HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ LONG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ AN NINH MẠNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
HÀ NỘI - 2022
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÙI THỊ LONG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ AN NINH MẠNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Mã số: 938 01 06
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. TRỊNH ĐỨC THẢO
2. TS. LÊ THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2022
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo
quy định.
Tác giả luận án
Bùi Thị Long
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
8
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
8
1.2. Tình hình nghiên cứu nước ngồi
24
1.3. Khái qt kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu
29
1.4. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
32
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN NINH
MẠNG Ở VIỆT NAM
35
2.1. Khái niệm, nội dung điều chỉnh pháp luật về an ninh mạng
35
2.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về an ninh mạng
51
2.3. Hình thức và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng
60
2.4. Thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở một số nước trên thế giới
và giá trị tham khảo cho Việt Nam
68
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ AN NINH MẠNG Ở VIỆT NAM
84
3.1. Thực trạng pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam
84
3.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam
99
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ AN NINH MẠNG Ở VIỆT NAM
132
4.1. Quan điểm bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam 132
4.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam
141
KẾT LUẬN
163
DANH MỤC CƠNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CĨ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
165
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
166
PHỤ LỤC
178
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADPL : Áp dụng pháp luật
ANM
: An ninh mạng
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ATTT : An tồn thơng tin
KGM
: Khơng gian mạng
THPL : Thực hiện pháp luật
UBND : Ủy ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG/BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 3.1: 10 sản phẩm phần mềm phổ biến hàng đầu có nhiều lỗ
111
hổng bảo mật nhất năm 2016 theo tham chiếu của hệ thống CVSS
Biểu đồ 3.1: Chỉ số xếp hạng tăng trưởng chính phủ điện tử của Việt
110
Nam giai đoạn 2003-2020
Biểu đồ 3.2: Các cuộc tấn công mạng trong giai đoạn 2015-2019
119
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, vào năm 1993, chỉ có 1% lượng thơng tin truyền thông hai chiều được
tải trên internet, đến năm 2000, con số này đã lên đến 51% và năm 2007 là hơn 97% [122,
tr.60-65]. Có thể thấy, khơng gian mạng (KGM) đã trở thành một bộ phận cấu thành không
thể thiếu và đóng vai trị quan trọng trong xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh tế tri
thức, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi số quốc gia hướng đến xây dựng nền kinh tế số, xã
hội số. Sự phát triển bùng nổ của cơng nghệ mang tính đột phá như internet vạn vật, trí tuệ
nhân tạo, dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh,… đã làm KGM thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng,
đem lại những lợi ích chưa từng có cho xã hội lồi người, song cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ
khôn lường. Tội phạm và vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây thiệt hại lớn và diễn biến ngày
càng phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, hoạt động có tính chất xun quốc
gia.
Trước tình hình này, để có cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh
quốc gia từ KGM cũng như đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm an ninh mạng
(ANM), nhiều quốc gia trên thế giới đã tập trung nghiên cứu, ban hành các văn bản luật;
tăng cường thực hiện pháp luật (THPL) về ANM, thành lập các lực lượng chuyên trách về
bảo vệ ANM, tình báo mạng, chiến tranh mạng, phòng, chống khủng bố mạng và tội phạm
mạng; siết chặt các chế tài xử lý vi phạm ANM,...
Ở Việt Nam, để bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó có ANM, Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật và các giải pháp nhằm thúc đẩy, tăng
cường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong các lĩnh vực gắn với bảo vệ vững
chắc chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia trên KGM; xây dựng KGM an toàn, trở thành
nguồn lực mạnh mẽ để xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Đảng ta đã nhận thức sâu
sắc về tác độngcủa cách mạng khoa học công nghệ đối với sự phát triển đất nước, điều này
được thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội đã được bổ sung, phát triển năm 2011: "Cuộc cách mạng khoa học và cơng nghệ,
kinh tế tri thức và q trình tồn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát
triển của nhiều nước" [102]. Ngày 16/9/2013, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành
Chỉ thị số 28-CT/TW về tăng cường cơng tác bảo đảm an tồn thơng tin mạng. Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định: "Củng cố quốc phòng, giữ vững
8 toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường
an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an
xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân" [31, tr.148].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định:
“Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh con người, an ninh
kinh tế, an ninh mạng” [32, tập 2, tr.331]. Có thể nhận thấy, quan điểm nhất quán của
Đảng ta là củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ "trọng yếu, thường
xuyên".
Thể chế hóa quan điểm của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
15/CT-TTg, ngày 17/6/2014 về tăng cường công tác bảo đảm an ninh và an tồn thơng tin
mạng trong tình hình mới. Năm 2015, Luật An tồn thơng tin mạng được ban hành. Đến
năm 2018, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam ban hành Luật
An ninh mạng. Những văn bản pháp luật trên đây đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
bảo đảm hoạt động trên KGM, không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở Việt Nam hiện nay.
Luật An ninh mạng ra đời thể hiện chủ trương bảo vệ Tổ quốc của Đảng được ghi
nhận tại Điều 11 Hiến pháp năm 2013 "Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm
phạm" và "Mọi hành vi chống lại độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ,
chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị" [71, tr.15-16].
Trong xu thế tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch và phản động
quốc tế có nhiều thủ đoạn, âm mưu chống phá các chủ trương, đường lối của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm rối loạn sự bình yên của đất nước. Trên KGM,
chúng ln tìm cách gia tăng hoạt động tấn cơng nhằm thu thập thơng tin, bí mật nhà
nước, bí mật nội bộ, chiếm quyền điều khiển, phá hoại “mạch máu” hệ thống mạng thông
tin; xuyên tạc, làm giả các trang thông tin điện tử, trang mạng xã hội với nhiều thủ đoạn
tinh vi, xảo quyệt nhằm gây chia rẽ nội bộ, xâm phạm nghiêm trọng lợi ích an ninh quốc
gia, trật tự an tồn xã hội,v.v..
Vì vậy, cần phải bảo đảm THPL về ANM để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn
xã hội, quyền con người và quyền công dân trước tác động đa chiều của KGM.
Ở Việt Nam, THPL về ANM bao gồm toàn bộ các hoạt động có mục đích của các
chủ thể nhằm hiện thực hóa pháp luật về ANM của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
thành các hành vi thực tế, hợp pháp để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã
hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên KGM.
Trong những năm qua, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có hệ
thống pháp luật tốt nhìn từ góc độ thể chế. Trong lĩnh vực pháp luật về ANM, "bước đầu
9 cho việc bảo đảm ANM, an tồn thơng tin
hình thành hệ thống pháp luật và cơ sở vật chất
quốc gia, KGM quốc gia" [32, tập 1, tr.68]. Việc tổ chức THPL về ANM đã đạt được
những kết quả nhất định. Nhận thức về bảo vệ ANM ngày càng được nâng cao. Việc tuân
thủ, thi hành pháp luật của các chủ thể liên quan đến lĩnh vực ANM ngày càng được cải
thiện. Các chủ thể ngày càng chủ động hơn trong sử dụng và áp dụng pháp luật (ADPL) về
ANM.
Tuy nhiên, tình hình ANM ở Việt Nam ngày càng có chiều hướng diễn biến phức
tạp. Thực tiễn THPL về ANM còn nhiều bất cập, hạn chế. Một số chủ thể nhận thức về
THPL về ANM chưa đồng đều, thậm chí cịn có thái độ coi nhẹ, thờ ơ. Việc chấp hành,
tuân thủ các quy định của pháp luật về ANM còn chưa nghiêm. Các chủ thể áp dụng pháp
luật chưa có nhiều kinh nghiệm. Đầu tư cho hạ tầng mạng cịn dàn trải. Trước u cầu tồn
cầu hóa và hội nhập quốc tế, trước các thách thức an ninh phi truyền thống, dịch bệnh, tình
trạng khẩn cấp,… việc hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngồi
nước trong lĩnh vực THPL về ANM cịn yếu và thiếu chuyên nghiệp.
Các nghiên cứu chuyên sâu để làm rõ cơ sở lý luận THPL về ANM chưa nhiều. Vì
vậy, nghiên cứu toàn diện cả phương diện lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ THPL về
ANM, đảm bảo và nâng cao hiệu quả THPLvề ANM ở Việt Nam với các giải pháp khả thi
rõ ràng là cấp thiết, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong sạch, vững
mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của
đất nước.
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: "Thực hiện pháp luật về an
ninh mạng ở Việt Nam" để nghiên cứu trong phạm vi luận án tiến sĩ luật học ngành Lý
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở phân tích và làm sáng tỏ cơ sở lý
luận của THPL về ANM; đánh giá thực trạng THPL về ANM ở Việt Nam trong thời gian
qua, luận án đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm THPL về ANM ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, rút ra các giá
trị của các cơng trình nghiên cứu luận án có thể kế thừa; xác định những vấn đề luận án
cần tiếp tục nghiên cứu.
Hai là, phân tích cơ sở lý luận của THPL về ANM: xây dựng khái niệm THPL về
ANM; làm rõ đặc điểm, vai trị, hình thức, các điều kiện bảo đảm THPL về ANM; nghiên
cứu THPL về ANM của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho
Việt Nam.
Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và THPL về ANM, chỉ ra những
thành tựu, hạn chế của pháp luật về ANM; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của
THPL về ANM ở Việt Nam.
Bốn là, luận chứng cơ sở khoa học của các quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo
đảm THPL về ANM ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sở lý luận và thực tiễn của THPL về ANM
ở Việt Nam dưới góc độ của ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án không nghiên cứu THPL đối với toàn bộ nội dung của pháp
luật về ANM mà tập trung đi sâu nghiên cứu THPL về ANM theo 04 nhóm nội dung điều
chỉnh của pháp luật về ANM được luận án xác định, đó là: quy định pháp luật về bảo vệ an
ninh quốc gia trên KGM; quy định pháp luật về bảo đảm trật tự an tồn xã hội, quyền và
lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên KGM; quy định pháp luật về trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; quy định pháp luật về chế tài xử lý hành
vi xâm phạm ANM.
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án là trên lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu thực trạng THPL về ANM ở Việt Nam từ số
liệu, dẫn liệu sử dụng chủ yếu trong giai đoạn 2015-2021.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa MácLênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước
về an ninh quốc gia, ANM và THPL về ANM trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt ở tất cả các chương của luận án
khi nghiên cứu, từ việc phân tích cơ sở lý luận của ANM, đánh giá thực trạng THPL về
ANM cho đến luận chứng các giải pháp bảo đảm THPL về ANM.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng ở các chương 1, 2, 3 trong việc nghiên cứu
các cơng trình khoa học có liên quan đến đề tài, những vấn đề lý luận về THPL về ANM,
thực trạng THPL về ANM, để từ đó đưa ra các nhận định về những ưu điểm, hạn chế, bất
cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc THPL về ANM.
Phương pháp thống kê được sử dụng trong luận án để hệ thống hóa tài liệu liên
quan đến vấn đề nghiên cứu. Đây là phương pháp được thực hiện nghiên cứu ở chương 1
và chương 3. Cách thức thu thập số liệu trong phương pháp thống kê là thu thập gián tiếp,
gồm: kế thừa một số nội dung của các cơng trình nghiên cứu đã được cơng bố có liên quan
đến đề tài; tổng hợp, xử lý số liệu từ các báo cáo; tổng hợp thông tin từ các phương tiện
truyền thơng như truyền hình, báo chí, internet, v.v.
Phương pháp so sánh: trong q trình nghiên cứu, ở chương 2, luận án sử dụng
phương pháp so sánh trong việc nghiên cứu kinh nghiệm THPL về ANM của một số quốc
gia trên thế giới. Qua đó, làm rõ những điểm tương đồng trong các hệ thống pháp luật có
bối cảnh phát triển khác nhau. Trên cơ sở đó, xác lập những điểm cốt lõi trong kinh
nghiệm THPL về ANM. Tại chương 3, luận án sử dụng phương pháp so sánh nhằm đối
chiếu các quy định pháp luật về ANM từ khi hình thành đến nay để xem xét, đánh giá mức
độ hoàn thiện của nội dung pháp luật đang nghiên cứu.
Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia với mục đích làm rõ
vấn đề nghiên cứu ở chương 3 của Luận án.
Đối với chương 4, về cơ bản luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để
đưa ra các quan điểm, giải pháp trên cơ sở khoa học, bảo đảm THPL về ANM ở Việt Nam
hiện nay.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là cơng trình nghiên cứu chun sâu đầu tiên, nghiên cứu tương đối toàn
diện cả về lý luận và thực tiễn từ THPL về ANM ở Việt Nam. Do đó, điểm mới và cũng là
đóng góp khoa học quan trọng của luận án là vận dụng lý luận về THPL để nghiên cứu một
lĩnh vực cụ thể là ANM, thể hiện trên những phương diện sau: Luận án hệ thống hóa, làm
sáng tỏ cơ sở lý luận THPL về ANM. Xây dựng được khái niệm, chỉ ra đặc điểm, vai trị,
hình thức và các điều kiện đảm bảo THPL về ANM.
- Luận án phân tích, đánh giá khách quan, tồn diện thực trạng THPL về ANM, chỉ
ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong THPL về ANM và đề xuất quan điểm,
giải pháp bảo đảm THPL về ANM ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về THPL nói
chung, làm phong phú hơn lý luận về THPL về ANM ở Việt Nam.
- Về thực tiễn, luận án là tài liệu cho các cơ quan Nhà nước tham khảo trong quá
trình sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản pháp luật về ANM ở Việt Nam; luận án cung
cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan, tổ chức nâng cao ý thức THPL về ANM ở Việt
Nam; ngoài ra, luận án được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu giảng
dạy, học tập pháp luật về ANM trong các cơ sở đào tạo chuyên luật và khơng chun luật.
7. Kết cấu của luận án
Ngồi Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung
luận án gồm 04 chương, 12 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
1.1.1. Các cơng trình khoa học nghiên cứu về an ninh mạng, pháp luật về an
ninh mạng trong nước
1.1.1.1. Các cơng trình khoa học nghiên cứu về an ninh mạng
* Sách
- Nghiên cứu xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát an tồn mạng theo mơ hình
quản lý tập trung để bảo vệ mạng internet Việt Nam của Vũ Quốc Khánh [44]. Tác giả tập
trung nghiên cứu, phát triển một số phần mềm cơ sở dữ liệu thu thập thông tin về tình hình
hoạt động của mạng và sự cố trên diện rộng, xử lý thông tin tập trung cấp quốc gia, thiết
kế kiến trúc tổng thể hệ thống, chọn lọc các chuẩn thông tin và thiết bị sử dụng phù hợp
với điều kiện Việt Nam, đảm bảo hệ thống có tính an tồn cao, đồng thời trao đổi thơng tin
thuận lợi với các tổ chức ứng cứu khẩn cấp máy tính của các quốc gia khác phục vụ hợp
tác quốc tế. Đề tài cũng phát triển giải pháp, cơng cụ tích hợp một số thiết bị an toàn mạng
thương mại đang phổ biến ở Việt Nam vào hệ thống quản lý giám sát an toàn mạng quốc
gia. Đề tài khoa học cấp nhà nước này đã được áp dụng hiệu quả vào công tác giám sát,
phát hiện và điều phối ứng cứu sự cố an toàn mạng của Việt Nam. Từ những khuyến nghị
về phát triển giải pháp kỹ thuật tích hợp vào hệ thống quản lý giám sát an toàn mạng ở
phạm vi toàn quốc, nội dung đề tài là gợi ý tham khảo thiết thực góp phần định hình giải
pháp bảo đảm ANM ở Chương 4.
- Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2018 do Bộ Thông
tin và Truyền thông [12] phát hành. Sách cung cấp thơng tin, số liệu thống kê chính thức,
phản ánh hiện trạng phát triển của một số lĩnh vực quản lý nhà nước quan trọng của Bộ
Thông tin và Truyền thông như côngnghiệp công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông,
viễn thông, ứng dụng công nghệ thông tin, an tồn thơng tin (ATTT) mạng, phát thanh
truyền hình và thông tin điện tử,... Số liệu trong Sách Trắng 2018 được tổng hợp và cập
nhật từ báo cáo của các Bộ, ngành, địa phương, các cơ sở đào tạo, hiệp hội, doanh nghiệp
công nghệ thông tin, các đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Các văn bản quy
phạm pháp luật về lĩnh vực ATTT, viễn thông, công nghệ thông tin được cập nhật đến
ngày 30/6/2018.
Đây là tài liệu tham khảo có hệ thống, đặc biệt là một số biểu đồ, số liệu chi tiết về
tình hình ATTT mạng trong ba năm 2015, 2016, 2017, có giá trị tham khảo hữu ích đối với
nội dung nghiên cứu về thực trạng tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật trong Chương
3.
- Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2019 do Bộ Thông
tin và Truyền thông [13] phát hành. Sách đáp ứng các yêu cầu mới về thông tin, phục vụ
việc xây dựng chính phủ điện tử, phản ánh hiện trạng phát triển công nghệ thông tin đến
31/12/2018. Các văn bản quy phạm pháp luật cập nhật đến ngày 30/11/2019. Tài liệu được
cập nhật theo năm, có giá trị tham khảo hữu ích đối với Chương 3 phần nội dung nghiên
cứu về thực trạng tuân thủ pháp luật và thi hành pháp luật về ANM.
- Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam năm 2020 của Bộ
Thông tin và Truyền thông [14]. Là ấn phẩm thường niên cung cấp thơng tin, số liệu thống
kê chính thức của Bộ Thơng tin và Truyền thơng. Tính đến hết năm 2019, hệ thống chia sẻ
giám sát ATTT phục vụ chính phủ điện tử đã giám sát 20/30 bộ, ngành và 51/63 địa
phương. Bước đầu hình thành ngành cơng nghiệp an tồn thông tin mạng “Make in Viet
Nam” với nhiều sản phẩm ATTT mang thương hiệu Việt. Hiện Việt Nam đã xây dựng và
phát triển mạng lưới ứng cứu sự cố quốc gia với gần 200 thành viên gồm các đội ứng cứu
sự cố của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp nhà nước.
- Sách Trắng về Quốc phòng Việt Nam do Bộ Quốc phòng [11] phát hành. Sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bên cạnh những thuận lợi cịn có nhiều khó khăn.
Sách Trắng nhận định các vấn đề an ninh toàn cầu diễn biến phức tạp và xuất hiện nhiều
thách thức mới trong đó có ANM. Các thế lực thù địch đã lợi dụng khoa học công nghệ để
tiến hành chiến tranh thông tin. Bên cạnh 04 môi trường tác chiến truyền thống như trên
bộ, trên biển, trên không, vũ trụ, KGM là môi trường thứ năm với sự ra đời của chiến
tranh mạng, có tác động lớn đến quốc phòng, an ninh thế giới, khu vực và quốc gia. Trước
tình hình đó, năm 2017, Bộ Quốc phòng thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến KGM với nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên KGM trong lĩnh vực quốc phịng.
Cơng trình này có ý nghĩa đối với lý luận về pháp luật về ANM đó là cung cấp thêm
luận cứ để nghiên cứu sinh xác định rõ hơn một khái niệm mới là KGM, môi trường tác
chiến phi truyền thống bên cạnh các môi trường tác chiến truyền thống.
- An ninh quốc gia, những vấn đề an ninh phi truyền thống, Tạ Ngọc Tấn [84].
Trong thế giới hiện đại, an ninh quốc gia không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quân sự, ngoại
giao (an ninh truyền thống) mà gồm cả an ninh kinh tế, tài chính, xã hội, sinh thái, nhân
văn, lương thực, năng lượng… và nhiều vấn đề khác (an ninh phi truyền thống); đồng thời
cũng không chỉ giới hạn ở mục tiêu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia (an
ninh truyền thống) mà còn bao gồm cả bảo vệ con người, cộng đồng và nhân loại trong bối
cảnh liên kết quốc tế (an ninh phi truyền thống).
Sự xuất hiện an ninh phi truyền thống khơng làm mờ nhạt vai trị của an ninh
truyền thống mà ngược lại, hai vấn đề này ln đan xen, bổ trợ và có thể chuyển hóa lẫn
nhau trong điều kiện nhất định; vì vậy, tách biệt vấn đề an ninh truyền thống và an ninh
phi truyền thống chỉ mang tính tương đối.
Xu thế tồn cầu hóa mạnh mẽ cùng với sự phát triển như vũ bão củakhoa học công
nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã góp phần hình thành đặc tính quốc tế - xuyên quốc
gia của an ninh phi truyền thống. Toàn cầu hóa diễn ra cùng với dịng chảy vốn lưu thơng
tồn thế giới, hình thành một thị trường chung khiến cho "biên giới cứng" giữa các quốc gia,
khu vực gần như không tồn tại, vấn đề an ninh trong nước và quốc tế ngày càng gắn bó và
phụ thuộc lẫn nhau. Chính sự phụ thuộc đó lại trở thành yếu tố làm cho an ninh quốc gia trở
nên phức tạp, khó lường và nguy cơ rủi ro lớn hơn; các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
có mức độ nguy hiểm cao hơn, tầm ảnh hưởng rộng hơn và quan trọng là tốc độ lây lan
nhanh hơn. Các hoạt động tội phạm, khủng bố quốc tế, nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh
học, hóa học, bệnh dịch, tội phạm cơng nghệ cao có quy mơ xun biên giới đã và đang đe
dọa cuộc sống của toàn thể nhân loại trong thời đại ngày nay.
Sự xuất hiện của ANM khiến vấn đề an ninh phi truyền thống trở nên đa dạng.
Những đặc điểm của an ninh phi truyền thống được nghiên cứu sinh tiếp thu có chọn lọc
cho nội dung Chương 2 về cơ sở lý luận của Luận án.
- Giáo trình an ninh khơng gian mạng của nhóm tác giả Trần Đại Quang, Phạm
Ngọc Lãng, Nguyễn Ngọc Cương, Nguyễn Trường Thắng [68]. Giáo trình trình bày một
số nghiên cứu bước đầu về cơ sở lý luận của KGM như khái niệm về KGM, chiến tranh
mạng, tính chất của hoạt động khủng bố mạng,... mục tiêu, nguyên tắc, biện pháp giám sát
và xử lý sự cố về an ninh trên KGM. Tài liệu này có giá trị tham khảo đặc biệt đối với một
số nội dung lý luận được nghiên cứu ở Chương 2 của Luận án.
- Không gian mạng - Tương lai và hành động của Trần Đại Quang [69]. Sự lo ngại
về an ninh mạng đã trở thành vấn đề toàn cầu. Các vụ xâm nhập trái phép vào hệ thống
máy tính tuyệt mật quốc gia để thu thập thơng tin tình báo và phục vụ cho các mục đích
riêng do các tin tặc được chính phủ bảo trợ vẫn diễn ra. Cuốn sách đề cập đến nhiều vấn
đề mới về KGM, đặc biệt là tương lai phát triển của "miền lãnh thổ" KGM trên các
phương diện như lãnh
thổ, chủ quyền, biên giới, cửa khẩu và biên phòng, qua đó thể hiện tư duy và tầm nhìn
chiến lược của tác giả đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, vấn đề
bảo vệ chủ quyền và an ninh - lợi ích quốc gia trên KGM. Đây là cơng trình nghiên cứu có
hệ thống về KGM, một bộ phận lãnh thổ quốc gia mới. Cuốn sách là tài liệu tham khảo tốt
cho nội dung Chương 2 của Luận án.
- Mạng xã hội đối với lối sống của thanh, thiếu niên Việt Nam hiện nay của Nguyễn
Thị Lan Hương [43]. Cuốn sách được đúc rút từ đề tài nghiên cứu "Xây dựng và phát triển
văn hóa, con người Việt Nam trước tác động của phương tiện truyền thơng mới". Cuốn
sách có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn khi tác giả phân tích kỹ một số góc
cạnh của các phương tiện truyền thông mới tác động đến lối sống thanh, thiếu niên, từ đó
lý giải những thay đổi văn hóa - xã hội ở Việt Nam hiện nay. Một số giải pháp ứng phó
hữu hiệu nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực, phát huy tác động tích cực của mạng xã hội
trong việc xây dựng văn hóa lối sống của thanh, thiếu niên Việt Nam hiện nay trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, quán triệt tinh thần của Nghị quyết
Hội nghị lần thứ chín (Ban Chấp hành Trung ương khóa XI) về xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Một số nội dung
của cuốn sách được tham khảo cho Chương 2 và Chương 3 Luận án.
* Bài viết tạp chí
- Một số giải pháp phịng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền
thống ở Việt Nam hiện nay của hai tác giả Đoàn Minh Huấn và Nguyễn Linh Khiếu [42].
Bài viết phân tích các mối đe dọa an ninh phi truyền thống rất đa dạng, biểu hiện trên
nhiều lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội; nguồn gốc tạo nên các mối đe dọa này rất phức
tạp, yếu tố phát sinh từ thiên tạo và nhân tạo; có khả năng phát tán nhanh, phạm vi ảnh
hưởng xuyên quốc gia. Một số mối đe dọa an ninh phi truyền thống có khả năng chuyển
thành aninh truyền thống, nếu kiểm soát, quản trị kém, thiếu cơ chế phối hợp hành động
giữa các quốc gia. Qua tìm hiểu cho thấy, có rất nhiều bài viết của các tác giả nghiên cứu
về vấn đề an ninh phi truyền thống. Điểm chung là các tác giả đều nhận định an ninh phi
truyền thống là vấn đề mang tính tồn cầu, cần sự kiểm soát quốc tế.
- An ninh mạng hay an toàn dữ liệu cho Việt Nam của Hảo Linh [54]. Trên cơ sở
phân tích thực tiễn hệ thống mạng và an toàn dữ liệu, tác giả cho rằng nếu Việt Nam không
làm chủ các thiết bị phần cứng cũng như phần mềm trong hệ thống mạng thì rất khó an
tồn trước các cuộc tấn cơng vào hệ thống cơ sở dữ liệu của các nhóm tin tặc chuyên nghiệp.
Muốn phát triển phần mềm tạo ra môi trường sạch cho cơ sở dữ liệu và các công cụ mã hóa
thơng tin dựa vào phần mềm nguồn mở (được coi là lựa chọn số một hiện nay do mơ hình
phát triển dựa vào cộng đồng, nghĩa là các lỗi của mỗi sản phẩm nguồn mở đều được rà soát
bởi cộng đồng), việc trước hết phải làm là xây dựng nguồn nhân lực về cơng nghệ thơng tin
có trình độ, nắm vững văn hóa nguồn mở, xây dựng cộng đồng góp phần tạo ra những sản
phẩm nguồn mở cho Việt Nam, nhưng không tách rời cộng đồng nguồn mở thế giới. Đề xuất
này được nghiên cứu sinh tham khảo để đưa ra giải pháp đảm bảo THPL về ANM ở Việt
Nam.
- Bảo đảm an ninh mạng trong tình hình mới của Tô Lâm [48], Bài viết khẳng định
bảo đảm ANM đang là ưu tiên hàng đầu được thể hiện rõ trong quan điểm, chiến lược và
hành động cụ thể của các quốc gia, trong đó có Việt Nam trong bối cảnh thế giới bước vào
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của KGM. Bên cạnh
những lợi ích to lớn khơng thể phủ nhận, cách mạng số, KGM kết nối tồn cầu với đặc
tính khơng biên giới đặt ra nhiều thách thức lớn đối với an ninh của các quốc gia trên thế
giới, khiến cho ANM khơng cịn là vấn đề của riêng một quốc gia, mà đã trở thành vấn đề
tồn cầu.
1.1.1.2.
Các cơng trình khoa học nghiên cứu pháp luật về an ninh mạng
* Đề tài nghiên cứu khoa học
- Tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp phòng
ngừa, điều tra của lực lượng cảnh sát nhân dân của Nguyễn Hịa Bình [3]. Đây là đề tài
nghiên cứu khoa học cấp bộ do Nguyễn Hịa Bình làm chủ nhiệm. Nhóm tác giả tập trung
nghiên cứu, phân tích thực trạng thủ đoạn thực hiện tội phạm mạng như hành vi phát tán
virut máy tính, xâm nhập trái phép vào hệ thống máy tính, hành vi làm giả và rút tiền trái
phép từ thẻ ngân hàng. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất giải pháp như bổ sung Bộ Luật
tố tụng hình sự quy định về thủ tục khám xét và thu giữ máy tính sử dụng vào việc phạm
tội. Từ việc đánh giá, phân tích các hành vi, thủ đoạn sử dụng công nghệ cao để xâm hại
hệ thống máy tính, đề tài nhấn mạnh tội phạm sử dụng cơng nghệ cao thuộc nhóm tội hình
sự vì tính chất nghiêm trọng của hành vi.
- An tồn thơng tin và cơng tác phịng, chống tội phạm sử dụng cơng nghệ cao của
Trần Văn Hịa [39]. Trên cơ sở phân tích khá sâu sắc và tồn diện lý luận, thực tiễn, kinh
nghiệm của nước ngoài, các quy định pháp luật hiện hành về tội phạm công nghệ cao, tác
giả đã xây dựng và góp phần đưa ra những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc phát triển,
hồn thiện lý luận khoa học phịng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt Nam.
Cuốn sách đưa ra một số kinh nghiệm quốc tế có giá trị tham khảo cho phần lý luận về
pháp luật ANM của luận án trong bối cảnh các công trình có tính lý luận về ANM cịn
chưa nhiều.
- Pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức an ninh phi truyền thống của Trịnh
Tiến Việt [95]. Trên cơ sở tiếp cận khoa học ngành, tác giả phân tích, làm sáng tỏ những
vấn đề lý thuyết và pháp luật hình sự Việt Nam trước thách thức của an ninh phi truyền
thống, nhất là vấn đề tội phạm phi truyền thống. Việc tiếp tục hồn thiện pháp luật hình sự
là điểm mới cần thiết và mộtsố vấn đề đặt ra khi thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 nhằm
ứng phó trước thách thức an ninh phi truyền thống. Qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp
bảo đảm thực thi hiệu quả quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về vấn đề này.
- Chính sách an ninh mạng trong quan hệ quốc tế hiện nay và đối sách của Việt
Nam của tác giả Nguyễn Việt Lâm [49]. Sách được kết cấu gồm 03 chương. Chương 1 tác
giả khái quát một số nội dung chủ yếu về ANM như khái niệm, vai trò của ANM, thách
thức ANM trong đời sống quốc tế. Chương 2 tác giả phân tích về thực trạng ANM trong
quan hệ quốc tế hiện nay; chính sách và một số văn bản quy phạm pháp luật về ANM và
thực tiễn hợp tác về lĩnh vực ANM của một số quốc gia. Trên cơ sở đó, tác giả gợi mở một
số đề xuất chính sách về ANM đối với Việt Nam nói chung và từ góc độ chính sách đối
ngoại nói riêng ở Chương 3 cuốn sách. Đây là tài liệu đầu tiên có tiếp cận nghiên cứu
tương đối có hệ thống về hoạt động ANM, là tài liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh để làm
phong phú hơn nội dung Chương 2 và Chương 3 của Luận án.
* Luận văn
- Đỗ Thị Thúy Nga (2012), Các quy định của pháp luật Việt Nam về dịch vụ
internet trong thời kỳ hội nhập quốc tế [61]. Dịch vụ internet xuất hiện chính thức vào
tháng 12/1997, lúc đầu dịch vụ này chỉ dành cho một bộ phận những cá nhân có thu
nhập cao hay các doanh nghiệp. Đến nay, nhờ những chính sách phát triển internet phù
hợp với mỗi giai đoạn của Nhà nước, mạng internet đã bao phủ toàn lãnh thổ Việt Nam.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật là một nguyên tắc rất quan trọng và được ghi nhận
trong Hiến pháp. Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều hành, quản lý
nhà nước về lĩnh vực internet. Luận văn phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, ưu
điểm và hạn chế của hệ thống văn bản pháp lý quản lý dịch vụ internet của Việt Nam. Từ
đó, bước đầu đưa ra một vài giải pháp, khuyến nghị để nâng cao hiệu quả áp dụng
những quy định của pháp
luật cũng như xây dựng hệ thống pháp luật cho lĩnh vực quản lý dịch vụ internet tại Việt
Nam. Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho Chương 3 của Luận án.
- Vấn đề an ninh mạng trong quan hệ quốc tế thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0
của Nguyễn Văn Kiên [46]. Luận văn đưa ra cái nhìn tổng quan về KGM, cuộc cách
mạng cơng nghiệp lần thứ Tư và mối liên hệ giữa KGM và cuộc cách mạng này, đồng thời
phân tích thực trạng về những tấn công trên KGM và khái niệm về ANM. Luận văn cũng
nghiên cứu việc hợp tác quốc tế cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia trong công tác
quản lý, bảo đảm ANM. Trên cơ sở chủ trương của Đảng, hệ thống pháp luật với các thiết
chế và chế tài xử lý vi phạm trong vấn đề an toàn, ANM của Việt Nam, luận văn đã đưa ra
một số đề xuất, khuyến nghị phù hợp với thực tế ANM tại Việt Nam.
- Pháp luật về quyền tự do ngôn luận trên internet ở Việt Nam hiện nay của Ngơ
Hương Giang [34]. Luận văn làm sáng tỏ và hồn thiện thêm những vấn đề lý luận cơ bản
về pháp luật quyền tự do ngôn luận trên mạng internet như khái niệm, đặc điểm của quyền
tự do ngôn luận, phân tích khn khổ pháp luật hiện hành liên quan đến quyền tự do ngôn
luận trên mạng internet ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá về tính tương thích với
các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế. Đánh giá thực trạng hoạt động pháp luật
quyền tự do ngôn luận trên mạng internet của người dân ở Việt Nam hiện nay. Đề xuất
phương hướng, giải pháp đẩy mạnh và hồn thiện pháp luật quyền tự do ngơn luận trên
mạng internet ở Việt Nam thời gian tới.
- Hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền trẻ em trong dự thảo Luật An ninh
mạng của Trần Kiên [45]. Trẻ em chiếm tỷ lệ lớn người sử dụng không gian mạng. Tỷ lệ
trẻ em sử dụng KGM phản ánh sự năng động, nhanh nhạy trong việc nắm bắt và làm chủ
công nghệ của giới trẻ và sự chuyển dịch thói quen sống từ khơng gian thực sang
khơng gian ảo. Dù diễn ra ở mơitrường nào thì cũng tiềm ẩn cả cơ hội và nguy cơ. Tác
giả phân tích việc bảo vệ ANM trên thế giới có tác động trực tiếp đến trẻ em ở ba nhóm
biện pháp bao gồm kiểm soát, ngăn chặn và giáo dục và liên hệ với việc bảo vệ, thực thi
quyền trẻ em. Do đó, khi xây dựng các quy định pháp luật về ANM cần thiết kế cơ chế bảo
vệ trẻ em trên KGM, đảm bảo phòng tránh được các nguy cơ, rủi ro có thể xâm hại trẻ em
vừa bảo đảm khơng hạn chế hay tước bỏ các quyền vốn có của trẻ em.
- Một số góp ý hồn thiện dự thảo luật An ninh mạng của Nguyễn Thị Thu Hiền
[37]. Tác giả khẳng định ANM là thách thức đối với từng cá nhân người dùng và cả hệ
thống quản lý nhà nước. Do đó, ban hành Luật ANM là cần thiết. Bài viết góp ý để dự thảo
Luật ANM được hồn thiện nhất có thể như về tính trùng lặp, những giải pháp kỹ thuật và
pháp lý cơ bản,...
- Luật An ninh mạng bảo vệ an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân của Hoàng Hiện [38]. Bài viết nhấn mạnh vai trị của Luật ANM trong việc
góp phần bảo vệ chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân hoạt động trên KGM, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
1.1.2. Các cơng trình khoa học có liên quan nghiên cứu về thực hiện pháp luật
và thực hiện pháp luật về an ninh mạng trong nước
1.1.2.1. Các cơng trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật nói chung
Tại mục này, các cơng trình khoa học nghiên cứu về thực hiện pháp luật, tìm hiểu
và khẳng định các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn THPL nhằm làm sáng tỏ các
khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức THPL, tìm hiểu hoạt động THPL ở một
số lĩnh vực cụ thể.
Các cơng trình khoa học được nghiên cứu bao gồm: giáo trình lý luận nhà nước và
pháp luật, giáo trình pháp luật đại cương của một số trường đại học, sách chuyên khảo, các
bài viết của các nhà khoa học đăng trên các tạp chí, trang thông tin điện tử… bàn về vấn
đề THPL, tiêu biểu như:
- Thực hiện pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Nguyễn Văn
Mạnh [57] chủ biên, các tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về THPL có giá
trị tham khảo khi nghiên cứu cơ sở lý luận của việc THPL về ANM như: khái niệm, chủ
thể, nội dung, hình thức, các yếu tố bảo đảm THPL, đặc biệt là những vấn đề đặt ra trong
lĩnh vực THPL ở Việt Nam hiện nay. Cuốn sách những vấn đề lý luận và thực tiễn THPL
có giá trị hữu ích để nghiên cứu sinh nghiên cứu cơ sở lý luận và những điều kiện đảm bảo
THPL.
- Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam của Nguyễn Minh Đoan [33], sách
chuyên khảo về THPL gồm 05 chương. Trong đó, Chương 1 bàn về lý luận THPL. Tác giả
bàn luận về khái niệm, mục đích, ý nghĩa của THPL. THPL thơng qua các hình thức tuân thủ
pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL. Chương 2. Bàn chuyên sâu về
ADPL, các trường hợp ADPL, đặc điểm, nguyên tắc ADPL. Chương 3. Quy trình THPL.
Chương 4. Tác giả đưa ra và phân tích các yếu tố bảo đảm pháp luật ở Việt Nam. Chương 5.
Bàn về hiệu quả THPL; tiêu chí đánh giá hiệu quả của THPL; thực trạng và một số giải pháp
nâng cao hiệu quả THPL. Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho tác giả khi nghiên cứu
lý luận về THPL về ANM, cụ thể là nội dung ADPL đã được tác giả cuốn sách luận giải một
cách rất cụ thể và chi tiết.
- Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật của cơng dân ở nước ta hiện nay"
của Hồng Thị Kim Quế [70, tr.26-31]. Bài viết phân tích nhận thức tồn diện về THPL
của cơng dân bao gồm hai phương diện chủ yếu: không thực hiện hành vi trái pháp luật và
thực hiện hành vi hợp pháp. Tác giả đã tập trung phân tích sự tác động của các yếu tố
khách quan, chủ quan đến THPL của công dân. Ngoài phần phương pháp luận của vấn đề,
nội dung bài viết đã nhận diện một số yếu tố có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý thức và
hành vi pháp luật của công dân như: đạo đức, niềm tin, dư luận xã hội, thói quen, lối sống;
sự minh bạch và cân bằng lợi ích của pháp luật; thơng tin, tiếp cận phápluật, v.v.. Bài viết
nhấn mạnh ý nghĩa của việc nghiên cứu, nhận diện đầy đủ những yếu tố tác động đến
THPL, coi đó như là cơ sở để xây dựng các giải pháp đảm bảo hiệu quả THPL của cơng
dân ở nước ta hiện nay.
1.1.2.2.
Các cơng trình nghiên cứu thực hiện pháp luật về an ninh mạng
* Sách
- Tin học ứng dụng trong điều tra tội phạm của Nguyễn Ngọc Cương [26]. Kỷ
nguyên công nghệ thông tin xuất hiện và loài người phải đối mặt với thách thức của kiểu
chiến tranh mới, đó là chiến tranh thơng tin. Từ sự kiện cuộc cách mạng hoa nhài tại Bắc
Phi, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các lực lượng đối lập đã sử dụng
mạng xã hội như một công cụ hữu hiệu để tuyên truyền, tập hợp lực lượng, thông tin liên
lạc, phổ biến kế hoạch và biểu tình nhằm thay đổi chế độ chính trị tại các quốc gia Bắc
Phi. Nội dung cuốn sách đã làm rõ bản chất kỹ thuật của việc lạm dụng sử dụng tin học
vào các hoạt động tội phạm. Tác giả tập trung trình bày những kiến thức cơ bản nhất của
tin học và phương thức áp dụng vào công tác nghiệp vụ công an. Những thủ đoạn mà tội
phạm sử dụng công nghệ thông tin, các kỹ thuật tội phạm sử dụng để che giấu, xóa dấu vết
đối với hệ thống máy tính đơn, hệ thống máy tính kết nối mạng và biện pháp đối phó, tìm
kiếm, thu thập, điều tra của lực lượng công an. Nội dung cuốn sách về ứng dụng công
nghệ tin học trong điều tra tội phạm và việc tìm hiểu các biện pháp nghiệp vụ trước sự
biến đổi của tội phạm mạng máy tính cung cấp cho nghiên cứu sinh cái nhìn bao quát về
thực trạng ANM máy tính hiện nay.
- Tuyên truyền, phổ biến và nâng cao nhận thức về công tác đảm bảo an tồn
thơng tin mạng của Nguyễn Tuấn Anh [1] chủ biên. Nhóm tác giả cung cấp bức tranh tổng
quan về tình hình ATTT trong nước và trên thế giới. Cuốn sách phân tích khái quát về vấn
đề nguy cơ mất ATTT mạng nói riêng và trên hệ thống mạng máy tính nói chung. Cuốn
sách cũng liệt kê một số vănbản quy phạm pháp luật về lĩnh vực ATTT. Nội dung Chương
3 của Luận án tham khảo và kế thừa một số nội dung của cuốn sách. Ngoài ra, một số nội
dung của cuốn sách còn là gợi ý cho phần giải pháp của Chương 4 Luận án.
- Tăng cường công tác thơng tin tun truyền phịng, ngừa, chống vi phạm trên
mạng internet của Hoàng Thành Nam [60] chủ biên. Nội dung cuốn sách tập trung vào
tình hình ANM trên thế giới và ở Việt Nam, chủ yếu phân tích về chiến tranh mạng, xây
dựng đội ANM, hiện trạng công tác đảm bảo an tồn thơng tin trong các cơ quan nhà nước
và mã độc tại Việt Nam. Các cuộc tấn cơng vào Việt Nam có xu hướng gia tăng và diễn
biến phức tạp. Ban đầu, tấn công chủ yếu vào mục tiêu kinh tế, gần đây là mục tiêu chính
trị và do thám thông tin của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp. Hầu hết các cơ quan nhà
nước và doanh nghiệp chưa coi trọng vấn đề ANM. Đây là cơ hội để tin tặc khai thác lỗ
hổng, lợi dụng mật khẩu bảo vệ yếu và quy trình xác thực khơng đủ mạnh để lây nhiễm
virut máy tính trong đó có phần mềm gián điệp.
Cuốn sách có giá trị cung cấp một số kiến thức cơ bản về tình hình ATTT trên thế
giới và Việt Nam, những nguy cơ, hành vi vi phạm, các cuộc tấn công vào các tổ chức, cá
nhân để lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng, đặc biệt là hoạt động chống phá Nhà nước.
Cuốn sách cũng đưa ra một số cách phòng ngừa vi phạm và đưa ra một số khuyến cáo về
ATTT có thể là gợi ý hữu ích cho phần giải pháp trong Chương 4 của luận án.
- Gián điệp mạng từ góc nhìn mối đe dọa an ninh tồn cầu của Trần Mạnh Hùng
[41]. Trên cơ sở nghiên cứu chiến lược, cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo đảm an ninh,
ATTT mạng, tác giả cuốn sách phân tích khá chi tiết về cách nhận diện gián điệp mạng,
một trong những hành vi bị nghiêm cấm xâm phạm ANM được quy định trong Luật An
ninh mạng năm 2018, làm rõ nội hàm của gián điệp mạng, mối đe dọa từ gián điệp mạng
và cách phịng ngừa, ứng phó với gián điệp mạng. Với cách tiếp cận nghiên cứu gián điệp
mạng dưới góc nhìn mối đe dọa an ninh phi truyền thống, xét trong tổng thểan ninh toàn
cầu, gián điệp mạng là cơng cụ đem lại lợi ích cho quốc gia này, nhưng lại là mối đe dọa
và gây tổn thất khó lường với một hay nhiều quốc gia trên thế giới. Giải quyết mối đe dọa
từ gián điệp mạng cần phải có nỗ lực giải quyết của từng quốc gia và sự hợp tác của nhiều
quốc gia.
Một số nội dung của cuốn sách là tư liệu hữu ích cho nghiên cứu sinh tham khảo
khi tiến hành nghiên cứu phần thực trạng pháp luật về ANM ở Chương 3 Luận án.
* Luận văn, Luận án
- Trần Thị Hằng (2016), Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng về an ninh mạng và biện
pháp khắc phục [36], luận văn thạc sĩ ngành Hệ thống thông tin, Hải Phòng. Chiến tranh
thơng tin có quy mơ lớn và ảnh hưởng sâu rộng, nhằm vào nhiều lĩnh vực khác nhau.
Luận văn đã nghiên cứu thực trạng tấn cơng - phịng thủ trên mạng, xây dựng mơ hình thử
nghiệm cho giải pháp tấn cơng - phịng thủ mạng. Nội dung Luận văn chủ yếu đi vào phân
tích, nghiên cứu khía cạnh kỹ thuật của ANM.
- Phê phán các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị trên mạng internet góp
phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay của Trần Doãn Tiến [85]. Luận án
tiến sĩ triết học đã làm rõ khái niệm, cơ sở triết học, mục tiêu, thủ đoạn, chủ thể, diện ảnh
hưởng, tính nguy hiểm của các quan điểm sai trái về tư tưởng chính trị trên mạng internet.
Đặc biệt trên cơ sở làm rõ thực trạng truyền bá các tư tưởng chính trị của các thế lực thù
địch và tình hình đấu tranh phê phán các quan điểm, tư tưởng sai trái đó ở Việt Nam, qua
đó, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao hơn hiệu quả phê phán các tư tưởng, quan điểm sai
trái nhằm góp phần thống nhất nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên và
người dân, bảo vệ chế độ XHCN ở Việt Nam. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong
chương 3 của luận án.
* Báo cáo, bài viết, kỷ yếu hội thảo khoa học
- Báo cáo đánh giá năng lực bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng tạiViệt Nam của
Dorothea Czarnecki [27]. Báo cáo đưa ra những đánh giá tương đối toàn diện từ khung khái
niệm, phương pháp luận và các định nghĩa của quốc tế và của Việt Nam, những khuyến nghị
về cải thiện khung pháp lý,... về bảo vệ trẻ em, một đối tượng người dùng đặc biệt trong mơi
trường mạng. Bên cạnh đó, báo cáo cũng nhận định và phân tích về rủi ro đối với trẻ em liên
quan đến xâm hại, bóc lột và nội dung độc hại trên môi trường mạng, lưu trữ dữ liệu xâm
hại tình dục trẻ em và các hình thức lợi dụng công nghệ thông tin nhằm xâm hại và bóc lột
tình dục trẻ em trên mơi trường mạng. Một số chính sách pháp luật về bảo vệ trẻ em trên
mạng cũng được đánh giá và được khuyến nghị cải thiện trong báo cáo.
Đặc biệt, báo cáo cũng đưa ra một số khuyến nghị về bảo vệ trẻ em trên môi trường
mạng Việt Nam mà trước hết là tăng cường khả năng tự bảo vệ của trẻ, nâng cao nhận thức
của cha mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ em về môi trường mạng internet, thúc đẩy ngành
công nghệ thông tin tham gia vào xây dựng môi trường mạng an toàn cho trẻ. Báo cáo là tài
liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu sinh vì trẻ em là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ
trên KGM.
- Luật An ninh mạng - sự cần thiết và công tác tuyên truyền tạo đồng thuận xã hội
của Nguyễn Minh Phong, Nguyễn Trần Minh Trí [66]. Các tác giả nhấn mạnh ANM là vấn
đề an ninh phi truyền thống, được thế giới quan tâm. Từ thực tiễn kiểm soát ANM trên thế
giới, cụ thể như Hoa Kỳ, Đức, Ôtxtrâylia, Xingapo, các tác giả phân tích tình hình ANM
tại Việt Nam và một lần nữa vai trò, sự cần thiết phải có Luật ANM được khẳng định,
đồng thời trong phạm vi một bài viết nhóm tác giả đã đề xuất một số biện pháp cụ thể
nhằm THPL về ANM được hiệu quả nhất.
- Báo cáo công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2018 và năm
2019 của Bộ Công an [8], [9]. Trong hai năm 2018 và 2019, tình hình thế giới và khu vực
có nhiều biến động phức tạp, cạnh tranh giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, cùng với sự
phát triển của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đã đặt ra nhiều thách thức đến an
ninh quốc gia, trật tự antoàn xã hội của Việt Nam. Về cơ bản, số lượng các loại tội phạm
trong lĩnh vực ANM được kiềm chế, nhưng tính chất tội phạm diễn biến phức tạp với
nhiều thủ đoạn, phương thức mới.
- Bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin trong thời kỳ cách mạng công nghiệp
lần thứ 4 (2017) [6], Kỷ yếu Hội thảo - Triển lãm quốc gia về An toàn bảo mật, Hà Nội.
Kỷ yếu gồm các tham luận về hiện trạng cũng như xu hướng ATTT đang diễn ra hiện nay
và đề xuất một số giải pháp ATTT cho các tổ chức và doanh nghiệp. Chuyên đề thứ nhất
với chủ đề "Ứng phó rủi ro an ninh mạng và thơng tin di động: tầm nhìn và giải pháp" tập
trung bàn luận về các nguy cơ hiện hành cũng như đề xuất những giải pháp tiên tiến giúp
các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân nâng cao ý thức tự bảo vệ. Qua đó, tìm ra các giải
pháp bảo mật thích hợp nhằm góp phần giảm thiểu rủi ro ANM, cũng như nâng cao uy tín
và hiệu quả kinh doanh. Chun đề thứ hai "An tồn hệ thống thơng tin trong thời kỳ hiện
nay", với nội dung tập trung xác định các nguy cơ và tiếp cận các giải pháp thực tiễn trong
việc xây dựng và tăng cường an tồn bảo mật cho hệ thống thơng tin của các tổ chức,
doanh nghiệp. Các bài viết trong kỷ yếu đã nghiên cứu, đánh giá khái quát tình hình thực
tiễn về ANM, nhận diện các hiểm họa từ mạng và có những đề xuất đối sách nhằm ứng
phó với thực trạng vi phạm pháp luật về ANM có xu hướng ngày càng tăng ở Việt Nam.
Đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho nội dung Chương 3 và Chương 4 của Luận án.
- Nâng cao ý thức làm chủ và bảo vệ không gian mạng của cán bộ, đảng viên và
nhân dân của Nguyễn Văn Tỵ [89]. Trước thực tế KGM đồng thời đem lại nhiều lợi ích to
lớn và tiềm ẩn đe dọa. Bài viết đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức làm chủ và
bảo vệ KGM của cán bộ, đảng viên và nhân dân như bồi dưỡng kỹ năng nhận diện âm
mưu, thủ đoạn tấn công mạng, giáo dục các quy định pháp luật về quản lý KGM, nâng cao
ý thức phòng tránh, tự vệ và sử dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục hậu quả khi bị tấn
công mạng, phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách ANM ,...
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NƯỚC NGỒI
Ở phần này, tác giả nghiên cứu các cơng trình khoa học của nước ngồi hoặc bối
cảnh ở nước ngồi có đề cập đến một vài khía cạnh của THPL về ANM. Cụ thể, qua
nghiên cứu cho thấy, hiện đã có nhiều quốc gia trên thế giới ban hành các văn bản luật về
ANM, điển hình như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên bang Đức, Liên bang Nga,
Xingapo,...
1.2.1. Các cơng trình khoa học nghiên cứu về an ninh mạng và pháp luật về
an ninh mạng nước ngoài
- Geopolitique de la Cyber- conflictualite (Địa chính trị của xung đột trên mạng)
của tác giả Julien Nocetti [119]. Bài viết tổng hợp số liệu phong phú để độc giả có thể hình
dung được thực tiễn sơi động nhưng cũng rất phức tạp trên KGM hiện nay với số lượng và
độ tinh vi của các cuộc tấn công mạng ngày càng gia tăng theo thời gian. Từ đó tác giả
phân tích khái qt về thực tiễn chính trị quốc tế hiện nay có liên quan và tương tác trực
tiếp với KGM. Phạm vi xung đột trên mạng trở nên đặc biệt khó định vị với sự xuất hiện
liên tục của các hình thức chiến tranh thơng tin mới. Kẻ tấn cơng cũng như các nạn nhân
có thể là các quốc gia hoặc các tác nhân tư nhân.
Bài viết có giá trị tham khảo tốt cho phần thực trạng ANM trên thế giới và gợi ý
cho phần giải pháp của luận án, đó là cần phải có những văn bản pháp lý, các chuẩn mực
quốc tế về KGM để có thể kiểm sốt tốt các mối đe dọa từ KGM.
- Mặt trái của công nghệ của Peter Townsendp [65]. Cuốn sách gồm 15 chương, đề
cập cụ thể về những tác động tiêu cực, mặt trái của công nghệ như những phát minh, sáng
chế liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó mạng xã hội có ảnh hưởng nhiều nhất đến đời
sống con người… Bên cạnh những lợi ích cho con người, sử dụng mạng xã hội không
đúng cách gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, sự an tồn, kỹ năng sống và văn hóa của
các thành viên trong xã hội… Tác giả nghiên cứu và đưa ra cảnh báo: cơng nghệ có thể
đem lại nhiều lợi ích cho sản xuất và đời sống, nhưng con người không nên hồn tồnphụ
thuộc và bị động trước cơng nghệ. Trước sự phát triển liên tục của công nghệ, con người
cần dự báo rủi ro và những biện pháp phòng ngừa thách thức, mặt trái mà công nghệ mang
lại.
- Computer forensics: cybercriminal, laws and evidence (Giám định máy tính: tội
phạm mạng, pháp luật và chứng cứ) của Marie-Helen Maras [121]. Nội dung cuốn sách
xác định khái niệm tội phạm mạng là gì, quy trình điều tra như thế nào và các quy định
pháp luật về việc thu thập và sử dụng chứng cứ điện tử. Việc tìm kiếm, giải nén, lưu trữ
chứng cứ điện tử còn gặp nhiều thách thức. Một số công nghệ liên quan trong điều tra
giám định máy tính cũng được đề cập đến trong cuốn sách.
- Chiến lược an ninh mạng của Nhật Bản (2001 - 2017) của Triệu Anh Ba [2].
Thuộc nhóm những quốc gia rất phát triển về công nghệ thông tin nên Nhật Bản phải đối