Chương VIII
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NẶN
Một chương trình hoạt động tạo hình dành cho trẻ mầm non có chất
lượng là chương trình có sự kết hợp cân đối của sự thể hiện các hình tượng
nghệ thuật trong khơng gian ba chiều với sự thể hiện trong không gian hai
chiều. Chương trình hoạt động nặn là một trong những chương trình dạy trẻ
thể hiện cấu trúc, vẻ đẹp hình khối của mọi vật và thể hiện phương thức sắp
đặt nghệ thuật trong không gian ba chiều.
1. Nội dung giáo dục và phát triển của chương trình hoạt động
nặn
1.1. Đối với trẻ dưới 3 tuổi
Trẻ 2 - 3 tuổi đã có thể cho tập làm quen với đất nặn.
Cũng như hoạt động vẽ, hoạt động nặn của trẻ nhỏ cũng bắt đầu bằng
thời kỳ tiền tạo hình. Ở thời kỳ này, trẻ chưa tạo ra được những hình thù
nhất định bởi các vận động của các ngón tay chưa được phát triển một cách
đầy đủ, khả năng điều chỉnh các vận động còn yếu - trẻ vận động bằng cả
bàn tay. Khả năng kiểm tra bằng mắt quá trình và kết quả vận động cũng
cịn yếu.
- Ở giai đoạn này có thể cho trẻ bắt đầu tìm hiểu các tính chất của đất
: tính mềm dẻo, dễ dàng thay đổi hình dạng, kích thước, trọng lượng, dễ kết
dính. Trẻ có thể chơi với đất như một loại đồ chơi.
- Thời kỳ tiền tạo hình ở hoạt động nặn thường qua đi nhanh hơn so
với ở hoạt động vẽ, do đặc điểm của vật liệu nặn là có hình khối, dễ nặn
nhờ đó mà trẻ dễ hình dung ra sản phẩm của các hình nặn và nhanh chóng
tạo ra sản phẩm mong muốn.
- Ở thời kỳ tiền tạo hình trẻ thường chơi với đất nhưng khơng đặt ra
cho mình một nhiệm vụ tạo hình nào cả. Trẻ véo từ cục đất to ra thành
những viên đất nhỏ, nhiều khi chỉ kéo dài cục đất ra chứ khơng véo rời ra,
sau đó chúng có thể nắm lại, đặt viên nọ lên viên kia, lăn trên bàn rồi dùng
tay ấn bẹp viên đất đó,... Bởi vậy, cần tạo hứng thú đối với hoạt động nặn
và giúp trẻ hiểu được chức năng ký hiệu của các hình tượng nặn. Khi tổ
chức cho trẻ tham gia hoạt động, cần thu hút sự chú ý của trẻ, giúp trẻ nhận
ra mối liên hệ giữa các thao tác nặn của giáo viên với sự xuất hiện và biến
đổi lý thú của các hình nặn.
1
- Cần có sự hướng dẫn tốt của người lớn để trẻ nhanh chóng bước
sang thời kỳ tạo hình : từ những viên đất được nắm, được véo, được lăn,...
trẻ có thể nhận ra nét giống nhau với một vài “cái gì quen quen”, sau đó trẻ
có thể dần dần tập nặn cùng cơ giáo để tạo nên những hình khối đơn giản
và tập đặt tên cho chúng : “kẹo dài”, “kẹo tròn”, “quả cam”, “cái vòng”,
“cây nấm”, “cái tháp”,...
1.2. Đối với trẻ 3 - 4 tuổi
Ở lớp mẫu giáo bé người ta có thể bắt đầu cho trẻ tích cực làm quen
với hoạt động nặn nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau :
- Gây hứng thú đối với hoạt động nặn.
- Cho trẻ làm quen với các tính chất của các loại vật liệu nặn (mềm,
dẻo, có thể từ đó véo ra những phần nhỏ, dính lại với nhau và tạo dáng để
làm thành những “vật” gì đó,...).
- Dạy trẻ biết cách sử dụng đất trong hoạt động tạo hình (khơng vứt
đất lung tung, ngồi nặn ở nơi quy định, giữ gìn nơi làm việc sạch sẽ, biết
thu dọn sau hoạt động,...).
- Cung cấp cho trẻ một số cách nặn đơn giản có tính chất kỹ thuật :
(véo viên đất, gom chúng lại với nhau, làm mềm đất, lăn tròn, lăn dọc, ấn
bẹp,...).
- Hướng dẫn trẻ tạo nên một vài hình khối đơn giản (những cái cột,
chiếc kẹo dài, hòn bi, quả táo, rồi tiếp tới một vài đồ vật bao gồm nhiều bộ
phận như cái nấm, xúc xắc,...).
1.3. Đối với trẻ 4 - 5 tuổi
- Ở lớp mẫu giáo nhỡ, cần tiếp tục gây hứng thú, tạo niềm say mê đối
với hoạt động nặn.
- Kích thích trẻ tích cực suy nghĩ, tưởng tượng.
- Bồi dưỡng khả năng quan sát bằng mắt và tự điều khiển các vận
động của đơi bàn tay, của các ngón tay, thực hiện các thao tác vận động thô
(bằng cơ lớn) và các vận động tinh (bằng các cơ nhỏ).
- Củng cố những hiểu biết về hình thù, cấu trúc, tỷ lệ các chi tiết của
vật, bồi dưỡng khả năng phân tích và nhận biết nhanh nhạy các đặc điểm
của hình khối.
- Tăng cường bồi dưỡng cho trẻ các cảm xúc thẩm mĩ : các cảm xúc
về vẻ đẹp của hình khối, cảm xúc về nhịp điệu, về sự cân đối.
2
- Tạo mọi điều kiện để giáo dục ở trẻ tính tự giác, tự lực, độc lập tìm
kiếm nội dung tạo hình và phương thức thể hiện, tăng cường tổ chức các
giờ học nặn tự do (tại các góc).
- Phát triển các kỹ năng có tính chất kỹ thuật : trẻ bắt đầu tập nặn
bằng đầu các ngón tay, biết gắn chặt các bộ phận, đồng thời miết chỗ nối,
biết dùng que để làm một số chi tiết, xử lý bề mặt của hình nặn.
- Tập cho trẻ tạo cấu trúc của vật thể theo trình tự hợp lý : nặn những
bộ phận chính có kích thước lớn trước, các chi tiết, bộ phận, cuối cùng là
xử lý đặc điểm bề mặt.
1.4. Đối với trẻ 5 - 6 tuổi
- Ở tuổi mẫu giáo lớn, các quá trình tâm lý như chú ý, trí nhớ, tưởng
tượng phát triển tốt hơn, giúp trẻ có thể hình dung hình ảnh của kết quả
hoạt động nặn từ trước khi bắt tay vào quá trình thể hiện. Do vậy cần tăng
cường cho trẻ độc lập tìm kiếm, lựa chọn nội dung miêu tả và hình thành
dự định sáng tạo để định hướng cho hoạt động.
- Tăng cường bồi dưỡng khả năng tri giác, đặc biệt là khả năng cảm
nhận đặc điểm hình khối của sự vật bằng xúc giác vận động. Đồng thời
phát triển khả năng so sánh, ước lượng bằng mắt để giúp trẻ dễ dàng xác
định bằng mắt các đặc điểm trực quan như kích thước, tỷ lệ, tính hợp lý, vẻ
cân đối trong khối hình của vật thể.
- Phát triển các cảm xúc thẩm mỹ giúp trẻ cảm nhận vẻ đẹp sinh
động, đa dạng trong đặc điểm diện mạo riêng của vật thể, trong vẻ năng
động, sự vận động và trạng thái tình cảm bên trong của các đối tượng miêu
tả.
- Giúp trẻ tự lựa chọn, tìm kiếm và sử dụng các phương pháp nặn
khác nhau để dễ dàng mở rộng phạm vi các đối tượng miêu tả :
Nặn chắp ghép, nặn nguyên khối, phối hợp nặn chắp ghép với nặn
nguyên khối; dùng các loại dụng cụ và ngón tay để tạo chi tiết, xử lý bề
mặt.
Nặn bắt đầu từ các bộ phận chính rồi mới đến các chi tiết.
Nặn từ dạng khái quát rồi tới xử lý cụ thể hóa, sinh động hóa.
- Tập cho trẻ biết sử dụng các sản phẩm nặn vào các hoạt động, sinh
hoạt trong cuộc sống của trẻ ở trường mầm non và ở nhà.
3
* Hiệu quả việc tổ chức thực hiện hoạt động nặn của trẻ có thể được
xác định khi so sánh mức độ đạt được với những tiêu chuẩn giáo dục và
phát triển sau :
1. Trong hoạt động nặn, trẻ có thể tìm hiểu về đặc điểm, tính chất đa
dạng của các loại vật liệu nặn và sự giống nhau, khác nhau trong hiệu quả
biểu cảm thể hiện qua các sản phẩm nặn ?
2. Qua hoạt động với các chất liệu, trẻ có được rèn luyện và phát
triển các kỹ năng nặn ?
3. Trẻ có phân biệt và nhận thấy tính đa dạng của các hình thể từ cấu
trúc đơn giản tới cấu trúc phức hợp và có tìm ra những dấu hiệu cho thấy
sự giống và khác nhau giữa chúng ?
4. Trẻ có khả năng sử dụng các vật liệu nặn một cách linh hoạt, dễ
dàng khi cần thể hiện suy nghĩ, ý tưởng của mình ?
5. Quá trình nặn có trở thành con đường giúp trẻ ghi nhớ trực quan,
nghiên cứu đặc điểm, tỷ lệ, cấu trúc của vật thể và hình thành biểu tượng,
hình ảnh của chúng trong đầu ?
6. Trẻ có tiếp thu được các kinh nghiệm tạo hình khi quan sát, nhìn
ngắm các tác phẩm của các nghệ sĩ, các nhà điêu khắc và có thể áp dụng
kinh nghiệm văn hóa đó vào thể hiện sản phẩm hoạt động của mình ?
7. Trẻ có cảm thấy hài lòng, thỏa mãn với kết quả sáng tạo của chính
mình và ham muốn tạo nên ngày càng nhiều những hình tượng đầy cảm
hứng ?
8. Q trình nặn có động viên trẻ tích cực hoạt động và nhờ đó mà
bồi dưỡng các cảm giác, xúc giác của mình ?
9. Các hoạt động nặn có khuyến khích trẻ linh hoạt, đa dạng hóa
phương thức thể hiện (lăn, ấn, vuốt, kéo, miết, nặn gắn ghép, nặn nguyên
khối, đắp nổi, khoét lõm,...) ?
10. Hoạt động nặn có giúp trẻ nhận ra những nét đẹp độc đáo từ
những vật rất bình thường xung quanh và hướng tới việc sáng tạo ra cái đẹp
để góp phần tạo mơi trường thẩm mĩ quanh mình ?
11. Các hoạt động nặn có tạo cho trẻ những cơ hội để trẻ thử nghiệm,
trải nghiệm, hình thành khái niệm về khơng gian và đặc điểm các hình khối
?
4
12. Qua hoạt động nặn, trẻ có tiếp thu và hiểu được về khái niệm
“tượng trịn”. Trẻ có được tập quan sát “sản phẩm sáng tạo ba chiều” của
mình từ các góc độ ?
13. Trong hoạt động nặn, trẻ có được tạo điều kiện để tìm ra mối
quan hệ giữa sự biểu cảm tạo hình qua cách thể hiện trong không gian hai
chiều với biểu cảm qua cách thể hiện trong khơng gian ba chiều ?
14. Trẻ có cơ hội để suy nghĩ và tự lựa chọn cách thể hiện ý tưởng
tạo hình theo các phương thức : hoặc “thể hiện trong không gian hai chiều”
hoặc “thể hiện trong không gian ba chiều” ?
15. Trẻ có được dành đủ thời gian để tự tìm cách giải quyết vấn đề
kỹ thuật nặn như : tìm cách gắn ghép chỗ nối, xử lý các lỗi,... ?
16. Giáo viên có kịp thời quan tâm, dành nhiều cơ hội cho trẻ để phát
triển khả năng biểu cảm cá nhân, phát triển các sáng kiến, các ý tưởng, dự
định sáng tạo của riêng trẻ ?
17. Các quy định, cách tổ chức hoạt động nặn có gây cho cô giáo và
trẻ cảm giác e ngại ? Cách giải quyết khó khăn của giáo viên có phù hợp
với việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của trẻ ?
18. Việc tổ chức sắp xếp, trình bày và lưu giữ sản phẩm hoạt động
của trẻ có được cân nhắc, tính tốn hợp lý khơng ?
19. Các loại vật liệu nặn có được sử dụng phù hợp với đặc điểm sự
thể hiện đối tượng miêu tả hay không ?
20. Hoạt động nặn với các loại vật liệu nặn phong phú có giúp ích gì
cho việc giáo dục thể chất, sức khỏe và thậm chí chữa bệnh cho trẻ ?
2. Gợi ý về điều kiện vật chất cho hoạt động nặn
- Vật liệu nặn :
Đất sét tự nhiên : dạng ướt dẻo và dạng bột khô.
Sáp nặn màu (sáp có dầu).
Bột nặn màu (có nguồn gốc từ ngũ cốc).
Cát ướt.
Ngồi ra cịn có thể dùng mùn cưa, bột giấy,...
Màu bột (tempera) và keo để tô tượng đất đã khô.
- Dụng cụ nặn :
5
Bảng lót (20 cm x 20 cm)
Bảng đế xoay (đường kính 20 cm - 25 cm).
Dao gỗ, tre.
Thìa, dĩa, dao ăn cũ, kẹp ghim cũ.
Lược cũ.
Que tăm, một số dây thép nhỏ,...
Khay để đất.
Khăn giấy, khăn vải.
- Không gian hoạt động :
Trong lớp : trẻ có thể nặn trên sàn nhà, trên bàn.
Ngoài sân, vườn,...
- Một số điều cần chú ý khi tổ chức sử dụng vật liệu nặn :
Trong hoạt động của trẻ cần chú ý tới sự tổ chức khơng gian để
ngăn chặn, tránh tình trạng bừa bãi, lộn xộn.
Cần nghiên cứu từ trước để tổ chức nhóm hoạt động nặn phù hợp
với tính chất của vật liệu và các kỹ thuật : chẳng hạn khi nặn đất sét cần
chia nhóm nhỏ và sắp xếp chỗ đủ rộng để sắp đặt tượng và dụng cụ.
Sáp nặn : là những chất liệu mềm dẻo, dễ nặn nhưng có chất dầu,
khơng nên dùng khăn q ướt cho trẻ lau tay, cần dùng khăn giấy khô thấm
dầu trước khi rửa bằng xà phịng. Loại sáp nặn màu có thể dùng đi dùng lại
nhiều lần nên cần hạn chế cho trẻ trộn lẫn các màu.
Đất sét : là loại vật liệu rẻ, dễ kiếm, có tính năng biểu cảm cao và
rất thuận tiện cho thao tác nặn của trẻ em. Đất sét dễ làm mềm, làm dẻo khi
thêm, bớt nước; bởi vậy dễ giúp trẻ điều chỉnh, tạo dáng cho hình nặn và
xử lý nghệ thuật cho bề mặt.
Tuy nhiên đất sét dễ khô và trở nên rắn khi để trong khơng khí khiến
kết cấu hình nặn dễ bị hỏng. Bởi vậy, khi gắn ghép cần có que hoặc dây
thép làm cốt, đồng thời cần dạy trẻ cách sử dụng các công cụ (dao, que,
ghim) để gắn, miết, hàn các chỗ nối.
Đất sét đã nhào dẻo sẽ không dính tay, cần bảo quản trong thùng
nhựa có nắp đậy và thường xuyên thay đổi khăn ẩm phủ bề mặt.
6
Khi cho trẻ vẽ màu vào tượng đất khô (chưa nung) bằng màu bột đã
pha với keo, và keo cần dạy trẻ đưa bút phết nhanh, gọn, không di đầu bút
lơng, tránh làm rữa, mủn bề mặt của hình nặn.
Các chất liệu khác : một số chất liệu đặc biệt như mùn cưa, bột
giấy, chỉ nên dùng ở lớp mẫu giáo lớn và cần có sự phối hợp chỉ đạo hoạt
động của giáo viên một cách trực tiếp, tỉ mỉ.
3. Tổ chức hoạt động của trẻ
3.1. Tạo động cơ cho hoạt động nặn
Hoạt động nặn (tạo nên các hình khối) là một hoạt động phối hợp, bổ
sung cho các hoạt động thể hiện trong không gian hai chiều (vẽ, xếp dán
tranh) và làm hồn thành cho chương trình hoạt động tạo hình ở trường
mầm non.
Bởi vậy, việc tạo động cơ cho hoạt động nặn không phải là một vấn
đề đặc biệt, nó cũng gắn với việc tạo động cơ, tìm kiếm nội dung cho hoạt
động vẽ. Nguồn vốn của nội dung cho hoạt động nặn được lựa chọn tùy
theo loại vật liệu được sử dụng và xuất phát từ những cơ sở sau :
Các hoạt động hàng ngày của trẻ ở trường.
Những khám phá mà trẻ thực hiện trong phòng, lớp, trường mầm
non.
Những cuộc dạo chơi ngoài trời.
Những câu chuyện, những tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Những sự vật, hiện tượng gây ấn tượng mạnh đối với trẻ.
Các kinh nghiệm giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh, những
người xung quanh.
3.2. Tổ chức hoạt động cho trẻ dưới 3 tuổi
- Hoạt động của trẻ lúc này còn ở thời kỳ thao tác (manipu-lation
period). Tổ chức cho trẻ chơi, thực hiện các thao tác tự do với các loại vật
liệu mềm sẽ tạo cảm giác mới mẻ và gợi lên hứng thú đối với hoạt động.
- Cần tổ chức hoạt động ở hình thức chơi theo nhóm nhỏ (3 - 4 trẻ), ở
đó giáo viên vừa nặn, vừa có thể hát, nói chuyện.
- Có thể tạo một số hình nặn đơn giản nhiều màu sắc, cỡ lớn, đặt
cạnh các đồ chơi để thu hút sự quan sát của trẻ.
7
- Sang học kỳ 2 có thể tổ chức nhóm lớn hơn (2 - 5 trẻ) để thực hiện
một số nhiệm vụ giáo dục như : cho trẻ làm quen với một số thao tác tạo
hình :
Đập đất, bóp đất, nắm đất, lăn dọc trên bảng, bẻ cong, đặt khối nọ
lên khối kia,...
Chú ý dạy trẻ một số thói quen vệ sinh : khơng bơi bẩn quần áo và
chỗ ngồi, rửa tay sau khi chơi, sắp xếp vật liệu và dụng cụ đúng nơi quy
định.
Cần đảm bảo độ mềm dẻo của vật liệu phù hợp với khả năng vận
động của trẻ để từng bước phát triển các vận động từ vận động thô tới vận
động tinh.
3.3. Tổ chức hoạt động cho trẻ 3 - 4 tuổi
- Ở tuổi này cần tiếp tục tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm.
- Các giờ hoạt động ban đầu thường gồm những trẻ có hứng thú,
quan tâm tới hoạt động nặn.
- Bằng các phương pháp thông tin - tiếp nhận cần tổ chức chỉ dẫn
trực quan các kỹ năng tạo hình đi kèm với giải thích, cho trẻ lặp đi lặp lại
các thao tác tạo hình. Tận dụng tính nhịp điệu của sự lặp lại các thao tác mà
gây hứng thú cho trẻ.
- Một phần quan trọng trong giờ hoạt động nặn ở lớp trẻ này thường
mang tính chất trưng bày : giáo viên nặn cho trẻ xem một số hình từ đơn
giản tới phức tạp, cố gắng giúp trẻ nhận thấy quá trình biến đổi thú vị của
các hình tượng.
- Bổ sung, gợi tính hình tượng sinh động của sản phẩm nặn bằng các
bài hát, câu thơ, câu đố,...
- Tích cực tổ chức các trị chơi tạo hình để khuyến khích, thu hút sự
tham gia của trẻ, cho trẻ chơi với chính những sản phẩm mình tạo nên.
- Ở tuổi này nên tận dụng những đồ chơi, đồ dùng đơn giản ở lớp học
để giúp trẻ chơi và cảm nhận đặc điểm của các hình khối.
- Có thể phối hợp đồ chơi với các sản phẩm nặn của trẻ để gắn sản
phẩm nặn với các đề tài, chủ đề và phát triển trí tưởng tượng của trẻ.
- Việc bồi dưỡng các kỹ năng nặn như : lăn xoay tròn trên tay, lăn
dọc trên tay, ấn bẹp, ấn lõm,... cùng được thực hiện với sự tham gia của các
biện pháp vui chơi và các biện pháp “cùng sáng tác” (phối hợp hoạt động
của cô và trẻ).
8
3.4. Tổ chức hoạt động cho trẻ 4 - 5 tuổi
- Cần tận dụng vốn kinh nghiệm sống của trẻ, gắn với những chủ đề
thú vị mà tạo các tình huống chơi để giúp trẻ tích cực tìm kiếm, lựa chọn
nội dung miêu tả tùy theo mong muốn của mình.
- Có thể cho trẻ phối hợp các sản phẩm vẽ, xếp dán với các sản phẩm
nặn khi thể hiện hiểu biết về môi trường xung quanh qua các chủ đề.
- Sử dụng tích cực phương pháp thơng tin - tiếp nhận để phát triển
khả năng khái quát hóa - cụ thể hóa : dùng vận động thơ thể hiện mọi vật ở
dạng khối khái quát (hình cầu, hình trứng, hình trụ, hình chóp) rồi dùng các
vận động tinh của các ngón tay để tạo những nét đặc trưng phân biệt các sự
vật với các đặc điểm cụ thể (quả táo, quả cà chua, quả dưa chuột, củ cà
rốt,...).
- Trẻ mẫu giáo nhỡ chủ yếu nặn bằng cách chắp ghép; bởi vậy, cần
sử dụng tích cực phương pháp chỉ dẫn để giúp trẻ nắm kỹ thuật gắn ghép và
trình tự nặn.
- Dùng các biện pháp so sánh giữa vật thể thật đơn giản với các đồ
chơi mô phỏng để giúp trẻ tìm hiểu và phát hiện sự giống và khác nhau
giữa chúng và liên hệ với cách thể hiện ở hình nặn.
- Khi quan sát cần giúp trẻ chú ý phân biệt quan hệ chính phụ trong
sự sắp xếp cấu trúc của hình tượng.
- Cần từng bước đa dạng hóa các đối tượng miêu tả để trẻ làm quen
với cách biến đổi các hình tượng : từ cụ thể hóa một số hình khối đơn giản
tới bổ sung số lượng các chi tiết vào hình rồi thể hiện nét đặc trưng của một
vài vật thể bằng cách thao tác khá phức tạp của ngón tay (vận động tinh).
- Dùng các biện pháp “trị chơi hóa” sản phẩm tạo hình có thể giúp
trẻ quan sát và thể hiện một số tư thế vận động đơn giản của hình tượng,
chuẩn bị cho sự thể hiện theo chủ đề.
3.5. Tổ chức hoạt động cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Ở lớp mẫu giáo lớn, trẻ tập nặn theo một số hình mẫu khá phức tạp
và tập liên hệ, tự tìm ra phương pháp miêu tả trên cơ sở các kinh nghiệm
cũ. Bởi vậy, cần tăng cường bồi dưỡng các kỹ năng quan sát, giúp trẻ làm
quen với cấu trúc của mọi vật một cách có hệ thống trước các tiết hoạt động
thực hành thể hiện sản phẩm.
9
- Cần tiếp tục sử dụng các biện pháp vui chơi để tăng cường cơ hội
cho trẻ nghiên cứu mọi vật bằng các giác quan, trong các tình huống khác
nhau.
- Hạn chế sử dụng phương pháp chỉ dẫn toàn phần để tạo điều kiện
cho trẻ phát huy tính tích cực, chủ động.
- Tăng cường các cơ hội cho trẻ tự tích lũy và làm giàu vốn hiểu biết
về vạn vật xung quanh, đặc biệt cần giúp trẻ quan sát, chú ý tới các hành
động, vận động, sự thay đổi trạng thái do thời gian, không gian; đọc truyện,
xem tranh minh họa, liên hệ với đồ chơi, các tác phẩm điêu khắc, các đồ
vật trang trí, mơ phỏng,...
- Tổ chức đàm thoại, trao đổi để trẻ nói lên được suy nghĩ, ý định cá
nhân của mình về sự lựa chọn các nội dung hoạt động theo chủ đề và cách
thể hiện, kỹ thuật và vật liệu nặn.
- Tăng cường các giờ hoạt động theo nhóm, sử dụng biện pháp “cùng
sáng tác” để trẻ tập phối hợp, hợp tác thực hiện bố cục chung với nhiều
hình tượng được liên kết theo một đề tài.
- Dùng các biện pháp vui chơi, tạo “sa bàn”,... để giúp trẻ cùng nhau
nhận xét, đánh giá chất lượng của sản phẩm và tìm cách sửa chữa, thêm bớt
để hoàn thiện sản phẩm.
- Cần hạn chế sự chỉ bảo, gợi ý quá trực tiếp, cặn kẽ để tránh hình
thành thói quen ỷ lại, đồng thời khuyến khích tính chủ động, tự tin của trẻ.
- Để phát triển tính linh hoạt, sáng tạo nên cho trẻ tập thể hiện một
đối tượng bằng nhiều phương pháp, kỹ thuật hoặc ngược lại, dùng một
phương pháp để thể hiện hàng loạt vật thể có những đặc điểm, cấu trúc gần
giống nhau; phối hợp các cách nặn chắp ghép với nặn nguyên khối và làm
quen với cách thể hiện mang tính ước lệ.
- Ở độ tuổi này nên cho trẻ tự tổ chức việc trưng bày sản phẩm có
phân loại để dễ so sánh, đánh giá và nhận xét, cùng nhau trao đổi, bày tỏ để
phát triển ngôn ngữ mạch lạc.
10
CÁC GIÁO ÁN TÓM TẮT ĐƯỢC SOẠN TỪ KHUNG KẾ HOẠCH
CHO TIẾT HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH
I. GIÁO ÁN CHO TRẺ 24 - 36 THÁNG
1. Đề tài tạo hình
Nặn : “Kẹo cho búp bê” - Chơi tạo hình theo đề tài.
2. Mục tiêu của hoạt động
- Tạo hứng thú cho hoạt động tập thể.
- Tập ngồi vào bàn trong giờ hoạt động nhóm.
- Tập làm quen với các kỹ năng ban đầu của hoạt động nặn : nặn đất
trên bảng lót, không vứt đất lung tung, lau tay vào khăn, không bơi bẩn
quần áo.
- Làm quen với tính chất mềm dẻo, dễ dính của sáp nặn hoặc đất sét,
tập bóp đất, bứt, véo ra thành viên nhỏ, nắm, viên, lăn đất thành viên trịn,
xếp vào đĩa,...
3. Hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện
Hình thức tổ chức : Hoạt động theo nhóm nhỏ.
Phương pháp thực hiện :
- Cho trẻ ngồi vào bàn, hướng dẫn trẻ ngồi đúng tư thế và kiểm tra.
- Hỏi trẻ xem chúng nhìn thấy những gì trên bàn và cho trẻ đốn xem
“Sẽ được làm gì” ?
- Trao đổi và cho trẻ biết : đây là đất nặn và có thể dùng nó để tạo
nên hình dạng nhiều thứ.
- Cho trẻ quan sát một vài hình con vật, đồ vật nhỏ (trên mơ hình
hoặc đồ chơi) đơn giản mà cô đã làm để gây hứng thú.
- Đề nghị trẻ “làm kẹo” để mờ “em búp bê”.
- Đặt các đĩa nhựa màu lên bàn và đề nghị trẻ sẽ sắp kẹo vào đó sau
khi nặn.
- Chỉ dẫn cách bóp đất cho mềm (ở lớp này cơ cần làm mềm đất
trước), véo từ khối đất thành những viên nhỏ, nắm, vê, viên cho tròn và đặt
vào đĩa.
11
- Chỉ dẫn bổ sung và nói chuyện với từng trẻ để chúng tích cực thực
hiện các thao tác, kích thích hứng thú của trẻ bằng nhịp điệu của các thao
tác.
- Chơi trò “Mang kẹo mời búp bê”.
- Khen ngợi, động viên trẻ.
4. Điều kiện vật chất
- Sáp nặn màu (hoặc đất sét) đủ cho cô và trẻ nặn.
- Mỗi trẻ có :
1 bảng lót.
1 đĩa nhựa đựng sản phẩm.
1 đĩa nhựa đựng khăn lau tay.
Không gian hoạt động:
Ở các góc trong phịng lớp.
Ngồi sân : có thể xếp bàn thành hàng, nhóm.
5. Phối hợp với các hoạt động khác.
- Chơi với đồ chơi, đặc biệt là các đồ chơi hình khối trịn : xâu chuỗi,
xếp tháp,...
- Chơi với búp bê, xem cơ “chăm sóc em búp bê”,...
II. GIÁO ÁN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI
1. Đề tại tạo hình
Nặn : “Những chiếc vịng” - Tạo hình theo mẫu.
2. Mục tiêu của hoạt động
- Củng cố hiểu biết về hình trịn.
- Tập tìm hiểu, phân biệt tính chất của các vật liệu (cứng, mềm,
dẻo,...).
- Phát triển vận động, kỹ năng nặn.
- Tập nặn các đồ vật hình vịng trịn : tập chia đất thành nhiều phần;
bóp đất, lăn dọc viên đất trên tấm bảng thành thỏi đất dài, uốn cong và gắn
các đầu bằng thao tác ấn để tạo thành vịng khép kín.
- Rèn luyện một số thói quen vệ sinh : biết sắn tay áo trước khi làm
việc, nặn cẩn thận không vứt đất lung tung.
12
- Hình thành hứng thú và thái độ trân trọng đối với các sản phẩm
hoạt động.
3. Hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện
Hình thức tổ chức : Hoạt động theo nhóm.
Phương pháp thực hiện:
- Cho trẻ quan sát những chiếc vòng bằng một vài chất liệu (nhựa,
kim loại).
- Cho trẻ sờ, nắn, gõ,... hỏi trẻ về đặc điểm của các chiếc vòng
(“tròn”, “nhẵn”, “cứng”,...) về âm thanh phát ra khi gõ, về màu sắc.
- Cho trẻ đưa ngón tay theo vịng trịn để cảm nhận hình dáng của nó
bằng xúc giác - vận động.
- Cho trẻ quan sát những chiếc vòng đã nặn bằng sáp nặn hoặc đất
sét.
- Chỉ dẫn cách nặn chiếc vịng : chú ý trình tự nặn và cách thức thực
hiện các thao tác của tay, đặt đất lên bảng, lăn dọc, bàn tay phải nhẹ nhàng
và từ từ (chậm), uốn cong thỏi đất bằng hai tay và ấn chỗ nối.
- Có thể chỉ dẫn bổ sung hoặc cho trẻ làm thao tác trong không khí.
- Có thể cho trẻ chỉ dẫn (mang tính biểu diễn) cho các bạn để củng
cố và gây hứng thú.
- Trong quá trình trẻ hoạt động cần bao quát và giúp đỡ trẻ kịp thời :
bóp đất cho dẻo, chỉ dẫn những kỹ năng mà trẻ chưa nắm được, cho xem lại
đặc điểm chiếc vịng, có thể cầm tay giúp trẻ thực hiện các thao tác.
- Khi trình bày bài và nhận xét cần tập cho trẻ biết trình bày đẹp mắt
các sản phẩm, có thể tạo động cơ (ví dụ làm quà tặng để gây cảm hứng,
hình thành ý thức và kỹ năng giao tiếp xã hội).
4. Điều kiện vật chất
- Một số vịng đeo tay có nhiều màu, các kích cỡ khác nhau (có thể
đeo vào tay búp bê).
- Một số vịng do cơ giáo nặn được sắp xếp đẹp mắt.
- Bảng lót.
- Sáp nặn các màu.
- Khăn lau tay.
- Không gian hoạt động :
13
Có thể ở các góc hoặc khơng gian chung;
Có thể tổ chức ngồi trời, trẻ ngồi quanh bàn.
5. Phối hợp với các hoạt động khác
- Trước hoạt động cho trẻ chơi với các đồ chơi xếp hình chắp ghép :
xếp tháp từ những chiếc vòng, xâu chuỗi hạt, ghép vịng thành chuỗi.
- Dán các hình trịn (đề tài hoặc trang trí).
- Làm quen với mơi trường xung quanh và tốn : tên gọi, phân biệt
hình, màu, tìm kiếm các đồ vật có dạng hình trịn.
- Vẽ những quả bóng,...
III. GIÁO ÁN CHO TRẺ 4 - 5 TUỔI
1. Đề tài tạo hình
Nặn “Những thứ cháu thích” - Tạo hình theo đề tài tự chọn.
2. Mục tiêu của hoạt động
- Tập tự tìm kiếm nội dung miêu tả : từ các kinh nghiệm tạo hình cũ,
từ những khám phá trong môi trường lớp học, từ hiểu biết và ấn tượng về
thế giới xung quanh.
- Vận dụng tích cực các phương pháp quan sát mọi sự vật để tìm hiểu
đặc điểm, cấu trúc của chúng.
- Củng cố, ôn luyện các kỹ năng nặn đã học : chia đất, lăn đất bằng
hai bàn tay (lăn tròn, ấn bẹt, lăn dọc), uốn cong, gắn ghép,...
- Rèn luyện sự khéo kéo của kỹ năng nặn bằng các ngón tay (vận
động tinh).
- Tìm kiếm, phát huy sáng kiến trong cách tạo đặc điểm bề mặt, thể
hiện vẻ độc đáo cho sản phẩm.
3. Hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện
Hình thức tổ chức :
- Phối hợp hoạt động nhóm và hoạt động cá nhân.
- Trẻ có thể thực hiện bài mình chọn hoặc cùng nhau thể hiện một
chủ đề theo nhóm nhỏ.
- Trẻ có thể phối hợp sáp nặn với một số vật liệu - phụ kiện khác để
hình tượng thêm sinh động.
Phương pháp thực hiện:
14
- Cho trẻ quan sát các vật liệu, dụng cụ và cho đốn xem “sẽ làm
gì?” (vẽ hay xếp dán, hay nặn ?).
- Giới thiệu nhiệm vụ tạo hình : “sẽ nặn những gì cháu thích”.
- Trình bày một số đồ chơi, đồ dùng đơn giản (vật thật) mà trẻ có thể
nặn và yêu cầu trẻ suy nghĩ, lựa chọn thêm những thứ mình thích mà khơng
có trong số vật dụng đã được gợi ý.
- Đồ chơi được bày nơi đủ ánh sáng, đủ khơng gian, trẻ có thể quan
sát, sờ mó, tìm hiểu kỹ đặc điểm bên ngồi và cấu trúc của chúng.
- Dùng câu hỏi gợi ý cho trẻ liên hệ tìm ra những gì mà chúng thấy
và thích (quả, cây, chiếc vịng...) rồi lựa chọn làm đối tượng miêu tả.
- Tùy theo đối tượng trẻ đã chọn, nhắc trẻ phối hợp các vật liệu.
- Trong quá trình trẻ nặn, giáo viên bao quát lớp và kịp thời phát hiện
khó khăn của trẻ để giúp đỡ :
Với những trẻ chọn các đối tượng miêu tả quen thuộc thì gợi ý cho
trẻ bổ sung, làm đẹp hơn.
Với những đối tượng mới có cấu trúc phức tạp cần chỉ dẫn bổ sung,
động viên trẻ không thay đổi dự định tạo hình.
Với các bài tập theo nhóm, giúp trẻ trao đổi, hợp tác, thỏa thuận để
thể hiện chủ đề chung mà vẫn tạo nên sự đa dạng, không bắt chước nhau.
- Nhắc nhở, gợi ý cho trẻ thể hiện sự vận động, thể hiện đặc điểm
riêng của hình nặn bằng nhiều cách và tập bổ sung các chất liệu, vật liệu
khác.
- Tùy theo ý dịnh tạo hình của trẻ, giáo viên có thể giúp trẻ tạo thêm
một số sự vật phụ kiện (ví dụ : cắt lá cờ, dán chiếc mũ, nặn cái giỏ,...) để
tăng vẻ sinh động, sự hấp dẫn cho sản phẩm và làm nổi bật nội dung hình
tượng.
- Nhận xét đánh giá cần tổ chức chu đáo : trình bày sản phẩm có
phân loại theo chủ đề hoặc theo chủng loại của đối tượng miêu tả.
Cho trẻ quan sát bao quát và cảm nhận ấn tượng chung về vẻ đẹp và
sự phong phú của sản phẩm.
Cho trẻ kể và nói lên cảm nghĩ về những thứ mình đã làm, đã nhìn
thấy (sản phẩm của bạn).
- Phát hiện và kịp thời động viên các sáng kiến, các ý tưởng sáng tạo
của trẻ.
15
- Có thể cho trẻ cùng nhau suy nghĩ về những việc có thể làm với các
sản phẩm hoạt động đã hồn thiện : đưa vào các trị chơi, làm q tặng,
trang trí mơi trường, dùng như đồ dùng dạy học để học các môn khác,...
4. Điều kiện vật chất
- Một số đồ chơi mà trẻ đã từng chơi, từng nặn.
- Một số đồ chơi mới :
Các đồ chơi cần có cấu trúc đơn giản về hình dáng, cấu trúc.
Số lượng đồ chơi không quá nhiều, khoảng từ 6 đến 8 thứ.
- Sáp nặn màu.
- Một số vật liệu bổ trợ : giấy màu, lá, hạt quả, que tăm, cành cây
nhỏ,...
- Dụng cụ : dao nặn, dụng cụ tạo bề mặt, hồ dán, keo, khăn lau tay,...
Không gian hoạt động : Tại khơng gian chung và các góc.
5. Phối hợp với các hoạt động khác
- Trước tiên tổ chức cho trẻ quan sát, trao đổi về các đồ chơi trong
giờ học.
- Chơi chắp ghép một số mơ hình từ vật liệu thiên nhiên.
- Sử dụng sản phẩm của trẻ vào một số hoạt động khác.
- Phát triển ngồn ngữ : gọi tên, nêu đặc điểm, mô tả bằng lời, nghĩ ra
câu chuyện,...
- Làm quen với môi trường xung quanh : nhận biết những vật thể
quen thuộc, phân loại, lập sa bàn theo các chủ đề,...
- Làm quen với tốn : đếm, phân nhóm theo các dấu hiệu, hình dạng,
kích thước, số lượng chi tiết trong cấu trúc.
IV. GIÁO ÁN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
1. Đề tài tạo hình
Nặn “Chú chó nhỏ” - Tạo hình theo mẫu đồ chơi.
2. Mục tiêu của hoạt động
- Tập thể hiện hình ảnh con vật trong không gian ba chiều bằng cách
nặn.
16
- Rèn luyện khả năng quan sát, phân tích cấu trúc, xác định hình
dạng, kích thước và vị trí sắp xếp của các bộ phận trong một cấu trúc hình
khối.
- Tập phối hợp kỹ thuật nặn chắp ghép với kỹ thuật nặn nguyên khối
: phần thân và tứ chi được nặn từ một khối đất, phần đầu, tai, đuôi được
nặn chắp ghép.
- Rèn luyện sự khéo léo trong vận động của các ngón tay để truyền
đạt dáng vẻ mềm mại của hình dáng con vật.
- Củng cố kỹ thuật gắn ghép.
- Tập thể hiện sự vận động theo ý định tạo hình của riêng trẻ.
- Tiếp tục làm quen với chất liệu đất sét. Tập làm việc gọn gàng, vệ
sinh.
3. Hình thức tổ chức và phương pháp thực hiện
Hình thức tổ chức : Hoạt động theo nhóm lớn (10 - 15 trẻ).
Phương pháp thực hiện :
- Tổ chức quan sát đồ chơi hình chú chó nhỏ : cho trẻ sờ mó, tìm
hiểu cấu trúc, đưa tay theo bề ngồi của hình dáng, đặc biệt cần cho trẻ chú
ý tới hình dáng của thân mình với những chiếc chân bụ bẫm, của chiếc đầu
với cái mõm dài và những chiếc tai nhỏ. Gợi cảm hứng trước vẻ đẹp hấp
dẫn của vật mẫu.
- Tổ chức đàm thoại, trao đổi về vật mẫu và suy nghĩ, chưa sẻ ấn
tượng về nó.
- Cho trẻ quan sát hình mẫu cơ đã nặn bằng đất sét.
- Hỏi và cho trẻ trao đổi, nói lên suy nghĩ của mình về cách nặn, cách
chia đất, cách xử lý bề mặt mà cô giáo đã sử dụng để tạo nên mẫu.
- Chỉ dẫn cách nặn : dùng phương pháp chỉ dẫn toàn phần, đặc biệt
chú ý dùng phương pháp giải thích kèm chỉ dẫn tỉ mỉ để trình bày phần ước
lượng, chia đất và phương pháp nặn vuốt từ khối đất nguyên thành phần
mình và tứ chi.
- Nhắc nhở, gợi cho trẻ nhớ về cách gắn ghép, tạo độ chắc, sử dụng
tích cực các kinh nghiệm cũ.
- Cho trẻ nhắc lại phần kỹ thuật nặn ngun khối. Cơ có thể chỉ dẫn
lại một số kỹ thuật xử lý bề mặt nơi gắn ghép.
17
- Cho trẻ nhắc lại bằng lời về quy trình nặn, cách làm việc với loại
vật liệu đất sét.
- Trong quá trình trẻ nặn, chú ý nhắc nhở về những kỹ thuật khó :
các kỹ thuật nặn nguyên khối.
- Giúp trẻ suy nghĩ về cách tạo đặc điểm bề mặt và tạo dáng, thể hiện
sự vận động theo ý thức của riêng trẻ.
- Sản phẩm của trẻ nên trình bày có bố cục đẹp mắt để trẻ dễ quan
sát, so sánh và gây hứng thú cho trẻ.
- Cho trẻ so sánh sản phẩm của mình với yêu cầu đã đặt ra từ đầu tiết
học. Tìm ra những nét giống và khác nhau so với mẫu.
- Cho trẻ thể hiện cảm nghĩ về dáng vẻ, trạng thái của sản phẩm :
“con chó đang vui hay đang giận dữ”, “nó như đang muốn làm điều gì ?”,...
- Yêu cầu trẻ nghĩ cách sử dụng sản phẩm vào các hoạt động khác.
4. Điều kiện vật chất
- Mẫu đồ chơi - hình chú chó con.
- Mẫu hình do cơ giáo thực hiện từ trước.
- Đất sét (hoặc sáp nặn).
- Bảng lót hoặc bàn xoay.
- Dao nặn, tăm, que, dụng cụ tạo bề mặt.
- Đĩa nhỏ đựng nước hoặc giẻ ẩm.
- Khăn lau sau khi rửa tay.
Không gian hoạt động : Tổ chức không gian đặc biệt thích hợp cho
việc sắp đặt các dụng cụ và thùng, chậu rửa tay. Tốt nhất nên tổ chức gần
nơi có nước hoặc ngồi trời, cho trẻ ngồi quanh bàn.
5. Phối hợp với các hoạt động khác
- Chơi với các đồ chơi, phân biệt sự khác nhau giữa hình các con vật:
chó, mèo, bị... với chim và cơn trùng,...
- Chơi tạo hình : nặn bằng cát ướt hoặc làm mơ hình bằng vật liệu
thiên nhiên.
- Tìm hiểu thế giới động vật qua hoạt động làm quen với môi trường
xung quanh. Dùng sản phẩm mà trẻ đã làm vào trò chơi phân biệt “Động
vật hoang dã” và “Vật nuôi trong nhà”,...
18
- Liên hệ với các tác phẩm văn học, âm nhạc nói về các chú chó và
các động vật khác.
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP
1. Hoạt động nặn của trẻ em có những điểm giống và khác nhau như thế
nào so với hoạt động vẽ và hoạt động xếp dán ? (hãy so sánh về mục
đích, nội dung tạo hình, về phương thức hoạt động, kỹ thuật, chất liệu
tạo hình,...).
2. Để xác định chất lượng của chương trình hoạt động nặn, cần dựa vào
những yêu cầu giáo dục và phát triển nào ?
3. Ở hoạt động nặn, trẻ mầm non thường gặp những thuận lợi và khó
khăn gì trong việc tiếp thu, cảm nhận chất thẩm mỹ của hình tượng ?
4. Để từng bước hình thành và phát triển khả năng sáng tạo cho trẻ qua
từng lứa tuổi, người ta sử dụng các phương pháp tổ chức hoạt động nặn
như thế nào ?
5. Lập kế hoach cho các giờ nặn :
- Nặn theo mẫu;
- Nặn theo đề tài cho sẵn;
- Nặn theo đề tài tự chọn.
Từ các kế hoạch dạng khung, soạn các giáo án chi tiết.
19
20