Tải bản đầy đủ (.pdf) (21 trang)

CHƯƠNG i

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (505.49 KB, 21 trang )

CHƯƠNG III
MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH CHO TRẺ MẦM NON
1. Mục đích của hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
Hoạt động tạo hình có một vị trí vơ cùng quan trọng trong toàn bộ hệ
thống các hoạt động của trẻ ở lứa tuổi mầm non và được coi là một trong
những con đường cơ bản để tiến hành giáo dục thẩm mĩ, giáo dục toàn diện
cho thế hệ trẻ ngay từ những năm đầu của cuộc sống.
Với tư cách là một phương tiện giáo dục rất thích hợp với lứa tuổi
mầm non, hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non phải được tổ chức để thực
hiện những mục tiêu giáo dục sau :
- Phát triển sự nhạy cảm, những xúc cảm, tình cảm thẩm mĩ, có nhu
cầu làm ra cái đẹp - là những điều rất cần cho cuộc sống của trẻ trong xã
hội.
- Giúp trẻ lĩnh hội các kiến thức và kỹ năng cơ sở, tạo nền tảng cho
sự tiếp thu nền giáo dục ở bậc học tiếp theo.
- Phát triển và tiếp tục duy trì ở trẻ lịng tự tin và khả năng cảm nhận
về giá trị của mình.
- Tiếp thu tri thức và hình thành thái độ, tình cảm để trẻ tích cực gia
nhập vào cộng đồng, xã hội.
Mục đích của việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ lứa tuổi mầm
non khơng nằm ngồi những mục đích cơ bản của giáo dục thẩm mĩ. Đó là
:
- Phát triển ở trẻ khả năng cảm nhận, cảm thụ cái đẹp trong cuộc
sống, trong nghệ thuật.
- Hình thành ở trẻ lòng mong muốn và khả năng thể hiện vẻ đẹp của
các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống xung quanh, để qua đó mà biểu lộ
thái độ, tình cảm của mình.
2. Các nhiệm vụ của việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ
mầm non
Hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non được tổ chức nhằm thực hiện


những nhiệm vụ giáo dục và phát triển sau :

1


- Hình thành ở trẻ khả năng nhận thức thẩm mĩ, hình thành thái độ
thẩm mĩ trước vẻ đẹp của thế giới xung quanh.
- Giúp trẻ có những điều kiện, những cơ hội biểu lộ thái độ, xúc cảm,
tình cảm của mình đối với những gì được thể hiện trong quá trình tạo hình.
- Hình thành và phát triển ở trẻ tính tích cực sáng tạo: tập cho trẻ biết
miêu tả, biểu cảm theo ý đồ, sáng kiến của bản thân, biết giải quyết các vấn
đề tạo hình một cách độc lập trong sự hợp tác.
3. Nội dung cơ bản của hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
3.1. Các nguyên tắc lựa chọn, sắp xếp nội dung của hoạt động tạo
hình
Hiệu quả của việc tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ phụ thuộc
khơng chỉ vào hệ thống các phương pháp được lựa chọn phù hợp với yêu
cầu của giáo dục mà trước hết phụ thuộc vào các nguyên tắc lựa chọn và
sắp xếp các nội dung của chương trình hoạt động được quy định bởi lý luận
giáo dục hiện đại.
Nội dung của chương trình hoạt động tạo hình ở trường mầm non
phải đảm bảo những nguyên tắc sau :
1. Tính khoa học;
2. Tính thống nhất giữa các nhiệm vụ giáo dục và phát triển;
3. Tính vừa sức;
4. Tính ý thức;
5. Tính hệ thống kế tục;
6. Tính thống nhất giữa lý thuyết với thực tiễn;
7. Nguyên tắc giáo dục cá biệt.
3.1.1. Tính khoa học

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất mà mọi chương
trình giáo dục, dạy học phải đảm bảo.
Theo nguyên tắc này thì nội dung của hoạt động tạo hình đối với trẻ
em phải là những gì đã được đúc kết, tích lũy (chuẩn hóa) trong cả q
trình phát triển lịch sử xã hội lồi người - đó là những tinh hoa của nền văn
hóa loài người. Từ vốn kinh nghiệm xã hội lịch sử mang tính chuẩn mực
của lồi người mà chúng ta lựa chọn phần nhỏ những gì vừa sức tiếp thu
của trẻ.

2


Nội dung của hoạt động tạo hình cần mở ra những cơ hội giúp trẻ
nắm dần các chuẩn cảm giác mang tính xã hội (chuẩn cảm giác về hình
dạng, màu sắc, kích thước, vị trí khơng gian,...) dần dần hình thành ở chúng
các xúc cảm thẩm mĩ (các cảm xúc về hình thái, màu sắc, nhịp điệu,...) từ
đó giúp trẻ có khả năng nhận thức, cảm thụ cái đẹp và phát triển thị hiếu
thẩm mĩ...
Các tri thức, kỹ năng tạo hình mà chúng ta cung cấp bồi dưỡng cho
trẻ phải là những kinh nghiệm từ nền văn hóa tạo hình, nhằm hoàn thiện
khả năng hoạt động thực tiễn của trẻ, phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và
đặc điểm cá nhân trẻ (về tâm, sinh lý,...).
3.1.2. Tính thống nhất giữa các nhiệm vụ giáo dục và phát triển
Cùng với việc cung cấp cho trẻ những kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng,
kỹ xảo, phát triển ở trẻ tính độc lập và sáng tạo, nội dung của chương trình
hoạt động tạo hình ở trường mầm non cần nhằm giúp cho trẻ nhận biết và
hưởng ứng tích cực trước cái đẹp, cái thiện, tạo điều kiện cho trẻ trải
nghiệm các cảm xúc thẩm mĩ đạo đức và các hành vi văn hóa - đạo đức.
3.1.3. Tính vừa sức
Nội dung cơ bản và cách sắp xếp các nội dung trong chương trình

hoạt động tạo hình phải được lựa chọn, cân nhắc tùy theo các đặc điểm lứa
tuổi và trình độ nhằm hồn thành hệ thống chương trình chăm sóc và giáo
dục trẻ, khi có trình độ phát triển năng lực hoạt động tạo hình của trẻ cũng
được thay đổi được nâng cao theo từng lứa tuổi,
3.1.4. Tính ý nghĩa
Nội dung chương trình hoạt động tạo hình phải được lựa chọn, xây
dựng sao cho có động cơ, có mục đích và ý thức, khêu gợi được lịng ham
muốn, sự tích cực, tự giác của trẻ, làm cho quá trình tạo hình của trẻ trở
thành một hoạt động có hứng thú, có động cơ chứ không phải đơn thuần là
sự bắt chước, sao chép, máy móc.
Tính ý nghĩa là một trong những u cầu phải đảm bảo để trẻ có thể
dễ dàng chủ động tiếp thu các tri thức, các phương thức hành động, các
kinh nghiệm hoạt động tạo hình. Tạo điều kiện cho trẻ tự tìm kiếm, thể hiện
tình cảm, năng lực của mình một cách tự do, sáng tạo.
3.1.5. Tính hệ thống, kế thừa
Tính hệ thống, kế thừa là một nguyên tắc quan trọng của mọi chương
trình giáo dục nhằm phát triển con người một cách tồn diện, hài hịa :

3


- Theo ngun tắc tính hệ thống thì trong chương trình hoạt động tạo
hình, những nội dung mới, phức tạp hơn chỉ được đưa đến cho trẻ trên cơ
sở những kiến thức, những kinh nghiệm cũ, đơn giản hơn đã được củng cố,
trở nên nhuần nhuyễn (thuần thục).
- Tính hệ thống, kế thừa của chương trình hoạt động tạo hình thể
hiện ở mối liên quan chặt chẽ giữa các loại hình của hoạt động tạo hình như
vẽ, nặn, xếp dán, lắp ghép,... Sự phối hợp, lồng ghép một cách hợp lý, hài
hịa giữa các nội dung của chương trình hoạt động tạo hình với nội dung
của các hoạt động khác trong trường mầm non (hoạt động vui chơi, lao

động với các hoạt động khác như làm quen với môi trường xung quanh,
hoạt động âm nhạc, làm quen với tác phẩm văn học, làm quen với tốn,
phát triển ngơn ngữ,...) cũng chính là một hướng tổ chức quy trình giáo dục
theo nguyên tắc hệ thống.
3.1.6. Tính thống nhất giữa lý thuyết với thực tiễn
Nhiệm vụ cơ bản của hoạt động tạo hình là phát triển ở trẻ khả năng
nhận thức thẩm mĩ thế giới xung quanh. Bởi vậy, nội dung tạo hình được
đưa vào hoạt động trước tiên phải là những gì gần gũi, quen thuộc trong
cuộc sống của trẻ, phù hợp với kinh nghiệm, xúc cảm tình cảm của trẻ.
Ngồi những nội dung mà trẻ đã được trải nghiệm, hoạt động tạo
hình phải là phương tiện giáo dục có vai trị chủ đạo, tích cực trong việc
mở rộng tầm hiểu biết của trẻ về thực tế, nghĩa là nó cần tạo nhiều cơ hội
cho trẻ được biết về những sự vật, hiện tượng mà trẻ khó có điều kiện tiếp
xúc trực tiếp (thơng qua các hình tượng nghệ thuật và các phương tiện
thơng tin mang tính tạo hình khác).
Để việc tiếp thu các kinh nghiệm nhận thức của trẻ không trở nên
giáo điều, khn mẫu, nội dung chương trình hoạt động tạo hình phải đầy
đủ, phong phú, sinh động để kích thích và bồi dưỡng cho trẻ khả năng tổ
chức hoạt động thực tiễn, dùng phương tiện tạo hình để tạo ra cái đẹp, làm
đẹp thêm cho chính cuộc sống thực quanh trẻ.
3.1.7. Nguyên tắc giáo dục cá biệt
Hoạt động tạo hình là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ thuật,
bởi vậy hoạt động này đòi hỏi cao hơn về nguyên tắc giáo dục cá biệt. Để
lựa chọn nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động phù hợp với trẻ, nhà sư
phạm cần hiểu rõ về đặc điểm các quá trình xúc cảm, nhận thức, tốc độ
hoạt động, độ nhạy bén, tính tích cực tưởng tượng, sáng tạo,... của từng cá
nhân nhằm giúp mỗi trẻ phát huy tối đa những tiềm năng sẵn có để tự phát
triển.
4



3.2. Các nội dung của hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non
Hoạt động tạo hình chính là một hình thức hoạt động nhận thức đặc
biệt mang tính hình tượng. Bởi vậy, nội dung của chương trình hoạt động
tạo hình có thể được xem như hệ thống những nhiệm vụ giáo dục và phát
triển cụ thể nhằm hình thành ở trẻ khả năng nhận thức thẩm mĩ, khả năng
phản ánh thế giới xung quanh, thâm nhập vào thế giới xung quanh thơng
qua hoạt động tạo hình.
Việc thực hiện những nội dung giáo dục và phát triển trên cần thông
qua các nội dung miêu tả bao gồm các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
con người và các sự kiện trong xã hội và các mối quan hệ đa dạng giữa
những đối tượng đó. Các nội dung miêu tả phải được lựa chọn và sắp xếp
theo hệ thống, phù hợp với yêu cầu về nội dung giáo dục và phát triển qua
từng độ tuổi của trẻ.
3.2.1. Nội dung giáo dục và phát triển của chương trình hoạt động
tạo hình
Nội dung giáo dục và phát triển của chương trình hoạt động tạo hình
tập trung vào việc hình thành, bồi dưỡng ở trẻ những khía cạnh tâm lý sau :
- Các năng lực chuyên biệt cho hoạt động tạo hình :
Khả năng nhận biết, phân biệt, đánh giá bằng thị giác các hình dạng,
tương quan tỷ lệ về kích thước của các chi tiết ở đối tượng miêu tả, khả
năng định hướng không gian, các cảm xúc thẩm mĩ như cảm xúc về đường
nét, hình dạng, màu sắc, tính nhịp điệu, thế cân bằng, vẻ hài hòa, cân đối,...
- Các kiến thức chuyên biệt cho hoạt động tạo hình :
Những hiểu biết sơ đẳng về các kiến thức tạo hình cơ bản (hiểu biết
về đường nét, hình dạng, màu sắc, bố cục,... như những phương tiện tạo
hình cơ bản); hiểu biết về các chất liệu, vật liệu tạo hình và khả năng truyền
cảm của chung,...
- Các kỹ năng chuyên biệt cho hoạt động tạo hình:
Khả năng điều chỉnh hoạt động giữa mắt và tay, khả năng vận động

của tay đủ đảm bảo cho việc thực hiện các hành động đồ họa ở các mức độ
phức tạp nhất định; nắm vững một số kỹ thuật sử dụng các loại cơng cụ, vật
liệu tạo hình.
Ngồi những khía cạnh chuyên biệt trên, nội dung của hoạt động tạo
hình cịn định hướng vào việc hình thành ở trẻ các phẩm chất nhân cách
cần thiết như : sự hiểu biết phong phú về thế giới xung quanh, các xu

5


hướng, hứng thú, động cơ hoạt động, những ham thích cá nhân, lịng say
mê lao động, ý chí và các phẩm chất khác.
Để hình thành và phát triển khả năng nhận thức thẩm mĩ và hoạt
động thực tiễn cho trẻ, người ta phân các nội dung giáo dục và phát triển
của hoạt động tạo hình thành bốn nhóm :
Nhóm 1 : Các kiến thức, kỹ năng, năng lực thể hiện vật mẫu đơn giản
(một hoặc một nhóm vật mẫu).
Nhóm 2 : Các kiến thức, kỹ năng, năng lực truyền đạt nội dung mạch
lạc (chủ đề, cốt truyện,...).
Nhóm 3 : Các kiến thức, kỹ năng, năng lực trang trí.
Nhóm 4 : Các kiến thức và kỹ năng mang tính kỹ thuật.
Việc tiếp thu các kiến thức, rèn luyện các năng lực, kỹ năng theo các
nội dung giáo dục và phát triển của hoạt động tạo hình sẽ từng bước tạo
cho trẻ khả năng hịa nhập vào thế giới xung quanh, tìm hiểu, khám phá thế
giới đó.
Cách phân loại như trên đã giúp giáo viên mầm non dễ dàng tự xây
dựng chương trình, kế hoạch cho hoạt động cho trẻ và dễ dàng đánh giá
toàn diện sự tiến bộ của trẻ trong hoạt động.
Nhóm nội dung 1 :
CÁC KIẾN THỨC, CÁC KỸ NĂNG, NĂNG LỰC THỂ HIỆN

SỰ VẬT ĐƠN GIẢN
Trẻ mẫu giáo chưa thể nắm vững các phương pháp miêu tả hiện thực.
Chúng thường gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết các nhiệm vụ tạo hình
do cơ giáo giao cho hoặc do tự trẻ đặt ra. Ví dụ như truyền đạt tỉ lệ tương
đối chính xác, sắp xếp cấu trúc hay xử lý màu sắc,...
Mặc dù trẻ mẫu giáo còn nhỏ và đối với chúng chỉ nên đưa ra những
nhiệm vụ tạo hình tương đối đơn giản, song chúng ta cần suy tính tới sự
phát triển nhận thức, nhân cách của trẻ mà quan tâm tới việc hướng cho trẻ
lĩnh hội dần dần các phương pháp phản ánh hiện thực vừa sinh động vừa
gần gũi với sự thật, khơng méo mó, lệch lạc để từ đó giúp trẻ nhận thức
một cách đúng đắn về thế giới thực xung quanh.
Nội dung của phần chương trình trên bao gồm việc hình thành và bồi
dưỡng cho trẻ những kiến thức, những kỹ năng và năng lực sau :
- Thể hiện hình dạng (hình thù của vật mẫu).

6


- Thể hiện kích thước (của các vật mẫu và các bộ phận của chúng).
- Thể hiện cấu trúc.
- Thể hiện màu sắc.
Về sự thể hiện hình dạng :
Một tính chất cơ bản trước hết cho phép ta xác định sự giống nhau
giữa hình ảnh thật của vật với hình ảnh đã được miêu tả đó là hình dạng.
Khả năng truyền đạt hình dạng chỉ có thể hình thành và phát triển
dần dần ở trẻ phải trải qua một quá trình. Sự thể hiện hình thù của sự vật
một cách chính xác địi hỏi khó dần theo từng lứa tuổi của trẻ.
Trước hết ở lứa tuổi mẫu giáo bé cần cho trẻ tập miêu tả các vật mẫu
có cấu trúc, hình dạng đơn giản gần với hình trịn, hình vng, sau đó là
hình tam giác.

Đến thời kỳ tuổi mẫu giáo nhỡ, u cầu trẻ phân biệt giữa hình trịn
với hình ô van, giữa hình vuông với hình chữ nhật…, thể hiện được nét
khác biệt, độc đáo trong hình dáng của các vật mẫu đó. Tiếp đến những vật
mẫu có các bộ phận với nhiều hình dạng khác nhau và mở rộng dần phạm
vi các đối tượng miêu tả.
Sang tuổi mẫu giáo lớn, trẻ cần tập thể hiện hình dáng của các vật
mẫu sinh động, đa dạng, phức tạp và khó hơn.
Như vậy, để giúp trẻ cảm nhận, phân biệt và thể hiện hình dáng của
các vật mẫu, cần phát triển các kỹ năng tạo hình, khả năng tri giác bằng
mắt (quá trình điều khiển bằng mắt của trẻ càng tốt bao nhiêu thì càng có
khả năng truyền đạt hình dáng của các vật mẫu gần chính xác bấy nhiêu).
Về sự thể hiện kích thước của các vật mẫu và các bộ phận của
chúng:
Một trong những phương tiện quan trọng của tả thực, đó là sự truyền
đạt các mối quan hệ về kích thước giữa các bộ phận, các chi tiết trong cấu
trúc của mọi vật.
Ở lớp mẫu giáo bé cần lựa chọn nội dung miêu tả để trẻ tập thể hiện
sự khác nhau về kích thước giữa các chi tiết có hình thù giống nhau. Ví dụ,
các bộ phận của “cái tháp”, “con lật đật”,...
Ở các lớp mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn mức độ của khả năng phân
biệt và miêu tả đòi hỏi phức tạp hơn : Trẻ phải thể hiện được quan hệ, tỷ lệ
kích thước của các bộ phận có hình thù, màu sắc khác nhau trong một vật
mẫu để sau này trẻ sẽ tập thể hiện sự tương quan về kích thước của các
7


hình ảnh trong một bức tranh theo chủ đề. Ngồi ra ở lớp mẫu giáo lớn trẻ
cần tập ước lượng bằng mắt và xác định xem một vật này lớn hơn vật kia
bao nhiêu lần.
Để giải quyết được các nhiệm vụ này cần có những nội dung miêu tả

được lựa chọn giúp trẻ rèn luyện vận động của đôi tay, đồng thời phát triển
khả năng ước lượng bằng mắt, khả năng điều khiển bằng mắt các thao tác
của tay.
Cần lưu ý rằng, việc phân biệt và thể hiện hai vật mẫu có kích thước
khác nhau (theo quan hệ to - nhỏ) trong một bài vẽ đối với trẻ không phải
là việc khó khăn lắm, song sự luyện tập vấn đề này cần rất được chú ý, bởi
nó sẽ là nền tảng của sự truyền đạt tỷ lệ kích thước ở mức cao hơn, phức
tạp hơn, thể hiện các thứ bậc kích thước khó hơn : Ví dụ, quan hệ to - nhỏ nhỏ hơn nữa, ... việc này đòi hỏi các vận động rất chính xác và sự kiểm tra
điều khiển rất tinh của mắt đối với các vận động tạo hình của tay.
Giáo viên cần biết lựa chọn các chủ đề miêu tả phù hợp để tổ chức
cho trẻ tri giác, nắm bắt các quan hệ kích thước và hình thành dần dần các
kỹ năng thể hiện các quan hệ này.
Về sự thể hiện cấu trúc :
Thời kỳ mẫu giáo bé cần lựa chọn những nội dung miêu tả là những
đối tượng tương đối đơn giản về hình dạng tổng thể, về cấu trúc (cân đối,
đối xứng… của vật mẫu với các bộ phận, chi tiết trong cấu trúc có hình thù
giống nhau.) cũng như màu sắc. Để trẻ có thể nắm bắt và thể hiện được cấu
trúc của một vật mẫu gồm một vài bộ phận. Đông thời giúp trẻ làm quen
với một số từ ngữ, khái niệm biểu thị các quan hệ không gian như : cao
hơn, thấp hơn, bên phải, bên trái, giữa, xung quanh.
Dần dần sang các lớp mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn có thể cho trẻ sang
miêu tả một cách chính xác hơn, đầy đủ hơn với những vật mẫu có các chi
tiết, bộ phận khác nhau về hình thù và phức tạp hơn về cấu trúc cũng như
quan hệ không gian giữa các bộ phận (tuổi mẫu giáo lớn có thể cho trẻ tập
thể hiện các đặc điểm, tính chất đặc thù riêng của các vật mẫu để làm nỗi
bật nét độc đáo trong hình dạng và cấu trúc của chúng).
Ở tuổi mẫu giáo có một đặc điểm mà chúng ta cần lưu ý trong q
trình tổ chức cho trẻ vẽ, đó là trẻ thường thể hiện sự vật cần miêu tả trên
mặt phẳng hai chiều, giáo viên cần lựa chọn tư thế sắp xếp vật mẫu trước
mắt trẻ sao cho chúng có thể quan sát và miêu tả được vật đó một cách đầy

đủ, chính xác về các chi tiết,bộ phận…trên mặt phẳng (tương quan về kích
thước, hình thù và cách sắp xếp, tư thế của chúng). Sử dụng cách miêu tả
8


thể hiện mặt cắt như vậy tất nhiên sẽ không tránh khỏi một số yếu tố có
tính chất ước lệ trong cách sắp đặt, song đó là bước đi cần thiết để giúp trẻ
tập phân tích, nắm bắt cấu trúc, đặc điểm cơ bản của sự vật.
Đối với trẻ mẫu giáo việc xác định các mối quan hệ trên là điều rất
phức tạp. Năng lực này cần được bồi dưỡng dần dần ngay từ lớp bé và sẽ
trở thành nhiệm vụ, yêu cầu bắt buộc đối với trẻ lớp mẫu giáo nhỡ và lớp
mẫu giáo lớn.
Để bồi dưỡng cho trẻ năng lực miêu tả, thể hiện các vật mẫu gồm
nhiều bộ phận cần phải phát triển dần ở trẻ các thao tác tư duy như phân
tích, so sánh, đối chiếu, ước lượng kích thước tương đối của các bộ phận từ
tổng thể đến chi tiết, xác định sự khác nhau về hình thù, màu sắc giữa
chúng.
Về sự thể hiện màu sắc :
Màu sắc nói chung, đặc biệt là những màu sắc sặc sỡ thường gây ra ở
trẻ những rung động tích cực, làm cho chúng thích thú và vui sướng.
Trong quá trình tạo hình, nếu thiếu sự quan tâm hướng dẫn thì trẻ
khơng biết sử dụng sự phong phú của các loại vật liệu màu để thể hiện cảm
xúc, ý định tạo hình của mình. Có trẻ thường vẽ cả bức tranh chỉ bằng một
màu. Nếu có sự hướng dẫn của người lớn chúng có thể vẽ thêm một vài
màu khác, song có thể sau đó lại chỉ dùng một màu vẽ cho tới kết thúc. Bởi
vậy, khi xây dựng chương trình hoạt động tạo hình cần lựa chọn và sắp xếp
các nội dung tạo hình dể dần dần tác động tới trẻ, tập cho trẻ quan sát và
nhận ra vẻ phong phú của màu sắc trong thế giới xung quanh, khi gợi ở trẻ
ước muốn được diễn tả lại vẻ đẹp phong phú đó vào tranh vẽ, tranh cắt dán,
hình nặn,...

Đối với trẻ mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ người ta đã bắt đầu tập cho
chúng hiểu và miêu tả màu sắc như một đặc điểm riêng của mọi vật, như
một loại dấu hiệu, ký hiệu về sự vật đó.
Trẻ nhỏ có thể gọi tên màu gắn với tên riêng của vật mẫu, nhưng sau
đó chúng phải tập phân biệt và gọi tên chung của màu sắc như tên gọi của
một loại chuẩn cảm giác.
Bắt đầu từ lớp bé đã có thể cho trẻ làm quen với một vài sắc thái của
một số màu : xanh nước biển - xanh da trời, đỏ - hồng, đậm - hồng phớt, ...
Lên các lớp mẫu giáo nhỡ, mẫu giáo lớn những hiểu biết này cần
được mở rộng, trẻ phải xác định được từ hai, ba rồi bốn,... sắc thái của một
màu.
9


Trẻ cũng cần phải thấy được sự biến đổi màu sắc của mọi vật tùy
theo sự thay đổi điều kiện : thời gian, không gian, thời tiết, độ chiếu sáng.
Trẻ cịn cần phải biết được là con người cũng có thể tự do thay đổi
màu sắc của một số sự vật xung quanh theo ý mình, theo cảm nghĩ cá nhân
: quét sơn, quét vôi, treo các loại rèm, tạo sắc màu cho các loại đồ vật,...
Cần phát triển cho trẻ tri giác thẩm mĩ, óc quan sát để trẻ dễ dàng
cảm nhận, ghi nhớ, hình thành biểu tượng,... về sự thay đổi của màu sắc
trong môi trường xung quanh. Có như vậy thì những hiểu biết về màu sắc
của trẻ mới trở nên phong phú và những biểu tượng về các sự vật, hiện
tượng xung quanh mà trẻ có được sẽ dần trở nên sinh động, giúp trẻ thể
hiện sáng tạo vào các sản phẩm tạo hình của mình.
Để hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo có hiệu quả cần bồi dưỡng
cho trẻ không chỉ những hiểu biết về hình, màu mà cịn cần tập cho chúng
biết đối chiếu chúng với các chuẩn cảm giác mang tính xã hội (các hình
hình học, các màu quang phổ).
Nhóm nội dung 2 :

CÁC KIẾN THỨC, CÁC KỸ NĂNG, NĂNG LỰC GIÚP TRẺ
THỂ HIỆN MỘT NỘI DUNG MẠCH LẠC.
Nội dung mạch lạc trong sự thể hiện tạo hình có thể là một chủ đề,
cốt truyện,... mà ở đó hình ảnh các sự vật đơn lẻ được thay đổi, liên kết với
nhau theo các mối quan hệ, tinh thần, sự kiện, hành động nào đó.
Chương trình hoạt động tạo hình khơng chỉ đưa ra yêu cầu trẻ phải
biết miêu tả từng sự vật đơn lẻ mà còn đòi hỏi trẻ phải tập truyền đạt qua
tranh vẽ, tranh cắt dán, mơ hình nặn một nội dung trong đó thể hiện các
hiện tượng tự nhiên, các sự kiện trong cuộc sống xã hội, phong cảnh thiên
nhiên hay một cảnh trong các câu chuyện quen thuộc mà các cháu đã được
nghe kể. Trong những khung cảnh này các hình ảnh (mọi vật, các nhân vật)
phải có mối liên hệ qua lại với nhau ở một mức độ nhất định, trong một
khung cảnh nhất định.
Để giải quyết nhiệm vụ trên, nội dung giáo dục và phát triển trong
tạo hình phải hướng vào việc tăng cường bồi dưỡng cho trẻ các khả năng
sau :
a. Thể hiện bố cục trong khơng gian.
b. Thể hiện kích thước tương đối và tư thế vận động của các sự vật.
Về sự thể hiện bố cục trong không gian :

10


Việc thể hiện bố cục trong không gian ba chiều bằng các đồ chơi, các
hình tượng nặn khơng phải là việc khó đối với trẻ; trẻ chỉ việc xê dịch các
hình để có vị trí khác nhau : trong - ngồi, trên - dưới... Song thể hiện trên
mặt phẳng khơng gian hai chiều của tờ giấy vẽ làm sao cho người xem hiểu
được đây là sự kiện gì hay cảnh thiên nhiên nào, lại là một việc khá phức
tạp.
Nội dung chương trình hoạt động tạo hình cần phải tập trung bồi

dưỡng cho trẻ khả năng tri giác và tư duy không gian, giúp trẻ biết từng
bước xác định được quan hệ giữa không gian ba chiều với không gian hai
chiều.
Ở các lứa tuổi nhỏ, cần cho trẻ tập định hướng trong không gian,
nắm được các từ ngữ chỉ các khái niệm khơng gian, tiếp đó tập định hướng
và xác định các vị trí trong khơng gian tranh (hai chiều) (ví dụ : phía trước,
phía trên, bên phải, bên trái của tranh vẽ).
Trong quá trình thể hiện tranh vẽ, tranh xếp, dán, trẻ có thể làm quen
dần với lối thể hiện theo luật phối cảnh. Trước hết đơn giản hơn đối với trẻ
là cách sắp xếp trong tranh theo hàng ngang trên một đường vạch hoặc một
dãy chạy dài - ở phần dưới của tờ giấy : lúc này các hình ở hàng đầu (cận
cảnh). Tiếp đó phần đất (nền) được nới rộng lên chiếm phần nửa dưới của
tờ giấy hoặc nhiều hơn nữa và tại khoảng rộng đó trẻ khơng chỉ sắp xếp các
hình ở hàng đầu mà cịn “xa hơn”, ở hàng thứ hai, thứ ba trên khắp “phần
mặt đất”.
Nói chung, bằng thứ tự đó trẻ tập thể hiện chiều sâu khơng gian trong
tranh vẽ.
Về sự thể hiện kích thước tương đối và tư thế của các hình ảnh :
* Thể hiện kích thước :
Kích thước tương đối và mối tương quan về kích thước giữa các hình
ảnh trong tranh là những yếu tố làm cho nội dung bức tranh trở nên dễ hiểu
và sinh động hơn.
Trẻ thường rất ít quan tâm tới điều này, chúng thường mô tả mọi vật
một cách tự nhiên theo cách liệt kê lần lượt mà không áy náy khi tạo nên sự
chênh lệch đến vơ lý về kích thước của chúng.
Dùng những trị chơi học tập và tổ chức cho trẻ quan sát các đặc
điểm, mối tương quan về kích thước của mọi vật trong cuộc sống, cô giáo
dần dần sẽ làm cho trẻ hiểu và bước đầu thể thể hiện các mối tương quan tỷ
lệ một cách hợp lý, cân đối.
11



Ban đầu người ta cho trẻ miêu tả những vật mẫu có nét khác nhau
khá rõ về kích, dần dần tiến tới thể hiện sự khác biệt tinh vi hơn, gần với
thực tế hơn.
* Sự thể hiện tư thế vận động :
Miêu tả tư thế và sự vận động của các vật cũng là một nội dung cần
chú ý trong chương trình hoạt động tạo hình.
Trong quá trình quan sát và thể hiện, trẻ cần phải hiểu rằng tư thế của
mọi vật thay đổi song hình thù và kích thước của chúng không bị biến đổi
nhiều, vẫn giữ được đặc điểm của chúng.
Khi muốn miêu tả sự vật ở các tư thế khác nhau trong không gian trẻ
cần phải tập thay đổi chiều hướng của nét vẽ (chứ không phải là xoay tờ
giấy như trẻ thường làm), tập xoay chuyển các bộ phận của vật trong hình
cắt dán hay trong nặn tượng.
Đối với trẻ mẫu giáo bé, mẫu giáo nhỡ nên cho trẻ vẽ hình dáng một
số con vật ở tư thế nhìn nghiêng, cịn hình dáng người lại ở tư thế chính
diện. Thường thì chỉ đến lớp mẫu giáo lớn trẻ mới bắt đầu hiểu và tập thể
hiện sự khác biệt trong hình ảnh của người, con vật với nhiều tư thế khác
nhau như đối mặt (chính diện), xoay nghiêng hay quay lưng lại. Đặc biệt
khó đối với trẻ là miêu tả ở người xoay nghiêng bởi lẽ ở đây đòi hỏi sự thể
hiện nét và sự sắp xếp tay chân, thân mình khác hẳn với hình nhìn từ góc
độ chính diện. Việc rèn luyện khả năng quan sát sẽ giúp trẻ thực hiện tốt
nội dung tạo hình này.
* Về cách thể hiện sự vận động :
Khả năng này phải được phát triển dần cùng sự phát triển của tư duy,
trí tuệ, của khả năng hiểu về cấu trúc mang tính giải phẫu về mọi vật. Một
số vận động đơn giản của cơ thể như giơ tay thẳng lên hay giơ sang ngang
thì chỉ có một số trẻ lớp mẫu giáo nhỡ thể hiện được. Còn các động tác
phức tạp hơn như các thay đổi phần mình thì chỉ có số ít trẻ lớp mẫu giáo

lớn mới thể hiện được. Đặc biệt khó đối với trẻ mẫu giáo là sự thể hiện vận
động ở các khớp.
Với các bài tập nặn thì trẻ thể hiện điều này dễ hơn nhờ vào sự mềm
dẻo, dễ uốn nắn, dễ tháo ra - ghép vào của các bộ phận.
Khác với tranh vẽ và tranh xếp dán miêu tả một vật mẫu, tranh vẽ và
tranh xếp dán thể hiện cốt truyện ln ln có sự đòi hỏi phải thể hiện các
hành động. Bởi vậy, để giúp trẻ có thể tự do sáng tạo khi thể hiện các bài
tạo hình có nội dung mạch lạc cần chú ý tới việc bồi dưỡng cho trẻ khả
12


năng tìm hiểu, cảm nhận vẻ sinh động, sự vận động của mỗi vật trong thế
giới xung quanh.
Nhóm nội dung 3 :
CÁC TRI THỨC, KỸ NĂNG, NĂNG LỰC TRANG TRÍ
Bố cục trang trí cũng như cách phối màu thường tuân theo những
nguyên tắc tạo hình nhất định. Các giờ học trang trí (vẽ, cắt dán) có vai trị
rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và khiếu thẩm mĩ của trẻ.
Việc hình thành và phát triển ở trẻ khả năng trang trí là nhiệm vụ cần
chú ý thực hiện từ rất sớm và trong một thời gian dài bắt đầu từ tuổi nhà
trẻ.
Trước hết người ta cần phát triển ở trẻ tư duy khơng gian, giúp trẻ
hiểu được tính hợp lý và vẻ đẹp của tính nhịp điệu trong sự sắp xếp hình vẽ
trong khơng gian mang tính trang trí.
Để hiểu, cảm nhận và thực hiện được những hình trang trí trẻ phải
biết nhìn bao qt cả khơng gian tờ giấy, xác định các vị trí, tìm ra các góc,
viền cạnh xung quanh, trung tâm.
Trong q trình trang trí cần rèn cho trẻ khả năng đối chiếu các phần
giống nhau, phân biệt các khái niệm : đối chiếu, đối diện, đối xứng, bất đối
xứng,...

Tùy theo lứa tuổi, các nội dung tạo hình trang trí, cần được sắp xếp
linh hoạt, có hệ thống để thực hiện các nội dung giáo dục, phát triển với các
mức độ nâng cao dần.
Về sự sắp xếp vị trí khơng gian của bố cục trang trí.
Trẻ mẫu giáo cần làm quen và sử dụng tích cực tính nhịp điệu của sự
sắp xếp các hình trang trí.
Trước hết trẻ cần tập làm quen với cách sắp xếp theo bố cục hàng lối
(thành dãy) rồi bố cục mạng với các loại nhịp phức tạp dần :
- Lặp đi lặp lại các họa tiết giống nhau;
- Xen kẽ các họa tiết khác nhau;
- Tạo mạng hàng lối theo nhịp lặp lại và nhịp xen kẽ.
Khi đã khá thành thục với bố cục hàng lối và bố cục theo mạng, trẻ
có thể tập xây dựng các bố cục trang trí đăng đối đơn giản. Ví dụ :
- Trang trí trong các khn hình hình học (hình trịn, hình vng,
hình ơ van, hình chữ nhật, hình tam giác,...);
13


- Trang trí trong các hình tự nhiên, hình dáng đồ vật,...
Trẻ mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn có thể tập tạo các bố cục tự do
với cấu trúc bất đối xứng. Ví dụ :
- Trang trí trong các khn hình hình học;
- Trang trí trong hình tự nhiên.
Về sự lựa chọn hình dáng họa tiết.
Trẻ nhỏ có thể dùng các hình hình học làm họa tiết trang trí;
Trẻ mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn cần tập sử dụng các hình tự nhiên
đơn giản làm họa tiết (hoa lá, đồ chơi đơn giản, hình động vật đơn giản,...).
Về sự thể hiện màu sắc.
Trẻ mẫu giáo bé bắt đầu tập sử dụng một số các màu cơ bản để thể
hiện.

Trẻ mẫu giáo lớn tập sử dụng không chỉ màu cơ bản mà cả các sắc
thái đa dạng của các màu đó.
Đối với việc bồi dưỡng khả năng trang trí, cần coi việc tổ chức cho
trẻ quan sát, cảm nhận vẻ đẹp mang tính trang trí trong các tác phẩm nghệ
thuật tạo hình, các sản phẩm thủ cơng mĩ nghệ và mọi vật xung quanh là
một nội dung tạo hình quan trọng đáng được quan tâm.
Nhóm nội dung 4 :
CÁC TRI THỨC, CÁC KỸ NĂNG CĨ TÍNH CHẤT KỸ THUẬT

Mặc dầu việc thực hiện các sản phẩm tạo hình một cách có kỹ thuật
khơng phải là điều chủ yếu trong nhiệm vụ của hoạt động tạo hình, song
việc nắm được kỹ thuật đúng, đa dạng và chuẩn xác là điều cần thiết, bởi lẽ
nó cho phép trẻ có thể miêu tả được mọi vật, mọi hiện tượng, tạo các bố
cục trang trí,... và đưa vào đó cảm nghĩ, ước mơ của mình một cách dễ
dàng, phong phú.
Về các kiến thức, kỹ năng vẽ :
Trước hết trẻ học cách cầm bút, cầm phấn sao cho đúng tư thế. Trẻ
không thể tự học được điều này mà cần có sự chỉ dẫn trực quan và sự giải
thích rõ ràng của giáo viên. Cầm bút không đúng là một trong những
nguyên nhân cơ bản làm trì trệ sự phát triển các thao tác tạo hình của bàn
tay và làm cho quá trình miêu tả trở nên khó khăn.

14


Trẻ phải biết cầm bút đúng bằng 3 ngón tay : giữ bút bằng ngón cái
và ngón trỏ; ngón giữa giữ ở phía dưới; khi vẽ cánh tay cho tới bàn tay phải
đặt nằm trên bàn làm điểm tì hoặc hơi nhích cao hơn, dựa vào cây bút.
Trẻ phải học cách nhấn bút mạnh, hoặc nhẹ với các mức độ khác
nhau tùy theo ý muốn để tạo nên các sắc thái màu, các đường nét,... với các

tính chất khác nhau nhằm gây nên sức truyền cảm cho các hình vẽ.
Cần bồi dưỡng cho trẻ cách vẽ màu (đưa bút theo một hướng hoặc
khơng ra ngồi nét viền, nên xoay giấy, vẽ màu ở xung quanh trước, ở giữa
sau); khi tả bề mặt phẳng nhẵn, mịn thì vẽ, đều; khi tả bề mặt xốp, sần hoặc
gồ ghề thì vẽ đậm - nhạt bằng các nét bút dài - ngắn khác nhau, tùy mục
đích thể hiện đặc điểm mọi vật và các bộ phận của chúng.
Ngoài ra trẻ cần làm quen với một số kỹ thuật tạo bề mặt như : in ấn,
phun, thổi, bắn, cào xước,...
Với các loại công cụ vẽ khác nhau (bút chì, bút sáp, bút lơng, phấn
màu,...) cần giúp trẻ nắm được kỹ thuật sử dụng khác nhau.
Về kiến thức và kỹ năng xếp dán :
Trẻ lớp mẫu giáo bé, trẻ tập dán các hình cắt sẵn, do vậy trẻ phải tập
cách sắp xếp, bôi hồ, đặt giấy, ấn sao cho dính chặt và sạch.
Trẻ mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn bắt đầu tập cắt băng kéo, tập cầm
kéo đúng bằng tay phải và vận động linh hoạt; tay trái luôn xoay tờ giấy để
tay phải sử dụng kéo cho tiện,...
Trẻ phải nắm các cách cắt sau :
- Cắt thẳng;
- Cắt lượn cong;
- Cắt các vật, các bộ phận giống nhau từ tờ giấy gấp đôi, từ tờ giấy
gấp nhiều lần và xếp nếp;
- Cắt các hình theo hình vẽ trước;
- Cắt các hình khơng theo hình vẽ.
Các kỹ thuật xé, vo, cuốn giấy,... cũng cần được luyện tập và sử dụng
linh hoạt tùy theo nội dung nghệ thuật và ý tưởng biểu cảm.
Về các kiến thức và kỹ năng nặn :
Đối với hoạt động nặn cần phát triển các thao tác tay nhằm giúp trẻ
tạo nên các khối đất tròn (viên), các bản dẹt và từ đó tạo các hình thù khác
nhau.
15



Trẻ mẫu giáo bé bắt đầu nặn bằng cả bàn tay, bằng các vận động của
cơ lớn, lăn bằng các thao tác đưa thẳng (dọc ra phía trước), lăn bằng các
thao tác xoay trịn, tập véo, tiếp đó tập ấn dẹt, ấn lõm, kéo bứt ra thành các
phần nhỏ, các chi tiết.
Trẻ mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn tập sử dụng ngày càng linh hoạt
các ngón tay bằng các vận động cơ nhỏ (các vận động tinh) để vẽ, vuốt, tạo
các chi tiết nhỏ và các đặc điểm tinh tế của khối hình.
Trẻ mẫu giáo có thể tập sử dụng dao nặn, tập nặn từ một khối đất rồi
tập nặn gắn ghép từ các bộ phận.
Nắm được các thủ pháp nặn và sử dụng các loại dụng cụ phụ trợ trẻ
sẽ có khả năng thể hiện những đặc điểm về hình thù và bề mặt của vật một
cách tỉ mỉ hơn, phức tạp hơn, sinh động hơn.
* Nói chung, việc nắm vững các kỹ năng, rèn luyện các kỹ xảo có
tính chất kỹ thuật địi hỏi sự ơn luyện bền bỉ và có hệ thống.
Nắm tốt phần kỹ thuật thì quá trình tạo hình đối với trẻ sẽ trở nên dễ
dàng, thú vị và nhờ đó mà làm tăng hứng thú của trẻ đối với hoạt động, làm
phát triển khả năng sáng tạo.
Các bài tập ôn luyện về kỹ thuật không tiến hành một cách tách rời
mà lồng ghép ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ tạo hình trên
từng giờ học, giờ hoạt động tạo hình, nó khơng làm cản trở q trình sáng
tạo mà trái lại tạo điều kiện phát triển tính tích cực, độc lập, chủ động sáng
tạo của trẻ.
3.2.2. Nội dung miêu tả của chương trình hoạt động tạo hình
Nội dung miêu tả được xem như là phương tiện, là con đường để
thực hiện các nội dung giáo dục và phát triển của hoạt động tạo hình.
Việc tìm kiếm nội dung miêu tả cần xuất phát từ một số nguồn cơ
bản sau :
- Định hướng cho chương trình hoạt động tạo hình được quy định

trong chương trình giáo dục mầm non, theo mục tiêu của giáo dục mầm
non mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành.
- Các vấn đề, các nội dung giáo dục mà giáo viên tìm hiểu, thu thập
được và muốn đưa đến cho trẻ.
- Các kinh nghiệm hiểu biết, những mong muốn của trẻ liên quan đến
hoạt động tạo hình.

16


Như vậy, muốn có tư liệu để lập kế hoạch cho chương trình hoạt
động tạo hình cho trẻ, giáo viên cần tiến hành một số công việc cơ bản sau :
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn thực hiện các chương trình chăm
sóc - giáo dục trẻ (do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành).
- Nghiên cứu các nội dung giáo dục và điều kiện tổ chức các hoạt
động giáo dục trong trường mầm non.
Tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm tâm - sinh lý, khả năng hoạt động của
trẻ để khai thác xem “Trẻ muốn gì ?”, “Trẻ thích gì ?”, “Trẻ có thể làm
được gì ?”, ... (qua quan sát, trò chuyện, trao đổi với phụ huynh, với trẻ,...).
Các nội dung miêu tả của hoạt động tạo hình đã được thu thập, lựa
chọn phù hợp với từng độ tuổi của trẻ cần được sắp xếp theo hệ thống để có
thể dễ dàng sử dụng chúng trong việc tổ chức giáo dục theo hướng tích hợp
: vừa nhằm bồi dưỡng cho trẻ những khả năng chuyên biệt của hoạt động
tạo hình, vừa phối hợp thực hiện các nhiệm vụ của các lĩnh vực giáo dục
khác trong toàn bộ chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ.
Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của trẻ về mọi mặt : thể
chất, trí tuệ - nhận thức, ngơn ngữ giao tiếp - tình cảm xã hội, thẩm mỹ sáng tạo, giáo viên cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu, trải nghiệm và thể hiện các
nội dung tạo hình phong phú thông qua mối liên hệ phức tạp song thống
nhất giữa các loại hình hoạt động tạo hình (vẽ - nặn - xếp dán - chắp
ghép,...) và giữa hoạt động tạo hình với hàng loạt các hoạt động khác trong

trường mầm non (làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với toán,
với các tác phẩm văn học, hoạt động âm nhạc, thể dục,...). Các mối quan hệ
trên sẽ là sự định hướng để giáo viên đưa các nội dung miêu tả của hoạt
động tạo hình vào các mạng chủ điểm, các mạng nội dung giáo dục chung
cũng như mạng nội dung của các loại hình hoạt động tạo hình.
Chẳng hạn, từ một trong những chủ điểm của chương trình giáo dục
như chủ điểm “Các mùa trong năm”, giáo viên có thể tạo nên mạng chủ
điểm nhánh :
Mùa Xuân

Mùa Hè

CÁC MÙA
TRONG NĂM

17


Mùa Đông

Mùa Thu

- Tùy theo sự phong phú của tư liệu và khả năng giáo dục cũng như
điều kiện tổ chức quá trình giáo dục mà từ một trong những chủ điểm trên
giáo viên có thể tiếp tục tạo nên các mạng nội dung mới, chi tiết hơn.
Cụ thể trong trường hợp này ta có thể có mạng mới với các chủ đề
sau :

Thời tiết, trang
phục mùa thu

Năm học mới

Hoa quả
mùa thu
MÙA THU

Các sắc mầu
của cây cỏ
mùa thu

Đời sống
động, thực vật
trong mùa thu
Lễ hội mùa thu

- Theo mỗi chủ đề nhỏ của mạng trên, giáo viên có thể cùng trẻ trao
đổi và tìm kiếm những nội dung miêu tả liên quan, phù hợp với điều kiện
hiện thực.
- Để thể hiện mỗi chủ đề, giáo viên tiếp tục cần lập mạng hoạt động
cụ thể, trong đó phối hợp một cách hợp lý các loại hình của hoạt động tạo
hình.

18


Chẳng hạn, có thể thiết lập một mạng hoạt động tạo hình với nội
dung cụ thể như sau :
VẼ

XẾP DÁN


- Đêm rước đèn
- Đồ chơi yêu thích

- Dán quạt, mặt nạ
- Làm pano về trung thu

NẶN

- Mâm ngũ quả trung thu
- Bánh nướng, bánh dẻo
(hình trịn, hình vng)

LỄ HỘI MÙA THU
(Tết trung thu)
TRỊ CHƠI SỬ DỤNG
SẢN PHẨM TẠO HÌNH

CHẮP GHÉP

- Chơi rước đèn
- Cửa hàng bán đồ chơi
- ...

- Làm mũ múa
- Làm cờ, đèn trung thu
- ...

Khi tổ chức và thực hiện chương trình hoạt động tạo hình, cần chú ý
rằng nội dung miêu tả phải được lựa chọn, sắp xếp phù hợp với đặc điểm

sự phát triển của trẻ (đặc điểm khả năng nhận thức, xúc cảm, tình cảm, khả
năng vận động tạo hình,...), phải liên hệ chặt chẽ với các nội dung giáo dục
và phát triển của hoạt động tạo hình. Bởi vậy, khơng nhất thiết phải có quy
định quá chặt chẽ, cứng nhắc về hệ thống các mạng chủ điểm và không nên
yêu cầu giáo viên phải thực hiện tuần tự đầy đủ tất cả các nội dung của chủ
điểm được đặt ra.
Tóm lại, nội dung miêu tả của hoạt động tạo hình được lựa chọn từ
chính mong muốn, hiểu biết, cảm hứng của trẻ và được trẻ tiếp thu, trải
nghiệm thông qua con đường hoạt động thích hợp sẽ tạo cho trẻ vốn hiểu
biết, vốn kinh nghiệm phong phú, hình thành ở trẻ khả năng hưởng ứng tích
cực với cái đẹp từ các sự vật, hiện tượng xung quanh và khả năng độc lập,
chủ động tìm kiếm những cách thức thể hiện vẻ đẹp của thế giới quanh
mình một cách sáng tạo nhất.
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ BÀI TẬP
1. Khi lựa chọn, sắp xếp nội dung cho chương trình giáo dục thơng qua
hoạt động tạo hình, người ta cần dựa trên những nguyên tắc cơ bản nào ?

19


2. Để bồi dưỡng khả năng thể hiện hình ảnh của sự vật đơn giản, chương
trình hoạt động tạo hình cần tập trung vào những nội dung nào ?
3. Để bồi dưỡng khả năng thể hiện một nội dung mạch lạc, chương trình
hoạt động tạo hình cần tập trung vào những nội dung nào ?
4. Các nội dung cơ bản của hoạt động tạo hình có quan hệ với nhau như thế
nào khi thực hiện chương trình tạo hình qua các hình thức hoạt động của
trẻ ?
5. Thiết lập một số mạng nội dung, mạng hoạt động tạo hình theo các chủ
điểm và nêu hướng phối hợp giữa hoạt động tạo hình với các hoạt động
giáo dục khác trong trường mầm non để thực hiện nội dung hoạt động.


20


21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×