khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật trong q trình thực hiện cịn chậm, nhiều
trường hợp chưa bảo đảm sự công bằng, nghiêm minh đã ảnh hưởng xấu đến thực hiện
chính sách cơng. Cơng tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm cho hoạch định và thực
thi chính sách chưa được coi trọng, chưa làm thường xuyên, kịp thời. Điều này làm
cho việc đánh giá kết quả thực hiện các chính sách gặp khó khăn do thiếu các thông tin
đáng tin cậy về quá trình thực hiện và những nội dung, biện pháp cần bổ sung, hoàn
thiện.
2.3. Một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi
chính sách cơng ở nước ta trong thời gian tới
22
Để khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi chính sách cơng ở
nước ta, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
2.3.1. Tiếp tục hồn thiện chính sách phù hợp với điều kiện và đòi hỏi của thực
tiễn cuộc sống đang đặt ra.
Các chính sách khi được ban hành thường phản ánh mục tiêu mong muốn của
các nhà hoạch định chính sách, song việc thực thi chính sách thường phức tạp, chịu tác
động của nhiều yếu tố trong bối cảnh luôn biến động, do đó khơng phải dễ dàng đạt tới
mục tiêu. Hơn nữa, nhu cầu của cuộc sống con người có xu hướng tăng lên về sống và
chất lượng, do đó chính sách được ban hành có thể bị thực tiễn vượt qua, khơng cịn
phù hợp nữa. Vì vậy, việc tiếp tục bổ sung, hồn thiện chính sách là tất yếu trong q
trình vận hành chính sách trên thực tế. Đồng thời, một chính sách được áp dụng ở
phạm vi rộng cũng thường vấp phải sự bất cập do điều kiện cụ thể của từng bộ, ngành,
lĩnh vực hay địa phương. Do đó, trong q trình thực thi chình sách, các bộ, ngành, địa
phương nên chủ động trao đổi với nhau trong việc cụ thể hóa, hồn thiện nội dung
chính sách cho phù hợp với đặc thù của bộ, ngành, địa phương mình, qua đó sẽ huy
động được sức mạnh tổng hợp vào q trình hiện thực hóa mục tiêu của của chính
sách.
2.3.2. Tăng cường lập kế hoạch thực thi chính sách ở cấp vĩ mơ và vi mơ.
Khi được phân cơng thực thi chính sách, cơ quan chun trách phải xây dựng
được kế hoạch tổng thể, trên cơ sở đó, các cơ quan, đơn vị tham gia sẽ xây dựng kế
hoạch cụ thể ở cấp mình. Các bản kế hoạch này phải được phê duyệt của cấp có thẩm
quyền và được công bố công khai. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho sự thống nhất về
nhận thức và hành động trong q trình thực thi chính sách và là một trong những căn
cứ để đánh giá kết quả thực thi chính sách của mỗi cơ quan, đơn vị hoặc cấp chính
quyền.
23
2.3.3. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tham
gia thực thi chính sách, đặc biệt là những cơ quan, đơn vị là các đầu mối có thẩm
quyền tổ chức thực thi chính sách.
Trên thực tế, việc thực thi chính sách gồm nhiều cơ quan, đơn vị và các cấp
chính quyền tham gia, trong đó có cơ quan, đơn vị được phân cơng giữ vai trị chủ trì,
điều phối chung các hoạt động trong q trì thực thi chính sách. Trong điều kiện đó,
vai trò chỉ đạo, điều hành của người lãnh đạo các cơ quan, đơn vị này phải mạch lạc,
cương quyết, sát sao và thống nhất. Trong thực tế, khơng ít trường hợp, những cán bộ,
công chức trong tổ chức khi thực thi chính sách hay có thói quen với cách làm cũ, ngại
sự thay đổi, vì vậy vẫn tìm cách duy trì phương thức hoạt động trước đây. Trong tình
hình đó, người lãnh đạo phải là nmgười có tinh thần đổi mới và truyền đạt tinh thần đó
đến mọi người trong tổ chức. Thực tế đã chỉ rõ rằng, ở đâu người lãnh đạo có năng lực
và bản lĩnh thì cơ quan, đơn vị đó ln có định hướng phát triển tốt và đạt được những
thành quả tích cực.
2.3.4. Tăng cường cơng tác phổ biến, truyền đạt chính sách.
Cơng tác phổ biến, tuyên truyền chính sách đến các tổ chức và cá nhân thực thi
chính sách cũng như các đối tượng bị ảnh hưởng của chính sách là rất quan trọng
nhằm tạo sự đồng thuận về nhận thức và sự tham gia thực thi chính sách. Do đó, cần
tránh cáchphổ biến, tun truyền chính sách một cách qua loa, hình thức, làm cho
xong ... Việc phổ biến, truyền đạt chính sách phải phù hợp với từng đối tượng chính
sách và nên bảo đảm duy trì tính hai chiều, khơng chỉ thơng tin từ trên xuống, mà phải
tạo điều kiện cho người được thơng tin có thể phản hồi hoặc hỏi lại để làm rõ những
điểm chưa hiểu, những chỗ còn vướng mắc. Sự kết nối hai chiều này phải được duy trì
thơng qua bộ phận được phân cơng đảm trách của cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm
làm đầu mối của sự phối hợp trong suốt q trình thực thi chính sách.
24
2.3.5. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị tham gia tổ chức
thực thi chính sách.
Như trên đã đề cập, việc thực thi chính sách gồm có nhiều cơ quan, đơn vị tham
gia. Để bảo đảm sự thống nhất, nhịp nhàng trong quá trình thực thi chính sách, cần có
sự phân cơng và phối hợp trách nhiệm rõ ràng, rành mạch giữa các cơ quan, đơn vị
tham gia. Muốn vậy, cần ban hành quy chế phân công và phối hợp cụ thể đối với các
cơ quan, đơn vị tham gia, trong đó quy định rõ nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị,
trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị và các yêu cầu về phối hợp thực thi chính sách. Quy
chế này do cơ quan chuyên trách xây dựng và lấy ý kiến các cơ quan phối hợp thực thi
chính sách, được ban hành dưới hình thức văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền
quyết định. Đây sẽ là căn cứ để đánh giá sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, đơn
vị thực thi chính sách và truy cứu trách nhiệm cụ thể nếu đơn vị làm không tốt.
2.3.6. Bảo đảm nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đó.
Nguồn lực tài chính cho thực thi chính sách ln là vấn đề nan giải có tính
khách quan. Trong thực tế, ngay cà Ngân sách nhà nước đôi khi cũng khơng bố trí đủ
theo quy định cho việc thực thi chính sách. Để xử lý vấn đề này, trước hết, cơ quan tài
chính cần xem xét khả năng nguồn vốn ngân sách để bảo đảm yêu cầu đề ra. Mặt khác,
các cấp chính quyền, cơ quan, đơn vị cần có kế hoạch và các biện pháp cụ thể để huy
động và sử dụng các nguồn vốn khác một cách tích cực và sáng tạo, phù hợp với quy
định của pháp luậtl đồng thời, cơng khai hóa các khoản thu - chi tài chính bằng những
hình thức thích hợp.
2.3.7. Tăng cường công tác theo dõi và giám sát việc thực thi chính sách.
Theo dõi và giám sát là yêu cầu khách quan của mọi hoạt động cơng, trong đó
có thực thi chính sách cơng. Cơng tác theo dõi, kiểm tra, giám sát phải bao quát các
khía cạnh của quá trình thực thi chính sách, từ những bất cập phát sinh do chính sách
25
ban hành chưa phù hợp, công tác lập kế hoạch thực thi chính sách, phổ biến và truyền
đạt chính sách, phân cơng và phối hợp trong thực thi chính sách, cho đến quá trình huy
động và sử dụng các nguồn lực. Những vướng mắc và bất cập trong quá trình thực thi
chính sách cần được các cơ quan, đơn vị báo cáo lên cấp có thẩm quyền; đồng thời,
bản thân cơ quan chuyên trách cũng phải thường xuiyên theo dõi, kiểm tra và tổng hợp
tình hình, trên cơ sở đó, xác định rõ các hạn chế, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất giải
pháp khắc phục.
KẾT LUẬN