Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
Doi: 10.15625/vap.2021.0115
QUẢN TRỊ NƢỚC: KHÁI NIỆM VÀ CÁC NGUYÊN TẮC
CƠ BẢN
Trần Văn Trà, Nguyễn Tú Anh
Viện Khoa học tài nguyên nước - Bộ Tài ngun và Mơi trường
Tóm tắt
Về ngun tắc, hệ thống quản trị nước ở các quốc gia, khu vực khác
nhau là khác nhau. Q trình quản trị mang tính ngữ cảnh cao, các chính
sách về nước cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với các nguồn nước và
địa điểm khác nhau, các chính sách quản trị phải thích ứng với những hoàn
cảnh thay đổi. Tuy nhiên, để đảm bảo quản trị tốt thì các hệ thống cần phải
tuân theo một số nguyên tắc chung. Các nguyên tắc này sẽ nâng cao tính
khả thi của các tác động chính sách thơng qua gắn kết chặt chẽ các chính
sách, tăng cường sự tham gia và vai trò phù hợp của các bên liên quan, cải
thiện thiết kế của khung pháp lý, đảm bảo thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận,
đảm bảo tính tồn vẹn và minh bạch. Do vậy, bài báo này hướng đến tổng
hợp và phân tích một số các nguyên tắc chính trong quản trị nước để cung
cấp cơ sở lý luận cần thiết cho quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên nước của
Việt Nam trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Quản trị nước.
1. Mở đầu
Nước kết nối các lĩnh vực, địa điểm, con người với các quy mô khác nhau
về địa lý và thời gian. Tài nguyên nước có tính nhạy cảm cao và là một trong
những vấn đề thu hút được nhiều sự quan tâm trong các thảo luận quốc tế về
phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh phát
triển chung, nguồn tài nguyên này đang chịu áp lực ngày càng tăng từ các
thay đổi về dân số, chế độ ăn uống và sử dụng đất. Hoạt động kinh tế đang
làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh giữa các nhóm sử dụng nước trong việc
tiếp cận nguồn tài nguyên mà họ cần [1], [2]. Thêm vào đó, các tác động của
biến đổi khí hậu dẫn đến sự khơng chắc chắn trong mức độ sẵn có và an tồn
của nước trong tương lai [3]. Cuối cùng, tài nguyên nước liên quan đến các
vấn đề sử dụng đất, chẳng hạn như phát triển kinh tế và đô thị, sinh thái, phát
triển thiên nhiên và nông nghiệp [4]. Quản trị tốt tài nguyên nước trở thành
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
81
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
động lực quan trọng cho tăng trưởng và có tiềm năng tạo ra những lợi ích to
lớn cho sức khỏe con người, mơi trường và nền kinh tế.
Tính chất đa tầng, đa quy mô và đa tác nhân của các hệ thống nước dẫn
đến sự phức tạp trong các chính sách liên quan đến nước. Các chính sách
nước thường có mối liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực phát triển quan trọng
bao gồm y tế, môi trường, nông nghiệp, năng lượng, quy hoạch khơng gian,
phát triển vùng và xóa đói giảm nghèo. Do vậy, cần có cách tiếp cận quản trị
nước, trong đó các giá trị, lợi ích và việc sử dụng nước khác nhau được kết
nối với nhau để chính sách nước và các giải pháp tương ứng được xây dựng
và thực hiện dưới sự hỗ trợ của các bên liên quan khác nhau [1], [4]-[6].
Ngoài ra, ở các mức độ khác nhau, cách thức các quốc gia phân chia
trách nhiệm trong quản trị tài nguyên nước ngày càng trở nên phức tạp, yêu
cầu nhiều nguồn lực cho các chính quyền cấp dưới. Điều này dẫn đến sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các cấp chính quyền, địi hỏi sự phối hợp để giảm
thiểu tình trạng phân mảnh trong quản trị tài nguyên nước. Đối phó với
những thách thức về nước khơng chỉ đặt ra câu hỏi “phải làm gì?” mà cịn là
“ai làm gì?”, “tại sao?”, “ở cấp chính quyền nào?” và “làm thế nào?” [7].
Về nguyên tắc, hệ thống quản trị nước ở các quốc gia, khu vực khác
nhau là khác nhau. Q trình quản trị mang tính ngữ cảnh cao, các chính
sách về nước cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với các nguồn nước và
địa điểm khác nhau, các chính sách quản trị phải thích ứng với những hoàn
cảnh thay đổi. Tuy nhiên, để đảm bảo quản trị tốt thì các hệ thống cần phải
tuân theo một số nguyên tắc chung. Các nguyên tắc này sẽ nâng cao tính
khả thi của các tác động chính sách thơng qua gắn kết chặt chẽ các chính
sách, tăng cường sự tham gia và vai trò phù hợp của các bên liên quan, cải
thiện thiết kế của khung pháp lý, đảm bảo thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận,
đảm bảo tính tồn vẹn và minh bạch. Do vậy, bài báo này hướng đến tổng
hợp và phân tích một số các nguyên tắc chính trong quản trị nước để cung
cấp cơ sở lý luận cần thiết cho quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên nước của
Việt Nam trong giai đoạn tới.
2. Quản trị nƣớc và khung quản trị nƣớc
2.1. Khái niệm chung về quản trị
Quản trị là quá trình ra quyết định và q trình thực hiện (hoặc khơng
thực hiện) các quyết định [8]. Graham và cộng sự mô tả quản trị là “sự
tương tác giữa các cấu trúc, quy trình và tục lệ xác định cách thức thực thi
82
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
quyền lực và trách nhiệm, cách thức đưa ra các quyết định và cách người
dân hoặc các bên liên quan khác có tiếng nói”[9]. Ngân hàng thế giới đưa ra
khái niệm quản trị là q trình mà qua đó các chủ thể nhà nước và ngoài nhà
nước tương tác để thiết kế và thực hiện các chính sách trong một tập hợp các
quy tắc chính thức và khơng chính thức nhất định đã định hình và được định
hình bởi quyền lực [10]. Trong khi đó, mạng lưới cộng tác vì nước tồn cầu
(GWP) định nghĩa quản trị là “việc thực hiện các quyền kinh tế, chính trị và
hành chính để quản lý các công việc của một quốc gia ở tất cả các cấp... Nó
bao gồm các cơ chế, quy trình và thể chế mà qua đó cơng dân và các nhóm
thể hiện rõ lợi ích của họ, thực hiện các quyền hợp pháp của họ, đáp ứng các
nghĩa vụ của họ và hịa giải sự khác biệt của chúng...” [11].
Qua đó có thể thấy, quản trị liên quan đến hệ thống quản lý xã hội rộng
lớn, bao gồm, nhưng không giới hạn bởi, quan điểm hẹp hơn của chính phủ
với tư cách là thực thể chính trị ra quyết định chính. Góc nhìn và phương
pháp tiếp cận khác nhau dẫn đến các cách hiểu và hướng nghiên cứu khác
nhau về quản trị. Theo đó, quản trị có thể liên quan đến các câu hỏi về trách
nhiệm giải trình tài chính và hiệu quả quản trị; cũng có thể bao hàm các vấn
đề chính trị rộng lớn hơn như dân chủ, nhân quyền và các quá trình tham
gia; hay tập trung vào sự phù hợp và không phù hợp giữa hệ thống chính trịhành chính và hệ thống sinh thái hoặc về vận hành và quản lý dịch vụ [12].
2.2. Quản trị nước và các hướng tiếp cận
Quản trị nước là điều kiện tiên quyết để cải thiện quản lý nước [13].
Báo cáo phát triển nước đầu tiên của Chương trình đánh giá nước thế giới
của Liên hợp quốc (WWAP) đã chỉ ra rằng “cuộc khủng hoảng nước trên
thế giới là một trong những vấn đề về quản trị nước, về cơ bản là do cách
chúng ta quản lý nước sai” [14]. Các báo cáo sau đó tiếp tục nhấn mạnh
thực tế rằng quản trị là trọng tâm của việc quản lý lâu dài tài nguyên nước
và cần phải quan tâm và hỗ trợ các quá trình quản trị [6].
Các cuộc thảo luận xung quanh quản trị nước cũng bắt đầu xuất hiện
trên các nền tảng toàn cầu. Tương tự như quản trị, định nghĩa về quản trị
nước cũng gây nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu và các bên thực
hành. Các trường phái tư tưởng khác nhau đã áp dụng và giải thích quản trị
từ những quan điểm khác nhau và các diễn đàn và diễn đàn quốc tế đã hiểu
và sử dụng thuật ngữ này với những lợi ích khác nhau và đôi khi với những
mục tiêu mâu thuẫn nhau [15]. Quản trị nước có thể được xem xét như một
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
83
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học cơng nghệ trong quản lý tài ngun nước”
q trình hay một kết quả, điều này làm phát sinh các cách sử dụng khác
nhau của thuật ngữ này. Với trọng tâm là kết quả, Allan định nghĩa hệ thống
quản trị nước là hệ thống xác định ai được cấp nước, khi nào và bằng cách
nào, ai có quyền sử dụng nước và các dịch vụ liên quan cũng như lợi ích của
chúng [16].
Mặt khác, Lautze và cộng sự, phân tích các định nghĩa khác nhau về
quản trị nước [15] và kết luận rằng: (i) Quản trị luôn được coi là các quá
trình liên quan đến việc ra quyết định; (ii) q trình ra quyết định diễn ra
thơng qua các thể chế (bao gồm cơ chế, hệ thống và luật lệ) và (iii) các quá
trình và thể chế ra quyết định liên quan đến nhiều tác nhân. Theo đó, quản
trị gắn liền với các quá trình và thể chế liên quan đến việc ra quyết định, chứ
không phải với kết quả của việc ra quyết định đó. Phạm vi của các hành
động trong định nghĩa về quản trị nước cũng khác nhau trong các nghiên
cứu [17]. Một số nghiên cứu coi quản trị nước bao gồm đầy đủ các quyết
định được đưa ra trong việc quản lý nước, từ thiết lập chính sách đến cung
cấp dịch vụ [11], [18]; trong khi một số nghiên cứu khác coi đó là chỉ bao
gồm các quyết định cấp cao hơn (quản trị) thiết lập bối cảnh cho việc ra
quyết định hoạt động hàng ngày và được áp dụng (quản lý) [17].
Hiện nay vai trò của quản trị - mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân
sự được coi là một yếu tố quan trọng. Các đặc điểm hoặc thuộc tính của
quản trị cũng đã phát triển từ cách tiếp cận giải quyết vấn đề theo thứ bậc và
tập trung vào nhà nước, sang “quản trị tốt” với một số thuộc tính cơ bản như
có sự tham gia, định hướng đồng thuận, có trách nhiệm giải trình, minh
bạch, nhạy bén, hiệu lực và hiệu quả, công bằng, bao trùm và tuân theo các
quy định của pháp luật [8], [9]. Tuyên bố Bộ trưởng La Hay năm 2000 kêu
gọi đảm bảo quản trị tốt sẽ thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và bao gồm
lợi ích của tất cả các bên liên quan trong việc quản lý tài nguyên nước [19].
2.3. Khung quản trị nước
Các định nghĩa và phạm vi khác nhau về quản trị nước đã gây nhiều khó
khăn cho q trình ra quyết định về quản trị nước và cản trở việc đạt được
mục tiêu “quản trị tốt” ở các quốc gia. Để hiểu hơn và cải thiện quá trình ra
quyết định liên quan đến quản trị nước, Jiménez và cộng sự đã nghiên cứu
và đề xuất định nghĩa quản trị nước bao gồm 03 thành phần chính: “cái gì”
(các chức năng), “như thế nào” (các thuộc tính) và “để làm gì” (kết quả)
[20]. Theo đó, khung quản trị nước đã được xây dựng để minh họa cách
84
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
thức các chức năng và thuộc tính liên quan với nhau để đạt được các kết quả
cụ thể (Hình 1). Các chức năng quản trị tìm cách nắm bắt các yếu tố và quy
trình chính cần có để có thể phát triển và quản lý các nguồn nước và dịch vụ
(cái gì). Liên kết chặt chẽ với các chức năng là các thuộc tính, liên quan đến
cách thức các chức năng được thực hiện. Tuy nhiên, các thành phần này có
mối quan hệ với nhau, tất cả đều được định hình bởi các giá trị và nguyện
vọng của các bên liên quan (tại sao). Do đó, quản trị nước là một tổ hợp các
chức năng, được thực hiện với một số thuộc tính nhất định, nhằm đạt được
một hoặc nhiều kết quả mong muốn, tất cả đều được định hình bởi các giá
trị và nguyện vọng của các cá nhân và tổ chức.
− Quản trị đa tầng
− Chính sách và chiến lược
− Sự tham gia
sàng
− Tài chính
− Sắp xếp quản lý
− Giám sát, đánh giá và học hỏi
− Quy định
− Phát triển năng lực
Các điều kiện cho phép
− Thảo luận
− Toàn diện
− Trách nhiệm giải trình
− Minh bạch
− Ra quyết định dựa trên bằng chứng
KẾT QUẢ
− Lập kế hoạch và chuẩn bị sẵn
THUỘC TÍNH
CHỨC NĂNG
− Điều phối
Thay đổi hành vi
Thay đổi các điều kiện xã hội
và mơi trường
− Hiệu quả
Tính bền vững và khả năng
− Công bằng và quy định pháp luật
phục hồi
− Khả năng thích ứng
Giá trị và nguyện vọng
Hình 1. Khung quản trị nước
Các thành phần chính được thể hiện trong khung quản trị nước bao gồm [20]:
- Các chức năng cốt lõi của quản trị: Các chức năng quản trị cốt lõi là
các q trình chính được thực hiện, dưới nhiều hình thức khác nhau và ở các
phạm vi và chất lượng khác nhau, để phát triển và quản lý một cách có tổ
chức các dịch vụ và tài nguyên nước. Các chức năng bao gồm: Chính sách
và chiến lược; điều phối; lập kế hoạch và chuẩn bị sẵn sàng; tài chính; sắp
xếp quản lý; giám sát, đánh giá và học hỏi; quy định; phát triển năng lực.
- Thuộc tính của quản trị: Các thuộc tính của quản trị nước mô tả cách
thức thực hiện các chức năng quản trị. Một số thuộc tính quan trọng của
quản trị nước bao gồm: Quản trị đa tầng; có sự tham gia; thảo luận; tồn
diện; trách nhiệm giải trình; minh bạch; ra quyết định dựa trên bằng chứng;
hiệu quả; công bằng và quy định của pháp luật; khả năng thích ứng;
- Các kết quả của quản trị: Việc thực hiện các chức năng quản trị cốt
lõi chỉ có thể hiểu được khi được liên kết với cách thức tiến hành các chức
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
85
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
năng này (các thuộc tính), dẫn đến các kết quả mong muốn của quá trình
quản trị. Các kết quả về bản chất là liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau.
Các kết quả được phân tách thành bốn “trật tự” mặc dù khơng tích lũy theo
trình tự nghiêm ngặt, nhưng dẫn đến mục tiêu dài hạn cuối cùng là các hình
thức phát triển bền vững.
Khung quản trị nước có thể được sử dụng để nâng cao hiểu biết về quản
trị nước thông qua: (i) Hiểu cách thức trong thực tế (ở cấp quốc gia và địa
phương) các chức năng khác nhau được liên kết với các thuộc tính nhất định
để đạt được các kết quả mong muốn, dựa trên phân tích của khuôn khổ đề
xuất; (ii) hiểu cách các quốc gia tự đánh giá điểm yếu của mình dựa theo các
mối quan hệ được thể hiện trong khung và rút ra các xu hướng chung; (iii)
cải thiện thiết kế can thiệp quản trị do tăng cường hiểu biết về lộ trình quản
trị nước.
3. Các nguyên tắc cơ bản trong quản trị nƣớc
Vào ngày 4 tháng 6 năm 2015, Hội đồng Bộ trưởng các nước thành viên
của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã giới thiệu 12 “Nguyên
tắc của OECD về quản trị nước” [7]. Các nguyên tắc về quản trị nước của
OECD, được bắt nguồn từ các nguyên tắc quản trị tốt của Liên Hợp Quốc và
hướng đến thúc đẩy: tính hợp pháp; minh bạch; trách nhiệm giải trình;
quyền con người; các quy định của pháp luật và tính bao trùm trong các q
trình quản lý nước, nhấn mạnh rằng các hệ thống quản trị nước cần được
thiết kế dựa trên những thách thức mà chúng cần giải quyết để xây dựng
một ngành nước bền vững. OECD nhận định rằng quản trị là tốt nếu nó có
thể giúp giải quyết và giải quyết các thách thức chính về nước, thông qua sự
kết hợp của cả phương pháp tiếp cận từ dưới lên và từ trên xuống, đáp ứng
nhu cầu tại chỗ và thúc đẩy các mối quan hệ nhà nước-xã hội mang tính xây
dựng và hiệu quả [7].
Ba mục tiêu chính của quản trị nước dẫn đến ba khía cạnh bổ sung và
củng cố lẫn nhau đối với các nguyên tắc quản trị nước bao gồm [7]:
- Hiệu lực liên quan đến sự đóng góp của quản trị trong việc xác định
các mục tiêu và chỉ tiêu chính sách nước bền vững một cách rõ ràng ở tất cả
các cấp chính quyền, để thực hiện các mục tiêu chính sách đó và đạt được
các mục tiêu mong đợi;
- Hiệu quả liên quan đến đóng góp của quản trị để tối đa hóa lợi ích
của việc quản lý nước bền vững và phúc lợi với chi phí thấp nhất cho xã hội;
86
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
- Độ tin cậy và và sự tham gia liên quan đến đóng góp của tài chính
vào việc xây dựng lịng tin của công chúng và đảm bảo sự tham gia đầy đủ
của các bên liên quan thơng qua tính hợp pháp dân chủ và cơng bằng cho xã
hội nói chung.
12 ngun tắc của quản trị nước được thể hiện trong Bảng 1.
Bảng 1. Các nguyên tắc trong quản trị nước của OECD [7]
Tăng cường hiệu lực của quản lý nước
Nguyên tắc 1
Phân cơng và phân biệt rõ ràng vai trị và trách nhiệm
trong hoạch định chính sách về nước, thực hiện chính sách,
quản lý và điều tiết hoạt động, đồng thời thúc đẩy sự phối
hợp giữa các cơ quan có trách nhiệm này.
Nguyên tắc 2
Quản lý nước ở (các) quy mô thích hợp trong các hệ thống
quản trị lưu vực tích hợp để phản ánh điều kiện địa phương
và thúc đẩy sự phối hợp giữa các quy mô khác nhau.
Nguyên tắc 3
Khuyến khích sự nhất qn trong chính sách thơng qua
phối hợp hiệu quả giữa các ngành, đặc biệt là giữa các
chính sách về nước và mơi trường, y tế, năng lượng, nông
nghiệp, công nghiệp, quy hoạch không gian và sử dụng
đất.
Nguyên tắc 4
Điều chỉnh năng lực của các cơ quan có trách nhiệm phù
hợp với tính chất phức tạp của các thách thức về nước và
đảm bảo năng lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của họ.
Tăng cường hiệu quả quản trị nước
Nguyên tắc 5
Thiết lập, cập nhật và chia sẻ kịp thời, nhất quán, có thể so
sánh về các chính sách liên quan đến nước cũng như các
thơng tin và dữ liệu về nước và sử dụng để hướng dẫn,
đánh giá và cải thiện chính sách nước.
Nguyên tắc 6
Đảm bảo rằng các sắp xếp quản trị giúp huy động tài chính
về nước và phân bổ các nguồn tài chính một cách hiệu quả,
minh bạch và kịp thời.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
87
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
Nguyên tắc 7
Đảm bảo rằng các khung quy định về quản lý nước hợp lý
được triển khai và thực thi hiệu quả nhằm đạt được các lợi
ích cơng.
Ngun tắc 8
Thúc đẩy thơng qua và thực hiện các sáng kiến thực hành
quản trị nước giữa các cơ quan có trách nhiệm, các cấp
chính quyền và các bên liên quan.
Tăng cường độ tin cậy và sự tham gia vào quản trị nước
Nguyên tắc 9
Tăng cường tính tồn vẹn và minh bạch trong các chính
sách về nước, thể chế nước và khung quản trị nước hướng
đến trách nhiệm giải trình và độ tin cậy cao hơn trong quá
trình ra quyết định.
Nguyên tắc 10
Thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan để có những
đóng góp có hiểu biết và định hướng kết quả vào việc thiết
kế và thực hiện chính sách nước.
Nguyên tắc 11
Khuyến khích các khung quản lý nước hỗ trợ quản lý sự
đánh đổi giữa các đối tượng sử dụng nước, khu vực nông
thôn và thành thị, và các thế hệ.
Nguyên tắc 12
Thúc đẩy giám sát và đánh giá thường xuyên chính sách và
quản trị nước khi thích hợp, chia sẻ kết quả với công chúng
và thực hiện các điều chỉnh khi cần thiết.
4. Kết luận
Quản trị nước là sự kết hợp của các chức năng, được thực hiện với các
thuộc tính nhất định, để đạt được một hoặc nhiều kết quả mong muốn, tất
cả đều được định hình bởi các giá trị và nguyện vọng của các cá nhân và tổ
chức” [20]. Các yêu cầu về tính đa tầng, đa bên, đa mục tiêu, đa công cụ,
năng động cao trong quản trị nước sẽ trở nên rất phức tạp và không đảm
bảo hiệu quả nếu không được điều chỉnh bởi các nguyên tắc quản trị tốt
giúp tạo ra kết quả mong đợi, cân bằng, sự tham gia của các bên liên quan,
đảm bảo an ninh nguồn nước và tính bền vững trong trung và dài hạn. Vì
vậy, việc sử dụng khung quản trị nước và các nguyên tắc quản trị nước của
OECD sẽ hỗ trợ quá trình ra quyết định về quản trị nước, góp phần đảm
bảo sự phù hợp của và tăng cường tính hiệu quả của các quyết định hướng
đến một hệ thống “quản trị tốt” ở các nước trên thế giới nói chung và ở
Việt Nam nói riêng.
88
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
Tài liệu tham khảo
1. J. Edelenbos, N. Bressers, P. Scholten. “Water governance as
connective capacity”, 2013.
2. OECD. “Water Governance in OECD Countries: A Multi-level
approach”. OECD Publishing, 2011.
3. IPCC. “Global Warming of 1.5°C”. An IPCC Sp. In Press: IPCC,
2018.
4. C. Tortajada. “Water governance: A research agenda”. Int. J. Water
Resour. Dev., vol. 26, no. 2, 2010, pp. 309 - 316.
5. C. Pahl-Wostl. “Transitions towards adaptive management of water
facing climate and global change”. Water Resour. Manag., vol. 21, no. 1,
2007, pp. 49 - 62.
6. United Nations World Water Assessment Programme (WWAP).
“Water: A Shared Responsibility”. UNESCO and Berghahn Books, Paris,
2006.
7. OECD. “OECD Principles on Water Governance”. Organisation for
Economic Co-operation and Development (OECD), 2015.
8. UNESCAP. “What is Good Governance?”. United Nations
Economic and Social Commission for Asia and the Pacific (UNESCAP),
Bangkok, 2000.
9. J. Graham, B. Amos, T. Plumptre. “Principles for Good Governance
in the 21st Century”. Institute on Governance, Ottawa, 2003.
10. World Bank. “World Development Report 2017: Governance and
the Law”. World Bank (Washington, DC), 2017.
11. GWP. “Towards Water Security: A Framework for Action”. Global
Water Partnership (GWP), Stockholm and London, 2000.
12. P. P. Rogers, M. R. Llamas, L. Martínez-Cortina, Eds. “Water
Crisis: Myth or Reality? Marcelino Botin Water Forum 2004”. London:
Taylor & Francis/Balkema, 2006.
13. C. Pahl-Wostl. “A conceptual framework for analysing adaptive
capacity and multi-level learning processes in resource governance
regimes”. Glob. Environ. Chang., vol. 19, no. 3, 2009, pp. 354 - 365.
14. WWAP (United Nations World Water Assessment Programme).
“Water for people, water for life”. UNESCO, Paris, 2003.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
89
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
15. J. Lautze, S. De Silva, M. Giordano, L. Sanford. “Putting the cart
before the horse: Water governance and IWRM”. Nat. Resour. Forum, vol.
35, no. 1, 2011, pp. 1 - 8.
16. T. Allan. “The Middle East Water Question: Hydropolitics and the
Global Economy”. Bloomsbury Publishing, 2012.
17. L. De Stefano, M. Svendsen, M. Giordano, B. S. Steel, B. Brown, A.
T. Wolf. “Water governance benchmarking: Concepts and approach
framework as applied to Middle East and North Africa countries”. Water
Policy, vol. 16, no. 6, 2014, pp. 1121 - 1139.
18. M. Jacobson, F. Meyer, I. Oia, P. Reddy, H. Tropp. “User’s Guide
on Assessing Water Governance”. Oslo: UNDP, 2013.
19. World Water Council. “Ministerial Declaration of The Hague on
Water Security in the 21st Century, Second World Water Forum 22nd
March”. The Hague: World Water Council, 2000.
A. Jiménez et al. “Unpacking water governance: A framework for
practitioners”. Water (Switzerland), vol. 12, no. 3, 2020, pp. 1 - 21.
90
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
Tuyển tập Báo cáo khoa học
Hội thảo “Ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên nước”
GOVERNING THE WATER RESOURCES:
BASIC CONCEPTS AND PRINCIPLES
Tra Van Tran, Tu Anh Nguyen
Water Resources Institute - Ministry of Natural Resources and Environment
Abtracts
There is no one-size-fits-all water governance scheme. These systems in
various nations and regions are fundamentally different. Water policies
must be adjusted to particular water sources and localities, and governance
policies must adapt to changing circumstances. However, in order to
maintain effective governance, the system must conform to some general
principles. These principles will boost the feasibility of policy effects by
closely aligning policies, improving stakeholder involvement and
responsibilities, optimizing legal framework design, providing
comprehensive and accessible information, and assuring integrity and
transparency. As such, this article will synthesize and examine numerous
critical principles in water governance in order to offer the theoretical
groundwork for the impending process of amending Vietnam's Law on
Water Resources.
Keywords: Water resources governance.
VIỆN KHOA HỌC TÀI NGUYÊN NƯỚC
91