Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Xây dựng quy trình cảnh báo sớm nguồn nước mặt mùa cạn vào vùng đồng bằng sông Cửu Long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 11 trang )

Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Doi: 10.15625/vap.2021.0119

XÂY DỰNG QUY TRÌNH CẢNH BÁO SỚM
NGUỒN NƢỚC MẶT MÙA CẠN VÀO VÙNG ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trần Đức Thiện, Lưu Thị Hồng Linh, Nguyễn Phương Anh
Viện Khoa học tài nguyên nước - Bộ Tài ngun và Mơi trường

Tóm tắt
Những năm gần đây, tình trạng hạn hán thiếu nước tại khu vực Đồng
bằng sơng Cửu Long ngày càng gia tăng, điển hình như các năm 2005,
2013, 2016, 2020, đã tác động đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của hàng
triệu người dân. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng quy trình cảnh báo sớm
nguồn nước mặt mùa cạn vào vùng Đồng bằng sơng Cửu Long có ý nghĩa
thực tiễn đối với việc đề ra giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn nước.
Từ khóa: Cảnh báo sớm.
1. Mở đầu
Vùng ĐBSCL chiếm 12 % diện tích tự nhiên, gần 20 % dân số, đóng
góp 17 % GDP cả nước, 47 % diện tích trồng lúa, 56 % sản lượng lương
thực, 90 % lượng gạo xuất khẩu, 60 % sản phẩm thủy sản xuất khẩu của
nước ta… Đây là vùng kinh tế trọng điểm, bảo đảm an ninh lương thực cả
nước nhưng nền sản xuất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị kiệt quệ
do tác động của tình trạng hạn hán thiếu nước xảy ra hàng năm vào mùa
khô. Những năm gần đây, tại khu vực ĐBSCL, tình trạng hạn hán thiếu
nước ngày càng xảy ra khốc liệt, như các năm 2005, 2013, 2016, 2020 đã
tác động đến sinh hoạt và sản xuất của hàng triệu người dân. Chính vì vậy
việc cảnh báo sớm nguồn nước mặt mùa cạn sẽ tạo sự chủ động trong việc
khai thác sử dụng nước, phòng tránh hạn hán thiếu nước, xâm nhập mặn đối


với ĐBSCL.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Dịng chính sơng Mê Kơng tính từ trạm thủy văn Kratie tại Campuchia
đến vị trí 2 trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc và Sơng Tonle Sap thuộc
Campuchia (Hình 1).
122

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học cơng nghệ trong quản lý tài ngun nước”

Hình 1. Phạm vi nghiên cứu
2.2. Dữ liệu
Trong nghiên cứu này, các dữ liệu thu thập có nguồn gốc từ bộ cơ sở dữ
liệu của dự án Decision Support Framework (DSF) và các bản tin dự báo
của Ủy hội sông Mê Kông, với số liệu thủy văn tại các trạm Kratie,
Kongpong Luong, Prek Dam, Tân Châu và Châu Đốc.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

123


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

2.3. Cơ sở khoa học cảnh báo sớm dòng chảy mùa cạn vào Việt Nam
trên lưu vực sơng Mê Kơng

Dịng chảy mùa cạn vào Việt Nam chủ yếu do lượng nước trên dịng
chính sơng Mê Kơng và từ hồ Tonle Sap cung cấp. Cảnh báo sớm lượng
dòng chảy này trong mùa cạn có thể thực hiện được vì:
- Lưu vực Mê Kơng có diện tích rất lớn, do đó có tính điều tiết cao.
Đường quá trình nước rút trong mùa cạn phụ thuộc chặt chẽ vào nền nước
trong mùa lũ. Tức là những năm lũ lớn thì dịng chảy cạn dồi dào. Dòng
chảy mùa lũ quyết định dòng chảy cạn.
- Lượng mưa mùa cạn khơng quyết định nhiều đến dịng chảy mùa cạn.
- Dịng chảy mùa lũ trên dịng chính quyết định lượng trữ hồ Tongle Sap,
- Hồ Tonle Sap vào mùa cạn chiếm 30 - 40 % dòng chảy vào Việt
Nam. Dịng chính đóng góp 60 - 70 %.
- Hệ thống trạm đo trên dịng chính đầy đủ số liệu.
Hiện nay, các hồ chứa trên dịng chính hạ lưu Mê Kơng là đập dâng
tồn tuyến điều tiết ngày đêm, ít ảnh hưởng đến đường nước rút. Trong mùa
cạn, thông tin điều tiết nước của các hồ phía Trung Quốc, có thể biết được
thông qua số liệu tại trạm Chieng Sean nằm ở biên giới Trung Quốc, Lào và
trên 20 ngày sau mới ảnh hưởng đến Việt Nam. Tỉ lệ đóng góp dòng chảy
trong mùa cạn phần lưu vực thuộc Trung Quốc so với tồn lưu vực khoảng
24 %, cịn lại chủ yếu là phần hạ lưu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tơi sử dụng phương pháp phân tích thống
kê các số liệu thủy văn của các trạm Kratie, Kongpong Luong, Prek Dam,
Tân Châu và Châu Đốc. Trên cơ sở phân tích số liệu thủy văn kết hợp với
đặc điểm địa lý tự nhiên, quy luật hình thành lũ, truyền lũ của lưu vực sông
Mê Kông trước khi chảy vào Việt Nam, nghiên cứu sẽ phân tích và đưa ra
các cơ sở cụ thể nhằm cảnh báo nguồn nước mùa cạn trên lưu vực sông Mê
Kông vào Việt Nam.
3. Phân tích kết quả và thảo luận
3.1. Một số đặc điểm lũ tại Krattie quyết định đến nhận dạng nguồn
nước mùa cạn

Lưu vực sông Mê Kông như một hồ chứa khổng lồ, trữ nước vào mùa
mưa, điều tiết cho mùa cạn. Lưu vực càng lớn tính điều tiết càng cao và
lượng trữ nước tiềm năng cho mùa cạn càng dồi dào. Do đó, lượng nước về
mùa lũ có vai trị quyết định đến lượng nước mùa cạn. Nghiên cứu sử dụng
số liệu mực nước tại Kratie đo từ 1960 đến 2020, quan hệ Q-H mà Ủy hội
124

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Mê Kông đang dùng trong dự báo để xác định được lưu lượng nước tại trạm
Kratie. Kết quả phân tích cho thấy, quan hệ lưu lượng trung bình (Qtb) mùa
cạn với Qtb mùa lũ và lưu lượng đỉnh lũ của các năm nước ít khá chặt chẽ.
Qtb mùa cạn = 0,384Qtb mùa lũ + 3351,4 (R2 = 0,7874)
Qtb mùa cạn = 0,254Qmax+ 326,59 (R2 = 0,8742)
Điều này cho phép khi kết thúc mùa lũ hoặc kết thúc đỉnh lũ lớn nhất
năm ta có thể cảnh báo được khả năng nguồn nước mùa cạn. Phân tích các
năm hạn điển hình cho thấy, nếu Qmax năm nhỏ hơn 35.000 m3/s, hoặc Qtb
mùa lũ nhỏ hơn 15.000 m3/s thì hạn hán chắc chắn xảy ra.
Cũng bởi diện tích lưu vực lớn, lũ tại Kratie có tính phân kỳ rõ rệt. Các
trận lũ lớn hơn mức cảnh báo (Alarm level) tại Kratie (Z=22 m [7]) tập
trung trong khoảng khoảng 20/7 đến 30/9, có thể gọi là thời kỳ lũ chính vụ.
Như vậy, hàng năm cứ qua 30/9 là khả năng xảy ra lũ lớn trên mức cảnh báo
đã hết. Lũ có Qmax > 35000 m3/s hầu hết xuất hiện trong thời gian từ 25/6
đến 15/10 và qua 15/10 thì coi như kết thúc lũ. Nếu xuất hiện ngồi khoảng
thời gian này thì sẽ chỉ là lũ nhỏ và năm đó sẽ là năm hạn.
Nhưng việc hình thành lũ lớn trên lưu vực sơng Mê Kơng cịn phụ thuộc

nhiều vào đường nước nền lũ hay còn gọi là đường trữ nước lũ tiềm năng
của lưu vực. Nối chân lũ của các năm lũ nhỏ và lũ lớn được đường trữ nước
lũ tiềm năng nền và lớn. Các đường này và đường Qtb mùa lũ chia thành các
khu vực như sau:
- Vùng lũ rất nhỏ: Khi đường quá trình lưu lượng trong mùa lũ phát
triển dưới đường nước lũ tiềm năng nền.
- Vùng lũ nhỏ: Khi đường quá trình lưu lượng trong mùa lũ phát triển
trên đường nước lũ tiềm năng nền và dưới đường lưu lượng lũ trung bình.
Điển hình là các năm 1988, 1998, 2010, 2015.
- Vùng lũ lớn: Khi đường quá trình lưu lượng trong mùa lũ phát triển
trên đường đường lưu lượng lũ trung bình và dưới đường tiềm năng lũ lớn.
Điển hình là các năm 1978, 2001, 2011.
- Vùng lũ lịch sử: Khi đường quá trình lưu lượng trong mùa lũ phát
triển trên đường tiềm năng lũ lớn. Điển hình là năm 2000.
Theo dõi sự phát triển của đường q trình dịng chảy trong mùa lũ đến
khoảng 20/7 là thời điểm bắt đầu vào thời kỳ lũ chính vụ. Nếu đường q
trình lưu lượng rơi vào vùng nào thì có thể cảnh báo sớm được khả năng lũ
của năm đó với mức tin cậy trên 70 % và từ đó cảnh báo được nguồn nước
mùa cạn.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

125


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học cơng nghệ trong quản lý tài ngun nước”

Hình 2. Đường trữ nước lũ tiềm năng lưu vực trạm Kratie
3.2. Quan hệ Qmax Krattie với lượng trữ lớn nhất hồ Tonle Sap
Về mùa cạn, hồ Tonle Sap giữ một vai trị quan trọng trong việc cấp

nước cho Đồng bằng sơng Cửu Long. Thông thường hàng năm vào giữa
tháng 10, nước từ hồ Tonle Sap bắt đầu đổ về ĐBSCL và kết thúc vào tháng
4 năm sau. Lượng trữ lớn nhất của hồ Tonle Sap phụ thuộc khá chặt chẽ với
lượng nước trên dịng chính sơng Mê Kơng. Thơng qua quan hệ mực nước
lớn nhất tại trạm Kongpong Luong (đại diện cho mực nước hồ) với Qmax và
Qtb mùa lũ có thể biết được lượng trữ lớn nhất của hồ Tonle Sap. Phương
trình thể hiện quan hệ mực nước lớn nhất tại trạm Kongpong Luong (đại
diện cho mực nước hồ) với Qmax và Qtb mùa lũ lần lượt như sau:
Quan hệ Zmax hồ Tonle Sap và Qmax Kratie: y = (-3E-0,9)x2 + 0,00004x – 2,644 (R2 = 0,628)
Quan hệ Zmax hồ Tonle Sap và Qmùa lũ Kratie: y = (-9E-0,9)x2 + 0,0006x – 0,4961 (R2 = 0,7169)

Trong cảnh báo lượng trữ hồ Tonle Sap thông thường dựa vào quan hệ
Zmax Tonle Sap = F (Qmax Kratie) vì khơng cần chờ kết thúc mùa lũ để có thơng tin
Qtb mùa lũ mà Qmax có thể xuất hiện trước đó cả tháng.
126

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

3.3. Quan hệ lưu lượng giữa các tháng trong mùa cạn của dòng chảy
vào Việt Nam
Cảnh báo được dòng chảy mùa cạn thơng qua thơng tin dịng chảy trong
mùa lũ với thời gian trước ít nhất 3 tháng. Để cảnh báo lưu lượng cho các tháng
tiếp theo, căn cứ vào quan hệ lưu lượng tháng sau với lưu lượng tháng trước đó.
Lượng nước vào Việt Nam về mùa cạn có thể xem như là lượng nước
trên dịng chính (lấy tại Kratie) cộng với lưu lượng tại Prek Dam (cửa ra của
hồ Tonle Sáp). Lưu lượng vào mùa cạn tại Prek Dam được xác định bằng

mơ hình tốn ISIS của Ủy hội sơng Mê Kông và quan hệ Q-H tại trạm.
Quan hệ lượng nước vào Việt Nam giữa các tháng vào đầu mùa cạn khá
chặt chẽ về cuối mùa cạn, khi lượng nước trong hồ Tonle Sap đã gần cạn,
thì quan hệ này khá phân tán.
- Phương trình quan hệ QXI với QX: y = 0,7798x – 2206,3 (R2 = 0,7523)
- Phương trình quan hệ QXII với QXI: y = 0,515x – 1960,2 (R2 = 0,8778)
- Phương trình quan hệ QI với QXII: y = 0,505x +1935,3 (R2 = 0,9409)
- Phương trình quan hệ QII với QI: y = 0,5088x + 1917 (R2 = 0,888)
- Phương trình quan hệ QIII với QII: y = 0,4753x + 2105,8 (R2 = 0,5457)
- Phương trình quan hệ QIV với QIII: y = 0,5659x + 1706,6 (R2 = 0,579)
Lúc này, dịng chính sơng Mê Kơng đóng vai trị chủ đạo, đóng góp đến
75-85 % tổng dịng chảy vào Việt Nam. Tại Kratie, quan hệ giữa lưu lượng
tháng III với II và IV với III lại rất chặt chẽ.
- Phương trình quan hệ QII với QIII: y = 0,9785x - 351,72 (R2 = 0,8288)
- Phương trình quan hệ QIII với QIV: y = 1,1905x - 442,44 (R2 = 0,8385)
Do đó những tháng đầu mùa cạn, dự báo dịng chảy vào Việt Nam theo
các tháng dựa vào quan hệ theo những phương trình trên; về cuối mùa cạn
dựa vào quan hệ có tham khảo thêm mực nước hiện trạng của hồ Tonle Sap
để đánh giá lượng trữ nước còn lại của hồ.
3.4. Đề xuất quy trình cảnh báo sớm dòng chảy vào Việt Nam trong
mùa cạn
3.4.1. Cảnh báo sớm 6 tháng
- Căn cứ vào thơng báo, dự báo khí hậu, tình hình ENSO để cảnh báo
khả năng năm nước ít hay nhiều.
- Theo dõi nền nước lũ tiềm năng cảnh báo khả năng lũ lớn hay bé.
- Khi xuất hiện đỉnh lũ năm hoặc kết thúc mùa lũ, đánh giá được Qtb
mùa cạn trên dịng chính thơng qua quan hệ trong Hình 2. Dự tính khả năng
trữ nước lớn nhất của hồ Tonle Sap nhờ quan hệ trong phương trình.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


127


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

- Cảnh báo khả năng nguồn nước trong mùa cạn chảy vào Việt Nam
dựa vào thơng tin Qtb mùa cạn trên dịng chính và khả năng trữ nước lớn
nhất của hồ Tonle Sap.
3.4.2. Cảnh báo và dự báo tháng
Từ tháng XI đến tháng II, qua tổng lưu lượng tại Kratie và Prek Dam
tháng trước, thơng qua quan hệ trên Hình 6 để dự báo dòng chảy vào Việt
Nam tháng tiếp theo.
Từ tháng III và IV, căn cứ vào lưu lượng trên dòng chính là chủ yếu
thơng qua hệ Hình 7 và lượng trữ nước hiện trạng của hồ Tonle Sap để dự
báo dòng chảy vào Việt Nam tháng tiếp theo.
3.4.3. Dự báo 15 ngày.
Dùng quan hệ Q15 ngày trước với Q15 ngày tiếp theo để cảnh báo.
Dùng mơ hình tốn để dự báo dòng chảy đến Tân Châu, Châu Đốc với
biên trên là Q tại Kratie và Q tại PrekDam, kết hợp kết quả dự báo 15 ngày
của Ủy hội sông Mê Kơng.
Có thể tóm lược quy trình cảnh báo sớm dịng chảy vào Việt Nam trong
mùa cạn như sơ đồ dưới đây (Hình 3).

Hình 3. Lược đồ quy trình cảnh báo, thông báo sớm và dự báo lượng nước
vào Việt Nam trong mùa cạn ở BSCL
128

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC



Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

3.5. Đề xuất mô-đun quản lý, giám sát
Để quản lý, theo dõi diễn biến nguồn nước, cũng như đưa được các
thông tin cảnh báo nguồn nước một cách kịp thời, trực quan và dễ dàng tiếp
cận. Nghiên cứu đã xây dựng một mô-đun quản lý, giám sát dựa trên nền
tảng WebGIS với kiến trúc như sau:
Tầng cơ sở dữ liệu: Lưu trữ các cơ sở dữ liệu nền, cơ sở dữ liệu chuyên
ngành và các cơ sở dữ liệu phí cấu trúc như thư mục, file, ảnh,...
Tầng dịch vụ: Cung cấp các dịch vụ về dữ liệu, dịch vụ file, dịch vụ bản đồ
và các dịch vụ nghiệp vụ khác nhằm cung cấp cho tầng ứng dụng sử dụng.
Tầng ứng dụng: Bao gồm các ứng dụng được thiết kế trên web. Cung
cấp các giao diện, chức năng cho từng đối tượng người dùng khác nhau và
sử dụng các dịch vụ do tầng dưới cung cấp.
Các đối tượng người dùng sẽ sử dụng các trình duyệt web được kết nối
mạng internet để cập nhật và xem thông tin CSDL. Thông tin từ tầng giao diện
đến tầng ứng dụng có thể được truyền trên kênh an tồn, thơng tin được mã hóa
để đảm bảo tính bảo mật, vẹn tồn và xác thực của thơng tin nếu cần thiết.
Ngồi ra hệ thống cịn cung cấp các chức năng, các cơ chế và các tiêu
chuẩn kỹ thuật để cho phép kết nối với các hệ thống khác (Hình 4).

Hình 4. Kiến trúc hệ thống
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

129


Tuyển tập Báo cáo khoa học

Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Để xây dựng mơđun quản lí, các tác giả đã xây dựng mơđun riêng sử
dụng ngơn ngữ lập trình Python, Javascript và kỹ thuật lập trình Web cho
phép thực hiện các thao tác cơ bản đặc trưng của một hệ GIS như: Phóng tothu nhỏ, kích hoạt các đối tượng khơng gian theo điểm hay theo vùng, thêmxố-sửa các đối tượng khơng gian, thực hiện các phép chồng lớp thông tin
giữa các đối tượng hay giữa các lớp thông tin. Và các lớp thơng tin hiển thị
bao gồm: Vị trí trạm cảnh báo, mực nước tại trạm; lượng mưa hiện tai;
lượng mưa dự báo 24h tới; lượng nước đến trong tháng, dự báo lượng nước
đến trong 1 tháng tới, cảnh báo lượng nước đến trong 3 tháng tới và cảnh
báo lượng nước đến trong 6 tháng tới (Hình 5).

Hình 5. Hệ thống thông tin tài nguyên nước
4. Kết luận
Trên cơ sở đặc điểm thủy văn của dịng chính sơng Mê Kơng và hồ
Tonle Sap, cho phép cảnh báo sớm khả năng nguồn nước vào Việt Nam về
mùa cạn. Những năm ít nước việc cảnh báo sớm quy mơ dịng chảy mùa cạn
có độ tin cậy cao hơn. Quy trình cảnh báo sớm dịng chảy mùa cạn dễ dàng
tin học hóa, khơng địi hỏi kỹ thuật phức tạp.
Để công tác thông báo nguồn nước về mùa cạn hàng năm như một
nhiệm vụ thường xuyên, cần phải thực hiện thêm một số nội dung sau:
- Thu thập cập nhật liên tục thông tin dự báo, thực đo từ MRC và TT
DB KTTV Quốc gia.
130

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”


- Phân tích số liệu quá khứ, đánh giá tác động hồ chứa.
- Thu thập thơng tin và phân tích hoạt động ENSO đến khô hạn, xâm
nhập mặn ĐBSCL.
- Cập nhật mô hình thủy lực hạ lưu và thượng lưu có xét điều tiết hồ chứa.
- Thu thập, cập nhật số liệu mặn các trạm vùng ven biển.
- Thu thập thông tin độ ẩm lưu vực từ ảnh viễn thám.
- Xây dựng thông báo TNN, đưa lên trang WEB.
Tài liệu tham khảo
1. Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương. Các bản tin dự báo trên
website: />2. Viện QHTL Miền Nam. Các bản tin dự báo trên website:
siwrp.org.vn/news/duong-qua-trinh-lu-dong-chinh-me-cong_581.html.
3. Mekong River Commission. />
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

131


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

BUILDING AN EARLY WARNING PROCESS
FOR SURFACE WATER IN THE DRY SEASON
IN THE MEKONG DELTA
Tran Duc Thien, Luu Thi Hong Linh, Nguyen Phuong Anh
Water Resources Institute - Ministry of Natural Resources and Environment

Abtracts
In recent years, the situation of drought and water shortage in the
Mekong River Delta has increased, typically in 2005, 2013, 2016, 2020.
That has affected daily life and production of millions of people. Therefore,

the study and development of an early warning process for surface water in
the dry season in the Mekong Delta will be of practical significance for
proposing solutions for rational exploitation and use of water resources.
Keywords: Early warning.

132

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC



×