i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ................................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ ..................................................................... iv
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU........................................................................................3
Chương 1. ....................................................................................................................4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...........................................................................................4
1.1. Một số khái niệm ..................................................................................................4
1.2. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng ..7
1.3. Một số văn bản chính sách liên quan đến đào tạo liên tục ...................................7
1.4. Một số nghiên cứu về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng trên thế giới và
tại Việt Nam ..............................................................................................................12
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng .........................16
1.6. Thông tin địa bàn nghiên cứu.............................................................................23
1.7. Khung lý thuyết ..................................................................................................25
Chương 2. ..................................................................................................................25
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................26
2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................................26
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................26
2.3. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................................27
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu....................................................................27
2.5. Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................28
2.6. Các biến số nghiên cứu (chi tiết phụ lục 6) ........................................................30
2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chí đánh giá ........................................................31
2.8. Phân tích và xử lý số liệu ...................................................................................31
2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu ................................................................................31
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................33
3.1. Thông tin chung của điều dưỡng khoa khám bệnh ............................................33
ii
3.2. Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa khám bệnh – Bệnh viện Chợ
Rẫy, giai đoạn 2019-2020. ........................................................................................34
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT đối với ĐD tại Khoa Khám bệnh – Bệnh
viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020 .........................................................................41
Chương 4. Bàn luận...................................................................................................55
4.1. Thực trạng đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh
viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020. ........................................................................55
4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa
Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020. .........................................62
4.3. Hạn chế nghiên cứu ............................................................................................71
KẾT LUẬN ...............................................................................................................72
KHUYẾN NGHỊ .......................................................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................74
PHỤ LỤC 1: Phiếu điều tra thực trạng ĐTLT của điều dưỡng ..........................82
PHỤ LỤC 2: Nội dung phỏng vấn sâu Ban lãnh đạo Bệnh viện ..............................88
PHỤ LỤC 3: Nội dung phỏng vấn sâu Quản lý đơn vị ............................................90
PHỤ LỤC 4: Nội dung thảo luận nhóm điều dưỡng viên.........................................92
PHỤ LỤC 5. Phiếu thu thập thông tin về thực trạng đào tạo liên tục ......................94
PHỤ LỤC 6: Biến số nghiên cứu ..............................................................................95
PHỤ LỤC 7: Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Chợ Rẫy ......................................................99
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBYT
Cán bộ y tế
ĐD
Điều dưỡng
ĐD ĐK
Điều dưỡng đa khoa
ĐTLT
Đào tạo liên tục
GDSK
Giáo dục sức khỏe
NCĐT
Nhu cầu đào tạo
NĐ-CP
Nghị định-Chính phủ
NVYT
Nhân viên y tế
PHCN
Phục hồi chức năng
QĐ-BYT
Quyết định-Bộ Y tế
QĐ-TTg
Quyết định-Thủ tướng
QĐ-UBND
Quyết định-Ủy ban nhân dân
TT-BGD-ĐT
Thông tư-Bộ Giáo dục-Đào tạo
TT-BTT-TT
Thông tư-Bộ thông tin truyền thông
TTLT-BYT-BNV
Thông tư liên tịch-Bộ Y tế-Bộ Nội vụ
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3. 1: Thông tin chung của điều dưỡng khoa khám bệnh .................................33
Bảng 3. 2. Thông tin về thực hiện ĐTLT của ĐD năm 2019 ...................................34
Bảng 3. 3. Thơng tin về tổng số khóa ĐTLT của điều dưỡng giai đoạn 2019-2020 34
Bảng 3. 4. Cách thức tổ chức ĐTLT của điều dưỡng giai đoạn 2019 - 2020 ...........35
Bảng 3. 5: Các nội dung đào tạo liên tục cho điều dưỡng giai đoạn 2019-2020 ......36
Bảng 3. 6: Thực trạng về thời gian tổ chức các khóa ĐTLT mà điều dưỡng đã tham
gia theo quý ...............................................................................................................37
Bảng 3. 7: Thực trạng giảng viên đào tạo liên tục từ 2019-2020 .............................38
Bảng 3. 8: Điều kiện năng lực trình độ giảng viên tại bệnh viện từ 2019 - 2020 .....38
Bảng 3. 9: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về nội dung đào tạo liên tục..........39
Bảng 3. 10: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về tính phù hợp và mức độ tự tin
sau khi tham gia đào tạo liên tục ...............................................................................40
Bảng 3. 11: Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định ......41
Bảng 3. 12. Nguồn thông tin mà điều dưỡng được biết về yêu cầu tham gia ĐTLT
theo Thông tư 22/2013/TT-BYT ...............................................................................42
Bảng 3. 13. Kiến thức về thời gian dành cho đào tạo liên tục trong năm .................42
Bảng 3. 14. Kiến thức về việc thực hiện nghĩa vụ ĐTLT trong 02 năm và chứng chỉ
hành nghề ..................................................................................................................43
Bảng 3. 15. Mối liên quan giữa thực trạng đào tạo liên tục cho điều dưỡng với kiến
thức về thời gian tối thiểu đào tạo liên tục cần thực hiện theo yêu cầu ....................43
Bảng 3. 16: Nhu cầu về chủ đề đào tạo liên tục của điều dưỡng ..............................44
Bảng 3. 16: Các yếu tố tác động tích cực đến việc tham gia đào tạo liên tục của điều
dưỡng (n=125) ...........................................................................................................45
Biểu đồ 3. 1.Tỷ lệ điều dưỡng đạt thời gian đào tạo từ năm 2019-2020 theo các
khoa nghiên cứu ........................................................................................................37
v
TĨM TẮT NGHIÊN CỨU
Nhằm đánh giá khách quan, tìm hiểu sâu về những vấn đề liên quan, cung
cấp thông tin góp phần xây dựng kế hoạch và kiểm sốt chất lượng đào tạo liên tục
cho ĐD tại bệnh viện. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố
ảnh hưởng đến Đào tạo liên tục cho Điều dưỡng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Chợ
Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2020”. Với 2 mục tiêu nghiên cứu
(1) Mô tả thực trạng ĐTLT và (2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT
của điều dưỡng khoa Khám bệnh, Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính.
Nghiên cứu trên 125 ĐD; thu thập những báo cáo về ĐTLT tại BV giai đoạn 20192020 và PVS Lãnh đạo phòng ĐD, các ĐD trưởng; TLN các ĐD nhằm tìm hiểu
thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến công tác ĐTLT thời gian từ 20-30 phút
tại phòng riêng.
Tỷ lệ ĐD đạt 48 giờ ĐTLT từ 2019-2020 là 26,4%. Công tác ĐTLT chủ yếu
là tổ chức tại bệnh viện năm 2019 (95,3%), năm 2020 (93,4%); dưới hình thức tổ
chức tập huấn đào tạo năm 2019 (55,7%), năm 2020 (78,8%); thời gian chủ yếu là
dưới 16 giờ năm 2019 (89,0%), năm 2020 (92,1%); Đội ngũ giảng viên chủ yếu là
từ bệnh viện năm 2019 chiếm 57,6%, năm 2020 là 60,7%. Các yếu tố ảnh hưởng:
Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân: Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (với p<0,05) về
thâm niên công tác, kiến thức đúng về thời gian tối thiểu đào tạo. Nhóm yếu tố cơ
quan chủ quản: Bệnh viện chủ động lấy kinh phí từ nguồn chi thường xuyên cho
ĐTLT. Đội ngũ nhân lực quản lý đào tạo và giảng viên đáp ứng Thông tư
11/2019/TT-BYT và Thông tư 22/2013/TT-BYT. Kế hoạch đào tạo đáp ứng được
nhu cầu ĐTLT của ĐD. Cơ sở vật chất phòng học, trang biết bị dạy học đảm bảo
công tác đào tạo. Luật khám chữa bệnh, Thông tư 22/2013/TT-BYT giúp các ĐD
tích cực tham gia ĐTLT. Nhóm yếu tố tiêu cực: Nội dung đào tạo, tính chất cơng
việc khối hành chính. Giảng viên cịn hạn chế về phương pháp học tập tích cực. Hạn
chế về cơng tác kiểm tra, giám sát do chưa có thơng tư hay văn bản hướng dẫn.
Khuyến nghị: Tổ chức, sắp xếp linh hoạt thời gian một cách tối ưu nhất để
Điều dưỡng tham gia các khóa đào tạo liên tục được đầy đủ.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, với sự phát triển một cách nhanh chóng của các ngành khoa học kỹ
thuật thì nhu cầu được cập nhật, bổ sung kiến thức chuyên môn cùng các kỹ năng
làm việc cho lực lượng lao động ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt đối với lĩnh
vực y tế là một ngành có những đặc thù riêng, nhiệm vụ của cán bộ y tế (CBYT)
gắn liền với sức khỏe tính mạng con người. Do vậy, việc cập nhật liên tục những
kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chun mơn là nhiệm vụ bắt
buộc với mọi CBYT (1).
Tại các nước Châu Âu, nơi có nền y học phát triển, một cuộc khảo sát trên 18
quốc gia đã minh họa sự đa dạng của các hệ thống đạo tạo y khoa liên tục. Hà Lan
có một hệ thống tái chứng nhận theo luật định, nhưng một số quốc gia khác bao
gồm cả Anh và Ireland CBYT được phân loại và xem xét để giới thiệu đào tạo lại
bắt buộc hoặc tái cấp chứng nhận hành nghề. Các nước khác nhau có cách tính chu
kỳ đào tạo khác nhau, cứ hai năm, ba năm hoặc năm năm, và số tín chỉ yêu cầu dao
động từ 50 đến 100. Các nước khác đang xem xét giới thiệu một hệ thống dựa trên
giờ, nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về việc hệ thống tích lũy giờ hoạt động giáo
dục là thước đo giá trị của hoạt động đó. Có sự cơng nhận lẫn nhau về đào tạo y
khoa liên tục (CME) và phát triển nghề nghiệp liên tục (CPD) giữa các nước thuộc
liên minh Châu Âu và các nước Bắc Mỹ trong đó có Hoa Kỳ (2), (3).
Tại Việt Nam, công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) đã được Bộ Y tế triển khai
thực hiện thí điểm từ những năm 1990, nhưng đến năm 2008 mới có văn bản chính
thức (Thơng tư số 07/2008/TT-BYT) (4). Năm 2013 lại thay thế văn bản trên bằng
Thông tư 22/2013/TT-BYT hướng dẫn về công tác đào tạo liên tục đối với nhân
viên ngành y tế (CBYT đã được cấp chứng chỉ hành nghề và đang hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh có nghĩa vụ tham gia đào tạo liên tục tối thiểu 48 tiết học trong 2
năm liên tiếp) (5). Ngoài ra, Luật khám, chữa bệnh cũng qui định người hành nghề
y không cập nhật kiến thức y khoa trong 02 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi chứng chỉ
hành nghề (6). Theo Bộ Y tế đến nay Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ
thống đào tạo liên tục nhưng chưa hồn chỉnh. Những chế độ, chính sách cịn chưa
2
đầy đủ, thiếu đồng bộ khiến cho việc triển khai thực hiện ĐTLT gặp nhiều khó
khăn. Chất lượng đội ngũ nhân lực y tế không phát triển kịp theo nhu cầu, làm ảnh
hưởng đến công tác chuyên môn của ngành y tế (7).
Bệnh viện Chợ Rẫy là bệnh viện tuyến cuối Hạng Đặc biệt trực thuộc Trung
ương, mỗi ngày Bệnh viện Chợ Rẫy khám và điều trị cho trên 10 nghìn lượt người
bệnh nội và ngoại trú. Chính vì vậy, các điều dưỡng (ĐD) đóng vai trị quan trọng
trong việc chăm sóc người bệnh, hỗ trợ và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh,
giúp người bệnh được chăm sóc tốt nhất trong quá trình khám, điều trị tại các cơ sở
y tế. Qua đó, nâng cao trình độ chun mơn của ĐD thể hiện qua mức độ tự tin
trong việc tiếp cận, thực hiện các kỹ thuật ĐD trên người bệnh và tư vấn, hỗ trợ cho
người bệnh, thân nhân bệnh nhân trong quá trình khám, chữa bệnh (8), (9). Tuy
nhiên cơng tác ĐTLT cịn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa đồng bộ giữa
mục tiêu và chương trình đào tạo, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Để trả lời câu hỏi
thực trạng ĐTLT của các ĐD khoa khám bệnh như thế nào? Những yếu tố nào ảnh
hưởng đến ĐTLT của các ĐD khoa khám bệnh? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến Đào tạo liên tục cho Điều dưỡng khoa
Khám bệnh, Bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2020”
để nhằm đánh giá khách quan, tìm hiểu sâu về những vấn đề liên quan, cung cấp
thơng tin góp phần xây dựng kế hoạch và kiểm soát chất lượng đào tạo liên tục cho
ĐD tại bệnh viện.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của nhân viên Điều
dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020.
4
Chương 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Nhân lực y tế
Nguồn nhân lực y tế theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra
vào năm 2006 “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các
hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”(10).
1.1.2. Đào tạo liên tục
Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm
các hoạt động giáo dục được cung cấp để duy trì, phát triển, hoặc nâng cao kiến
thức, kỹ năng, tác nghiệp và hiệu suất làm việc của nhân viên y tế để cung cấp dịch
vụ y tế cho người bệnh, cộng đồng hoặc nhằm tăng cường sự chuyên nghiệp. Nội
dung của ĐTLT là tổng thể của kiến thức và kỹ năng được công nhận về lĩnh vực y
học, những tiêu chuẩn về thực hành lâm sàng và cung cấp sức khỏe cho cộng đồng.
Nghĩa rộng hơn của ĐTLT là bao gồm tất cả các hoạt động giáo dục thường xuyên
nhằm hỗ trợ các nhân viên y tế để hành nghề một cách hiệu quả hơn (11).
Đào tạo y khoa liên tục (Continuing Medical Education được viết tắt là
CME) được định nghĩa là “Hoạt động được xác định rõ ràng để phát triển chuyên
môn của cán bộ y tế và dẫn đến việc cải thiện chăm sóc cho bệnh nhân. CME bao
gồm tất cả các hoạt động học tập mà cán bộ y tế mong muốn thực hiện để có thể
liên tục, thường xuyên nâng cao năng lực chun mơn của mình…” (12).
Đào tạo liên tục (ĐTLT): Là một khái niệm không phải mới tại Việt Nam,
bản chất khái niệm này đã có trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và rất nhiều trong
văn bản quản lý y tế cũng như những tài liệu hướng dẫn quản lý do Bộ Y tế soạn
thảo và ban hành. Đào tạo liên tục là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm đào tạo
bồi dưỡng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ thuật thuộc lĩnh vực chuyên môn đang
công tác; đào tạo, đào tạo lại theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ
thuật và các khoá đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không
thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia (4).
5
Cơ sở đào tạo liên tục: Là các Viện, bệnh viện có giường bệnh; viện nghiên
cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có
đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm có đào tạo
nhân lực y tế, được Bộ Y tế thẩm định và công nhận (5).
Nhu cầu đào tạo: Là những gì người đó cần học để có thể đạt được những
mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay trong công việc. Thông thường, nhu cầu
học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người học.
Đơi khi người học khơng tự nhận thấy ngay được những nhu cầu đó mà cẩn phải có
sự hỗ trợ, tư vấn của người làm cơng tác đào tạo để có thể thấy rõ (13).
Đánh giá nhu cầu đào tạo: Là một quá trình tìm hiểu rõ về người tham gia
và năng lực của học trước khi đào tạo. Đánh giá nhu cầu cần đào tạo quan tâm đến
nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay khơng thích của
người học. Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và
thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần
phải có (5).
1.1.3. Điều dưỡng
Từ thời xa xưa do chưa hiểu biết, con người tin vào thần linh, thượng đế, khi
có bệnh họ mời pháp sư đến, vừa điều trị vừa cầu kinh. Các đền miếu được xây
dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị
bệnh nhân. Tại đây, các pháp sư điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa giúp lễ vừa phụ
giúp chăm sóc bệnh nhân từ đó hình thành mối liên kết Y khoa - điều dưỡng và Tôn
giáo. Florence Nightingale (1820-1910) là người sáng lập ra ngành điều dưỡng.
Năm 30 tuổi, bà đã trở thành người điều hành và tổ chức chăm sóc sức khoẻ cho
những người nghèo khổ tại thủ đô nước Anh, sắp xếp hợp lý và đưa ra các tiêu
chuẩn cho công tác chăm sóc, Florence Nightingale đã lập hội đồng quản lý ngân
sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo Y tá đầu tiên trên thế giới ở nước
Anh vào năm 1860. Trường đào tạo Y tá Nightingale cùng với chương trình đào tạo
một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo Y tá không chỉ ở Vương Quốc Anh
mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới. Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng
định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence Nightingale đã dày công xây dựng.
6
Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày sinh của Bà Florence
Nightingale (12/05) làm ngày Điều dưỡng quốc tế và Bà đã trở thành người mẹ tinh
thần của ngành điều dưỡng thế giới (14).
Ở miền Bắc, ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết
định về chức vụ Y tá trưởng ở các cơ sở điều trị, bệnh viện, viện điều dưỡng, trại
phong, bệnh xá từ 30 giường bệnh trở lên. Năm 1970, Hội điều dưỡng miền Nam
được thành lập, bà Lâm Thị Hạ là Chánh sự vụ Sở điều dưỡng đầu tiên kiêm Chủ
tịch Hội. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được hồ bình
thống nhất, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ
nhân dân trong cả nước. Từ đó nghề điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa hai
miền Nam, Bắc. Cùng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của người y tá - điều dưỡng
được thay đổi, tên gọi y tá ở miền Bắc và điều dưỡng ở miền Nam dần dần được
thống nhất đúng với vị trí xứng đáng của họ, đó là điều dưỡng (14).
Ngày 26/10/1990 Hội Điều dưỡng Việt Nam tổ chức đại hội thành lập tại
Hội trường Ba Đình theo Quyết định số 375/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng. Từ đây, đội ngũ Y tá- điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên y học (gọi chung
là điều dưỡng) (14).
Nghề ĐD là một chuyên ngành trong hệ thống y tế, nhằm bảo vệ, nâng cao,
tối ưu về sức khỏe và các khả năng dự phòng bệnh và chấn thương; xoa dịu nỗi đau
qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng cho con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân,
gia đình, cộng đồng và xã hội. Ngày nay, ĐD đã được công nhận là một nghề
nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sĩ, kỹ thuật viên, dược sĩ và các thành
phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia
đình, cộng đồng và xã hội (15).
Điều dưỡng viên (nam và nữ) là người phụ trách, đảm nhận các công việc
ĐD, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe, kê toa thuốc và các công
việc khác trong hệ thống y tế để phục vụ cho q trình chăm sóc sức khỏe ban đầu
cho đến quá trình trị liệu, phục hồi cho bệnh nhân. Theo một định nghĩa khác thì
7
ĐDV là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, tổ chức thực hiện các kỹ
thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế (16).
1.2. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng
1.2.1. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng
Chức danh nghề nhiệp ĐD được phân thành 3 hạng: Hạng II, hạng III, hạng
IV với các bậc lương và trách nhiệm khác nhau. Theo đó, tiêu chuẩn chức danh
nghề nghiệp của mỗi Hạng có sự phân biệt khác nhau theo mức độ về quyền hạn,
trách nhiệm, nhiệm vụ, trình độ đào tạo và bồi dưỡng. Thông tư liên tịch số
26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ
quy định về nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng của chức danh nghề
nghiệp ĐD. Thông tư này là căn cứ để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản
lý viên chức ĐD trong các cơ sở y tế công lập (17).
1.2.2. Nhiệm vụ chuyên môn điều dưỡng
Nhiệm vụ của ĐD được quy định trong tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
của điều dưỡng. Nhưng thực tế, tại hầu hết bệnh viện nước ta ĐD chưa được phát
huy hết vai trị của mình, chủ yếu làm theo công việc hằng ngày và thực hiện y lệnh
của Bác sĩ. Do chưa có quy định phân cấp cụ thể phạm vi hành nghề nên dù có trình
độ khác nhau nhưng ĐD vẫn thực hiện nhiệm vụ gần như như nhau (18).
Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế “Hướng dẫn
công tác thực ĐD về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” tại chương II đã quy
định về nhiệm vụ của ĐD viên gồm 12 nhiệm vụ chính như sau (19): Tư vấn, hướng
dẫn giáo dục sức khỏe; Chăm sóc về tinh thần; Chăm sóc vệ sinh cá nhân; Chăm
sóc dinh dưỡng; Chăm sóc phục hồi chức năng; Chăm sóc người bệnh có chỉ định
phẫu thuật, thủ thuật; Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh; Chăm
sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong; Thực hiện các kỹ thuật
ĐD; Theo dõi, đánh giá người bệnh; Bảo đảm an toàn và phịng ngừa sai sót chun
mơn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh; và Ghi chép hồ sơ bệnh án.
1.3. Một số văn bản chính sách liên quan đến đào tạo liên tục
1.3.1. Trên thế giới
8
Đào tạo y khoa liên tục trên thế giới luôn gắn với lịch sử ra đời và phát triển
của nghề y. Các nước đều có quy định bắt buộc tồn bộ bác sĩ, ĐD và nhân viên y tế
phải cập nhật, bổ sung kiến thức liên tục, cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ
năng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, tổ chức quản lý công việc, về đạo đức y học,
giảng dạy, nghiên cứu, không ngừng nâng cao năng lực chun mơn của mình.
Liên đồn giáo dục Y học thế giới (WFME - World Federation Medical
Education) với tư cách là tổ chức quốc tế đại diện cho tất cả các cơ sở đào tạo y
khoa, đã khởi xướng các phương pháp học tập mới, các công cụ hướng dẫn và đổi
mới quản lý trong giáo dục y học. Năm 1998, Liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới
đã phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (WHO - World Health Organization) đã khởi
xướng xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học. Mục tiêu là cung cấp
một cơ chế cho việc nâng cao chất lượng trong lĩnh vực giáo dục y học, trong phạm
vi toàn cầu và để áp dụng ở các nước trên thế giới. Tiêu chuẩn quốc tế có chức năng
như là khuôn mẫu cho việc đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục y khoa và cịn có
vai trị đảm bảo nền móng vững chắc cho giáo dục y khoa. Bộ tiêu chuẩn quốc tế
của WHO & WFME có 3 tập, bao gồm cả 3 giai đoạn của quá trình đào tạo y học là
Giáo dục y học cơ bản (Standard in basic medical education); Giáo dục y học sau
đại học (Standard in posgraduate medical training) và Đào tạo liên tục/nâng cao
nghề nghiệp liên tục (CME/CPD - Standard for continuing medical/professional
development). Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa ra trong Hội nghị toàn cầu về
Giáo dục y học tại Copenhagen (2003) đã được chính thức thơng qua và được dịch
ra nhiều thứ tiếng để áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới (12).
Từ những năm 1950, CME được áp dụng rộng rãi các nước phát triển như
Hoa Kỹ, Canada, Anh và Châu Âu, cán bộ y tế nói chung và ĐD nói riêng phải có
điểm CME định kỳ để duy trì giấy phép hành nghề của họ (20)
Tại Hoa Kỳ, một trong những quốc gia có nền y học tốt nhất thế thới, chứng
chỉ ĐTLT được xem xét một cách kỹ lưỡng và đóng vai trị quan trọng trong việc
cấp lại chứng chỉ hành nghề cho nhân viên y tế. Tại quốc gia này, các nơi tổ chức
chương trình ĐTLT được đặt dưới sự quản lý nghiêm ngặt của Hội đồng kiểm định
giáo dục thường xuyên về y tế. Hội động này đảm bảo chất lượng của các chương
9
trình ĐTLT của hơn 600 tổ chức khác nhau đồng nhất về chất lượng cũng như về số
chứng chỉ được cấp (21).
Các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu, Bắc Mỹ, trong đó có Hoa Kỳ đã có
sự cơng nhận lẫn nhau về CPD và CME. Một số quốc gia thuộc Châu Á Thái Bình
Dương (New Zealand) bắt buộc cá nhân phải tham gia chương trình CPD, CME để
có thể hành nghề đăng ký, nếu không đạt yêu cầu về CPD, CME thì cá nhân sẽ bị
đình chỉ hành nghề, khi đó cá nhân được đăng ký quản lý bởi một tổ chức chung và
làm việc dưới sự giám sát của tổ chức này nếu muốn tái cấp chứng chỉ hành nghề
Những hoạt động này có thể bao gồm các sự kiện (hội nghị, hội thảo, họp chuyên
môn định kỳ, hội nghị thường niên), tài liệu, các chương trình đào tạo qua mạng
internet, các hình thức nghe nhìn hoặc thơng tin điện tử khác,…. Nội dung của các
hoạt động đào tạo này được xây dựng, xem xét và thực hiện bởi các chuyên gia đầu
ngành trong các lãnh vực chuyên môn (22).
1.3.2. Tại Việt Nam
Vào những năm 1990, khái niệm về ĐTLT bắt đầu được Bộ Y tế đưa vào áp
dụng và thực hành. Được sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ đào tạo nhân lực y tế của Thụy
Điển (Dự án 03/SIDA), các chương trình ĐTLT tại các địa phương bắt đầu được
triển khai và đẩy mạnh. Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến đào
tạo liên tục, sử dụng, đãi ngộ cán bộ y tế: Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg
“Chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện nghị quyết số 46-NQ/TW” xây
dựng và ban hành Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo cán bộ y tế, nâng cao
chất lượng và hiệu quả của các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Sắp xếp, mở rộng và
nâng cấp các cơ sở đào tạo, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cán bộ y tế
phù hợp với quy hoạch phát triển ngành nghề y tế. Xây dựng 2 trung tâm đào tạo
cán bộ y tế tại Hà Nội và TP.HCM ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực
(23). Đến năm 2008, BYT ban hành thông tư 07/2008/TT-BYT hướng dẫn, quy
định về ĐTLT trong y tế. Năm 2009, luật Khám, chữa bệnh được ban hành vào
ngày 23 tháng 11 có quy định rõ về trách nhiệm của quản lý nhà nước là “Tổ chức
đào tạo, đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, ngiên cứu, ứng dụng
KHCN vào khám, chữa bệnh”. Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng
10
công chức quy định nghĩa vụ học tập của mọi công chức, trang bị kiến thức, kỹ
năng, phương pháp thực hiện (24). Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 04
năm 2012 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức hướng dẫn thực hiện bắt
buộc cập nhật kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành (25). Chỉ thị số 18/CTTTg ngày 19 tháng 05 năm 2016 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phát động thi
đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và kế hoạch 5
năm (2016-2020) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
trong đó triển khai quy hoạch phát triển nguồn lực y tế giai đoạn 2010-2020.
Theo thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 08 năm 2013 thay thế Thông
tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/05/2008 về Hướng dẫn công tác ĐTLT cho cán bộ
Y tế, điều 4 quy định: Cán bộ y tế là người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh không
thực hiện đủ nghĩa vụ đào tạo tối thiểu 48 tiết học trong 2 năm liên tiếp sẽ bị thu hồi
chứng chỉ hành nghề theo quy định của luật khám chữa bệnh. Hiện tại quy định này
chưa được áp dụng triệt để nhưng về lâu dài nếu quy định được áp dụng nghiêm túc,
triệt để mà đội ngũ nhân viên y tế các bệnh viện không chú trọng đến công tác
ĐTLT sẽ không đủ điều kiện hành nghề, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến công tác khám,
chữa bệnh tại cơ sở y tế (4, 5). Các hình thức đào tạo liên tục bao gồm đào tạo thập
huấn, chuyển giao kỹ thuật, bồi dưỡng chuyên mơn nghiệp vụ ngắn hạn trong và
ngồi nước theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến (E-learning) được cấp chứng
chỉ, chứng nhận, xác nhận: Thời gian tham gia đào tạo liên tục được tính theo thực
tế chương trình đào tạo. Hội thảo, hội nghị, tọa đàm khoa học trong và ngồi nước
về lĩnh vực chun mơn y tế có xác nhận của đơn vị chủ trì tổ chức căn cứ vào
chương trình của hội thảo, hội nghị, tọa đàm: Thời gian tham gia đào tạo được tính
cho người chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4
tiết học cho mỗi hội thảo/hội nghị/tọa đàm. Nghiên cứu khoa học; hướng dẫn luận
án, luận văn; viết bài báo khoa học đã được cơng bố theo qui định: Được tính tối đa
12 tiết học cho người hướng dẫn luận án, chủ trì/thư ký đề tài cấp Nhà nước hoặc
cấp Bộ; 8 tiết học cho hướng dẫn luận văn hoặc chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở (tính
tại thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt) (5).
11
Năm 2020, Bộ Y tế tiếp tục ban hành Thông tư 26/TT-BYT ngày 28/12/2020
khơng hồn tồn bãi bỏ mà bổ sung, sửa đổi một số điều của Thông tư 22/2013/TTBYT ngày 09/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn việc ĐTLT cho cán bộ y tế.
Trong đó hầu hết là bổ sung một số yêu cầu đối với chương trình, ĐTLT, đối với
giảng viên, cơng tác triển khai, báo cáo (26). Công tác ĐTLT cho cán bộ y tế được
triển khai từ rất sớm với nhiều hình thức khác nhau như hội nghị, hội thảo, tập huấn,
chỉ đạo tuyến, giao ban chuyên môn tại khoa, tại bệnh viện,… Từ năm 2013 đến
nay, Bộ Y tế đã chỉ đạo, hướng dẫn việc triển khai công tác đào tạo liên tục trên
tồn quốc, từ đó một mạng lưới về đào tạo liên tục đã được hình thành trong cả
nước với trên 510 đơn vị (106 Mã A bao gồm các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy
nghề y tế và các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa
học sức khỏe; 72 Mã B bao gồm các bệnh viện, viện có giường bệnh; viện nghiên
cứu ở cấp Trung ương; các hội nghề nghiệp có phạm vi hoạt động cả nước và các
trung tâm có đào tạo nhân lực y tế có đủ điều kiện làm cơng tác đào tạo liên tục;
331 Mã C gồm Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị
thuộc Sở Y tế; y tế các Bộ, Ngành; đã được cấp mã cơ sở đào tạo liên tục). Mạng
lưới ĐTLT đảm bảo việc cung cấp các khóa đào tạo cập nhật kiến thức y khoa được
liên tục để đảm bảo nguồn nhân lực y tế đạt chất lượng và hiệu quả.
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức cơ sở đào tạo liên tục tại Việt Nam
12
Ngày 25 và 26 tháng 3 năm 2015, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ
Y tế và Tổ chức The Partnership for Health Advancement in Vietnam (HAIVN) đã
tổ chức Hội thảo Kiểm định chất lượng đào tạo liên tục nhân lực y tế. Giảng viên là
Bác sĩ Murray Kopelow, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Hội đồng Kiểm định chất
lượng Đào tạo liên tục y khoa của Mỹ (ACCME). Bên cạnh đó, trong thời gian sắp
đến Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế sẽ phối hợp với các đơn vị đào
tạo liên tục nhân lực y tế của ngành tiếp tục từng bước triển khai các hoạt động
kiểm định chất lượng đào tạo liên tục, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực y tế, cải thiện chất lượng dịch vụ y tế (27).
1.4. Một số nghiên cứu về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng trên thế giới
và tại Việt Nam
1.4.1. Trên thế giới
Nội dung đào tạo
Nghiên cứu của Mei Chan Chong và các cộng sự (2014) cho biết 60,7% ĐD
cho biết đã tham gia các khóa học điều dưỡng trong các lĩnh vực chuyên môn,
chẳng hạn như điều dưỡng tim mạch, chăm sóc vết thương và hồi sức tim phổi
(28). Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các ĐD trong các nghiên cứu của họ thường
thích các khóa học mà họ tin rằng sẽ nâng cao và thúc đẩy các hoạt động điều
dưỡng và cơng việc lâm sàng (29).
Hình thức đào tạo
Tác giả Mei Chan Chong và cộng sự (2013) ở Malaysia tiến hành trên 792
ĐD. Nghiên cứu cho thấy, các ĐD đều nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT
đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ; Chỉ 80% (562) ĐD đã tham gia vào các
hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua. Tất cả tham dự cho các hoạt động khác nhau
là dưới 50%. Hội thảo là hoạt động ĐTLT phổ biến nhất (345, 43.6%) (30).
Một nghiên cứu thực hiện ở Trung Quốc trên một mẫu lớn các ĐD tại các
bệnh viện (n=27.335). Các kết quả: Tỷ lệ tham gia nghiên cứu khoa học của ĐD
(với 4,13%, 7,85%, 5,35% và 2,04% trong các dự án nghiên cứu, tham gia nghiên
cứu, các bài báo được xuất bản và bằng sáng chế, tương ứng); kỹ năng nghiên cứu
13
tự đánh giá của họ là 25,00 (12,50, 37,50) là rất thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu về
NCĐT là tương đối cao 53,12 (37,50, 75,00) (31).
Cách thức tổ chức đào tạo
Với mục tiêu nghiên cứu về quan niệm, nhu cầu ĐTLT và các yếu tố tạo
động lực với ĐTLT, đồng thời xác định các hạn chế mà các ĐD phải đối mặt trong
q trình hồn thành chương trình ĐTLT để đáp ứng tốt nhu cầu học tập của họ,
năm 2014 tác giả Chunping Ni và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên
2.727 ĐD tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trên 92,2%
ĐD nhận biết được ý nghĩa của việc ĐTLT; 97,3 % ĐD đã tham dự các chương
trình ĐTLT trong 12 tháng gần đây. Thời gian dành cho các hoạt động ĐTLT ĐD
mong muốn trung bình là 05 ngày và thời gian ĐTLT nên diễn ra trong khoảng 02
giờ (32).
Một nghiên cứu khác tại Trùng Khánh (2019) cho biết hình thức giáo dục
ĐD bao gồm đào tạo tại bệnh viện (77,0%), đào tạo từ xa (62,0%), hội thảo (32,0%)
và tự học (27,0%). Nội dung giáo dục thường xuyên bao gồm kiến thức lý thuyết cơ
bản mới (71,5%), kỹ thuật ĐD mới (62,0%), an toàn ĐD (56,0%), giáo dục sức
khỏe (47,5%), giảng dạy ĐD (36,0%) và quản lý ĐD (34,5%). Về hiệu quả của
ĐTLT, lần lượt là 67,8%, 30,2% và 2,0% ĐD cảm thấy hài lịng, chấp nhận được và
khơng đạt u cầu. Các lý do cho việc không hoặc hiếm khi tham gia ĐTLT là cơng
việc bận rộn (54,8%), chi phí cao (20,7%). Hình thức ĐTLT được kỳ vọng là đào
tạo từ xa (69,7%), đào tạo tại bệnh viện (68,9%) và hội nghị/bài giảng học thuật
(35,9%). Nội dung ĐTLT được kỳ vọng là các kỹ thuật ĐD mới (81,7%), kiến thức
lý thuyết cơ bản mới (73,7%) và an toàn ĐD (57,8%)(33).
Giảng viên
Kết quả trong nghiên cứu của tác giả Lyn Dyson tại 02 bệnh viện khu vực
New Zealand có đề cập đến việc xây dựng và điều chỉnh chương trình ĐTLT để phù
hợp hơn cho từng đối tượng ĐD khác nhau, phù hợp với thực tế, điều đó cho thấy
rằng việc điều chỉnh bổ sung chương trình, nội dung đào tạo liên tục định kỳ là rất
quan trọng và cần thiết (34).
14
Mức độ phù hợp, tự tin với công việc
Nghiên cứu được thực hiện với các ĐD ở Murcia, Tây Ban Nha. Khi Nghiên
cứu viên hỏi liệu việc đào tạo liên kết với nơi làm việc có ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ chăm sóc được cung cấp hay khơng thì phần lớn (94,2%) những người được
khảo sát cho rằng nó khơng những quan trọng mà cịn rất quan trọng và chỉ 2 trong
số 314 ĐD được khảo sát cho rằng không quan trọng (35).
1.4.2. Tại Việt Nam
Nội dung đào tạo
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (2015) trên 224 ĐD khoa lâm sàng
nhu cầu ĐTLT về chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn giáo dục sức khỏe, kỹ thuật
cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngồi lồng ngực, phụ giúp bác sỹ chọc dò
màng tim, rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí quản là 60-80%. Cơng tác
nghiên cứu khoa học có mức độ sử dụng thường xuyên, mức độ tự tin thấp dưới
10,2%, và có nhu cầu ĐTLT trên 70% (36). Một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng các
nội dung đào tạo liên quan đến chuyên ngành chiếm tỉ lệ cao nhất 84,4%, theo sau
đó là giao tiếp ứng xử 67,1%, an tồn người bệnh 64,2% và kiểm sốt nhiễm khuẩn
53,8% (37).
Hình thức đào tạo
Nghiên cứu của Vũ Ngọc Ánh (2020) tại Bệnh viện Quận 11, cho thấy có
64,1% ĐD tham gia ĐTLT trên 24 giờ. Công tác ĐTLT chủ yếu là về chuyên mơn,
dưới hình thức nghiên cứu khoa học 34,3%, tổ chức tập huấn đào tạo chiếm 33,6%,
(38).
Cách thức tổ chức đào tạo
Nghiên cứu của Vũ Ngọc Ánh (2020) tại Bệnh viện Quận 11, cho thấy đa số
các khóa được tổ chức từ 2-4 giờ, chủ yếu là đào tạo lý thuyết, có 64,1% là thơng
qua tập huấn. Kết quả cũng chủ ra rằng 28,1 cho rằng nôi dung tập huấn chưa phù
hợp, 32,8% chưa đáp ứng nhu cầu và 37,5% cho rằng chưa mang lại hiệu quả (38).
Giảng viên
Nghiên cứu cho thấy đã số các giảng viên đều có đầy đủ các điều kiện như
trình độ, bằng cấp, chứng chỉ sư phạm. Về phương pháp giảng dạy của giảng viên
15
cũng được đánh giá khá tích cực với 84,2% học viên đánh giá phương pháp giảng
dạy phù hợp và 14,3% học viên đánh giá là rất phù hợp. Sự nhiệt tình của giảng
viên cũng được học viên đánh giá cao khi có 80,8% học viên nhận xét giảng viên
nhiệt tình và 18,7% học viên nhân xét giảng viên rất nhiệt tình (39). Một nghiên cứu
khác cho biết trong các khóa ĐTLT tại bệnh viện thì có 46,3% giảng viên từ bệnh
viện, 6,3% của trường đại học và 7,4% là từ các bệnh viện khác. Đối với các lớp
ĐTLT ngoài viện thì chủ yếu là giảng viên của các trường và của bệnh viện khác
khơng có giảng viên của bệnh viện (40).
Mức độ phù hợp với công việc
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Điệp (2019) cho thấy có 98% NVYT cho rằng
những kiến thức ĐTLT phù hợp với công việc hiện tại (39). Nghiên cứu của tác giả
Triệu Văn Tuyến (2015), được tiến hành trên 259 học viên lớp cấp cứu Nội, Ngoại,
Sản, Nhi tại Vĩnh Phúc. Kết quả: 99,6% ĐTNC cho rằng nội dung ĐTLT phù hợp
với mong muốn của cá nhân, 99,2% ĐTNC đánh giá nội dung ĐTLT phù hợp với
công việc đang đảm nhiệm, mức độ sử dụng nội dung được ĐTLT thường xuyên
trong công việc là 60,2% (41). Về sự phù hợp của việc đào tạo với nhu cầu tại nơi
làm việc, mặc dù phần lớn những người được khảo sát cho biết rằng họ đã tham gia
các khóa đào tạo tại nơi làm việc, nhưng họ cũng tiết lộ rằng họ cảm thấy cần được
đào tạo thêm. Dữ liệu có vẻ mâu thuẫn này có thể được giải thích là do có khoảng
53,8% ĐD cho rằng chương trình đào tạo mà họ nhận được khơng phù hợp với nhu
cầu của nơi làm việc.
Mức độ tự tin thực hành
Công tác truyền thông, GDSK được ĐD thực hiện thường xuyên và tự tin
(trên 70%). Một số kỹ thuật được bản thân ĐD tự nhận là tự tin khi thực hiện (trên
70%); Tuy nhiên, do đặc thù công việc nên mức độ sử dụng không thường xuyên
như: Thay băng cắt chỉ, tiêm tĩnh mạch. Các kỹ thuật chuyên sâu không có trong
danh mục kỹ thuật nên khơng được thực hiện tại trạm y tế (42). Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Hoài Thu năm 2015 về NCĐT liên tục của ĐD tại Bệnh viện Phổi
Trung ương. Phát vấn 224 ĐD khoa lâm sàng cho thấy mức độ sử dụng thường
xuyên, mức độ tự tin 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh (chăm sóc PHCN, tư vấn
16
GDSK), 2/13 kỹ thuật ĐD cơ bản (cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép tim ngồi
lồng ngực); 4/10 kỹ thuật phụ giúp bác sỹ (rửa màng phổi, đặt nội khí quản, mở khí
quản, chọc dị màng tim) có tỷ lệ dưới 60% (36).
Kết quả các nghiên cứu cho thấy, một số kỹ thuật ĐD cơ bản, kỹ thuật ĐD
chuyên sâu tại các cơ sở y tế tuyến trung ương, tuyến tỉnh cũng như tuyến huyện,
mức độ sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, mức độ tự tin
của ĐD khi thực hiện các kỹ thuật này đều có tỷ lệ chưa cao (dưới 50%) gồm có
chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn - GDSK, cấp cứu ban đầu, bóp bóng ambu, ép
tim ngồi lồng ngực, phụ giúp bác sĩ chọc dò màng bụng, màng tim, đặt và mở khí
quản. Đối với ĐD làm việc tại trạm y tế thì tư vấn - GDSK, đo dấu hiệu sinh tồn là
hai kỹ thuật có mức độ sử dụng, mức độ tự tin cao, còn các kỹ thuật ĐD chuyên sâu
không trong danh mục được phê duyệt và không thực hiện tại tuyến xã nên mức độ
sử dụng, mức độ tự tin của ĐD khi thực hiện các kỹ thuật này còn thấp (15).
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng
1.5.1. Yếu tố thuộc về Cơ quan quản lý, ban hành chính sách
Khái niệm đào tạo liên tục ở nước ta đã được đưa vào trong ngành y tế từ
những năm 1990, với sự giúp đỡ của Dự án hỗ trợ hệ thống đào tạo nhân lực y tế
(còn gọi là 03/SIDA-Thụy Điển), Bộ y tế đã hướng dẫn các tỉnh triển khai mạnh mẽ
công tác đào tạo lại, đào tạo liên tục. Hơn 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành rất
nhiều những chính sách liên quan đến đào tạo, sử dụng và đãi ngộ CBYT như:
Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết 46/NQ-TW” (1).
Hiện nay, nhân lực y tế của Việt Nam hiện nay cịn nhiều hạn chế, khơng chỉ
thiếu về số lượng, mà năng lực chuyên môn của cán bộ, nhân viên y tế chưa đáp
ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân. Một trong
những nguyên nhân của tình trạng này là do cán bộ, nhân viên y tế chưa được đào
tạo liên tục cập nhật kiến thức chuyên môn. Nhiều cán bộ y tế sau khi ra trường đã
nhiều năm không được cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, do đó khơng đáp
ứng được u cầu thực tế (43).
17
Bộ Y tế rất quan tâm đến vấn đề đào tạo cập nhật kiến thức cho tất cả các cán
bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế và coi đây là nhiệm vụ bắt buộc. Tất cả
cán bộ y tế đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập
nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên mơn nghiệp vụ của mình
(44).
Năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 493/QĐ-BYT ngày 17/2/2012
đối với các cơ sở ĐTLT như bệnh viện tuyến trung ương, các trường y tế…cũng
như có đủ các tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế (45).
Trong quyết định chỉ rõ các tiêu chuẩn về tổ chức quản lý đào tạo, chương trình và
tài liệu đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, quản lý học viên hay hợp tác đào tạo.
Các yếu tố đều hết sức quan trọng, cần phát triển toàn diện mới có được một cơ sở
ĐTLT đạt chất lượng và hiệu quả.
Luật khám bệnh, chữa bệnh và thông tư 22/2013/TT-BYT về ĐTLT được
ban hành là yếu tố mang tính quyết định trong hoạt động ĐTLT cho CBYT. Từ
những chính sách, luật ở trên mà cơng tác ĐTLT có một qui chuẩn các cơ sở đào
tạo hoạt động hợp lý và hiệu quả; là yếu tố để CBYT có điều kiện tham gia ĐTLT.
Những qui định về chính sách và luật phù hợp sẽ thúc đẩy và nâng cao hiệu
quả của việc ĐTLT cho CBYT. Ngược lại, sẽ kìm hãm và gây khó khăn cho các cơ
sở đào tạo và CBYT khi tổ chức và tham gia các hoạt động đào tạo (46, 47).
Theo chủ trương của Bộ Y tế, đến năm 2020 các bệnh viện công lập sẽ
chuyển sang tự chủ hồn tồn, đó là một sự chuyển biến rất lớn nhằm gắn trách
nhiệm tự phát triển đối với các bệnh viện, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở
y tế tư nhân và nhà nước. Cơ sở y tế có tồn tại và phát triển được là nhờ vào lực
lượng bác sỹ có trình độ chun mơn sâu, tốt và đội ngũ điều dưỡng lành nghề,
nhiệt tình chu đáo. Vì vậy, nhu cầu ĐTLT đối với điều dưỡng nhằm củng cố kỹ
năng lâm sàng, kiến thức để phù hợp với sự chuyển biến của ngành y tế là rất cần
thiết và quan trọng (48).
1.5.2. Yếu tố thuộc về Cơ sở đào tạo
Yếu tố nhân lực: Là yếu tố có tính chất quyết định trong mọi hoạt động xã
hội. Trong công tác đào tạo, yếu tố con người bao gồm đội ngũ lãnh đạo, giảng viên
18
và người làm công tác hỗ trợ, quản lý đào tạo. Đội ngũ lãnh đạo với vai trò quản lý,
điều hành, đưa ra những quy định cụ thể giúp cho công tác đào tạo được triển khai
theo đúng một quy chuẩn cụ thể. Hiệu quả của công tác này phụ thuộc rất nhiều vào
quan điểm, chính sách của mỗi nhà lãnh đạo, quản lý (49).
Những cán bộ thực hiện công tác tổ chức đào tạo, hỗ trợ, quản lý đào tạo là
những người trực tiếp thực hiện những quy định, chính sách của đội ngũ lãnh đạo,
gắn kết các hoạt động thành một chuỗi qui trình hồn chỉnh dựa trên những qui định
cụ thể mà đội ngũ lãnh đạo đã ban hành. Chất lượng đào tạo phụ thuộc nhiều vào
năng lực và cách thức triển khai quy trình của đội ngũ này (50).
Giảng viên là yếu tố rất quan trọng trong q trình đào tạo CBYT. Giảng
viên có vai trị truyền tải kiến thức tới người học viên; hướng dẫn phương pháp, nội
dung, kỹ thuật thực hành, giúp cho học viên nhanh hiểu biết, rút ngắn được thời
gian nhận thức. Năng lực của giảng viên thể hiện ở trình độ kiến thức, khả năng sư
phạm và khả năng vận dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung chương
trình và người học (47, 51).
Lập kế hoạch và triển khai đào tạo:
Năng lực tổ chức đào tạo của cơ sở đào tạo thể hiện ở tất cả các khâu từ việc
xây dựng kế hoạch đào tạo, chiêu sinh, triệu tập học viên, bố trí giảng viên, xây
dựng chương trình học, lịch học, tổ chức giảng dạy, quản lý học viên, tổ chức thi
kiêm tra đầu vào, đầu ra, tổ chức khai giảng, bế giảng… một cách hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả. Câu trả lời cho mức độ hiệu quả của việc này là đánh giá khách quan
của CBYT tham gia học tập từ các khâu đón tiếp đến cơng tác học tập (hội trường,
phòng học, thiết bị giảng dạy,…) có đầy đủ khơng, bố trí lịch học, thời lượng học có
khoa học khơng, kiểm tra thi cử có cơng bằng khơng,… Thiếu sự phối hợp giữa các
phịng, ban trong bệnh viện khi tuyển dụng và luân chuyển cán bộ. Luân chuyển cán
bộ không nhất thiết dựa vào nhu cầu thực tế mà dựa vào mong muốn cá nhân.
Khơng có đánh giá về khoảng cách năng lực hoặc hiệu quả đào tạo (52).
Chương trình và nội dung đào tạo:
Chương trình và nội dung đào tạo có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của công tác đào
tạo, đặc biệt là hình thức đào tạo tập trung. Đặc trưng lớn nhất của nội dung đào tạo
19
hay giáo trình, tài liệu đào tạo y khoa là tính khơng ổn định và ln địi hỏi cập
nhật. Đây cũng là điểm khó khăn cho hoạt động đào tạo vì địi hỏi nội dung phải
ln được đổi mới, việc biên soạn lại tài liệu kéo theo là sự gia tăng chi phí đào tạo,
bồi dưỡng. Ngồi ra, các tài liệu chưa theo hệ thống thống nhất, chưa đồng bộ cũng
gây khó khăn cho giảng viên, học viên khi tham gia dạy và học. Ngược lại, một cơ
sở đào tạo thực hiện tốt các vấn đề về nội dung và chương trình đào tạo sẽ thúc đẩy
quá trình đào tạo diễn ra sn sẻ hơn, giảm thiểu được chi phí và góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo (51). Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại Bệnh viện Tai
Mũi Họng. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức đào tạo liên tục bao gồm:
Công việc quá tải, chưa có cán bộ chun trách về đào tạo, hình thức giảng chủ yếu
là lý thuyết và giảng viên chưa thực sự phù hợp với chuyên môn định hướng ĐD
(53). Nghiên cứu của tác giả Triệu Văn Tuyến năm 2015 cho thấy có 99,0% đánh
giá nội dung ĐTLT phù hợp với mong muốn của cá nhân, công việc thực tế. Điều
này giúp các học viên tham gia học cảm thấy hưng thú hơn, mang lại hiệu quả tích
cực hơn khi tham gia ĐTLT (54).
Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất (hội trường, thiết bị nghe - nhìn, mơ hình giảng dạy,…) là yếu
tố có tác động tích cực hoặc hạn chế tới công tác đào tạo. Cơ sở vật chất đầy đủ là
điều kiện thuận lợi cho các hoạt động triển khai đào tạo diễn ra hiệu quả và ngược
lại nếu cơ sở vật chất không tốt, hoặc thiếu thốn sẽ hạn chế rất lớn đến công tác đào
tạo, thậm chí có thể làm cho hoạt động đào tạo bị trì trệ (47).
Kinh phí
Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Long và cộng sự (2011) cũng đã chỉ ra sự
cần thiết hỗ trợ về tài chính có khả năng ảnh hưởng đến quyết định tham gia các
khoa đào tạo về quản lý bệnh viện. Đặc biệt các ĐTNC cũng đã chỉ ra rằng họ muốn
tham gia các khóa học về quản lý thuộc dự án và được miễn phí đào tạo (55).
Cùng quan điểm trên, nghiên cứu của Nguyễn Hồng Tín và cộng sự (2015)
cũng cho rằng do nguồn kinh phí hàng năm có hạn và khối lượng cơng việc nhiều
nên hầu hết công chức không thể tham gia đào tạo cùng lúc. Do đó, nhiều cán bộ
quản lý muốn được hỗ trợ kinh phí (sách, tài liệu tham khảo, đĩa CD) để tự trau dồi
20
kiến thức, chun mơn thơng qua hình thức tự học, học tập mơ hình thực tế, giao
lưu chia sẻ kinh nghiệm (56).
Đồng thời các bệnh viện cũng gặp khó khăn về kinh phí đào tạo liên tục nên
thường cho các bộ y tế tham gia các khóa học khơng mất phí, cịn những khóa học
dựa trên nhu cầu chun mơn thì chỉ chi một phần trong kinh phí khóa học cho họ
nên cũng hạn chế nhiều trong việc tham gia các khóa đào tạo liên tục đúng chun
mơn của mình (2, 40).
Khối lượng, tính chất cơng việc
Nhiều NVYT cho rằng khối lượng công việc cuối năm tại các đơn vị rất nhiều
nên khó sắp xếp tham gia các khóa đào tạo, đặc biệt các NVYT có năng lực, cần
được đào tạo nâng cao. Trong khi, các lớp tổ chức trong thời gian này dẫn đến thực
trạng NVYT được cử đi đào tạo thường không đúng đối tượng và không phù hợp với
nhu cầu công việc hoặc đúng đối tượng nhưng họ khơng thể tham dự đầy đủ suốt
khóa học. Do đó, NVYT đề xuất các khóa học nên được tổ chức vào thời điểm quý I III và trong một số trường hợp, khóa học cần được tổ chức tại địa phương để thuận
tiện cho việc bố trí cơng việc ở đơn vị và giảm chi phí, thuận tiện đi lại, ăn ở cho
NVYT tham gia khóa học. Ngồi ra, cần mở rộng đối tượng được đào tạo đa dạng
hơn, bên cạnh việc đào tạo NVYT theo diện được quy hoạch. Trong đó, ưu tiên cho
các cán bộ trẻ, khơng cần thâm niên được tham gia đào tạo (56).
Áp lực công việc, nhiệm vụ các cán bộ quản lý cần phải hoàn thành khi tham
gia đào tạo nhưng vẫn đảm bảo hồn thành nhiệm vụ tại cơ quan cơng tác. Đây là
khó khăn phổ biến nhất cho cán bộ quản lý khi tham gia đào tạo. Cán bộ quản lý
tham gia đào tạo trong tư thế đối phó một lúc hai nhiệm vụ (học tập, làm việc), do
đó chất lượng đào tạo tất yếu bị ảnh hưởng. Trầm trọng hơn, đối với những khóa
đào tạo cho cán bộ quản lý vị trí lãnh đạo, sĩ số lớp học ln bị thiếu; tình trạng học
viên vừa tham gia học tập vừa nghe điện thoại để chỉ đạo các hoạt động tại cơ quan
vẫn tồn tại dẫn đến tình trạng học viên thiếu tập trung và gây ảnh hưởng đến tinh
thần học tập trong lớp (56).