TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về
khủng hoảng kinh tế và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.
Hanoi | 02/2021
TIEU LUAN MOI download :
Mục lục
Lời mở đầu.............................
Nội dung................................................................................................................................
PHẦN THỨ NHẤT...........................................................................................................
LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ................
1.Khái niệm khủng hoảng kinh tế..............................................
2.Các loại khủng hoảng kinh tế..................................................
2.1. Khủng hoảng thừ
2.2. Khủng hoảng thi
2.3. Khủng hoảng nợ
3.Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế.....................................
4.Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế...........................
5.Những biện pháp Mác đưa ra nhằm chống khủng hoảng ki
PHẦN THỨ HAI.............................................................................................................
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM.............................................................................................
1.Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay............................
2.Đề xuất một số giải pháp..........................................................
Kết luận...............................................................................................................................
Tài liệu tham khảo.............................................................................................................
1
TIEU LUAN MOI download :
Lời mở đầu
Khủng hoảng kinh tế xảy ra trên phạm vi thế giới luôn gây ra những tác động nhất định
đến các nền kinh tế là thành viên của nó và làm ảnh hưởng đến hầu hết các nền kinh tế. Để
hiểu rõ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về
khủng hoảng kinh tế và liên hệ thực tiễn với Việt Nam”.
Bài tiểu luận này sẽ nghiên cứu kỹ về khủng hoảng kinh tế, các loại khủng hoảng, tính
chu kì của khủng hoảng, các nguyên nhân tạo ra khủng hoảng cùng với các hậu quả nặng nề
mà nó để lại cho nền kinh tế và các biện pháp phục hồi kinh tế của các nước trên Thế giới,
nhất là các chính sách của Việt Nam nhằm giảm bớt tác động này và đưa ra những giải pháp
để ứng xử trong nền kinh tế thế giới ngày càng biến động.
Về đề tài này, đã có rất nhiều bài viết của các chuyên gia trong và ngoài nước đề cập đến
vấn đề khủng hoảng kinh tế. Đây là đề tài sâu rộng, mang tính thời sự. Bản thân em, một sinh
viên năm bavới kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên nội dung bài tiểu luận này không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được nhận xét và đóng góp ý kiến của cơ để
bài tiểu luận được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
2
TIEU LUAN MOI download :
Nội dung
PHẦN THỨ NHẤT
LÝ LUẬN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN
VỀ KHỦNG HOẢNG KINH TẾ
1.
Khái niệm khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế là tình trạng rối loạn, mất thăng bằng nghiêm trọng do có nhiều
mâu thuẫn khơng được hoặc chưa được giải quyết trong nền kinh tế. Đó là những rối loạn
trong sản xuất, lưu thơng hàng hóa, trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng dẫn đến rối loạn
trong đời sống kinh tế, gây ra nạn thất nghiệp, sụt giảm về thu nhập, cuộc sống của người
lao động và có thể kéo theo sự bất ổn về chính trị.
Khủng hoảng kinh tế có thể diễn ra trên phạm vi một quốc gia, có thể diễn ra trong
phạm vi của khu vực nhưng cũng có thể xảy ra trên tồn thế giới. Có một sự thật là quốc
gia nào càng phát triển thì khủng hoảng kinh tế càng dễ xảy ra, kéo theo đó là hậu quả để
lại cũng sẽ nặng nề hơn rất nhiều khi khủng hoảng kinh tế diễn ra ở các nước nghèo, nước
kém phát triển hơn.
2.
Các loại khủng hoảng kinh tế
2.1. Khủng hoảng thừa
Khủng hoảng thừa là khủng hoảng mà ở đó số lượng hàng hóa sản xuất ra nhiều trong
khi nhu cầu tiêu dùng có hạn, nghĩa là cung lớn hơn cầu. Khủng hoảng thừa diễn ra nhiều
vào sau cuộc cách mạng công nghiệp Anh, khi mà máy móc được thiết kế ra dần thay thế
cho sức lao động, điều này làm cho công nhân rơi vào tình trạng thất nghiệp hàng loạt,
khơng có thu nhập. Trong khí đó hàng hóa sản xuất ra ngày càng nhiều và họ khơng có
tiền để mua những sản phẩm đó.
3
TIEU LUAN MOI download :
2.2. Khủng hoảng thiếu
Khủng hoảng kinh tế thiếu là cuộc khủng hoảng mà nguồn cung không đáp ứng đủ
nhu cầu của người dân khiến giá cả leo thang. Khủng hoảng này bắt nguồn từ sự gia tăng
dân số nhanh chóng, cạn kiệt tài nguyên, do thiên tai, sự hạn chế năng lực sản xuất,...
Khủng hoảng thiếu đã đẩy giá sản phẩm leo thang, tăng cao ở mức khó chấp nhận được.
2.3. Khủng hoảng nợ
Đây là cuộc khủng hoảng mà chính phủ quốc gia khơng có khả năng chi trả những
món nợ quốc gia đẫn đến khủng hoảng nợ. Để giải quyết khủng hoảng nợ các quốc gia
thường tăng thuế với các ngành kinh tế trong nước để giải quyết vấn đề nợ. Khủng hoảng
nợ không nguy hiểm nhiều như khủng hoảng thừa và khủng hoảng thiếu, bởi suy cho
cùng nó chính là mối quan hệ cần giải quyết giữa chủ nợ và con nợ.
3.
Tính chu kỳ của khủng hoảng kinh tế
Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính
chu kỳ. Chu kỳ kinh tế của chủ nghĩa tư bản là khoảng thời gian nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa vận động từ đầu cuộc khủng hoảng này đến đầu cuộc khủng hoảng sau.
Chu kỳ kinh tế gồm bốn giai đoạn: khủng hoảng, tiêu điều, phục hồi và hưng thịnh.
4
TIEU LUAN MOI download :
Khủng hoảng là giai đoạn khởi điểm của chu kỳ kinh tế mới. Ở giai đoạn này, hàng
hoá ế thừa, ứ đọng, giá cả giảm mạnh, sản xuất đình trệ, xí nghiệp đóng cửa, cơng nhân
thất nghiệp hàng loạt, tiền cơng hạ xuống. Tư bản mất khả năng thanh tốn các khoản nợ,
phá sản, lực lượng sản xuất bị phá hoại nghiêm trọng. Đây là giai đoạn mà các mâu thuẫn
biểu hiện dưới hình thức xung đột dữ dội.
Tiêu điều, ở giai đoạn này là sản xuất ở trạng thái trì trệ, khơng cịn tiếp tục đi xuống
nhưng cũng khơng tăng lên, thương nghiệp vẫn đình đốn, hàng hóa được đem bán hạ giá,
tư bản để rỗi nhiều vì khơng có nơi đầu tư. Trong giai đoạn này, để thốt khỏi tình trạng
bế tắc, các nhà tư bản cịn trả lại được tìm cách giảm chi phí bằng cách hạ thấp tiền công,
tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân, đổi mới tư bản cố định làm cho sản
xuất vẫn cịn có lời trong tình hình hạ giá. Việc đổi mới tư bản cố định làm tăng nhu cầu
về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh
tế.
Phục hồi là giai đoạn mà các xí nghiệp được khôi phục và mở rộng sản xuất. Công
nhân lại được thu hút vào làm việc; mức sản xuất đạt đến quy mô cũ, vật giá tăng lên, lợi
nhuận của tư bản do đó cũng tăng lên.
Hưng thịnh là giai đoạn sản xuất phát triển vượt quá điểm cao nhất mà chu kỳ trước
đã đạt dược. Nhu cầu và khả năng tiêu thụ hàng hố tăng, xí nghiệp được mở rộng và xây
dựng thêm. Nhu cầu tín dụng tăng, ngân hàng tung tiền cho vay, năng lực sản xuất lại
vượt quá sức mua của xã hội. Do đó, lại tạo điều kiện cho một cuộc khủng hoảng kinh tế
mới.
4.
Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế
Lý thuyết khủng hoảng kinh tế được Mác phân tích trong bối cảnh nền kinh tế
đi từ sản xuất hàng hóa giản đơn lên sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa. Mác coi khủng
hoảng kinh tế như là kết quả tất yếu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Nguyên nhân sâu xa của khủng hoảng là do những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư
5
TIEU LUAN MOI download :
bản mà cốt lõi là mâu thuẫn giữa sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất với tính chất chật hẹp của chế độ sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất.
Dựa trên cơ sở lý luận giá trị và giá trị thặng dư, Mác cho rằng công nhân làm
thuê luôn sản xuất ra một lượng giá trị mà họ khơng thể nào mua hết được, đó
chính là giá trị thặng dư. Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa chỉ tồn tại trong chừng
mực mà công nhân luôn phải sản xuất ra giá thặng dư cho nhà tư bản hay cơ sở của
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư. Do đó,
sản xuất “thừa” là tình trạng hiển nhiên. Mác đã đúc kết thành hai vấn đề:
(1) những người trực tiếp làm ra sản phẩm – công nhân – chỉ mua được một phần
rất nhỏ những sản phẩm mà họ sản xuất ra, họ không thể mua tư liệu sản xuất và
chỉ mua một phần những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu; (2) họ chỉ tiêu dùng được
những sản phẩm này chỉ khi nào họ còn sản xuất ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản.
Do đó, họ bao giờ cũng là người sản xuất thừa so với nhu cầu có khả năng thanh
tốn của mình. Như vậy, sản xuất thừa ở đây là thừa hàng hóa so với sức cầu của
người lao động. Trong chủ nghĩa tư bản, tất cả tư bản đều vận động liên tục không
ngừng với quy mô ngày càng mở rộng. Cùng với quá trình tái sản xuất mở rộng tư
bản thì những mâu thuẫn nội tại của nó cũng khơng ngừng phát triển và trở nên gay
gắt hơn. Cuối cùng, một cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ nổ ra và đó cũng là cách giải
quyết tạm thời những mâu thuẫn và lập lại thế cân bằng mới cho nền sản xuất.
Mác bắt đầu phân tích khủng hoảng kinh tế khi ông nghiên cứu về sản xuất hàng
hóa. Việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa (lao động
cụ thể và lao động trừu tượng) là một phát kiến quan trọng trong q trình phân
tích của Mác. Tính chất hai mặt đó biểu hiện thành lao động tư nhân và lao động xã
hội của người sản xuất hàng hóa; hai mặt này lại mâu thuẫn với nhau biểu hiện ở
chỗ: (1) người sản xuất hàng hóa sản xuất ra những sản phẩm mà xã hội
6
TIEU LUAN MOI download :
khơng cần hoặc (2) chi phí của người sản xuất cao hơn so với chi phí bình qn của
xã hội. Những mâu thuẫn này có thể dẫn tới tình trạng sản xuất “thừa”. Khi tiền tệ
xuất hiện và làm chức năng phương tiện lưu thơng hàng hóa, q trình mua và bán
tách rời nhau đã làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng kinh tế.
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mỗi nhà tư bản đều là người mua đồng
thời là người bán. Khi là người bán, nhà tư bản cần có người mua để nhanh chóng
thu hồi tư bản và tìm kiếm lợi nhuận nhưng khi đã nắm được tiền tệ trong tay thì
anh ta lại khơng nhất định phải mua ngay mà có thể chờ đến khi giá cả có lợi cho
mình để mua. Bên cạnh đó, do tính chất sản xuất chạy theo lợi nhuận nên tình trạng
sản xuất thừa hàng hóa thường xuyên xảy ra. Khi đó, dù là người sản xuất có chi
phí bằng với chi phí xã hội thì người sản xuất đó cũng khơng thể nhận được tồn bộ
những gì mà anh ta đã chi phí.s
Qua đó Mác kết luận: “dưới hình thái thứ nhất của nó, khủng hoảng chính là
bản thân sự biến hóa hình thái của hàng hóa là việc mua và bán tách rời khỏi
nhau”. Nguy cơ khủng hoảng gia tăng nhanh chóng khi tiền tệ làm chức năng
phương tiện thanh toán cùng với sự phát triển đầy đủ của hệ thống ngân hàng. Khi
đó, trong nền sản xuất sẽ xuất hiện hệ thống con nợ-chủ nợ chằng chịt với nhau. Vì
vậy, khả năng sụp đổ nền kinh tế trở thành hiện thực một khi có những nhà tư bản
khơng thể thanh toán được nợ. Mác cho rằng đây là hình thái thứ hai của khủng
hoảng kinh tế. Sự ra đời của công ty cổ phần và thị trường chứng khoán đã làm cho
khủng hoảng kinh tế diễn ra dễ dàng và thường xuyên hơn. Bây giờ, ứng với những
tư bản thực tế nằm trong sản xuất và lưu thông lại xuất hiện những bản sao của nó
mà Mác gọi là tư bản giả. Trong khi tư bản trong sản xuất bị tiêu dùng đi thì những
bản sao của nó vẫn được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Giá cả của loại
hàng hóa - tư bản này chỉ là những giá trị giả tưởng và đôi khi vượt rất xa so với tư
bản thực tế mà lúc đầu nó đại diện. Với bản chất chạy theo lợi nhuận,
7
TIEU LUAN MOI download :
các nhà tư bản không ngừng ném tư bản của mình vào thị trường chứng khốn, tình
trạng đầu cơ diễn ra tràn lan. Sự đầu cơ này một mặt thúc đẩy q trình tích lũy của
tư bản ngân hàng nhưng mặt khác lại đẩy các nhà tư bản công, thương nghiệp và tư
bản ngân hàng vào trạng thái căng thẳng về khả năng thanh toán. Một khi, hệ thống
thanh toán khơng cịn tạo được lịng tin và chỉ có tiền mặt mới làm được chức năng
phương tiện thanh tốn thì khủng hoảng sẽ nổ ra do việc chạy theo các phương tiện
thanh toán mà các nhà kinh tế hiện nay gọi là việc thiếu tín dụng bất ngờ. Như vậy,
sự phát triển của thị trường chứng khoán và hệ thống thanh toán đã thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế tư bản và đi cùng với nó là khả năng khủng hoảng kinh tế
nghiêm trọng hơn.
C.Mác đã nêu những nguyên nhân cốt lõi gây nên khủng hoảng kinh tế và điều
đó khơng chỉ chính xác với các cuộc khủng hoảng giữa cuối thế kỉ XIX, nửa đầu
thế kỉ XX mà cịn đúng với cuộc khủng hoảng kinh tế tồn cầu gần đây.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 là khủng hoảng lịch sử, là đợt suy
thoái kinh tế kéo dài và nghiêm trọng nhất kể từ đại Khủng hoảng thập niên 1930.
Về nguyên nhân phải chỉ ra rằng nhiều thị trường, trong đó có thị trường hàng hóa,
thị trường địa ốc, thị trường tài chính đã phát triển trên cơ sở nhu cầu ảo, trên cơ sở
nhu cầu được quyết định bởi các nhà đầu cơ.
Một nguyên nữa không thể khơng nói đến là trong kinh tế thị trường những nhà
đầu cơ có kinh nghiệm, nhanh nhạy họ ln thu được những khoản lợi nhuận kếch
sù. Và tất yếu một số đông những nhà đầu cơ khác sẽ mất đi một số tài sản tương
tự. Tổng giá trị lợi tức những nhà đầu cơ “may mắn” thu được sẽ bằng tổng giá trị
thua lỗ của những nhà đầu cơ không may mắn mất đi. Những nhà đầu cơ “may
mắn” ln là số ít, cịn những nhà đầu cơ khơng “may mắn” luôn là số đông những
người lao động, những cơng chức, giáo viên, …. và đó là những người đại diện cho
sức mua tiềm năng của xã hội. Những người này khơng có khả năng tiêu
8
TIEU LUAN MOI download :
thụ tổng lượng hàng hóa khổng lồ do các doanh nghiệp sản xuất ra, nên khủng
hoảng tài chính tất yếu xảy ra.
Trong điều kiện tồn cầu hóa khủng hoảng tài chính thường bắt nguồn từ các
nước lớn, những nước vay nợ nước ngồi lớn để nhập khẩu hàng hóa - dịch vụ và
sau đó là đến lược các nước xuất khẩu, khi mà các nước lớn khơng cịn muốn nhập
khẩu nữa. Trên phạm vi toàn cầu các nước lớn là các nước nắm chặt các cơng cụ tài
chính nên họ vẫn là nước ít thiệt hại, các nước nhỏ ln phải chịu đựng gánh nặng
to lớn của của khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế, tùy vào những mặt hàng
xuất khẩu là gì mà mức độ thiệt hại sẽ lớn hay nhỏ, suy thoái kinh tế sẽ kéo dài hay
không.
Marx đã mổ xẻ những nguyên nhân cốt lõi gây nên khủng hoảng kinh tế và điều
đó khơng chỉ chính xác với các cuộc khủng hoảng nửa cuối thế kỉ XIX, nửa đầu thế
kỉ XX mà cịn có phần đúng đắn đối với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu.
5.
Những biện pháp Mác đưa ra nhằm chống khủng hoảng kinh tế
Theo Marx, để chống khủng hoảng kinh tế và tác động xấu của tính chu kì trong
khủng hoảng, ta cần phải kéo dài thời gian phục hồi, hưng thịnh và rút ngắn thời gian
khủng hoảng, tiêu điều trong một chu kì kinh tế. Trong luận thuyết đó, Marx đã đề ra
những biện pháp chống khủng hoảng kinh tế chủ yếu dưới đây.
Hạn chế và cố gắng triệt tiêu những mâu thuẫn sẵn có và mâu thuẫn mới phát sinh
trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Việc giải quyết thỏa đáng được các mâu thuẫn có thể
giúp ngăn chặn khủng hoảng kinh tế và giảm trừ được thiệt hại to lớn một khi khủng
hoảng kinh tế xảy ra.
Khi xảy ra khủng hoảng, các nhà tư bản phải giảm chi phí sản xuất bằng cách hạ thấp
tiền công, tăng cường độ và thời gian lao động của công nhân đồng thời đổi mới tư bản
9
TIEU LUAN MOI download :
cố định (máy móc, thiết bị,..). Từ đó làm tăng nhu cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu
dùng, tạo điều kiện cho sự phục hồi chung của nền kinh tế.
Nhà nước cần có tác động trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng thống nhất,
đảm bảo mức cung ứng tiền tệ ổn định trong nền kinh tế, đảm bảo mức lãi suất chênh lệch
trong các ngành có tỉ suất lợi nhuận khác nhau.
Giảm thuế và hạ lãi suất cho vay để kích cầu nền kinh tế từ đó giảm được khó khăn về
tài chính cho các doanh nghiệp và người lao động.
Các nhà tư bản cần phải kết hợp quá trình đào tạo qua sự phát triển của lực lượng sản
xuất với khoa học kĩ thuật để đảm bảo cho cơ cấu lao động ở mức hợp lí, phù hợp với
điều kiện sản xuất của từng quốc gia nhưng không bị chi phối bởi giới hạn thị trường.
Cân bằng hợp lí giữa cung và cầu trên thị trường. Qua đó, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển ổn định và tránh khỏi những biến động lớn.
Các tập đồn, cơng ty lớn phải được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, hay nói cách
khác là quốc hữu hóa một phần nền kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa. Từ đó nâng cao sự
hiệu quả trong tổ chức quản lý và hạn chế được nhiều rủi ro trong hoạt động.
Các biện pháp chống khủng hoảng và suy giảm kinh tế của Marx là rất thiết thực và
mang tính vận dụng cao. Chúng có thể phát huy hiệu quả cao nếu được áp dụng hợp lí
trong từng điều kiện cụ thể. Những tư tưởng của Marx mang cả tính thời đại lẫn tính tiên
tri, điều đó tạo nên giá trị của học thuyết của Marx.
10
TIEU LUAN MOI download :
PHẦN THỨ HAI
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM
1.
Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nổ ra đều khiến mọi thứ mất cân bằng.Những
hậu quả mà nó gây ra là vơ cùng nặng nề, ảnh hưởng đến nhiều ngành sản xuất, dịch vụ,
… Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ. Đất nước ta cũng vì những cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới mà chịu những tác động, thiệt hại nhất định.
Nền kinh tế toàn cầu đã phục hồi năm 2021 ... nhưng phải đối mặt với viễn cảnh bất
định trong ngắn hạn do sự xuất hiện của các biến chủng COVID-19 mới Sau hai năm
khủng hoảng COVID-19, quá trình phục hồi chưa đồng đều trên toàn cầu vẫn đang diễn
ra, nhưng động lực đã yếu đi bởi nhiều bất định và rủi ro khác nhau. Nền kinh tế toàn cầu
dự kiến tăng trưởng 5,5% trong năm 2021 và được dự báo tăng trưởng 4,2% vào năm
2022. Tăng trưởng của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU) và Trung Quốc bật tăng trở lại
trong năm 2021, nhưng đang hướng về xu hướng tăng trưởng dài hạn. Do đó, chính quyền
các quốc gia này bắt đầu gỡ bỏ chính sách hỗ trợ tài khóa và tiền tệ, đặc biệt trong bối
cảnh rủi ro lạm phát gia tăng. Điều này đã làm tăng tính bất định về tác động của việc thắt
chặt chính sách đến sự phục hồi toàn cầu - vốn đang phải vật lộn với các đợt bùng phát
COVID-19 và khả năng tiếp cận và năng lực triển khai tiêm vắc-xin khác nhau giữa các
quốc gia, với những vấn đề đang diễn ra trong chuỗi cung ứng và với dư địa chính sách
đang cạn dần ở nhiều quốc gia.
Cụ thể, đại dịch COVID-19 đã, đang và sẽ khiến cho nền kinh tế thế giới nói chung và
nền kinh tế Việt Nam nói riêng “chao đảo”. Mặc dù Việt Nam là một trong những nước
kiểm sốt dịch rất tốt, song vẫn khơng thể tránh khỏi những tác động nghiêm trọng do
dịch gây ra. Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2021 của Tổng cục
Thống kê Việt Nam, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2021 ước tính tăng 5,22%
so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn tốc độ tăng 4,61% của năm 2020 nhưng thấp hơn
tốc độ tăng của quý IV các năm 2011-2019. Trong đó, khu vực nông, lâm
11
TIEU LUAN MOI download :
nghiệp và thủy sản tăng 3,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,61%; khu vực
dịch vụ tăng 5,42%. Về sử dụng GDP quý IV/2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,86% so
với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 3,37%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng
14,28%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 11,36%.
Mặc dù tăng trưởng vẫn là một con số dương, nhưng đây là mức tăng thấp nhất so với
cùng kỳ các năm trong giai đoạn 2011-2020 và là một trong số ít các quốc gia có tăng
trưởng dương.
Theo kết quả điều tra đột xuất của Tổng cục Thống kê về tác động của dịch COVID19 tới doanh nghiệp (lần 1) cho thấy có tới 85.7% số doanh nghiệp bị tác động bởi dịch.
Trong đó, khu vực cơng nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ chịu nhiều tác động nhất
với tỷ lệ doanh nghiệp bị tác động lần lượt là 86.1% và 85.9%, khu vực nông, lâm, thủy
sản chịu ảnh hưởng ít hơn với 78.7%. Một số ngành kinh tế có tỷ lệ doanh nghiệp chịu tác
động tiêu cực cao, điển hình như các ngành: hàng khơng 100%, dịch vụ lưu trú 97.1%,
dịch vụ ăn uống 95.5%, hoạt động của các đại lý du lịch 95.7%, giáo dục và đào tạo
93.9%, các ngành dệt may, sản xuất da, cácsản phẩm từ da, sản xuất các sản phẩm điện tử,
sản xuất ô tô đều có tỷ lệ trên 90%.
Trong quý IV/2021, ước tính GDP năm 2021 tăng 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II
tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%) so với năm trước do dịch Covid-19
ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý III/2021
nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng
chống dịch bệnh. Trong mức tăng chung của tồn nền kinh tế, khu vực nơng, lâm nghiệp
và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn
nền kinh tế; khu vực cơng nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực
dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23%.
Năm 2021, trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch
Covid-19, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành lãi suất phù hợp, tạo điều kiện để
các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi. Hoạt
12
TIEU LUAN MOI download :
động kinh doanh bảo hiểm ổn định; thị trường chứng khốn phát triển mạnh mẽ với mức
vốn hóa thị trường cổ phiếu năm 2021 tăng 45,5% so với cuối năm trước.
Tính đến thời điểm 24/12/2021, tổng phương tiện thanh tốn tăng 8,93% so với cuối
năm 2020; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 8,44%; tăng trưởng tín dụng của
nền kinh tế đạt 12,97%.
Doanh thu phí tồn thị trường bảo hiểm quý IV/2021 ước tính tăng 14,8% so với cùng
kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2021 doanh thu phí tồn thị trường bảo hiểm tăng 15,6%
so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 21,7%; lĩnh
vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 1,7%.
Tính đến ngày 27/12/2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt
26.526 tỷ đồng/phiên, tăng 257,5% so với bình quân năm trước; giá trị giao dịch bình
quân trên thị trường trái phiếu đạt 11.421 tỷ đồng/phiên, tăng 9,9%; khối lượng giao dịch
bình quân sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 trên thị trường chứng khoán
phái sinh đạt 189.923 hợp đồng/phiên, tăng 21%.
Trong tháng 12/2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của
nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỷ USD, tăng
6,4% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2021,
tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm
trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%.
Trong quý IV/2021, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 89,07 tỷ USD, tăng 16% so với
cùng kỳ năm trước và tăng 6,2% so với quý III/2021. Tính chung năm 2021, kim ngạch
nhập khẩu hàng hóa ước đạt 332,25 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm trước, trong đó khu
vực kinh tế trong nước đạt 114,07 tỷ USD, tăng 21,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
đạt 218,18 tỷ USD, tăng 29,1%. Trong năm 2021 có 47 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá
trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Cán cân thương mại
hàng hóa thực hiện tháng Mười Một xuất siêu 1,26 tỷ USD; 11 tháng xuất siêu 1,46 tỷ
USD; tháng Mười Hai ước tính xuất siêu 2,54 tỷ USD. Tính chung năm 2021, cán cân
13
TIEU LUAN MOI download :
thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 4 tỷ USD (năm trước xuất siêu 19,94 tỷ USD).
Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,36 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư
nước ngồi (kể cả dầu thô) xuất siêu 29,36 tỷ USD.
Dự trữ ngoại hối tăng khoảng 12,3 tỷ USD so với tháng 12/2020, nâng tổng dự trữ
ngoại hối lên khoảng 107,7 tỷ USD (tương đương 3,7 tháng nhập khẩu) tính đến cuối
tháng 09/2021. Cán cân vãng lai thu hẹp từ thặng dư 4,6% GDP năm 2020 xuống thâm
hụt ước tính khoảng 1,0% GDP năm 2021, chủ yếu do nhập khẩu hàng hóa tăng nhanh
hơn xuất khẩu hàng hóa (26,2% - so cùng kỳ năm trước2 - so với 18,8% so cùng kỳ năm
trước) trong khi xuất khẩu dịch vụ tiếp tục bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các biện pháp
hạn chế đi lại quốc tế. Sự xấu đi của cán cân vãng lai dự kiến sẽ được bù đắp bởi mức
thặng dư lớn từ cán cân tài chính nhờ dịng vốn FDI mặc dù giảm nhẹ nhưng vẫn cho thấy
khả năng chống chịu tốt và một lượng lớn dòng vốn ngắn hạn chảy vào nền kinh tế.
2.
Đề xuất một số giải pháp
Theo Báo Bưu điện ASEAN dự báo, Việt Nam đang có vị thế tốt để thoát khỏi bẫy
kinh tế của đại dịch nhờ 3 lý do:
Thứ nhất: Chính phủ đã đưa ra các biện pháp giảm thuế, hỗn nộp thuế và miễn phí sử
dụng đất đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai: Luật Đầu tư được sửa đổi, tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư bằngcách
giảm các thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đáng
chú ý, 4 năm qua, có tới gần 1 tỷ USD được đầu tư cho lĩnh vực thương mại điện tử tại
Việt Nam
Thứ ba: Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định EVFTA. Từ tháng 7/2020, EU đã dỡ bỏ
85% các thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam và dần cắt bỏ phần còn lại trong 7 năm tới.
Hiện tại, nền kinh tế Việt Nam vẫn khá ổn định trước những thách thức của đại dịch
Covid-19. Tuy nhiên, nguy cơ lớn vẫn còn và tiềm ẩn nhiều bất ổn nếu dịch bùng phát
14
TIEU LUAN MOI download :
trở lại. Đại dịch Covid-19 kéo dài trên toàn cầu vẫn là nguy cơ lớn nhất đối với triển vọng
tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững. Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số
bài học kinh nghiệm hạn chế ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế: cần có những chính
sách phát triển kinh tế khơng cần nhanh, nhưng cơ bản và bền vững.
Thứ nhất: tiếp tục duy trì gói hỗ trợ tài chính đủ lớn và hiệu quả để tháo gỡkhó khăn
cho sản xuất, kinh doanh, phục hồi kinh tế, trong đó tập trung vào đốitượng doanh nghiệp
vì đây là khu vực đóng góp lớn cho tăng trưởng GDP (khoảng60%).
Thứ hai: đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, đạt tỷ lệ giải ngân caonhất,
chú trọng đến việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, nhất làcác dự án
trọng điểm, quy mơ lớn, có sức lan tỏa rộng, tạo đột phá chiến lược về kết cấu hạ tầng và
tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba: kích cầu đầu tư trong khối doanh nghiệp sản xuất phục vụ xuất khẩuđể chủ
động nguồn hàng khi thị trường thế giới mở lại bình thường.
Thứ tư: duy trì và tăng quy mơ gói hỗ trợ người dân và doanh nghiệp gặp khókhăn do
COVID-19.
Thứ năm: thực hiện tốt việc phịng ngừa lây lan của bệnh dịch để dịch không bùng
phát, tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ quốc tế, đặc biệt là thương mại.
Bên cạnh những giải pháp ngắn hạn mang tính ứng phó với COVID-19, Chính phủ
cần thực hiện các giải pháp mang tính dài hạn để chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho
phát triển bền vững sau đại dịch.
Thứ nhất, mất cân đối vĩ mô luôn là mối đe dọa đối với nền kinh tế toàn cầu nói
chung cũng như từng quốc gia chứ khơng riêng gì Việt Nam. Do đó, q trình hoạch định
và thực thi các chính sách kinh tế vĩ mơ cần phải kết hợp sự tăng trưởng và ổn định trên
cơ sở hiệu quả của nền kinh tế. Bảo đảm sự phát triển bền vững, tính hệ thống, cấu trúc
của nền kinh tế trong mỗi thời kỳ theo hướng kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt và lâu dài,
lợi ích các khu vực, các ngành kinh tế, lợi ích mỗi cá nhân và cộng đồng.
15
TIEU LUAN MOI download :
Thứ hai, phát huy vai trò của hệ thống giám sát tài chính quốc gia. Hệ thống này với
mục tiêu là bảo đảm sự an toàn và lành mạnh của các định chế tài chính, bảo đảm sự cơng
bằng và hiệu quả của thị trường, giảm thiểu rủi ro hệ thống, bảo vệ quyền lợi của người
sử dụng dịch vụ tài chính và nhà đầu tư.
Hệ thống giám sát quốc gia bao gồm các cơ quan giám sát được xây dựng theo các mơ
hình: Dựa trên cơ sở thể chế; theo hướng chức năng và theo hướng hợp nhất. Mỗi mơ
hình có những ưu và nhược điểm riêng, được xây dựng gắn với bối cảnh lịch sử về cấu
trúc hệ thống tài chính, cấu trúc truyền thống chính trị, quy mơ quốc gia và quy mơ lĩnh
vực tài chính. Khi các tập đoàn ra đời và phát triển, kinh doanh đa ngành, các sản phẩm
tài chính ngày càng trở nên phức tạp hơn thì mơ hình thể chế, mơ hình theo chức năng sẽ
bộc lộ những hạn chế cần được thay thế bằng mơ hình theo hướng hợp nhất.
Thứ ba, hệ thống ngân hàng ln đóng vai trị trụ cột trong thị trường tài chính, cho
nên cần nâng cao vai trò, vị thế của ngân hàng nhà nước trong việc thực hiện chức năng
ngân hàng trung ương và chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động tiền tệ, ngân
hàng trên cơ sở hồn thiện thể chế theo thơng lệ và chuẩn mực quốc tế, phối hợp với các
cơ quan trong xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, tăng cường hoạt động
thanh tra, giám sát, phát triển các cơng cụ dự báo, phịng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn hệ
thống ngân hàng.
Thứ tư, coi trọng quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đối với các ngân hàng
thương mại. Tín dụng là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng thương
mại, song cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro với những hậu quả khó lường. Quản trị rủi ro tín dụng
trước hết cần tập trung kiểm sốt các hoạt động cho vay vào các lĩnh vực mạo hiểm, như
bất động sản, chứng khốn, các sản phẩm tín dụng phái sinh. Theo đó, cần hồn thiện hệ
thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng trên cơ sở liên kết giữa các ngân hàng
thương mại để xây dựng và hồn chỉnh hệ thống dữ liệu đầy đủ và chính xác nhất về tài
chính và quan hệ của khách hàng với các ngân hàng thương mại. Thanh khoản là khả
năng của ngân hàng trong việc bảo đảm đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nhu cầu về ngân
quỹ. Khả năng thanh khoản là một dấu hiệu quan trọng biểu hiện tình trạng
16
TIEU LUAN MOI download :
hoạt động của ngân hàng. Quản trị rủi ro thanh khoản cần tập trung vào việc dự tính thay
đổi tổng tiền gửi và tổng cho vay trên cơ sở xây dựng các mơ hình tốn học và việc phân
tích các kịch bản làm thay đổi để có những biện pháp phù hợp trong huy động vốn và cho
vay.
Thứ năm, chuẩn hóa hệ thống thơng tin. Hệ thống thơng tin ngày càng trở nên quan
trọng nhất là trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tồn cầu hóa. Mọi chính sách,
quyết định điều tiết nền kinh tế cần phải dựa trên luồng thông tin chuẩn xác, minh bạch
và kịp thời. Vì vậy, cần thiết phải hình thành các cơ quan chuyên biệt trong việc thu thập,
cung cấp thông tin và các tổ chức, cá nhân cần có trách nhiệm cung cấp, cơng bố thơng
tin có liên quan, tránh tình trạng thơng tin phân tán và thiếu chính xác làm ảnh hưởng đến
việc ra quyết định. Các hợp đồng phát sinh cần phải chuẩn hóa và giao dịch trên thị
trường chứng khốn mở để đảm bảo tính minh bạch, cạnh tranh và biên lợi nhuận đủ an
toàn. Bảo hiểm vỡ nợ tín dụng phải được hạn chế đối với các nhà đầu tư có rủi ro bảo
hiểm được, hoặc cấm hoàn toàn. Cuối cùng, các tổ chức đánh giá tín dụng khơng được
bán kết quả xếp hạng cho các tổ chức phát hành chứng khoán. Hệ thống này tạo ra mâu
thuẫn lợi ích khi bên bán trái phiếu có thể dò giá để được xếp hạng tốt hơn.
Thứ sáu, tuy khó tránh khỏi hồn tồn các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, nhưng
việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ trong hội nhập là vấn đề cần được quan
tâm, nhất là coi trọng các yếu tố tạo nên sự phát triển bền vững của nền kinh tế; bảo đảm
tăng trưởng kinh tế nhanh phải đi liền với nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn tăng
trưởng với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường. Đẩy mạnh xuất khẩu phải đi
liền với phát triển đồng đều thị trường trong nước. Muốn vậy, cần phát triển mạnh hệ
thống an sinh xã hội và giám sát các tác động môi trường của q trình phát triển. Tuy
vừa qua có khơng ít những biểu hiện lệch lạc về phân hóa giàu nghèo, xâm hại mơi
trường nghiêm trọng..., nhưng chúng ta hồn tồn có thể tin tưởng rằng, mơ hình phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng và của dân tộc.
17
TIEU LUAN MOI download :
Kết luận
Marx đã đúng khi dự đoán đúng về khủng hoảng kinh tế, K. Marx dưới chủ nghĩa tư bản,
khủng hoảng kinh tế trở thành hiện thực trong nền sản xuất xã hội hóa cao. Nó khơng phải là
một hiện tượng ngẫu nhiên mà trở thành thường xuyên, xuất phát từ bản chất của chủ nghĩa
tư bản. Bởi vì bản chất khơng có gì có thể tăng mãi mà khơng giảm, khủng hoảng thay đổi cơ
cấu và chính trị. Ngồi ra, Việt Nam cũng là quốc gia bị ảnh hưởng gián tiếp bởi khủng
hoảng trên thế giới vì nền kinh tế của chúng ta là một bộ phận của nền kinh tế thế giới. Chính
phủ của chúng ta đã làm rất tốt trong việc ứng phó với ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng
kinh tế do đại dịch Covid gây ra. Nghiên cứu khủng hoảng vì vậy ln là một chủ đề cấp
thiết và nóng hổi. Em cịn hạn chế về nhận thức và kiến thức nên bài tiểu luận sẽ cịn nhiều
sai sót. Mong cơ hiểu và góp ý để em rút kinh nghiệm. Bên cạnh những giải pháp ngắn hạn
mang tính ứng phó với COVID-19, chính phủ cần thực hiện các giải pháp mang tính dài hạn
để chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho phát triển bền vững sau đại dịch.
18
TIEU LUAN MOI download :
Tài liệu tham khảo
1.
Giáo trình Kinh tế Chính trị
2.
1994.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen tồn tập, tập 23, 24, 26. NXB Chính trị quốc gia năm
3.
/>
4.
Tổng cục Thống kê, BÁO CÁO TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI QUÝ
IV VÀ NĂM 2021
5.
/>
dai-dich-Covid-19-den-tang-truong-kinh-te-va-phat-trien-ben-vung-o-Viet-Nam-104.
6.
The World Bank, “Những thách thức và cơ hội đối với phát triển thương mại
xanh tại Việt Nam”,
/>
19
TIEU LUAN MOI download :