TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP NHĨM
MƠN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Giảng viên: Nguyễn Hoàng Vân
Sinh viên thực hiện: Nhóm 3
Lớp: Quản trị nhân lực 63A
Danh sách nhóm 3
Họ và tên
STT
Mã sinh viên
1
11210501
Nguyễn Hải Anh
2
11218087
Nguyễn Thị Thúy An
3
11218099
Nguyễn Thị Thảo Anh
4
11218101
Nông Thị Linh Chi
5
11218109
Quách Tuấn Đạt
6
11214025
Đỗ Huyền My
7
11214120
Nguyễn Hải Nam
Ghi chú
Nhóm trưởng
Mục lục
TIEU LUAN MOI download :
Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức?
Cho ví dụ minh họa?.............................................................................................................. 1
1. Khái niệm về pháp luật và đạo đức......................................................................... 1
1.1: Pháp luật:........................................................................................................................ 1
1.2: Đạo đức:.......................................................................................................................... 1
2. So sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa pháp
luật và đạo đức.......................................................................................................................... 1
2.1: Điểm giống nhau:....................................................................................................... 1
2.2: Điểm khác nhau:......................................................................................................... 2
3. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức............................................................... 3
3.1:Tương quan mối quan hệ qua các thời kì :................................................... 4
3.2:Sự tác động của pháp luật lên đạo đức:........................................................ 4
3.3: Sự tác động của đạo đức lên pháp luật:....................................................... 5
4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh các
quan hệ xã hội của pháp luật và đạo đức................................................................. 6
5. Liên hệ tình hình thực tế nước ta hiện nay......................................................... 8
6. Ví dụ minh họa..................................................................................................................... 9
Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và tập
quán? Cho ví dụ minh họa?........................................................................................... 10
1. Khái niệm pháp luật và tập quán........................................................................... 10
2. Phân biệt pháp luật và tập quán............................................................................ 10
2.1: Điểm giống nhau:.................................................................................................... 10
2.2: Điểm khác nhau:..................................................................................................... 11
3. Mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán.......................................................... 13
3.1: Tác động của pháp luật tới tập quán........................................................... 13
3.2: Tác động của tập quán tới pháp luật........................................................... 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 18
TIEU LUAN MOI download :
Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức? Cho ví dụ minh họa?
1. Khái niệm về pháp luật và đạo đức
1.1: Pháp luật:
Pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội nhằm thiết
lập trật tự và ổn định xã hội tạo ra.
1.2: Đạo đức:
Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh
giá quan hệ ứng xử giữa con người với con người trong xã hội.
2. So sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa pháp luật và đạo đức
2.1: Điểm giống nhau:
- Pháp luật và đạo đức đều có những quy tắc xử sự chung hay quy
phạm xã hội để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội nên
chúng đều có các đặc điểm của các quy phạm xã hội, đó là:
+ Pháp luật và đạo đức đều là những khuôn mẫu, chuẩn mực để
hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở
trong điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo
những cách thức mà chúng đã nêu ra. Căn cứ vào pháp luật, đạo đức,
các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, khơng được làm gì, phải làm gì
và làm như thế nào khi ở trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
+ Pháp luật và đạo đức đều là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh
giá hành vi của con người. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các
quy tắc đạo đức, có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi
nào là hợp đạo đức; hành vi nào là trái pháp luật, hành vi nào là trái đạo
đức.
+ Pháp luật và đạo đức đều được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ
thể hay một tổ chức, cá nhân cụ thể mà là cho tất cả các chủ thể tham
gia vào quan hệ xã hội do chúng điều chỉnh, tức là mọi trường hợp, khi
điều kiện hoặc hoàn cảnh do chúng dự kiến xảy ra. Do đó, Pháp luật và
đạo đức đều được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống.
1
TIEU LUAN MOI download :
- Cả pháp luật và đạo đức đều tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội
nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội.
- Cả pháp luật và đạo đức đều vừa có tính giai cấp, vừa có tính xã hội
và tính dân tộc.
- Pháp luật và đạo đức đều phản ánh sự tồn tại của xã hội trong những
giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Chúng là kết quả của quá trình
nhận thức đời sống của chính mình. Pháp luật và đạo đức đều chịu sự
chi phối, đồng thời tác động lại đời sống kinh tế xã hội.
- Ngoài ra, các phạm trù đạo đức như: Nghĩa vụ đạo đức, lương tâm,
nhân đạo, công bằng,... cũng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xây
dựng và áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ: Chẳng hạn như trong quy định pháp luật về phẩm chất
của cán bộ trong ngành Tư pháp luôn nêu lên nguyên tắc: Thực hiện
nhiệm vụ theo đúng pháp luật và phải có phẩm chất đạo đức tốt.
2.2: Điểm khác nhau:
Bên cạnh những điểm giống nhau, pháp luật và đạo đức cịn có
những điểm khác nhau:
- Về con đường hình thành nhà nước, pháp luật hình thành thông qua
hoạt động xây dựng pháp lý của nhà nước. Trong khi đó, đạo đức được
hình thành một cách tự do qua nhận thức của cá nhân.
- Hình thức thể hiện của pháp luật và đạo đức: Hình thức thể hiện của
đạo đức đa dạng hơn với hình thức thể hiện của pháp luật, nó được
biểu hiện thơng qua dạng khơng thành văn như văn hố truyền miệng,
phong tục tập quán… và dạng thành văn như kinh, sách chính trị,… còn
pháp luật lại biểu hiện rõ ràng dưới dạng hệ thống của văn bản quy
phạm pháp luật.
- Đạo đức có nguồn gốc giá trị lâu dài, khi con người ý thức hành vi tự do
sẽ điều chỉnh hành vi đó. Do sự điều chỉnh đó xuất phát từ tự thân chủ
thể nên hành vi đạo đức có tính bền vững. Ngược lại, pháp luật là sự
cưỡng bức, tác động bên ngồi, dù muốn hay khơng người đó cũng phải
thay đổi hành vi của mình. Sự thay đổi này có thể là khơng bền vững vì
nó có thể lập lại nơi này hay nơi khác nếu vắng bóng pháp luật.
2
TIEU LUAN MOI download :
- Về biện pháp thực hiện, pháp luật đảm bảo rằng nhà nước thông qua
bộ máy cơ quan như cơ quan lập pháp, tư pháp,… còn đạo đức lại
được đảm bảo bằng dư luận và lương tâm của con người.
- Pháp luật có tính quyền lực nhà nước, nó chỉ do nhà nước đặt ra hoặc
thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp quyền lực nhà
nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục cho đến áp dụng
các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Trong khi đó, đạo đức được
hình thành một cách tự phát trong xã hội, được lưu truyền từ đời này
sang đời khác theo phương thức truyền miệng; được đảm bảo bằng thói
quen, bằng dư luận xã hội, bằng lương tâm, niềm tin của mỗi người và
bằng biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.
- Pháp luật có tác động tới mọi tổ chức và cá nhân có liên quan trong xã
hội, cịn đạo đức tác động tới các cá nhân trong xã hội.
- Pháp luật có những quan hệ xã hội điều chỉnh mà đạo đức khơng điều
chỉnh. Bên cạnh đó, đạo đức thường là những quy phạm mang tính
chung chung và khơng thống nhất. Đạo đức có phạm vi điều chỉnh rộng
hơn so với pháp luật, vì trên thực tế có những quan hệ xã hội pháp luật
không thể điều chỉnh hết được, đặc biệt đối với những quan hệ xã hội
trong lĩnh vực tình bạn, tình yêu, sự giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống
hằng ngày.
- Pháp luật có tính hệ thống, bởi vì nó là một hệ thống các quy tắc xử sự
chung đề điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội phát sinh trong những lĩnh
vực khác nhau của đời sống như dân sự, kinh tế, lao động,… Song các
quy phạm đó khơng tồn tại một cách độc lập mà giữa chúng có mối quan
hệ nội tại thống nhất với nhau để tạo nên một chỉnh thể là hệ thống pháp
luật. Ngược lại, đạo đức khơng có tính hệ thống.
- Pháp luật ln thể hiện ý chí của nhà nước, cịn đạo đức thường thể
hiện ý chí của một cộng đồng dân cư, ý chí chung của xã hội.
- Pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định,
giai đoạn có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp. Đạo
đức ra đời và tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử.
3. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Bất kì một hệ thống pháp luật nào bao giờ cũng ra đời, tồn tại và
phát triển trên một nền tảng đạo đức nhất định. Đạo đức
3
TIEU LUAN MOI download :
như là môi trường cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của pháp luật, là
chất liệu làm nên các quy định trong hệ thống pháp luật. Những quan
niệm, chuẩn mực đạo đức đóng vai trị là tiền đề tư tưởng chỉ đạo việc
xây dựng pháp luật. Ý thức đạo đức cá nhân là nhân tố ảnh hưởng
mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật. Nó chính là mơi trường thuận lợi
để tiếp thu, cảm nhận và thực hiện pháp luật. Người có ý thức đạo đức
tốt thường là người có thái độ tơn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh thực
hiện pháp luật. Ngược lại, chủ thể có ý thức đạo đức kém dễ coi thường
pháp luật, vi phạm pháp luật. Vai trò của ý thức đạo đức cá nhân càng
có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động áp dụng pháp luật của nhà chức
trách, khi đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật bao giờ họ cũng phải
tính đến các quan niệm đạo đức xã hội sao cho “đạt lý” nhưng cũng
“thấu tình”.
Ngược lại, pháp luật có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ tới
đạo đức. Pháp luật là công cụ để truyền bá những quan điểm, quan
niệm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, nhờ đó chúng nhanh chóng trở
thành những chuẩn mực mang tính bắt buộc chung đối với tất cả mọi
người. Pháp luật góp phần củng cố, giữ gìn và phát huy các giá trị đạo
đức xã hội, hỗ trợ, bổ sung cho đạo đức, bảo đảm cho chúng được thực
hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Pháp luật ngoại trừ những quan niệm, tư
tưởng, đạo đức lạc hậu, trái với lợi ích giai cấp thống trị, lợi ích chung
của cộng đồng cũng như tiến bộ xã hội. Pháp luật góp phần ngăn chặn
sự thối hóa, xuống cấp của đạo đức; ngăn chặn việc hình thành những
quan niệm đạo đức trái thuần phong mỹ tục của dân tộc và tiến bộ xã hội;
góp phần làm hình thành những quan niệm đạo đức mới.
3.1:Tương quan mối quan hệ qua các thời kì :
Thời phong kiến: Tương quan giữa chúng có sự thay đổi. Có thể nêu
ví dụ ngay ở xã hội Việt Nam qua các thời kỳ. Trong xã hội phong kiến,
do tư duy của con người lúc này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng
Nho giáo, do vậy các quan hệ xã hội lúc bấy giờ vẫn do đạo đức chiếm
ưu thế hơn so với pháp luật. Mặc dù trong xã hội phong kiến vẫn có
những quy phạm pháp luật nhưng suy cho cùng nó vẫn chủ yếu dựa vào
các quy phạm đạo đức của xã hội, những tư tưởng về đạo đức được luật
hóa rất nhiều và đạo đức hầu như ngự trị trong luật pháp.
Thời kỳ chiến tranh: Pháp luật cũng được bổ sung và điều chỉnh
nhiều mối quan hệ xã hội hơn, phát triển hơn so với thời kỳ phong kiến.
Tuy nhiên, vì hồn cảnh chiến tranh có nhiều
4
TIEU LUAN MOI download :
vấn đề phát sinh trong thời chiến không thể dùng pháp luật để áp đặt
được nên quy phạm đạo đức vẫn chiếm ưu thế hơn.
Thời bao cấp: Do tư duy và đường lối chính sách chưa phù hợp
nên pháp luật vẫn chưa có sự phát triển cao. Tuy nhiên, trong giai đoạn
này, đời sống đạo đức và pháp luật có những chuyển biến thể hiện
khát vọng và nhu cầu tự do của con người.
Hiện nay: Khi chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường, vấn đề
giải quyết mối tương quan giữa pháp luật và đạo đức được đặt ra là hết
sức cần thiết. Bởi vì đạo đức tuy là vấn đề mang tính trừu tượng nhưng
việc đưa đạo đức vào thực thi và áp dụng pháp luật sẽ làm quy định của
pháp luật mang tính thực tiễn cao, thể hiện được tinh thần nhân đạo và
phù hợp với ý chí của nhân dân.
3.2:Sự tác động của pháp luật lên đạo đức:
Trong một số trường hợp, định hướng đạo đức muốn được thực
hiện một cách phổ biến trong xã hội thì phải thơng qua các quy phạm
pháp luật để thể hiện. Điều đó cho thấy ở một số khía cạnh nhất định
pháp luật có ưu thế nổi trội hơn so với chuẩn mực đạo đức. Pháp luật
không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ
phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu hiệu bằng các
biện pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật có vai trị to lớn trong việc duy trì, bảo
vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội.
Pháp luật có thể góp phần củng cố, phát huy vai trị, tác dụng thực
tế của các quan niệm, quy tắc đạo đức khi chúng phù hợp với ý chí của
nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật, bởi vì ngồi việc đảm bảo
thực hiện bằng lương tâm, niềm
5
TIEU LUAN MOI download :
tin, dư luận xã hội,… Chúng còn được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng
các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước. Ví dụ như: Quy định cha
mẹ có nghĩa vụ u thương, ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con
trong luật hơn nhân và gia đình đã góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác
dụng thực tế của quan niệm, quy tắc đạo đức về vấn đề này.
Pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức của dân tộc,
ngăn chặn sự thối hóa, xuống cấp của đạo đức. Bằng việc ghi nhận các
quan niệm, chuẩn mực đạo đức trong pháp luật, nhà nước bảo đảm cho
chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Một khi được thể chế
hóa thành pháp luật, việc thực hiện những chuẩn mực đạo đức đó trở
thành nghĩa vụ của toàn thể xã hội, các cá nhân, tổ chức dù không muốn
cũng phải thực hiện theo. Đặc biệt, bằng việc xử lí nghiêm những chủ thể
có hành vi đi ngược với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật góp phần
bảo vệ và giữ gìn các giá trị đạo đức của xã hội, ngăn chặn sự tha hóa,
xuống cấp của đạo đức.
Pháp luật cũng có thể loại bỏ các chuẩn mực đạo đức đã lỗi thời,
cải tạo các chuẩn mực đạo đức, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo
đức mới, phù hợp hơn với tiến bộ xã hội. Ví dụ: Quy định cấm cưỡng ép
kết hơn, tảo hơn trong luật hơn nhân và gia đình góp phần loại bỏ quan
hệ đạo đức “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trong hôn nhân.
3.3: Sự tác động của đạo đức lên pháp luật:
Chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy
định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân trong xã hội
thực hiện một hành vi pháp luật hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy
định của pháp luật, mà hồn toàn xuất phát từ các quy tắc của đạo đức.
Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước
sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật. Khi xây dựng và ban
hành pháp luật, nhà nước khơng thể khơng tính tới các quy tắc chuẩn
mực đạo đức. Ví dụ như: “Tội khơng tố giác tội phạm” (Điều 314 Bộ luật
hình sự năm 1999), nếu tội phạm đó khơng phải là tội xâm phạm an ninh
quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì nhà nước khơng truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với ơng, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em
ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội vì về mặt đạo đức và tâm lý,
khơng ai muốn người thân mình dính vào vịng tù tội.
– Đối với việc hình thành pháp luật:
6
TIEU LUAN MOI download :
+ Nhiều quan điểm đạo đức được thể chế hoá trong pháp luật, nhiều quy
tắc đạo đức phù hợp với ý chí của nhà nước được thừa nhận trong pháp
luật qua đó góp phần tạo nên pháp luật. Ví dụ như: Quan niệm, quy tắc
đạo đức về mối quan hệ thầy trò được thừa nhận trong giáo dục.
Những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ trở
thành tiền đề để hình thành nên những quy phạm thay thế chúng, từ đó
cũng góp phần hình thành nên pháp luật. Ví dụ: Quan niệm “cha mẹ đặt
đâu con ngồi đấy” trong hôn nhân trước đây trở thành tiền đề để hình
thành nên quy định hơn nhân là tự nguyện trên cơ sở giữa tình yêu nam
và nữ trong luật hơn nhân và gia đình.
+
– Đối với việc thực hiện pháp luật:
Những quan niệm, quy tắc đạo đức được thừa nhận trong pháp luật
góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự
giác hơn, bởi vì chúng đã ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân nên
ngoài những biện pháp của nhà nước, chúng cịn được đảm bảo thực
hiện bằng thói quen, bằng lương tâm và niềm tin của mỗi người, bằng dư
luận của xã hội. Ngược lại, những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý
chí của nhà nước sẽ cản trở thực hiện pháp luật trong thực tế. Ví dụ:
Quan niệm trọng nam khinh nữ dẫn đến tình trạng một số người cố đẻ
đến con thứ ba, thứ tư, tức là vi phạm chính sách và pháp luật về dân số
của nhà nước.
+
+ Ý thức đạo đức cá nhân có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện
pháp luật. Người có ý thức đạo đức cao trong mọi trường hợp đều
nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Ngay cả trường hợp pháp luật có
những “khe hở” thì họ cũng khơng vì thế mà có hành vi “lợi dụng”, để làm
điều bất chính. Đối với nhiều trường hợp “đã trót” thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật, ý thức đạo đức giúp chủ thể ăn năn, hối cải, sửa chữa
lỗi lầm. Tình cảm đạo đức cịn có thể khiến các chủ thể thực hiện hành vi
một cách hào hứng, nhiệt tình, tận tâm, triệt để. Ngược lại, đối với những
người có ý thức đạo đức thấp thì thái độ tơn trọng pháp luật, ý thức tuân
thủ pháp luật cũng không cao, họ dễ có các hành vi vi phạm pháp luật.
4. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội
của pháp luật và đạo đức
Pháp luật có vai trị đặc biệt quan trọng, là phương tiện không thể
thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường
7
TIEU LUAN MOI download :
của xã hội nói chung và của nền tảng đạo đức nói riêng. Pháp luật
khơng chỉ là một cơng cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà cịn tạo mơi
trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, lành mạnh hóa
đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới. Trong giai
đoạn hiện nay, vai trò của pháp luật và đạo đức xã hội ngày càng được
đề cao. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, mối quan hệ giữa
pháp luật với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại
một số hạn chế nhất định như:
- Việc đánh giá một hành vi nào đó là trái hay khơng trái với đạo đức xã
hội không hề đơn giản, cùng một hành vi nhưng có thể có các đánh giá
khác nhau, thậm chí đối lập nhau.
- Trong xã hội hiện nay nhiều quan niệm, tư tưởng cổ hủ vẫn còn tồn tại
mà chưa bị ngăn chặn đúng mức cần thiết như thói gia trưởng, tư tưởng
cá nhân, phân biệt địa vị, đẳng cấp xã hội, trọng nam khinh nữ. Đặc biệt
là sự “xuống cấp” đạo đức trong các mối quan hệ gia đình như cha mẹ –
con, vợ – chồng. Sự suy thối về đạo đức nghề nghiệp cũng có chiều
hướng gia tăng.
Trên cơ sở phân tích, đề xuất:
- Thứ nhất, xác định đúng về vị trí, vai trị của pháp luật và đạo đức
trong đời sống xã hội.
Trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhà nước phải kết hợp
nhuần nhuyễn giữa pháp luật và đạo đức để chúng hỗ trợ nhau, phát
huy được những ưu điểm cũng như khắc phục được những hạn chế của
hai loại quy phạm quan trọng này. Tuy nhiên, pháp luật bao giờ cũng
được ưu tiên áp dụng hơn so với đạo đức mặc dù pháp luật có thể được
xây dựng trên nền tảng đạo đức. Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ VI đã khẳng định: “Quản lý bằng pháp luật chứ không chỉ
bằng đạo lý…”.
- Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như các
chuẩn mực đạo đức phù hợp kết hợp với việc nâng cao ý thức cá nhân.
Xây dựng một hệ thống pháp luật toàn diện, phù hợp, đồng bộ, hiệu quả
là yêu cầu đặt ra cho bất kỳ một nhà nước nào trên thế giới cũng như
Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh việc đưa ra các quy định pháp luật, Nhà
nước cũng cần chú trọng khuyến
8
TIEU LUAN MOI download :
khích và phát triển những quy ước mang tính đạo đức trong từng lĩnh
vực, nghề nghiệp của đời sống xã hội như quy ước về đạo đức nghề
luật, đạo đức nghề báo, đạo đức người kinh doanh. Khi đặt ra các quy
phạm pháp luật, nhà lập pháp cần phải xem xét cân nhắc quy phạm đó
có phù hợp với đạo đức khơng? Có ảnh hưởng tới các chuẩn mực đạo
đức truyền thống khơng? Nếu có, mức độ ảnh hưởng như thế nào? Ngay
cả khi hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh thì từng cá thể, nếu thực sự
muốn, vẫn có thể cư xử một cách văn minh, có trách nhiệm theo đúng
đạo đức của mình.
- Thứ ba, tăng cường cơng tác phổ biến pháp luật, giáo dục đạo
đức.
Pháp luật và đạo đức là hai công cụ quản lý quan trọng của nhà nước và
xã hội. Vì vậy, một cách hiệu quả nhất để đưa pháp luật và đạo đức vào
đời sống là tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp
luật và đạo đức trong các cộng đồng dân cư, các cá nhân, tổ chức và
trên quy mô toàn xã hội. Khi tuyên truyền, phổ biến pháp luật phải kết
hợp với giáo dục đạo đức và ngược lại nhưng phải đặc biệt nhấn mạnh
tuân theo đạo đức nhưng phải tôn trọng và thực hiện sự nghiêm minh
của các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, nhà nước cần chú trọng
đẩy mạnh công tác xây dựng, tuyên truyền thực hiện các quy tắc về đạo
đức nghề nghiệp trong các lĩnh vực, đồng thời tạo môi trường xã hội
minh bạch, thuận lợi để pháp luật được thực hiện nghiêm minh, các
chuẩn mực đạo đức tốt đẹp được phát huy trong các mối quan hệ xã hội.
5. Liên hệ tình hình thực tế nước ta hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, vị trí cũng như vai trị mối quan hệ của pháp
luật và đạo đức ngày càng được nhìn nhận đúng đắn, tích cực.
Thứ nhất, do được Nhà nước xây dựng dựa trên các quan điểm đạo đức
của nhân dân, pháp luật không những thể hiện được tư tưởng cách
mạng, đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức tiến bộ mà cịn thể hiện
được ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của nhân dân lao động. Cụ
thể là được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung 2001,
Điều 2 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân”.
- Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành được xây dựng trên cơ sở tôn
trọng và bảo vệ phẩm giá con người, coi việc phục vụ
9
TIEU LUAN MOI download :
con người là mục đích cao nhất của nó. Hiến pháp 1992 quy
định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hố và xã hội được tơn trọng, thể
hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”
(Điều 50).
Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam phản ảnh khá rõ nét tư tưởng nhân
đạo, một tư tưởng đạo đức cơ bản của nhân dân ta. Tính nhân đạo trong
hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện rất rõ trong các quy định về
các chính sách xã hội của nhà nước. Nhà nước Việt Nam đã có nhiều
chính sách ưu đãi, quan tâm đặc biệt tới các thương binh, liệt sĩ, người
có công với cách mạng, người già, trẻ em không nơi nương tựa, người
tàn tật…
- Tính nhân đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn được thể hiện
ngay cả trong các quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật.
Chẳng hạn các quy định của Bộ luật hình sự, quy định về các tình tiết
giảm nhẹ hình sự; quyết định hình phạt nhẹ hơn quyết định của bộ luật
(Điều 46, Điều 47); miễn hình phạt (Điều 54); miễn chấp hành hình phạt
(Điều 57); giảm mức hình phạt đã tuyên (Điều 58,59); các quy định đối
với người thành niên chưa phạm tội (chương 10); các quy định về tạm
hỗn chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ có thai hoặc mới sinh đẻ,
người bị mắc bệnh hiểm nghèo, người bị kết án là người lao động duy
nhất trong gia đình nếu ở tù sẽ làm cho gia đình đặc biệt khó khăn (Điều
231 Bộ luật tố tụng hình sự)…
Thứ ba, đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện cho
pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong
đời sống. Khi pháp luật chưa được ban hành kịp thời, khơng đầy đủ, đạo
đức giữ vai trị bổ sung, thay thế cho pháp luật. Nhà nước ta thừa nhận
tập quán có thể thay thế pháp luật trong những trường hợp pháp luật
chưa quy định và nội dung tập quán không trái với quy định của pháp
luật.
- Đạo đức còn tạo điều kiện để pháp luật được thực hiện nghiêm minh
trong đời sống xã hội. Gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội đã thực
sự phát huy vai trị tích cực của mình trong vấn đề giáo dục nhân cách,
lối sống. Chính vì vậy, về cơ bản, tuyệt đại đa số các thành viên trong xã
hội đều có ý thức đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, tôn trọng mọi
người, tôn trọng các quy tắc sống chung của cộng đồng.
Thứ tư, pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy
các quan niệm đạo đức tốt đẹp, hình thành những tư
10
TIEU LUAN MOI download :
tưởng đạo đức tiến bộ, ngăn chặn sự thoái hoá xuống cấp của đạo đức,
loại trừ những tư tưởng đạo đức cũ, lạc hậu. Để giữ gìn và phát huy các
quan niệm đạo đức của dân tộc, Hiến pháp 1992 quy định:
“Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn
hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát
huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” (Điều 30). Để giữ gìn và phát
huy các quan điểm đạo đức tiến bộ, ngăn chặn sự thối hóa, xuống cấp
của đạo đức, pháp luật quy định các xử sự bắt buộc đối với các chủ thể
khi họ ở trong các điều kiện hoàn cảnh xác định.
6. Ví dụ minh họa
- Hiến pháp quy định cơng dân có nghĩa vụ chấp hành những quy tắc
sinh hoạt cộng đồng (Điều 79).
- Luật hơn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ Cha mẹ có nghĩa vụ
ni dạy con thành cơng dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính
trọng, chăm sóc, ni dưỡng cha mẹ…” (Điều 2).
- Bên cạnh đó, pháp luật cấm chỉ các hành vi trái với đạo đức xã hội.
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn
hóa phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục” (Điều 30); “Nghiêm cấm
những hoạt động văn hóa, thơng tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại
nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam” (Điều 33).
- Luật hơn nhân và gia đình 2000 quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép
kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; cấm kết hôn giả, lừa
dối để kết hơn, ly hơn…”.
Câu 2: Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và tập
quán? Cho ví dụ minh họa?
1. Khái niệm pháp luật và tập quán
- Phong tục, tập quán: Là những nếp nghĩ, nếp sống đã ăn sâu vào đời
sống xã hội, trong sinh hoạt hàng ngày, được mọi người thừa nhận và
tuân theo. Các hoạt động liên quan đến dư luận xã hội, niềm tin, niềm tin
của cá nhân với cộng đồng, hoặc các hành động quản lý áp đặt. từ cộng
đồng đến từng cá nhân có hành vi vi phạm.
11
TIEU LUAN MOI download :
Ví dụ: Theo phong tục tập quán cưới xin của người Việt, trình
tự cưới xin đa số được tiến hành theo các bước: Lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi,
lễ xin dâu và lễ cưới.
- Pháp luật (PL): Là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc
thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trong xã hội và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ trong xã hội nhằm thiết
lập trật tự và ổn định xã hội. tạo ra.
Ví dụ: Hiến pháp 1992 của nhà nước ta quy định các nguyên tắc cơ bản
như tôn trọng quyền con người (Điều 50), quyền của công dân không
tách rời nghĩa vụ của cơng dân (Điều 51), mọi cơng dân đều bình đẳng
trước pháp luật (Điều 92)…
2. Phân biệt pháp luật và tập quán
2.1: Điểm giống nhau:
- Pháp luật và tập quán đều là những quy tắc xử sự chung hay quy phạm
xã hội để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội cho nên
chúng đều có các đặc điểm của các quy phạm xã hội, đó là:
+ Pháp luật và tập quán đều là những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng
dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều
kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo những cách
thức mà chúng đã nêu ra. Căn cứ vào pháp luật, tập quán, các chủ thể sẽ
biết mình được làm gì, khơng được làm gì, phải làm gì và làm như thế
nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.
+ Pháp luật và tập quán đều là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh
giá hành vi của con người. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, của
tập quán, có thể xác định được hành vi nào
12
TIEU LUAN MOI download :
là hợp pháp, hành vi nào là hợp tập quán; hành vi nào là trái pháp luật,
hành vi nào là trái tập quán.
+ Pháp luật và tập quán đều được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ
thể hay một tổ chức, cá nhân cụ thể mà là cho tất cả các chủ thể tham
gia vào quan hệ xã hội do chúng điều chỉnh.
+ Pháp luật và tập quán đều được thực hiện nhiều lần trong thực tế
cuộc sống, bởi vì chúng được ban hành khơng phải để điều chỉnh một
quan hệ xã hội cụ thể, một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan
hệ xã hội chung, tức là mọi trường hợp, khi điều kiện hoặc hoàn cảnh do
chúng dự kiến xảy ra.
- Cả pháp luật và tập quán đều tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội
nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội.
2.2: Điểm khác nhau:
Phương
diện
Nguồn
gốc
- PL ra đời như một thứ thiếu của đời sống con công cụ
sắc bén cho giai người: điều chỉnh quan cấp thống trị điều
hòa hệ xã hội giữa con mâu thuẫn ấy, củng cố người với
nhau, đảm duy trì địa vị quyền lợi bảo ổn định đời sống
Chủ thể
ban hành
- PL là ý chí của giai cấp đồng hoặc toàn cộng thống trị
nâng lên thành đồng cùng bàn bạc đặt
luật.
ra, thừa nhận.
=> Tính ý chí giai cấp =>
Tính cộng
của PL.
của PTTQ.
đồng
13
TIEU LUAN MOI download :
Đặc trưng nước:
+
đường nhà nước.
+ Các quy phạm pháp nước. luật
do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận
và bảo
vệ bằng biện pháp mang tính
quyền lực nhà nước.
- Tính quy phạm phổ - Tính quy phạm chưa
biến:
cao:
+
PL là khn mẫu, + PTTQ là những ứng chuẩn mực
hướng dẫn xử hành vi, thói quen cách xử sự cho mọi
người nếp sống hàng ngày,
trong xã hội.
tục lệ ăn sâu vào tiềm
+ Mọi cá nhân tổ chức thức con người.
trong xã hội bắt buộc + Địi hỏi sự tự giác
phải tơn trọng thực hiện.
của con người là chính.
- Tính hệ thống:
- Khơng tồn tại tính hệ
+ Bản thân PL là hệ thống:
thống quy tắc xử sự + Các PTTQ chủ yếu
chung, các nguyên tắc, tồn tại ở dạng đơn lẻ,
các định hướng để điều cụ thể, gắn liền với
chỉnh các quan hệ xã hội hành vi, thói quen sinh
ở các lĩnh vực khác nhau hoạt thường ngày.
trong đời sống.
+
Mỗi
một
PTTQ
+ Các quy định PL không thường ứng dụng vào tồn tại
một cách biệt lập một trường hợp cụ thể, mà giữa chúng
có mối tách biệt.
quan hệ nội tại và thống nhất,
tạo ra một chính thể là hệ
thống PL.
- Tính xác định về hình Tính uyển chuyển
thức:
linh hoạt về hình thức:
+ PL thường được thể + Hình thức PTTQ hiện ở hình
thức nhất thường rất đa dạng. định. Các hình thức cơ
Một số hình thức:
bản: tập quán pháp, tiền
+ Bằng ngôn
lệ pháp, văn bản quy ngữ: truyền miệng, ca
phạm PL.
dao, dân ca, thành
14
TIEU LUAN MOI download :
Phạm vi
tác động
và điều
chỉnh
Biện pháp
bảo đảm
thực hiện
(Tính
cưỡng
chế)
15
TIEU LUAN MOI download :
3. Mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán
Luật có 3 nguồn cơ bản: Thơng luật, tiền lệ và các văn bản dưới
luật. Tập quán cũng là một bộ phận cấu thành nên pháp luật nên giữa tập
quán và pháp luật có mối quan hệ với nhau. Có thể nhìn mối quan hệ này
từ hai hướng trái ngược nhau. Tác động của pháp luật tới tập quán và
ngược lại, sự tác động của tập quán đến pháp luật.
3.1: Tác động của pháp luật tới tập quán
- Pháp luật thừa nhận và bảo vệ những phong tục tập quán tiến bộ phù
hợp với truyền thống. Có thể thấy, pháp luật là cơng cụ hữu hiệu để duy
trì trật tự xã hội và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, nhưng pháp
luật không phải là công cụ vạn năng có thể giải quyết được mọi vấn đề.
Mọi vấn đề nảy sinh ở trọng tâm của đời sống xã hội, nhiều vấn đề, sự
kiện và luật lệ phải được khai thác, và phong tục tỏ ra hữu hiệu hơn
nhiều.
- Pháp luật có thể góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế
của các tập quán khi chúng phù hợp với ý chí của nhà nước và được
thừa nhận trong pháp luật.
Ví dụ: Các phong tục ăn Tết cổ truyền, Giỗ Tổ Hùng Vương khi được
Nhà nước thừa nhận thì sẽ được Nhà nước bảo đảm thực hiện, tạo điều
kiện cho các phong tục đó được củng cố, phát huy vai trị, tác dụng trong
thực tế thơng qua việc cho phép người lao động, giáo viên, học sinh, sinh
viên được nghỉ để ăn Tết, ăn Giỗ, tổ chức các nghi lễ quốc gia để kỷ niệm
những ngày này.
- Ngược lại, pháp luật cũng có thể góp phần loại trừ, thanh tốn dần các
tập qn trái với ý chí của nhà nước, lạc hậu, khơng phù hợp với tiến
trình phát triển của xã hội. Những tập tục lạc hậu có nội dung trái pháp
luật có thể xảy ra hai trường hợp:
16
TIEU LUAN MOI download :
+ Một số phong tục tập quán tồn tại trước khi có pháp luật quy định
khơng khoa học, khơng cơng bằng hoặc quy định những biện pháp
trừng phạt tàn bạo, xúc phạm tới danh dự, nhân phẩm và tính mạng của
con người.
+ Tập tục ra đời khi pháp luật từ thời đại trước nên q lỗi thời, khơng
cịn phù hợp nhưng vẫn chưa được thay đổi hay huỷ bỏ.
Ví dụ: Phong tục thách cưới, tập quán coi quan hệ hôn nhân là một quan
hệ gả bán… trái với ý chí của Nhà nước ta nên được pháp luật loại trừ,
thanh tốn dần bằng quy định: Hơn nhân là tự nguyện, trên cơ sở tình
yêu giữa nam và nữ, cấm yêu sách của cải trong việc cưới hỏi…
- Phong tục tập quán có đời sống thực tế rất phong phú đa dạng, cả về
con đường hình thành, phương thức tồn tại, giá trị phản ánh trong các tộc
người khác nhau. Các giai đoạn phát triển khác nhau cho nên phong tục
tập qn khi được hình thành cũng có những phong tục tiến bộ, những
phong tục lạc hậu, cổ hủ, do vậy pháp luật bảo vệ những tập tục tiến bộ,
loại trừ những hủ tục lạc hậu là điều rất cần thiết.
Ví dụ: Điều 5 Hiến pháp 1992 quy định “Các dân tộc có quyền dùng tiếng
nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, và phát huy những phong tục tập
quán , truyền thống văn hóa tốt đẹp của mình” – Phần 2, mục B, điểm 3
Nghị định 32, quy định cấm: “Tập tục cướp vợ để ép người phụ nữ làm
vợ”.
3.2: Tác động của tập quán tới pháp luật
a. Đối với việc hình thành pháp luật
- Tập tục có vai trò thay thế pháp luật trong nhiều lĩnh vực: Phong tục có
thể thay thế pháp luật trong một số quan hệ xử sự trong xã hội khi mà
pháp luật chưa tìm được cách thức truyền bá có khả năng tác dụng sâu
sắc đến ý thức của các cá nhân, cộng đồng các dân tộc. Trong điều kiện
nào đó, tập tục phát huy vai trị thay thế pháp luật khơng phải ở một hay
vài lĩnh vực nhất định mà nó thay thế pháp luật ở rất nhiều lĩnh vực như:
Dân sự, hình sự, hơn nhân gia đình, bảo vệ rừng, đất đai, tín ngưỡng,
khai khống… Có rất nhiều tập tục phù hợp với tinh thần của pháp luật
nhưng nếu được nâng lên thành các quy phạm thì tính hiệu quả của nó
khơng cao nhưng nếu vẫn để ngun là tập tục thì hiệu quả của nó lại rất
cao.
Ví dụ: Tập tục bảo vệ rừng thiêng của người H’ mông.
17
TIEU LUAN MOI download :
- Tập tục có vai trị bổ sung hỗ trợ pháp luật bởi vì pháp luật có hồn
thiện đến mấy cũng khơng thể dự liệu hết mọi tình huống cụ thể, khơng
thể len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Trong những trường
hợp đó lại tỏ ra rất hữu hiệu và cũng rất phù hợp với tinh thần của pháp
luật. Ngồi ra tập tục cịn có vai trị làm chi tiết hóa các điều luật .
Ví dụ: Pháp luật nghiêm cấm đánh bắt thủy hải sản bằng các hình thức
gây nguy hại cho nguồn lợi thủy sản như xung điện, thuốc nổ, các loại
hóa chất… Nhưng tập tục lại quy định rất cụ thể về loại hình đánh bắt bị
cấm và quy định loại thủy sản nào bị cấm khai thác.
- Những tập quán trái với ý chí của nhà nước sẽ là tấm gương, tiền đề để
tạo nên các quy phạm nhằm sửa đổi, thay thế chúng. Từ đó đóng góp
xây dựng pháp luật thêm phần chặt chẽ, loại bỏ các lỗ hổng.
Ví dụ: Tập quán sản xuất pháo và đốt pháo, phong tục thách cưới… ở
nước ta.
18
TIEU LUAN MOI download :
b. Đối với việc thực hiện pháp luật
- Những tập quán phù hợp với ý chí của nhà nước, được thừa nhận
trong pháp luật sẽ góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách
nghiêm chỉnh, tự giác hơn, bởi vì các tập qn đó đã ngấm sâu vào tiềm
thức của nhân dân thành thói quen xử sự của họ.
- Nhìn chung về cơ bản pháp luật khơng ngăn cấm, không loại trừ tập
tục, pháp luật tồn tại đồng hành cùng với tập tục trong một thời gian nhất
định. Pháp luật sẽ tiêu vong khi cơ sở kinh tế
- xã hội cho sự tồn tại của nó khơng cịn. Ngược lại, những phong tục tốt
đẹp vẫn còn mãi với đời sống con người, trong mọi xã hội. Pháp luật chỉ
ngăn cấm và loại bỏ những tập tục trái pháp luật, có hại cho xã hội và
khơng phù hợp với tiến bộ xã hội, cản trở việc thực hiện pháp luật trong
thực tế.
Ví dụ: Việc đốt pháo đã bị nghiêm cấm kể từ 1/1/1995 theo chỉ thị của
Thủ tướng Chính Phủ số 406-TTg. Tuy nhiên vẫn có những kẻ lén lút
thực hiện, đó là hành vi vi phạm pháp luật nên đã cản trở trực tiếp việc
thực hiện pháp luật.
19
TIEU LUAN MOI download :
- Gặp những trường hợp có sự mâu thuẫn giữa tập tục và pháp luật thì
khơng được theo ngun tắc “phép vua thua lệ làng” mà phải theo
nguyên tắc pháp luật. Pháp luật phải có tính tối cao so với tập tục. Hay
nói cách khác, việc áp dụng tập quán không được trái với các quy tắc của
ngành luật hoặc pháp luật đã quy định.
20
TIEU LUAN MOI download :
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Huế và các cộng sự (2017), Giáo trình Đại cương về Nhà nước và
pháp luật, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, HN.
2. Trang web: 123doc.
3. Trang web: iLuatsu.
4. Trang web: LawNet.
21
TIEU LUAN MOI download :