3 áp lực cạnh tranh đến doanh nghiệp bán lẻ sữa và các sản phẩm từ sữa:
1. Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế của sữa và các sản phẩm từ sữa là các sản phẩm có khả năng thoả mãn
nhu cầu của người tiêu dùng như sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa. Ngày nay, các sản
phẩm có khả năng thay thế này ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng khá tốt
mà giá cả lại tương đối rẻ hơn. Đó là thức uống thay thế sữa và những thức uống trung
gian như sữa đậu nành, các loại nước hoa quả, các thức uống được chế biến từ các loại
ngũ cốc...; hay các sản phẩm có thể cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết như sữa và các
sản phẩm từ sữa mà giá cả lại tương đối rẻ và dễ thay đổi khẩu vị như bánh mỳ, nước
cam, đậu hạt,...
Về mặt chất lượng: chất lượng của sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa phải cao vì chất
lượng các sản phẩm thay thế là tương đương, thậm chí là có những sản phẩm thay thế có
thêm một số tác dụng chữa bệnh, hoặc giúp người sử dụng hấp thụ các chất dinh dưỡng
nhiều hơn. Họ có thể bổ sung calcium từ nhiều loại thực phẩm bên cạnh sản phẩm sữa
như: cải xanh, các loại đậu hạt, rau diếp, cá ngừ, cá hồi, cá mòi, sữa đậu nành và nước
cam.
Về giá cả: giá của sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa cần phải giảm bớt. Một hộp sữa
có giá đến vài trăm nghìn thậm chí hàng triệu đồng. Mức giá đó là q sức đối với những
gia đình có thu nhập trung bình, thấp nhưng vẫn phải mua như các bà mẹ có con nhỏ hay
một loại sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa dùng riêng cho những người có bệnh như
tiểu đường... Sữa bột của rất nhiều hãng đã có xu hướng tăng chủ yếu là các sản phẩm
nhập ngoại. Một số nhãn hiệu khác đã tăng giá theo cách giảm trọng lượng, nhưng giữ
nguyên giá bán như sữa đặc có đường sản xuất trong nước của Vinamilk. Mức giá quá
cao, chất lượng chưa đảm bảo khiến người tiêu dùng e dè, lo sợ khiền thị phần của ngành
sữa thời gian qua giảm đi. Trong khi đó, giá cả các sản phẩm thay thế sữa lại tương đối
thấp. Một hộp sữa đậu nành không đường không cholesterol giá 13.000/ hộp.
Như vậy, áp lực từ sản phẩm thay thế của ngành sữa là mạnh. Áp lực lớn đặt ra yêu cầu
bức thiết đối với ngành sữa Việt Nam khi đứng trước nguy cơ bị thay thế, giá cả nguyên
vật liệu đầu vào tăng khiến giá thành sản phẩm sản xuất ra tăng là phải tìm ra con đường
cho sự phát triển của ngành.
2. Áp lực cạnh tranh từ nhà cung cấp
Hiện quy mô nhà cung cấp sữa ở trong nước hiện nay còn nhỏ lẻ và chỉ đáp ứng được số
ít nguyên liệu đầu vào cho ngành sữa. Hiện quy mơ đàn bị sữa và hiệu quả chăn ni bị
sữa ở nhiều nơi thấp.Hiện tại, Việt Nam có trình độ chăn ni bị sữa thấp, thiếu kiến
thức về chọn giống, chăm sóc ni dưỡng, khai thác sữa. Các nhà máy chế biến sữa
thường ở xa nơi cung cấp nguyên liệu chí phí vận chuyển và bảo quản tương đối cao
Như vậy quy mơ nhà cung cấp thì nhỏ lẻ ,nguồn sữa bị cung cấp thì khơng ổn định do
cịn phụ thuộc nhiều vào thời tiết ảnh hưởng rât nhiều đến việc gây sức ép đối với doanh
nghiệp chế biến sữa. Doanh nghiệp cung cấp nguyên liệu đầu vào không gây được sức ép
đối với doanh nghiệp chế biến sữa, mà phải chịu sức ép từ doanh nghiệp chế biến sữa.
Lượng tiêu thụ sữa Việt Nam liên tục tăng mạnh trong khi đó ta phải nhập khẩu đến 80%
nguồn nguyên liệu nhập ngoại và nguồn này hoàn toàn là sữa bột nguyên liệu. Do ta
nhập chủ yếu là nguyên liệu ngoại nên các doanh nghiệp chế biến sữa trong nước có
nhiều sự chọn lựa nhà cung cấp cho mình, nguồn thông tin về các doanh nghiệp cung cấp
nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới ln sẵn có và dễ tìm nên việc chuyển đổi
nhà cung cấp sẽ trở nên dễ dàng hơn,các doanh nghiệp sẽ tìm những nhà cung cấp
nguyên liệu với giá rẻ và đảm bảo chất lượng.
3. Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn của ngành sữa là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng
trong tương lai có thể tham gia vào ngành. Khi các doanh nghiệp này xuất hiện, sẽ dẫn tới
tình trạng giành giật thị phần và khách hàng của các doanh nghiệp khác đang hoạt động
trong ngành. Trong những năm gần đây, ngành sữa là ngành kinh doanh mang lại nhiều
lợi nhuận. Ngành sữa là ngành có sức hấp dẫn cao, thu hút nhiều doanh nghiệp.
Tuy sức hút ngành sữa lớn song rào cản gia nhập ngành không hề nhỏ:
Rào cản về thương mại: hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều thương hiệu nổi tiếng, đã tạo
được lòng tin nơi khách hàng như Dutch Lady, Elovi Việt Nam, Abbott, Vinamilk, sữa Ba
Vì, Hà Nội milk....các nhãn hiệu sữa trên đều có những thế mạnh riêng sản phẩm độc đáo
phân biệt với các sản phẩm khác. Việc xây dựng một thương hiệu là không hề dễ dàng do
cần nhiều thời gian và công sức, bởi vậy đây là môt rào cản lớn đối với các doanh ngiệp
muốn gia nhập ngành sữa. Thị trường tiêu thụ sữa tuy lớn song hiện nay có một số doanh
nghiệp sữa đang chiếm phần lớn thị phần thị trường sữa như với các nhà sản xuất sữa bột
trong nước thì Vinamilk, Dutch Lady. Người Việt Nam có thói quen tiêu dùng sản phẩm
của các thương hiệu có uy tín. Đây cũng là một rào cản lớn cho các doanh nghiệp muốn
gia nhập ngành sữa
Như vậy, ta có thể thấy tuy ngành sữa là ngành có sức hấp dẫn lớn do có lợi nhuận cao,
song các rào cản gia nhập ngành là không hề nhỏ bởi vậy áp lực cạnh tranh từ đối thủ
tiềm ẩn của ngành sữa là nhỏ. Bởi vì trong giai đoạn hiện nay rất khó để các doanh
nghiệp muốn gia nhập ngành có thể vượt qua tất cả các rào.