Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Hiện trạng dự báo tài nguyên nước trên lưu vực sông Hồng và sông Mê Kông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (875.24 KB, 10 trang )

Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Doi: 10.15625/vap.2021.0117

HIỆN TRẠNG DỰ BÁO TÀI NGUYÊN NƢỚC TRÊN LƢU
VỰC SÔNG HỒNG VÀ SÔNG MÊ KÔNG
Lưu Thị Hồng Linh, Nguyễn Phương Anh, Phạm Thị Thu Huyền
Viện Khoa học tài nguyên nước - Bộ Tài ngun và Mơi trường

Tóm tắt
Hơn 60 % lượng nước mặt của Việt Nam đều có nguồn gốc từ nước
ngồi chảy vào. Tài ngun nước hai lưu vực Sơng Hồng và Mê Kông chịu
tác động mạnh mẽ bởi khai thác sử dụng nước ở các quốc gia phía thượng
lưu. Vào mùa cạn, đến trên 90 % lượng nước vào ĐBSCL có nguồn gốc từ
ngồi Việt Nam. Trên Sơng Hồng phía Trung Quốc có rất nhiều hồ chứa
khai thác mạnh mẽ từ sau 2010. Cảnh báo, dự báo và thực hiện thông báo
TNN và đánh giá các tác dộng do khai thác sử dụng nước phía thượng lưu
cho các lưu vực sơng liên quốc gia có ý nghĩa cực k quan trọng. Cần có
nghiên cứu, đúc kết các phương pháp dự báo TNN hiện thời, đề xuất các
phương pháp mới phù hợp với tình hình thực tế là cần thiết. Tiến tới thực
hiện thông báo TNN trong mùa cạn cho các sông lớn liên quốc gia phục vụ
công tác khai thác sử dụng nước một cách chủ động, nhằm phục vụ việc
tham mưu, đề xuất đối sách về nguồn nước và xử lý kịp thời các vấn đề liên
quan. Bài báo sẽ phân tích đánh giá tình hình thực hiện công tác dự báo
thông báo tài nguyên nước vào Việt Nam trên lưu vực Sông Hồng và sông
Mê Kông, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong
công tác dự báo và thông báo tài ngun nước trên hai lưu vực sơng.
Từ khóa: Dự báo tài nguyên nước.
1. Mở đầu
Dự báo tài nguyên nước là một bài tốn mang tính đa ngành, phức tạp,


thể hiện mối liên quan chặt chẽ giữa các yếu tố khí tượng, tài nguyên nước
mặt, nước dưới đất và hải văn; được thực hiện trên các lưu vực sông tại mỗi
quốc gia quản lý với yếu tố dự báo là tổng lượng nước đến lưu vực sông,
tổng lượng nước tại cửa ra của lưu vực hoặc tại điểm kiểm soát và được so
sánh với giá trị trung bình nhiều năm (TBNN) để đánh giá mức độ nhiều
hay ít của nguồn nước. Nguồn nước được dự báo từ thượng lưu tới hạ lưu
của lưu vực sơng có xét đến vấn đề sự dụng nước trên lưu vực. Dự báo tài
nguyên nước và dự báo thủy văn gần như khơng có sự tách biệt rõ ràng.

102

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Việc xác định và dự báo được diễn biến tài nguyên nước (nước mặt và
nước dưới đất) cả về số lượng và chất lượng nước theo tháng, mùa, năm để
thông báo và xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn nước cho các hộ khai thác
sử dụng là một bài tốn khó mang tính chất liên hồn và phức tạp thể hiện
mối liên quan chặt chẽ giữa các yếu tố khí tượng, khí hậu, hải văn, khai thác
sử dụng nước với nguồn nước mặt, nước dưới đất.
Trong những năm gần đây, thiên tai lũ lụt và hạn hán trên các hệ thống
sông suối của Việt Nam liên tiếp diễn ra. Trong một năm có thể vừa xảy ra
hạn hán vừa xảy ra lũ lụt nghiêm trọng trên nhiều lưu vực sông. Lũ lụt diễn
ra với ngun nhân hình thành chính là do mưa lớn tập trung trong thời gian
ngắn. Lũ lụt gây ngập úng khiến nhiều nơi thiệt hại nặng nề về kinh tế, xã
hội và con người. Hạn hán là một thiên tai tổng hợp. Hạn hán diễn ra từ từ
và làm thoái hoá đất, gây giảm năng suất cây trồng, vật ni, tạo nguy cơ

hoang mạc hố, sa mạc hố, gây khó khăn lớn cho sản xuất nơng nghiệp và
phát triển kinh tế và xã hội ở các vùng chịu ảnh hưởng, đặc biệt với sản xuất
nông nghiệp ở các vùng từ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và các tỉnh phía Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các phương pháp, công nghệ đang
được áp dụng để dự báo, cảnh báo, thông báo diễn biến tài nguyên nước
theo tháng, mùa, năm phục vụ điều hành hợp lý hệ thống hồ chứa, xây dựng
kế hoạch khai thác sử dụng nước của các ngành kinh tế và giúp các nhà
quản lý điều hành nguồn nước hợp lý trên các lưu vực sơng nói chung và dự
báo, cảnh báo, thông báo tài nguyên nước vào sông Mê Kông, Sông Hồng
trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng.
2. Hiện trạng dự báo, thơng báo tài ngun nƣớc vào Sông Hồng và
sông Mê Kông trên lãnh thổ Việt Nam
2.1. Công tác dự báo, thông báo tài nguyên nước vào Sông Hồng
Hiện nay trên lưu vực Sông Hồng chỉ có 2 cơ quan thực hiện cơng tác
dự báo, thông báo tài nguyên nước là: Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy
văn Quốc gia và Viện Quy hoạch Thủy lợi. Tuy nhiên, về đối tượng, thời
gian, phương pháp thực hiện của các cơ quan khác nhau, cụ thể như sau:
2.1.1. Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia
Đặc điểm dự báo: trên website của Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy
văn Quốc gia, từ năm 2010, các dự báo tháng được thực hiện thường xuyên,
dự báo đặc trưng lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình của dịng chảy và so sánh
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

103


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

với giá trị TBNN trên một số trạm chính thuộc các sơng Bắc Bộ, chủ yếu

chỉ dự báo một đặc trưng của nguồn nước như mực nước hoặc lưu lượng lớn
nhất hoặc nhỏ nhất và so sánh với TBNN.
Phương pháp dự báo, độ tin cậy: Dự báo tiềm năng nguồn nước mặt
thượng lưu Sông Hồng dựa trên 2 phương pháp:
- Phương pháp phân tích thống kê khách quan hoặc hồi quy tuyến tính
nhiều biến yếu tố dự báo đặc trưng dịng chảy theo tháng, mùa, năm với các
nhân tố dự báo sau:
+ Nhân tố dự báo đại diện tính chất biến đổi khí hậu mang tính địa
phương và khu vực gồm: nhiệt độ lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình, bốc hơi, số
ngày mưa, tổng lượng mưa, độ ẩm lớn nhất, nhỏ nhất, trung bình theo thời
kỳ tháng, mùa, năm của các năm trước thời kỳ cần dự báo;
+ Nhân tố dự báo đại diện tính chất biến đổi chế độ nguồn nước trên
lưu vực sông gồm: lưu lượng lớn nhất, nhỏ nhất, lưu lượng trung bình theo
tháng, mùa năm của các năm trước thời kỳ cần dự báo tại vị trí điểm dự báo;
+ Nhân tố dự báo đại diện tính chất biển đổi trên quy mơ lớn của các
hồn lưu khí quyển và sự dao động của chế độ mực nước biển: hiện tượng
ENSO (độ lớn được biểu thị qua trường chuẩn sai nhiệt độ nước biển
SSTA), chỉ số áp cao Thái Bình Dương (ACTBD) của các năm trước thời
kỳ cần dự báo.
- Phương pháp mơ hình: Vận hành mơ hình NAM sử dụng dữ liệu đầu
vào là trị số mưa dự báo theo thời kỳ tháng, mùa, nhằm tính tốn dòng chảy
trên lưu vực. Mưa dự báo được lấy theo sản phẩm dự báo mưa số trị của
Trung tâm Dự báo Hạn vừa châu Âu - The European Centre for Medium Range Weather Forecasts (ECMWF), Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn
Quốc gia, thuộc Cục Quản lý khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA).
Đối tượng dự báo: Các trạm thủy văn trên sơng. Vị trí bắt đầu dự báo
trên các sông trên Sông Đà bắt đầu dự báo từ hồ Hịa Bình, Sơng Lơ tại trạm
thủy văn Tun Quang, trên Sông Thao tại trạm thủy văn Yên Bái.
Thời hạn dự báo: Dự báo hạn ngắn 3 ngày, hạn vừa 10 ngày, hạn dài 1
tháng và dự báo mùa.
2.1.2. Viện Quy hoạch Thủy lợi

Đặc điểm dự báo: Bảng tin tổng hợp tuần, bản tin tuần, bản tin tháng và
báo cáo tuần của vùng Bắc Bộ về dự báo nguồn nước và kế hoạch sử dụng
nước trong các cơng trình thủy lợi, các bản tin tư vấn lấy nước vùng Bắc Bộ.
Ngoài ra Viện Quy hoạch Thủy lợi thực hiện các đề tài đưa ra các bản tin
104

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

tuần, tháng dự báo nguồn nước của các lưu vực sông vùng Bắc Bộ, trong đó
có lưu vực Sơng Hồng:
- Dự báo nguồn nước phục vụ vận hành cơng trình thủy lợi cấp nước
cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh vùng hạ du Sông Hồng;
- Dự báo nguồn nước phục vụ vận hành cơng trình thủy lợi cấp nước
cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên lưu vực Sông Đà;
- Dự báo nguồn nước phục vụ vận hành cơng trình thủy lợi cấp nước
cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên lưu vực Sông Thao;
- Dự báo nguồn nước phục vụ vận hành cơng trình thủy lợi cấp nước
cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên lưu vực sông Lô Gâm.
Phương pháp sử dụng, độ tin cậy: Để dự báo các yếu tố khí tượng Viện
Quy hoạch Thủy lợi đã khai thác sản phẩm dự báo theo thời gian thực từ các
mơ hình số trị GFS, CFS, ICON, ECMWF. Trong đó, số liệu dự báo phục
vụ tính tốn dự báo nguồn nước (tính tốn mưa dịng chảy và cân bằng
nước) được khai thác từ mơ hình GFS (Global Forecast System). Với số liệu
dự báo mưa 5 ngày (bước thời gian 1 h), 10 ngày (bước thời gian 3 h).
Đối tượng dự báo: Các hồ chứa thủy lợi.
Thời hạn dự báo: Dự báo 5 ngày.

2.2. Công tác dự báo, thông báo tài nguyên nước vào sông Mê Kông
Sông Mê Kông là con sông lớn nhất ở Đông Nam châu Á, đứng thứ 12
trên thế giới về tổng lượng dòng chảy năm, bắt nguồn từ cao nguyên Tây
Tạng Trung Quốc chảy qua lãnh thổ của 6 nước là Trung Quốc (tỉnh Vân
Nam), Myanma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Sơng Mê Kơng
có chiều dài 4.880 km, tổng diện tích 795.000 km2 và được chia thành 2
phần chính:
Phần thƣợng lƣu gồm phần diện tích lưu vực nằm trên lãnh thổ của
Trung Quốc (tỉnh Vân Nam) và Myanma có diện tích 189.000 km2 (chiếm
24 % diện tích tồn lưu vực).
Phần hạ lƣu của lưu vực, tính từ Tam Giác Vàng - biên giới chung của
3 nước Thái Lan, Lào và Myanma ra Biển Đông nằm trong lãnh thổ của 4
nước Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam có tổng diện tích là
606.000 km2 (chiếm 76 % diện tích tồn lưu vực).
Phần thượng nguồn Mê Kông chảy trong lãnh thổ Trung Quốc được gọi
là Sơng Lan Thương (hay cịn gọi Lạng Xang, Lạng Cang tùy theo phiên
âm). Dịng chính sơng Mê Kơng, phần hạ lưu có một số đoạn chảy theo
đường biên giới giữa Thái Lan và Lào, phần cịn lại sơng chảy hoàn toàn
trong lãnh thổ Lào, Campuchia và Việt Nam.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

105


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Dự báo lũ hạ lưu sông Mê Kông là nhiệm vụ thường xuyên của Trung
tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia và Đài Khí tượng Thuỷ văn khu
vực Nam Bộ, các đài Khí tượng Thuỷ văn tỉnh khu vực Nam Bộ phát bản tin

dự báo phục vụ tỉnh, ngoài ra Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam phát bản
tin dự báo nguồn nước lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long.
2.2.1. Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia
Đặc điểm dự báo: Trung tâm Dự báo KTTV Quốc gia đưa bản tin dự
báo nguồn nước hạn ngắn (07 ngày), hạn vừa (15 ngày), hạn dài (01 tháng)
đối với các sông Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.
Phương pháp sử dụng: sử dụng phần mềm SPSS trong việc xây dựng
mơ hình hồi quy bội dự báo mực nước lớn nhất ngày các trạm và kết hợp sử
dụng mơ hình Fews để dự báo mực nước các trạm thủy văn
2.2.2. Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam
Đặc điểm dự báo: Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam đưa các bản tin
tuần dự báo nguồn nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long phục vụ chỉ đạo
sản xuất và điều hành cấp nước vụ Đông Xuân (dự báo nguồn nước, xâm
nhập mặn mùa khô, đề xuất chống hạn vùng ĐBSCL vụ Đồng Xuân và
Hè Thu).
Phương pháp dự báo, độ tin cậy: Việc dự báo nguồn nước ở Đồng bằng
sông Cửu Long do Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam - Viện Khoa học
Thủy lợi Việt Nam thực hiện dựa trên:
- Bộ mơ hình thủy động lực ĐBSCL dựa trên phần mềm MIKE;
- Kết quả nghiên cứu về dịng chảy lưu vực Mê Kơng của Viện Khoa
học Thủy lợi Miền Nam và các tổ chức quốc tế, trong đó có Ủy ban Mê
Kơng quốc tế, Ủy ban Mê Kơng Việt Nam.
Các yếu tố chính được xem xét trong dự báo:
- Dòng chảy tại Kratie;
- Mực nước Biển Hồ (Campuchia);
- Các yếu tố khí tượng, mưa dự báo được lấy theo Trung tâm Khí
tượng Thủy văn Quốc gia.
2.2.3. Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam
Đặc điểm dự báo: Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam dự báo nguồn
nước Đồng bằng sông Cửu Long tại các trạm từng vùng thuộc ĐBSCL để có

kế hoạch phục vụ sản xuất nơng nghiệp. Có các bản tin dự báo mùa lũ, dự
báo kỳ (5 ngày), dự báo ngày. Ngoài ra, cịn có các bản tin đột xuất do bão.
106

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Phương pháp dự báo, độ tin cậy:
- Mưa dự báo trên lưu vực sông Mê Kông. Theo kết quả dự báo của
Trung tâm Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA), mưa dự báo
trên vùng ĐBSCL được khai thác từ mơ hình GFS-NOAA;
- Dự báo mực nước thượng lưu tại Kratie, tại Prek Kdam lấy theo Ủy
ban Mê Kông quốc tế (MRC);
- Dự báo mực nước nội đồng trên vùng ĐBSCL cho 70 trạm, gồm 4
trạm trên dịng chính và 66 trạm ở vùng nội đồng. Trạm Tân Châu (trên
Sông Tiền), Châu Đốc (trên Sơng Hậu), do Trung tâm Khí tượng Thủy văn
Quốc gia thực hiện dự báo. Trạm Mỹ Thuận (trên Sông Tiền), và Cần Thơ
(trên Sông Hậu) và 66 trạm nội đồng do Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền
Nam dự báo.
2.2.4. Ủy hội sông Mê Kông quốc tế
Đặc điểm dự báo: Dịng chảy trên sơng chủ yếu do mưa, chuyển động của
nước dọc dịng chính chủ yếu do tác động của dòng chảy tuyến trên. Đối với
phần hạ lưu sông Mê Kông, hàng năm lũ thượng nguồn về mang đến nhiều lợi
ích cho đời sống dân sinh, kinh tế của cư dân. Ngồi những lợi ích do lũ mang
lại, những thiệt hại nặng nề do lũ là rất khó lường. Do đó, các quốc gia có sơng
Mê Kơng chảy qua rất quan tâm đến việc dự báo lũ sơng Mê Kơng.
Khơng chỉ có các hoạt động độc lập, xuất phát từ sáng kiến của Chính

phủ Việt Nam, được các quốc gia khác trong Ủy hội sông Mê Kông quốc tế
ủng hộ, Chiến lược quản lý lũ của Ủy hội được thơng qua năm 2001; sau đó
Chương trình Quản lý và Giảm nhẹ lũ (FMMP) được ra đời từ năm 2004
với mục tiêu chung là “ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại về người và của do
lũ gây ra, nhưng vẫn duy trì được những lợi ích do lũ mang lại”. Đầu năm
2005, MRC được sự đồng ý của các quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mê
Kông (Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam) đã thành lập Trung tâm
quản lý và giảm nhẹ lũ vùng (RFMMC) đặt tại Camphuchia với nhiệm vụ
chính là cảnh báo, dự báo lũ cho tồn hệ thống sơng Mê Kơng, nhằm quản
lý và giảm thiểu các thiệt hại do lũ gây ra trong lưu vực.
Nhiệm vụ dự báo lũ sông Mê Kông: Với đặc tính dịng chảy, hệ thống
đo đạc cũng như các cơng cụ (phần mềm, mơ hình tốn…) phục vụ dự báo
tác nghiệp hiện có của RFMMC. Trong mùa lũ, lưu vực sơng Mê Kơng,
RFMMC có nhiệm vụ dự báo thủy văn tác nghiệp cho 22 trạm đo dọc dịng
chính sơng Mê Kông với các thời gian dự kiến hạn ngắn (01 - 05 ngày),
trung hạn (6 - 15 ngày) và dài hạn (> 16 ngày).
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC

107


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

Phương pháp dự báo, độ tin cậy: Ngay sau khi được thành lập, Trung
tâm quản lý và giảm nhẹ lũ vùng đã nghiên cứu xây dựng và vận hành thử
nghiệm hệ thống cảnh bảo, dự báo lũ với tên gọi là “Hệ thống cảnh báo lũ
Ủy hội sông Mê Kông” (MRC’s Flood Forecasting System). Hệ thống này
đã tích hợp liên hồn việc khai thác số liệu (thủy văn, khí tượng, vệ tinh),
vận hành (chạy) mơ hình thủy văn, thủy lực, phát bản tin dự báo, cảnh báo

lũ và đánh giá dự báo cho sông Mê Kông FEWS (Forecasting, Evaluation
and Early Warning System).
Từ năm 2008 đến nay, hệ thống chính thức được vận hành và sử dụng
trong dự báo tác nghiệp cho toàn hệ thống sông Mê Kông. Cấu trúc của hệ
thống được mơ tả trong Hình 1:

Hình 1. Sơ đồ mơ tả hệ thống FEWS cho sông Mê Kông
3. Đề xuất một số phƣơng án nhằm cập nhật dự báo, thông báo tài
nguyên nƣớc từ ngoài chảy vào Việt Nam của lƣu vực Sông Hồng và
sông Mê Kông
Dựa trên các hiện trạng dự báo trên, báo cáo đề xuất một số phương án
cập nhật dự báo, cảnh báo thông báo tài nguyên nước như sau:
- Cập nhật, nâng cao công nghệ dự báo với mục tiêu tính tốn, dự báo
nguồn tài ngun nước vào Việt Nam. Để thực hiện công tác này cần phải:
108

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

+ Liên tục cập nhật, các cơng nghệ tính tốn, đo mưa vệ tính, đánh giá
cập nhật, các sai số của mưa vệ tinh so với thực tế nhằm nâng cao hơn hiệu
quả dự báo.
+ Cập nhật, bổ sung thông tin, nâng cao hiệu quả của các mơ hình thủy
văn phân bố dựa trên mưa vệ tinh.
+ Yêu cầu phân tích các dữ liệu từ ảnh vệ tinh hồ chứa sử dụng mạng trí
tuệ nhân tạo để phân tích đánh giá nhận định dịng chảy từ ngồi lãnh thổ.
+ Các bản tin dự báo tài nguyên nước mới chỉ làm trong nước cần bổ

sung thêm thơng tin tài ngun nước ngồi lãnh thổ vào Việt Nam.
- Phối hợp với các quốc gia thượng nguồn cung cấp số liệu quan trắc trên
lưu vực sông, cũng như các đối tượng lớn khai thác sử dụng nước trên sơng;
- Bổ sung thêm các vị trí dự báo, thông báo tài nguyên nước trên sông;
- Cập nhật hệ thống giám sát hồ chứa.
4. Kết luận
Từ thực trạng về công tác dự báo, thông báo tài nguyên nước từ ngồi
vào Việt Nam trên lưu vực Sơng Hồng và sơng Mê Kơng, có thể nhận thấy,
các thơng báo tài nguyên nước mới chỉ dừng ở bản word, đồ thị, chưa đưa ra
dưới dạng bản đồ. Hiện nay, chưa có đơn vị nào thực hiện cảnh báo, dự báo
tài nguyên nước từ nước ngoài vào Việt Nam. Trung tâm Dự báo KTTV
Quốc gia chỉ dự báo thủy văn với các đặc trưng lớn nhất, nhỏ nhất, trung
bình của dịng chảy so với giá trị TBNN trên một số trạm chính trên lưu vực
Sơng Hồng, ĐBSCL. Viện Quy hoạch Thủy lợi dự báo nguồn nước trong
các hồ chứa thủy lợi vùng Bắc Bộ trong đó có lưu vực Sơng Hồng. Các bản
tin với tiêu chí phục vụ cơng tác và kế hoạch sử dụng nước trong các cơng
trình thủy lợi. Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam dự báo nguồn nước
ĐBSL để phục vụ chỉ đạo sản xuất và điều hành cấp nước cho sản xuất nông
nghiệp cho mùa kiệt, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam dự báo nguồn
nước và xây dựng kế hoạch sử dụng nước cho ĐBSCL trong mùa lũ. Tất cả
các bản tin chỉ phục vụ công tác dự báo nhiệm vụ của các đơn vị chưa dự
báo, nhận định cụ thể tình hình tài nguyên nước từ ngoài lãnh thổ vào Việt
Nam. Một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong dự báo tiềm năng nguồn
nước đó là các trạm quan trắc tài nguyên nước. Hệ thống mạng lưới trạm
quan trắc tài nguyên nước mặt trên tồn bộ các lưu vực sơng ở Việt Nam
đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng thiết lập chưa hoàn
thiện. Phần lớn các quan trắc tài nguyên nước mặt đều kết hợp lồng ghép
với trạm thủy văn và giám sát mơi trường khơng khí và nước. Ngồi ra, việc
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


109


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”

quan trắc tài nguyên nước cũng được các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn thực hiện tại các cơng trình đầu mối thủy lợi hoặc Tập
đồn Điện lực Việt Nam thực hiện quan trắc tài nguyên nước mặt tại đầu
nguồn khi thiết kế các cơng trình thủy điện. Trong khn khổ hợp tác giữa
Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia và Ủy hội sông Mê Kông phần
mềm trao đổi số liệu Hydmet và một bộ công cụ dự báo FEWS được cài đặt
và sử dụng như những công cụ rất thuận lợi trong dự báo mực nước đầu
nguồn sông Cửu Long. Tuy nhiên, các công cụ này không được vận hành
trên một hệ thống mà chỉ được sử dụng rời rạc từng phần mềm riêng biệt với
rất nhiều bước thực hiện thủ công.
Tài liệu tham khảo
1. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương. Các bản tin dự
báo trên website: nchmf.gov.vn/web/vi-VN/69/148/Default.aspx.
2. Viện QHTL Miền Nam. Các bản tin dự báo trên website:
siwrp.org.vn/news/duong-qua-trinh-lu-dong-chinh-me-cong_581.html.
3. Mekong River Commission. />
110

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”


OVERVIEW OF FORECAST - INFORMED WATER
RESOURCES FLOW INTO VIETNAM IN THE RED
RIVER BASIN AND THE MEKONG RIVER BASIN
Luu Thi Hong Linh, Nguyen Phuong Anh, Pham Thi Thu Huyen
Water Resources Institute - Ministry of Natural Resources and Environment

Abtracts
More than 60 % of Vietnam's surface water comes from foreign
countries. Especially, the water resources of the two Red River and Mekong
River basins are strongly influenced by the exploitation and use of water in
the upstream countries. In the dry season, over 90 % of the water in the
Mekong Delta comes from outside Vietnam. On the Red River in China,
there are many reservoirs with strong exploitation since 2010. Warning,
forecast and implementation of water resources notification and assessment
of impacts due to exploitation and use of upstream water for basins
International Rivers are extremely important. It is necessary to study and
summarize current water resources forecasting methods and propose new
methods suitable to the actual situation. Proceeding with the
implementation of notice of water resources in the dry season for large
rivers in the country to serve the active exploitation and use of water in
order to serve the advisory, proposing water resource policies and timely
handling related issues. The paper will analyze and assess the status of
implementation of forecasting and announcing water resources into
Vietnam in the Red and Mekong River basins. From there, propose some
solutions to improve the efficiency of forecasting and announcing water
resources in the two river basins.
Keywords: Water resources forcasting.

VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC


111



×