Buổi 1
Phần 1. Nhận định
1. Hội thẩm nhân dân tham gia gia tất cả các phiên tòa dân sự sơ thẩm.
- Nhận định: Sai.
- CSPL: Khoản 1 Điều 10 BLTTDS 2015.
- Giải thích: Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 BLTTDS 2015 thì trong
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì khơng cần có sự tham gia của Hội thẩm nhân
dân. Do đó, khơng phải trong mọi phiên tịa dân sự sơ thẩm thì đều phải có sự tham gia
của Hội thẩm nhân dân.
Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia duy nhất trong phiên toà XXST
2. Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ ngôn ngữ khác sang Tiếng Việt và
ngược lại.
- Nhận định: Sai/ Đúng.
- CSPL: Điều 81 BLTTDS 2015.
- Giải thích: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 BLTTDS 2015 thì người
biết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngơn ngữ, ký hiệu của
người khuyết tật nghe, nói cũng được coi là người phiên dịch.
3. Mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo.
- Nhận định: Sai.
- CSPL: Điều 25 BLTTDS 2015. Điều 499, điều 509
- Giải thích: Căn cứ theo quy định tại Điều 25 BLTTDS 2015 thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền khiếu nại; trong khi đó chỉ có cá nhân mới có quyền tố cáo. Do đó,
khơng phải mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo.
Khiếu nại: Cơ quan, tổ chức tham gia
Tố cáo: Cá nhân
4. Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.
- Nhận định: Sai.
- CSPL: Khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015.
- Giải thích: Căn cứ theo Khoản 3 Điều 53 BLTTHS 2015:
“ Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân:
3. Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết
định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình
chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ
trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban
Thẩm phán Tịa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.”
Trường hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản án
hoặc Thẩm phán đó là thành viên của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp cao thì Thẩm phán đó vẫn có thể tham gia xét xử lần thứ hai
đối với cùng một vụ án dân sự.
Do đó, Thẩm phán có thể tham gia xét xử hai lần trong cùng một vụ án.
5. Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp dân sự.
- Nhận định: Sai.
1
-
CSPL: Khoản 2, 3 Điều 21 BLTTHS 2015. Điều 27 TTLT 02/2016
Giải thích: Căn cứ vào Khoản 2, 3 Điều 21 BLTTHS 2015:
“ Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ
thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng
tranh chấp là tài sản cơng, lợi ích cơng cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có
đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
3. Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.”
Viện kiểm sát tham gia các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm với tái
thẩm. Nhưng đối với phiên tịa sơ thẩm thì Viện kiểm sát tham gia “đối với những vụ
án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản cơng,
lợi ích cơng cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này” chứ không phải tham gia tất cả các phiên tịa sơ
thẩm đối với những trường hợp khác.
Do đó, Viện kiểm sát không phải tham gia tất cả các phiên tịa, phiên họp dân sự mà
pháp luật khơng quy định.
Ngược với Hội thẩm nhân dân
Phần 2. Bài tập
1. Hãy xác định yêu cầu của chị V và yêu cầu của anh Jack trong vụ án trên?
Nhân thân
Con chung
Tài sản (nhà, đất, máy vi tính)
- Yêu cầu của chị V: xin được ly hôn với anh Jack, được nuôi con chung là cháu Th,
không yêu cầu anh Jack cấp dưỡng nuôi con.
- Yêu cầu của anh Jack: được nuôi con là cháu Th, không yêu cầu chị V cấp dưỡng
nuôi con.
2. Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp có nghĩa vụ tham gia phiên tịa sơ thẩm khơng?
- Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp khơng có nghĩa vụ tham gia phiên tồ sơ thẩm.
- Vì trong vụ án trên chị V và anh Jack muốn giải quyết ly hôn, quyền ni con cịn
về phần phân chia tài sản cả hai bên đều đã thống nhất thoả thuận nên căn cứ theo
Khoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 quy định thì Viện kiểm sát cùng cấp khơng phải
tham gia phiên tồ sơ thẩm.
Xem lại có thuộc TH Tồ án thu thập chứng cứ tại k1 đ27 TTLT
Đứa con 7 tuổi không là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Do đó khơng cần
VKS tham gia
Tranh chấp về vấn đề tài sản: nếu thoả thuận được thì khơng cần VKS tham gia
3. Có bắt buộc phải có người phiên dịch tham gia tố tụng trong trường hợp trên khơng?
Có 2 trường hợp có thể xảy ra:
- Trường hợp 1: nếu có người có thể nói được tiếng việt thì khơng bắt buộc phải có
người phiên dịch
2
- Trường hợp 2: nếu khơng có người nói được tiếng việt thì bắt buộc phải có người
phiên dịch
Cơ sở pháp lý: Điều 20 BLTTDS 2015 “Điều 20. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố
tụng dân sự.
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.
Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình;
trường hợp này phải có người phiên dịch.
Người tham gia tố tụng dân sự là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có
quyền dùng ngơn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải
có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.”
Phần 3. Phân tích án
Tóm tắt tình huống:
- Nguyên đơn: Anh T (sinh năm 1983)
- Bị đơn: Bà H (sinh năm 1958)
- Người kháng cáo: Anh T – là nguyên đơn
a. Nội dung vụ án:
Theo hồ sợ vụ án sơ thẩm:
- Anh T khởi kiện đề nghị Tịa án: Xác định diện tích 200m2 có vị trí như trong sơ
đồ tại Biên bản họp gia đình ngày 20/05/2008 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh
Phạm T. Buộc bà Hồng trả lại anh Phạm T phần diện tích đất này theo quy định pháp luật
- Bà Hồng không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của anh T vì: Anh Phạm T phải
có đầy đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh về quyền sử dụng đất của mình đối với thửa
đất đang tranh chấp. Đề nghị xác định rõ về hình thức và nội dung của Biên bản họp gia
đình ngày 20/5/2008. Thời điểm lập Biên bản họp gia đình cụ Phạm Oản đã 95 tuổi, nên
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vì vậy khơng thể lập Biên bản họp gia đình theo nội
dung trong biên bản, bà khơng tham gia và khơng ký vào Biên bản. Đề nghị Tịa án đình
chỉ giải quyết vụ án với lý do quan hệ tranh chấp phát sinh từ năm 2013 đến nay đã hết
thời hiệu khởi kiện.
- Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 26/07/2019 của Toà án nhân dân
huyện TT đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm T đối với bà
Phạm Thị H.
- Ngày 09/08/2019, nguyên đơn là anh Phạm T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và u cầu kháng cáo. Anh Tồn nhất
trí tồn bộ quan điểm đã trình bày của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên
đơn: Bản án sơ thẩm không thu thập đầy đủ chứng cứ. Xác định chưa đúng quan hệ pháp
luật; Cấp sơ tính sai về án phí sơ thẩm; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều
308 Bộ luật tố tụng dân sự.
b. Nhận định của Toà án:
3
Về nội dung:
- Khơng có cơ sở chấp nhận việc bị đơn cho rằng thửa đất số 304, 305 là của cụ
Phạm Oản mua của người khác mà có. Cụ Oản khơng phải là chủ sử dụng tồn bộ thửa
đất số 304, 305 do vậy cụ khơng có quyền định đoạt khối di sản thừa kế chưa chia này.
- Cấp sơ thẩm xác định cụ Oản khơng có quyền quyết định “…Tơi có người cháu
tên là Phạm T ..... Do vậy gia đình tơi đã thống nhất chia tách cho cháu được tồn quyền
sử dụng 200m2 (trong đó có 46m2 đất vườn) về phía giáp nhà bà Năm…” là đúng quy
định pháp luật.
- Chưa làm phát sinh hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất anh T được tặng cho.
- Buộc anh Phạm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
c. Quyết định:
Khơng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm T. Giữ nguyên bản án bản án dân
sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 26/7/2019.
Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:
- Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008 về việc chia tách quyền sử dụng đất được
lập bởi cụ Oản, cụ Cặn, bà Hồng, anh Tồn khơng thỏa mãn về mặt hình thức của hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất. UBND xã Đ chỉ xác nhận những chữ ký trong biên bản
của cụ Oản, cụ Cặn, bà Hồng, anh Tồn được ký tại UBND xã mà khơng kiểm tra và
chứng thực về năng lực hành vi dân sự của những người ký biên bản; Việc chứng thực
của UBND xã cũng không được vào sổ chứng thực. Vấn đề xác định quyết định của Cấp
sơ thẩm xác định cụ Oản khơng có quyền quyết định “…Tơi có người cháu tên là Phạm T
..... Do vậy gia đình tơi đã thống nhất chia tách cho cháu được toàn quyền sử dụng 200m2
(trong đó có 46m2 đất vườn) về phía giáp nhà bà Năm…” là đúng quy định pháp luật.
- Điều 129 Luật đất đai năm 2003 quy định: “1. Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất được quy định như sau: a) Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất
nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất tại nơng thơn thì nộp tại Ủy ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất;........”
- Điều 692; Điều 725 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: ....“Bên được tặng cho
quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:
- 1. Đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật về đất đai…”
- Mục 5 phần I của Thông tư 04 2006/TTLT - BTP - BTNMT ngày 13/6/2006 của
Bộ tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn: “5.1 Khi thực hiện cơng chứng,
chứng thực thì Cơng chứng viên, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn phải chịu trách nhiệm về: a) Thời điểm, địa điểm công chứng, chứng
thực; b) Năng lực hành vi dân sự của các bên giao kết hợp đồng hoặc xác lập văn bản về
bất động sản tại thời điểm công chứng, chứng thực….”
Trả lời câu hỏi:
1.
Anh (chị) hiểu như thế nào là “thay đổi yêu cầu”, “thay đổi vượt quá yêu
4
cầu”, “thay đổi trong phạm vi yêu cầu”. Cho ví dụ minh họa.
- “Thay đổi yêu cầu” là việc đương sự đưa ra một yêu cầu khác với yêu cầu ban đầu
của họ để Tòa án xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Việc thay đổi này không làm phát
sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mà chỉ là thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp
này sang quan hệ pháp luật tranh chấp khác.
Ví dụ: theo đơn khởi kiện ban đầu nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại tài sản đã mượn
trước đó nhưng vì tài sản này khơng cịn hoặc khơng cịn giá trị sử dụng được nữa nên
nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bị đơn trả lại giá trị của tài sản mà
nguyên đơn cho bị đơn mượn.
- “Thay đổi vượt quá yêu cầu” là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp khác
ngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xét giải quyết trong cùng
một vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng quan hệ pháp luật
tranh chấp mà Tịa án đang xem xét giải quyết.
Ví dụ: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 200m2. Sau đó, nguyên
đơn bổ sung yêu cầu là yêu cầu bị đơn trả thêm 50m2 đất nữa, tổng cộng là 250m2 đất.
Khi nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu 50m2 đất tức là làm tăng thêm giá trị yêu cầu so
với yêu cầu khởi kiện ban đầu. Trường hợp này nguyên đơn phải nộp thêm tiền tạm ứng
án phí theo thơng báo của Tịa án. Tịa án cũng phải thông báo thụ lý yêu cầu khởi kiện
bổ sung cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự khác trong vụ án biết như khi thụ lý vụ
án ban đầu. Như vậy, trong ví dụ này thì việc ngun đơn bổ sung yêu cầu thêm 50m2 đất
là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
- “Thay đổi trong phạm vi yêu cầu” là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp
luật tranh chấp khác ngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xét
giải quyết trong cùng một vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng
quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tịa án đang xem xét giải quyết.
Ví dụ: Ngun đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất bị lấn chiếm. Sau đó,
nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu là yêu cầu bị đơn bồi thường tiền thuốc điều trị vết
thương do bị đơn gây ra do trước do mâu thuẫn đất đai. Việc nguyên đơn bổ sung thêm
yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị vết thương là phát sinh thêm quan hệ pháp luật
tranh chấp khác (tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại) là vượt quá
phạm vi khởi kiện ban đầu.
2. Trường hợp nào thì chấp nhận hay khơng chấp nhận việc thay đổi, bổ sung
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?
Theo khoản 1 Điều 244 của BLTTDS năm 2015 quy định như sau: “Hội đồng xét xử
chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu
cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu
độc lập ban đầu”.
5
Theo công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đề
nghiệp vụ của Tòa án các địa phương, trong đó tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thực
hiện nội dung như sau:
- “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc
thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải.
- Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng
cứ và hịa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu
việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”.
Như vậy, nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu trước thời điểm mở phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải thì sẽ được Tòa án chấp nhận.
Còn nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hịa giải hoặc tại phiên tịa thì Tịa án chỉ chấp
nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu ghi trong đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập1.
3. Khi đương sự thay đổi, bổ sung u cầu của mình, đương sự có phải nộp tiền
tạm ứng án phí đối với yêu cầu mới đó hay khơng? Nêu cơ sở?
- Khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình thì phải nộp tiền tạm ứng án phí
với u cầu mới đó.
- Cơ sở pháp lý: Điều 146 BLTTDS 2015, Điều 5 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí của Tòa án.
“Điều 146. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
1. Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí
sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc khơng phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2. Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí
giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm
ứng lệ phí.
Đối với u cầu cơng nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly
hơn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp
tham khảo ngày 28/02/2021.
1
6
được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật.
Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi
người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.”
“Điều 5. Tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tịa án
1. Tạm ứng án phí gồm có tạm ứng án phí sơ thẩm và tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự gồm có tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tạm ứng lệ
phí phúc thẩm đối với trường hợp được kháng cáo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.”
4. Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được thực hiện trong giai
đoạn phúc thẩm vụ án dân sự hay không?
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện được quy định rõ trong giai đoạn tiền tố
tụng và giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Ví dụ, theo điểm a khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 thì khi kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán cơng bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, hỏi đương sự về: “Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi,
rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất,
những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;”.
Hoặc trong giai đoạn xét xử sơ thẩm thì Điều 243 BLTTDS 2015 quy định về thủ tục
hỏi đương sự về việc bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu hoặc Điều 244 Bộ luật này quy
định về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu nhưng không được vượt quá
phạm vi yêu cầu khởi kiện trong thủ tục bắt đầu phiên tịa…
Nhưng BLTTDS 2015 lại khơng quy định về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình
trong giai đoạn phúc thẩm mà chỉ quy định về việc rút yêu cầu trước và trong phiên
tòa phúc thẩm tại Điều 299. Như vây, có thể thấy quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu
khởi kiện không được đề cập đến trong giai đoạn phúc thẩm. Nhưng chúng ta có thể
hiểu, theo tinh thần quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015 và Điều 70 Bộ luật này.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của BLTTDS năm 2015 thì “Đương sự có quyền
quyết định việc khởi kiện, u cầu Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự.
Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của
đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Theo quy
định này thì trong vụ án dân sự nói chung, đương sự (bao gồm nguyên đơn, bị đơn có
yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập) có quyền
quyết định phạm vi yêu cầu để Tòa án xem xét, giải quyết. Đồng thời Tòa án chỉ xem
xét giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của đương sự.
7
Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của BLTTS năm 2015 thì đương sự có quyền thay
đổi, bổ sung u cầu của mình trong q trình Tịa án giải quyết vụ án. Việc thay đổi,
bổ sung yêu cầu của đương sự được thực hiện trước khi Tòa án mở phiên tịa và tại
phiên tịa. Tuy nhiên khơng phải trường hợp nào việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
đương sự cũng được Tòa án chấp nhận mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Vì vậy, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được thực hiện trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm nhưng không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban
đầu.
5. So sánh với quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền thay
đổi, bổ sung yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Giống nhau:
- Đều là yêu cầu khởi kiện và có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập.
- Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu khởi kiện.
Khác nhau:
Tiêu chí
Cơ
sở
pháp lý
Chủ thể
Phạm vi
yêu cầu
Thời điểm
đưa yêu
Quyền thay đổi, bổ sung yêu
Quyền thay đổi, bổ sung yêu
cầu độc lập của người có quyền
cầu phản tố của bị đơn
lợi, nghĩa vụ liên quan
Khoản 4 Điều 72 và Điều 200 Khoản 4 điều 56; Điều 73; Điều
Bộ Luật Tố tụng Dân sự 201 Bộ Luật Tố tụng Dân sự
(BLTTDS) 2015
(BLTTDS) 2015
Người có quyền và nghĩa vụ liên
Bị đơn
quan
Theo điểm b khoản 1 Điều 73,
khoản 1 Điều 201 BLTTDS,
người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có thể có yêu cầu độc
Liên quan đến yêu cầu của lập hoặc tham gia tố tụng với
nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ bên nguyên đơn hoặc với bên bị
với nghĩa vụ của nguyên đơn
đơn. Với quy định trên thì yêu
cầu độc lập của người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan có thể
đối với nguyên đơn hoặc đối với
bị đơn.
Theo Khoản 3 Điều 200, Bị đơn Theo khoản 2 Điều 201, Người
có quyền đưa ra yêu cầu phản tố có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
8
cầu
Điều kiện
có quyền đưa ra yêu cầu độc lập
trước thời điểm mở phiên họp
trước thời điểm mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
cơng khai chứng cứ và hịa giải.
cơng khai chứng cứ và hòa giải.
- Yêu cầu phản tố để bù trừ
nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên
đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
- Việc giải quyết vụ án có liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
- Yêu cầu phản tố được chấp
họ;
nhận dẫn đến loại trừ việc chấp
nhận một phần hoặc toàn bộ yêu
- Yêu cầu độc lập của họ có liên
cầu của nguyên đơn, người có
quan đến vụ án đang được giải
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyết
yêu cầu độc lập;
- Giữa yêu cầu phản tố và yêu
cầu của nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập có sự liên quan
với nhau và nếu được giải quyết
trong cùng một vụ án thì làm cho
việc giải quyết vụ án được chính
xác và nhanh hơn.
- Yêu cầu độc lập của họ được
giải quyết trong cùng một vụ án
làm cho việc giải quyết vụ án
được chính xác và nhanh hơn.
Buổi 2
Phần 1. Nhận định
1. Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015.
- Giải thích:
1.Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn chỉ cần là người
mà nguyên đơn “cho rằng” quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị bị đơn đó xâm
phạm. Tức là, khơng chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới trở thành bị đơn, mà
trên thực tế, mặc dù, bị đơn không gây thiệt hại cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị
đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị nguyên đơn khởi kiện.
2.NQ 03/2006 quy định xác định bị đơn dân sự trong 1 số TH ngoại lệ trong bồi thường
thiệt hại ngồi hợp đồng. (khơng gây thiệt hại nhưng vẫn trở thành bị đơn, từ đủ 18 tuổi
trở lên, dưới 15 tuổi không là bị đơn, 15 đến 18 thì cha mẹ là người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan)
9
3.
2. Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm
- Nhận định: Đúng.
- CSPL: Điều 68 và điểm b, c Khoản 2 Điều 217 BLTTDS 2015.
- Giải thích:
4.Căn cứ theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015 thì: Tư cách tố tụng của đương sự
được hình thành khi Tịa án thụ lý vụ án dân sự. Trong đó: nguyên đơn trong vụ án dân
sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là người
bị nguyên đơn khởi kiện; người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy không
khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ nên họ.
5.Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì tư cách tố tụng của những người nêu trên có thể
bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm. Chẳng hạn: trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu
cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt khơng có lý do
chính đáng, khơng đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà bị đơn không rút hoặc chỉ
rút một phần yêu cầu phản tố thì Tịa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị
đơn (điểm b Khoản 2 Điều 217). Ta thấy trong trường hợp trên thì tư cách tố tụng của
nguyên đơn và bị đơn đã bị thay đổi cho nhau.
Điều 72, đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn
Điều 73, đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Điều 245
3. Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.
- Nhận định: Đúng.
- CSPL: Khoản 1 Điều 87 BLTTDS 2015.
- Giải thích:
6.Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 87 thì một người khơng được đại diện cho
nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối
lập nhau. Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà
quyền và lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này khơng đối lập với nhau
thì một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự.
7.
4. Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.
- Nhận định: Đúng
- CSPL: Điều 46, Điều 47 BLTTDS 2015.
- Giải thích: 2 điều kiện
8.Theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015 thì Chánh án Tịa án có quyền quyết định
thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án trước khi mở
phiên tòa. Và theo điểm a Khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án là người tiến hành tố tụng.
10
9.Có thể thấy, Chánh án có thể quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi
mở phiên tòa trong trường hợp người bị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm
tra viên, Thư ký tịa án.
10.Vì vậy, việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.
11.
5. Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS.
- Nhận định: Đúng
- CSPL: Điều 48 BLTTDS 2015.
- Giải thích:
12.Phó chánh án vẫn có thể tham gia giải quyết vụ việc dân sự với tư cách là một thẩm
phán thơng thường bởi vì Phó Chánh án đương nhiên phải là Thẩm phán. Phó Chánh án
chỉ là một chức danh có nhiệm vụ phụ giúp Chánh án giải quyết các cơng việc.
13.Vì vậy, Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS.
14.
6. Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi trở
lên
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 2, 3, 4 Điều 69
- Giải thích:
15."Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng
dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc pháp luật có quy định khác". Như vậy, ngồi việc trừ người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nếu trong trường hợp pháp luật có
quy định khác, thì người chưa đủ mười tám tuổi vẫn có thể có đầy đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự hoặc ngược lại người từ đủ mười tám tuổi trở lên vẫn có thể khơng có
đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đo đó, để xác định đúng năng lực hành vi tố
tụng dân sự của một người cụ thể, ngoài quy định của BLTTDS Tồ án phải xem xét có
văn bản quy phạm pháp luật nào quy định khác về năng lực hành vi tố tụng dân sự hay
khơng.
16.Ví dụ 2: Về trường hợp người từ đủ mười tám tuổi trở lên nhưng khơng có đầy đủ
năng Iực hành vi tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 41 của Luật hơn nhân và gia
đình (Điều 82 Luật HNGĐ 2014, Điều 85 Luật HNGĐ 2014), thì cha, mẹ có thể bị Tồ
án ra quyết định khơng cho trơng nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của
con hoặc đại diện theo pháp luật của con; do đó, trong thời hạn bị Tồ án cấm làm người
đại diện theo pháp luật của con, thì cha mẹ khơng được tham gia tố tụng dân sự với tư
cách là người đại diện theo pháp luật cho con trong vụ việc dân sự.”
17.Vì vậy, cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên khơng phải lúc nào cũng có năng lực hành vi tố
tụng dân sự đầy đủ.
18.Khoản 6 Điều 69, đương sự chưa đủ 15 tuổi vẫn có năng lực tố tụng dân sự đầy đủ
19.NQ 03/2012, quy định khác.
20.
7. Người làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đương sự.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015.
11
- Giải thích: Cơ quan, tổ chức khác khởi kiện thay
21.Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là quan hệ giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi
hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định
giá tài sản, và những người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự và được pháp luật tố
tụng dân sự điều chỉnh.
22.Ngồi đương sự thì cịn có các chủ thể khác có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật tố
tụng dân sự. Ví dụ như Tồ án, Tòa án là chủ thể đặc biệt, duy nhất được thực hiện
quyền lực nhà nước nhằm giải quyết vụ việc dân sự, có quyền ra quyết định buộc các cá
nhân, cơ quan tổ chức có liên quan phải thi hành. Để thực hiện chức năng, tòa án tham
gia vào hầu hết các quan hệ nảy sinh trong tố tụng nên trở thành chủ thể chủ yếu của
quan hệ tố tụng dân sự.
23.
8. Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết.
- Nhận định: Đúng/ Sai
- CSPL: Điều 69 BLTTDS 2015
- Giải thích:
24.Trong trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham
gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình
thì họ được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động
hoặc quan hệ dân sự đó.
25.
9. Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự
thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 6 Điều 76 BLTTDS 2015
- Giải thích:
26.Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự
thì chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và
20 Điều 70 BLTTDS 2015 thay cho đương sự.
27.
10. Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân
thích của người đại diện đương sự.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 3 Điều 52 BLTTDS 2015
- Giải thích: khơng phải đương nhiên bị thay đổi
28.Vì thẩm phán là người thân thích của người đại diện đương sự có thể là căn cứ cho
rằng không vô tư khách quan khi thực hiện nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng nên
theo Khoản 3 Điều 52 BLTTDS 2015 thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự để đảm bảo vô tư khách
quan của những người tiến hành tố tụng.
1. Nguyên đơn là cá nhân phải là những người đủ 18 tuổi trở lên và không mất năng
lực hành vi dân sự.
12
- Nhận định sai.
- CSPL: Điều 69 BLTTDS 2015
- Giải thích:
29.Trong trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham
gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình
thì họ được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động
hoặc quan hệ dân sự đó.
2. Người có quyền lời nghĩa vụ liên quan khơng có quyền đưa ra yêu cầu khi tham
gia tố tụng.
- Nhận định sai
- CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 73 BLTTDS 2015
- Giải thích: “Có thể có u cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn
hoặc với bên bị đơn”. Do đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền
đưa ra yêu cầu độc lập khi tham gia tố tụng.
3. Tất cả các đương sự đều có quyền uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng.
30.
4. Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp
KSV là người thân thích với 1 trong những người tiến hành tổ tụng khác trong vụ
việc đó.
5. Khi giải quyết vụ án dân sự, Toà án chỉ giải quyết trong phạm vị đơn khởi kiện.
6. Người chưa thành niên không thể trở thành người làm chứng trong TTDS.
7. Khi có đương sự là người dân tộc, người nước ngoài tham gia tố tụng bắt buộc
phải có người phiên dịch cho họ.
8. Thư ký tồ án có quyền chủ trì phiên họp tiếp cận cơng khai chứng cứ và hồ giải.
9. Người ký tên trong đơn khởi kiện là nguyên đơn trong VADS.
10. Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn thì khơng là bị đơn trong VADS
11. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên toà sơ thẩm.
Phần 2. Bài tập
Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?
- Hành vi tố tụng trên của Tòa phúc thẩm là hợp lý.
- Bởi vì đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy
định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015.
Đầu tiên, khi Tòa thụ lý vụ án trên thì Chánh án đã phân cơng cho một thẩm phán
B giải quyết. Sau đó, thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Khi có kháng cáo của đương sự, thẩm phán B đã được phân công xét xử phúc
thẩm vụ án này.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 về thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân : “3. Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án,
quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải
quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định cơng nhận sự
thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì
vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.”
13
Như vậy trong tình huống trên, B là thẩm phán đã tham gia giải quyết vụ việc này
theo thủ tục sơ thẩm và B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết đối với vụ việc
này, mặt khác B cũng không là thành viên của Hội đồng thẩm phán TANCTC, Ủy
ban thẩm phán TANDCC nên thuộc trường hợp thay đổi thẩm phán và B sẽ không
được tiếp tục tham gia giải quyết vụ việc trên.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS 2015 về Quyết định việc thay đổi
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tịa án thì HĐXX sẽ ra
quyết định hỗn phiên tòa khi thay đổi Thẩm phán.
“2. Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên,
Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu
cầu thay đổi. Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa
số. Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư
ký Tịa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hỗn phiên tịa. Chánh án Tịa án
quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thay
thế người bị thay đổi. Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tịa án thì thẩm quyền
quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo khoản 3 điều 53, ông B tham gia phiên tồ tiếp theo vẫn khơng bị thay đổi
(B bị điều chuyển nên C thay tại phiên toà sơ thẩm).
Có thể xét theo khoản 3 điều 52, khơng vơ tư khách quan.
Phần 3. Phân tích án
Tóm tắt tình huống:
- Ngun đơn: Ơng Diệp Thanh S
31.
Bà Diệp Minh N
- Bị đơn: Bà Ngũ Trung T
- Nội dung tranh chấp: Nguồn gốc diện tích đất và nhà tranh chấp tọa lạc tại K1,
10/2, đường B H N, ấp Đ N, xã H A, TP.B H, tỉnh Đồng Nai. Ông L bà D có nhờ
người cháu là Ngũ Trung T đứng tên giùm bà D phần tài sản mà bà D đang đứng
tên. Khi bà D qua đời, ông S bà N ( con của bà D) thấy bà T lấy 1/2 ngôi nhà cùng
với 1/2 thửa đất của mảnh sân trước nhà mà không cần sự đồng ý của ông S, bà
N. Nên ông S bà N khởi kiện u cầu bà T phải có trách nhiệm hồn lại cho ông S
bà N giá trị quyền sử dụng diện tích đất 587,8m2 và giá trị căn nhà tọa lạc trên
diện tích đất theo giá hiện nay.
32.Tuy nhiên, bà T đã kháng cáo, nhà đất đang tranh chấp được Công ty Xây dựng tỉnh
Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên bà Ngũ Trung T, với diện tích
120m2, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 587,8m2 . Vợ chồng ông L đã làm
thủ tục để bà T giữ giùm nhà đất nhưng thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất (năm 1983) để đủ điều kiện xuất cảnh. Bà T cho rằng nhà đã mua của ơng L,
bà D cịn đất là của ông Ngũ M (cha bà T), sau đó bà Nguyễn Thị T (mẹ bà T) cho (ngày
03/01/1999), có xác nhận của chính quyền địa phương. Bà T được cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất với nguồn gốc đất mà ông M để lại nên chưa có
căn cứ pháp lý để buộc bị đơn thanh toán giá trị nhà và giá trị quyền sử dụng đất cho
ơng S bà N.
- Quyết định của Tồ án:
14
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Ngũ Trung T, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ơng Võ Văn T;
Hủy tồn bộ Bản án sơ thẩm dân sự số 02/2016/DS-ST ngày 22/01/2016 của Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Đòi lại tài sản” giữa Nguyên đơn ông Diệp
Thanh S, bà Diệp Minh N kiện Bị đơn bà Ngũ Trung T và những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan;
33.
Xác định vấn đề pháp lý có liên quan
34.Bà T được nhờ giữ giùm bà D phần tài sản mà bà đang đứng tên. Nhưng sau đó bà đã
mua lại nhà của ơng L, bà D, còn phần đất bà đã được mẹ để lại di chúc. Vậy bà T có
được xác lập quyền sở hữu nhà đất 587,8m2 hay không?
35.
Trả lời câu hỏi:
1. Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?
36.a. Yêu cầu phản tố là gì:
- Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 72 và Điều 200 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
- Chủ thể: Bị đơn.
- Bản chất: Yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của bị đơn đối với
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án
đang được giải quyết và nhằm cho vụ án giải quyết chính xác, nhanh chóng hơn
nên bị đơn có quyền u cầu giải quyết trong cùng vụ án. Trong trường hợp,
nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút yêu
cầu độc lập thì vụ án vẫn được tiếp tục. Khi đó, Tịa án sẽ ban hành quyết định đình
chỉ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập và ra thông báo thay đổi địa vị tố tụng cho
đúng với tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án.
- Phạm vi yêu cầu: Liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với
nghĩa vụ của nguyên đơn
37.b. Yêu cầu độc lập:
- Cơ sở pháp lý: Khoản 4 điều 56; Điều 73; Điều 201 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu độc lập là yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan đối với vụ án
có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình.
- Chủ thể: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Bản chất: Nếu giải quyết yêu cầu độc lập sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi của
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu này phải được giải quyết
trong cùng vụ án. Đồng thời, khi yêu cầu độc lập được giải quyết trong cùng vụ án
thì vụ án được giải quyết nhanh hơn, tránh việc phải xác định vụ án giải quyết
trước sau, kéo dài thời gian giả quyết các vụ án làm mâu thuẫn trong nhân dân trầm
trọng hơn.
- Phạm vi yêu cầu: Theo điểm b khoản 1 Điều 73, khoản 1 Điều 201 BLTTDS, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng
với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn. Với quy định trên thì yêu cầu độc lập của
15
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể đối với nguyên đơn hoặc đối với bị
đơn.
38.
2. Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay không?
Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?
- Cơ sở pháp lý: Điều 72, 200 BLTTDS 2015.
- Không phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố. Một yêu cầu
được coi là yêu cầu phản tố khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2
Điều 200 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu phản tố phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập;
Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong
cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
Yêu cầu đó độc lập, khơng cùng với u cầu mà ngun đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập u cầu Tồ án giải quyết.
39.
3. Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là
yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được
coi là yêu cầu độc lập?
- Cơ sở pháp lý: Điều 73, 201 BLTTDS 2015.
- Không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là
yêu cầu độc lập. Một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập khi đáp ứng đủ các điều
kiện quy định tại Khoản 1 Điều 201 BLTTDS 2015.
- Các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn
hoặc với bên bị đơn.
Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết.
Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải
quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
40.
4. Giả sử tại phiên tịa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tịa
án có bắt buộc phải chấp nhận hay khơng?
- Tại phiên tịa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung u cầu phản tố thì Tịa án không
bắt buộc phải chấp nhận.
- Cơ sở pháp lý: Mục 7 Phần II Cơng văn số 01/GĐ-TANDTC.
- Giải thích: “Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236, khoản 1
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
16
đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ
sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố
hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn,
đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan”. Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp trên chỉ được chấp
nhận nếu việc sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của họ không vượt quá phạm vi yêu
cầu phản tố được thể hiện trong đơn phản tố của bị đơn.
Buổi 3
Phần 1. Nhận định
1. Vụ án lao động có đương sự ở nước ngồi ln thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa cấp tỉnh.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của
BLTTDS 2015, vụ án mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngồi thì thẩm quyền
giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc về TAND cấp Tỉnh. Như vậy, nếu tại thời
điểm thụ lý lại vụ án mà có đương sự ở nước ngồi thì về ngun tắc vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh. Tuy nhiên, đối
với trường hợp trong bản án, quyết định PT, GĐT, TT đã giao cho TAND cấp
huyện thụ lý, giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì TAND cấp huyện phải
thụ lý, giải quyết.
2. Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công
ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục
tố tụng dân sự.
- Nhận định: Đúng
- CSPL: Khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định tại khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015 thì tranh chấp giữa
cơng ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữ các thành viên công ty với
nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia,
tách, bàn giao tài sản của cơng ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của cơng ty mới
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án theo thủ tục TTDS. Tranh chấp giữa
thành viên công ty với công ty đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo
thủ tục TTDS. Còn tranh chấp giữa các thành viên công ty mà không liên quan
dến những vấn đề quy định thì khơng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án
theo thủ tục TTDS.
“4. Tranh chấp giữa cơng ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công
ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng
quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của
công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp
nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
cơng ty.”
17
3. Tòa án chỉ giải quyết việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha
mẹ khi có tranh chấp.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015, khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định của pháp luật TTDS, bên cạnh thẩm quyền giải quyết
những tranh chấp về HN và GĐ cụ thể việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác
định con cho cha mẹ được quy định tại khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015 thì Tịa án
cũng có quyền giải quyết những u cầu (khơng có tranh chấp) về HN và GĐ.
Theo quy định tại khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015 thì yêu cầu xác định cha, mẹ
cho con hoặc con cho cha, mẹ đều thuộc thẩm quyền của Tịa án khi có tranh chấp
hoặc khơng có tranh chấp.
-
4. Trong mọi trường hợp, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu Tịa án nơi mình cư trú,
làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau
bằng văn bản.
Nhận định: Sai
CSPL: Điểm b, c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
Giải thích: Căn cứ vào khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015 quy định:
“Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định
như sau:
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án
nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ
sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh
chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định
tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tịa án nơi có bất động sản có
thẩm quyền giải quyết.”
Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận nhưng đối tượng tranh chấp là bất động
sản thì chỉ có Tịa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án
nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn chỉ trong trường hợp:
Phải là Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân
hoặc Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức.
Việc lựa chọn đó khơng trái với quy định về thẩm quyền được quy định tại Điều
35 và Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự tức là phải đúng qui định về cấp Tịa án có
thẩm quyền.
Nếu việc thỏa thuận chọn trước một Tòa án cụ thể giải quyết mà khơng đúng thẩm
quyền thì Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ án được xác định là Tòa án nơi bị
đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là
cơ quan, tổ chức được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, trừ
trường hợp ngun đơn có quyền lựa chọn Tịa án giải quyết theo quy định tại
Điều 40 BLTTDS 2015.
18
-
1.
2.
3.
5. Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú.
Nhận định: Sai
CSPL: Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng
thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều
192 BLTTDS năm 2015.
Giải thích: Căn cứ theo Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017
của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1,
khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn
khởi kiện lại vụ án quy định:
“Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”
quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác
định như sau:
a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơng dân Việt
Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về
Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị
kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang
sinh sống theo quy định của Luật cư trú;
b) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài
đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của
Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;
c) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài,
người Việt Nam đang cư trú ở nước ngồi thì nơi cư trú của họ được xác định căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ
do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;
d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức
có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ
quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật.”
Do đó, khơng phải mọi trường hợp Tịa án nơi bị đơn cư trú là Tịa án nơi bị đơn
có hộ khẩu thường trú.
Phần 2. Bài tập
Xác định tư cách đương sự.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì
Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong đó:
Nguyên đơn là Đ, do Đ là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự.
Bị đơn là Ph, do Ph là người bị nguyên đơn (Đ) khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không.
Cơ sở pháp lý: Khoản 2, 3, 4 Điều 68 BLTTDS 2015
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Tranh chấp trên là tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa Đ và Ph nên đây là quan hệ pháp luật dân sự.
Xác định Tịa án có thẩm quyền.
19
Tranh chấp trên là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 điều 26 BLTTDS
2015. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, Tòa án nhân dân cấp
huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp trên.
Phần 3. Phân tích án
Tóm tắt tình huống:
- Ngun đơn: Ơng Trần Minh Hoàng – Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng
Bảy Hương (gọi tắt là Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương).
- Bị đơn: Cơng ty Cổ phần Tập đồn Khang Thông (Tên cũ: Công ty Cổ phần Xây
dựng Thương mại Dịch vụ Khang Thông) (gọi tắt là Công ty Khang Thơng).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, sinh năm
1965.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1980; Ông Nguyễn Vũ
Lâm, sinh năm 1965.
- Nội dung tranh chấp:
Vào các ngày 17/9/2010, 25/11/2010 và 06/12/2010, ơng Trần Minh Hồng – Đại
diện Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Khang Thông xác lập hợp đồng
mua cây ăn trái và cây kiểng số 29/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 29), hợp
đồng mua cây ăn trái và cây kiểng số 41/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 41) và
hợp đồng mua cây cảnh quan số 46/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 46).
Công ty Khang Thông khơng thanh tốn số tiền như thỏa thuận cho Cơ sở Hoa
Kiểng Bảy Hương nên phát sinh tranh chấp.
+ Về phía Nguyên đơn:
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 29 là 2.510.000.000
đồng, Bị đơn đã thanh tốn 1.000.000.000 đồng, cịn nợ 1.510.000.000 đồng theo
biên bản thanh lý hợp đồng mua cây số 29/TLHĐMC.2011 ngày 30/3/2011.
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 41 là 4.298.000.000
đồng, Bị đơn đã thanh toán 500.000.000 đồng, còn nợ 3.751.000.000 đồng theo
biên bản thanh lý hợp đồng số 41/TLHĐMC.2011 ngày 02/6/2011.
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 46 là 4.770.000.000
đồng, Bị đơn chưa thanh tốn, cịn nợ 4.770.000.000 đồng theo biên bản nghiệm
thu ngày 09/4/2012 và 810.000.000 đồng theo biên bản nghiệm thu ngày
06/5/2013.
Qua các lần Nguyên đơn thay đổi yêu cầu, thì Nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu
khởi kiện: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” sang khởi kiện: “Tranh chấp
về đòi lại tài sản”, yêu cầu Bị đơn trả số tiền còn nợ theo hợp đồng 29, 41và 46 mà
Nguyên đơn đã hoàn thành theo yêu cầu của Bị đơn, tổng cộng là: 10.031.000.000
(Mười tỉ không trăm ba mươi mốt triệu) đồng.
+ Về phía bị đơn:
Bị đơn xác nhận có ký với bên Nguyên đơn các hợp đồng 29, 41, 46 và biên bản
thanh lý hợp đồng 29, 41. Phía Bị đơn khơng đồng ý trả do quan hệ pháp luật tranh
chấp trong vụ án là kinh doanh thương mại chứ khơng phải tranh chấp về địi lại
tài sản, các hợp đồng và văn bản hai bên xác lập vào thời điểm năm 2010 đến
2012 nhưng đến nay Nguyên đơn mới khởi kiện, như vậy là đã quá thời hạn 02
20
năm và đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 319 của Luật Thương
mại năm 2005.
Bị đơn đề nghị Tịa án đình chỉ giải quyết vụ án do đã hết thời hiệu khởi kiện theo
quy định tại khoản 2 Điều 517 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
+ Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hương thống nhất với các
yêu cầu của Nguyên đơn, không bổ sung ý kiến và các tài liệu, chứng cứ.
+ Về phía người làm chứng:
Người làm chứng ơng Lâm, ơng Luận đều xác nhận có việc giao nhận, nghiệm thu
cây theo hợp đồng 46. Tại các hợp đồng 29 và 41 các ông cùng ký xác nhận trong
các biên bản giao nhận, biên bản nghiệm thu. Hai biên bản thanh lý hợp đồng số
29 và 41 đều căn cứ vào biên bản giao nhận, biên bản nghiệm thu do ông Lâm,
ông Luận ký để thỏa thuận về nghĩa vụ còn lại của Bị đơn.
- Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh:
+ Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn: Buộc Cơng ty Khang Thơng trả cho ơng
Trần Minh Hồng – Đại diện Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương số tiền
9.230.000.000 (Chín tỉ hai trăm ba mươi triệu) đồng theo hợp đồng mua cây ăn
trái và cây kiểng số 29, 41 và 46.
+ Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Cơ sở Hoa
kiểng Bảy Hương về việc yêu cầu Công ty Khang trả số tiền 801.000.000 (Tám
trăm lẻ một triệu) đồng, tương ứng với giá trị của 89 cây đạt (còn sống) tăng
thêm từ hợp đồng số 46 theo biên bản nghiệm thu ngày 06/5/2013.
+ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Cơ sở
Hoa kiểng Bảy Hương về việc yêu cầu Công ty Khang Thông trả tiền lãi chậm
trả từ thời điểm nộp đơn khởi kiện đến ngày vụ án được đưa ra xét xử tạm tính
là 1.655.115.000 đồng.
Xác định vấn đề pháp lý có liên quan
- Quan hệ tranh chấp là tranh chấp kinh doanh thương mại hay tranh chấp đòi lại tài
sản đối với hợp đồng 29 và 41.
- Quan hệ tranh chấp là tranh chấp kinh doanh thương mại hay tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa đối với hợp đồng 46.
- Thời hiệu khởi kiện của tranh chấp.
- Xác định việc thực hiện hợp đồng khi có sự mâu thuẫn trong lời khai của người
làm chứng.
Trả lời câu hỏi:
5. Hoạt động mua bán giữa hai bên chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp
luật nào?
Hoạt động mua bán của hai bên chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự 2015 và
Luật Thương mại 2005.
6. Việc các bên ký kết biên bản thanh lý hợp đồng có làm cho quan hệ hợp đồng
chấm dứt hay không?
Căn cứ theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 422 BLDS 2015 và trên tinh thần của Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế 1989 thì các hợp đồng đã được thực hiện xong. Do đó, các
bên ký kết với nhau biên bản thanh lý hợp đồng để xác nhận mức độ thực hiện nội
21
dung công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng của các bên, từ đó xác định nghĩa vụ
của các bên sau khi thanh lý hợp đồng. Vì vậy, Kể từ thời điểm các bên đã ký vào
biên bản thanh lý, quan hệ hợp đồng kinh tế đó coi như đã được chấm dứt. Riêng
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác nhận trong biên bản thanh lý vẫn có hiệu
lực pháp luật cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình.
7. Phân biệt tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự, tranh chấp quyền sở hữu
tài sản và tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại.
Tranh chấp yêu cầu thực
Tranh chấp về hợp
hiện nghĩa vụ dân sự,
đồng
kinh
doanh
Tiêu chí
tranh chấp quyền sở hữu
thương mại (Khoản 1
tài sản (Khoản 2 Điều
Điều 30 BLTTDS
26 BLTTDS 2015)
2015)
Bất kỳ ai khơng bắt
Cá nhân, tổ chức có
Chủ
thể
buộc phải có đăng ký
đăng ký kinh doanh.
thực hiện
kinh doanh.
Xác lập, thay đổi hoặc
Lợi nhuận.
chấm dứt quyền, nghĩa
Mục đích
vụ dân sự để đáp ứng,
thỏa mãn nhu cầu trong
sinh hoạt, tiêu dùng...
8. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên?
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 thì cả nguyên đơn và bị đơn đều có
đăng ký kinh doanh và mục đích xác lập các hợp đồng này đều vì mục đích lợi
nhuận do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên trong bản án trên là quan
hệ tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
9. Trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc về chủ thể nào? Người
khởi kiện hay Tòa án?
Theo quan điểm của nhóm em, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc
về Tòa án. Cho dù người khởi kiện đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp từ
trước rồi sau đó nộp đơn khởi kiện thì Tòa án vẫn phải xác định lại quan hệ pháp
luật tranh chấp xem người khởi kiện đã xác định đúng hay chưa để đảm bảo tính
chính xác trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Do
đó, trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc về Tòa án.
10. Trường hợp quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện xác định khác với
quan hệ pháp luật tranh chấp do Tòa án xác định thì Tịa án sẽ giải quyết như thế
nào?
Theo quan điểm của nhóm em, Tịa án sẽ kiểm tra, xem xét quan hệ pháp luật
tranh chấp của người khởi kiện và của Tịa án xem cái nào chính xác hơn. Sau đó
sẽ xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp.
22
11. Khi thời hiệu khởi kiện đã hết Tòa án có được quyền đình chỉ giải quyết vụ án
khơng? Tại sao?
Không phải vụ án nào hết thời hiệu khởi kiện thì Tịa án cũng đình chỉ giải quyết
vụ án. Tịa án chỉ được đình chỉ giải quyết vụ án khi có yêu cầu của đương sự về
việc áp dụng thời hiệu. Tuy nhiên, đương sự chỉ được quyền yêu cầu Tòa án áp
dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định. Khi Tòa án
nhận được yêu cầu áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án thì Tịa án áp dụng thời
hiệu theo quy định của pháp luật để xem xét yêu cầu khởi kiện cịn hay hết thời
hiệu, nếu cịn thì Tịa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung, nếu hết thời hiệu
thì Tịa án đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu đã hết thời hiệu. Trong trường hợp
trên nguyên đơn khơng có u cầu về việc áp dụng thời hiệu nên việc đình chỉ giải
quyết vụ án là khơng có căn cứ.
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015.
12. Việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có ảnh hưởng đến việc xác
định thời hiệu khởi kiện hay không?
Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Thay đổi yêu cầu khởi kiện:
“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” sang khởi kiện: “Tranh chấp về đòi lại
tài sản”. Theo Điểm b Khoản 3 Điều 23 Nghị quyết 03/2012 thì khơng áp dụng
thời hiệu khởi kiện nên việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện
không ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện.
Buổi 4
Phần 1. Nhận định
1. Trong mọi trường hợp, nếu tranh chấp không liên quan đến bất động sản đều
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
NĐ: Sai
CSPL: điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
Giải thích:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 quy định: “Các đương sự có quyền
tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu
nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hơn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và
32 của Bộ luật này;”
Như vậy, không phải mọi trường hợp, nếu tranh chấp không liên quan đến bất
động sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.
Các đương sự có thể thoả thuận với nhau yêu cầu Toà án nơi nguyên đơn cư trú,
làm việc giải quyết.
2. Các tranh chấp về quốc tịch đều thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của Tòa
án nhân dân.
NĐ: Sai
CSPL: khoản 1 Điều 26 BLTTDS 2015; khoản 3,4 Điều 2 BLTTDS 2015
Giải thích:
23
Căn cứ theo khoản 1 Điều 26 BLTTDS 2015:
“Điều 26. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân.”
Không phải các tranh chấp quốc tịch nào thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết về
dân sự của Tịa án nhân dân, nó phải đảm bảo các điều kiện như:
- Tranh chấp về quốc tịch là quốc tịch Việt Nam
- Tranh chấp giữa các chủ thể là cá nhân với cá nhân
Với lại, nếu các tranh chấp về quốc tịch này không đủ điều kiện để trở thành một
vụ án dân sự (2 yếu tố: phải bị khởi kiện, được Tịa thụ lý) thì mới có thể thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tịa án.
Căn cứ theo Điều 14 Luật quốc tịch 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 thì:
“Điều 14. Căn cứ xác định người có quốc tịch Việt Nam
Người được xác định có quốc tịch Việt Nam, nếu có một trong những căn cứ sau
đây:
1. Do sinh ra theo quy định tại các điều 15, 16 và 17 của Luật này;
2. Được nhập quốc tịch Việt Nam;
3. Được trở lại quốc tịch Việt Nam;
4. Theo quy định tại các điều 18, 35 và 37 của Luật này;
5. Theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”
Theo căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam thì có cách xác định theo Điều ước quốc
tế, nên nếu Điều ước quốc tế có quy định về cách giải quyết các tranh chấp về
quốc tịch thì phải tuân theo các Điều ước quốc tế đó. (khoản 3 Điều 2 BLTTDS
2015).
Hay nếu đây là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam nhưng một cá nhân trong 2 bên
tranh chấp thuộc khoản 4 Điều 2 BLTTDS 2015 thì cũng khơng thuộc thẩm quyền
của Tòa án.
“4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền ưu
đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự theo pháp luật Việt
Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
thì vụ việc dân sự có liên quan đến cơ quan, tổ chức, cá nhân đó được giải quyết
bằng con đường ngoại giao.”
3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tịa án cấp huyện ln do Chánh án Tịa án
nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
NĐ: Sai
CSPL: khoản 2, 3, 4 Điều 41 BLTTDS 2015.
Giải thích:
Vì tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện trong cùng một tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương thì mới do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
giải quyết. Nếu tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án cấp huyện thuộc các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau thì do Chánh án Tòa án nhân dân
cấp cao, tối cao giải quyết.
Vì vậy khơng phải tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tịa án cấp huyện ln do
Chánh án Tịa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
24
4. Trong mọi trường hợp, Tịa án có quyền giải quyết tranh cấp vụ kiện ly hôn đều
thuộc thẩm quyền nơi cư trú; làm việc của bị đơn.
NĐ: Sai
CSPL: điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 40 BLTTDS 2015.
Giải thích:
Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư
trú, làm việc của nguyên đơn giải quyết khi có tranh chấp xảy ra thì lúc này Tịa án
nơi cú trú, làm việc của ngun đơn có thẩm quyền giải quyết.
Vậy nên khơng phải trong mọi trường hợp Tồ án có quyền giải quyết tranh chấp
vụ kiện ly hôn đều thuộc thẩm quyền nơi cư trú; làm việc của bị đơn.
5. Việc nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tịa án tiến hành thụ lý vụ án
dân sự.
NĐ: Đúng
CSPL: Điều 42 BLTTDS 2015.
Giải thích:
Theo Điều 42 BLTTDS 2015 thì Tịa án có thể nhập vụ án trong trường hợp có
nhiều người có cùng yêu cầu khởi kiện đối với cũng một cá nhân hoặc cùng một
cơ quan, tổ chức. Và theo Điều luật này, Tịa án cũng có thể tách một vụ án có các
yêu cầu khác nhau thành hai hoặc nhiều vụ án nếu việc tách và giải quyết các vụ
án được tách đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Ở trong quy định này không đặt ra thời điểm được nhập hoặc tách vụ án mà chỉ
quy định khi Tịa án đã thụ lý vụ án thì việc nhập hoặc tách vụ án phải ra quyết
định và gửi ngay cho VKS cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan.
Vì vậy, việc nhập hoặc tách vụ án có thể diễn ra trước khi Tịa án tiến hành thụ lý
vụ án dân sự.
Phần 2. Bài tập
Bài tập 1:
Công ty TNHH Long Hải ra quyết định sa thải chị Trần Thị L (nhân viên kế toán)
với lý do chị tự ý nghỉ việc 5 ngày liên tiếp trong một tháng khơng lý do chính
đáng và sa thải anh Trần Thành T (nhân viên bảo vệ) với lý do anh T đã tự ý bỏ
trực một đêm dẫn đến Công ty bị trộm 10 tỷ đồng.
Ngày 12/04/2019, chị L làm đơn khởi kiện Cơng ty đến Tịa án quận 2 với yêu
cầu: Công ty phải thu hồi, hủy bỏ quyết định sa thải, nhận chị trở lại làm việc, xin
lỗi công khai đối với chị, trả đầy đủ lương và phụ cấp trong thời gian chị nghỉ việc
theo quyết định sa thải. Ngày 15/05/2019, anh T làm đơn khởi kiện đến Tòa án
quận 2 với yêu cầu giống như chị L. Chị L và anh T đều nêu trong đơn khởi kiện
là đã điện thoại xin phép Trưởng phòng nhân sự cho nghỉ phép, được Trưởng
phòng nhân sự đồng ý. Hỏi:
1. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Đối với chị L: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải
theo điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015.
Đối với anh T: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải
theo điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015.
25